VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN NGUYNNnNGVInNNỆT HÀ ĐOÀN THANH LIÊM HỆ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT CƠ BẢN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT... Tr
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGUYNNnNGVInNNỆT
HÀ
ĐOÀN THANH LIÊM
HỆ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT CƠ BẢN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học xã hội Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP
PGS.TS Tôn Thị Thảo Miên
2 PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu
Phản biện 1: PGS.TS Hà Văn Đức Phản biện 2: PGS.TS Ngô Văn Gía
Phản biện 3: PGS.TS Tôn Phương Lan
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, tại: Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại: - Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện
Trang 3DANH MỤC CÁC BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ ĐUỢC CÔNG BỐ
1 Đoàn Thanh Liêm (2017), Biểu tượng Đấng minh quân qua một số tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, tạp chí Diễn đàn
văn nghệ Việt Nam số 273/ tháng 10 năm 2017
2 Đoàn Thanh Liêm (2017), Nguyễn Hoàng - hành trình mở cõi qua tiểu thuyết Minh Sư của Thái Bá Lợi, tạp chí Khoa học và
công nghệ, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, số 2 tháng
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Biểu tượng hiện hữu trong đời sống nhân loại ngay từ khi loài người biết tư duy về tự nhiên và xã hội với những hình ảnh đơn giản nhất
Từ xã hội nguyên thủy cho đến xã hội văn minh, từ con người tiền sử cho đến con người hiện đại, biểu tượng luôn được tạo ra như là một công cụ thực hiện chức năng xã hội, thể hiện nhận thức của con người về tự nhiên
và xã hội
1.2 Biểu tượng không chỉ có trong phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, trong chính trị, hoạt động quảng cáo sản phẩm mà biểu tượng cũng tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật rất phong phú, đa dạng
1.3 Về mặt nhận thức, có nhiều phương tiện thực hiện chức năng chuyển tải nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học Trong tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam đương đại, thế giới biểu tượng là một phương tiện nghệ thuật thực hiện chức năng đó
1.4 Tiểu thuyết lịch sử là thể tài văn học có đặc trưng phức hợp, ở
đó hiện thực lịch sử là chất liệu “xương cốt” và hư cấu nghệ thuật làm “hồn phách” tinh anh của tác phẩm Đối với nền văn học Việt Nam đương đại, thể tài tiểu thuyết lịch sử có những đóng góp lớn, để lại dấu ấn sâu sắc, với nhiều tiểu thuyết lịch sử đạt giải qua các lần trao giải về văn học và rất nhiều diễn đàn văn học bàn luận về tác giả và tiểu thuyết lịch sử
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Khám phá những giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc Việt qua các hệ biểu tượng
Trang 5- Trong quá trình nghiên cứu các biểu tượng, chúng tôi sẽ làm rõ một số luận điểm có ý nghĩa định vị giá trị biểu tượng và sự kết nối các giá trị ấy với vấn đề đời sống xã hội, con người đương đại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận án sẽ giới thuyết lại một số vấn đề lý luận về biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử trên tinh thần kế thừa, phát huy các công trình đã nghiên cứu trước đó
- Luận án tập trung khảo sát, nhận diện và phân tích một số hệ biểu
tượng nghệ thuật cơ bản: hệ biểu tượng tự nhiên, hệ biểu tượng con người,
hệ biểu tượng văn hoá trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam
- Luận án sẽ làm rõ vai trò, chức năng của biểu tượng là đơn vị ngôn ngữ đặc trưng - ngôn ngữ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam qua tư duy nghệ thuật của nhà văn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng trực tiếp mà luận án nghiên cứu là biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử thời kỳ đổi mới Về bản chất, biểu tượng nghệ thuật cũng là một loại ký hiệu, hàm chứa và biểu đạt vô vàn giá trị lịch sử,
tư tưởng, văn hóa, của cá nhân, cộng đồng Trong văn học, biểu tượng rời
xa đời sống nguyên khởi của nó để trở thành một dạng ký hiệu, một đơn vị ngôn ngữ quan trọng để kiến tạo nghĩa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Bên cạnh việc đi sâu nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau
1986, ở một chừng mực nào đó, luận án sẽ khảo sát tiểu thuyết lịch sử các giai đoạn trước đó, đồng thời, so sánh tiểu thuyết lịch sử của một số nền
Trang 6văn học khác để thấy rõ hơn thành tựu của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp hệ thống
Phương pháp hệ thống giúp chúng tôi tập hợp được các biểu tượng khác nhau, sắp xếp chúng theo hệ biểu tượng tương ứng để phân tích Phương pháp hệ thống cũng giúp chúng tôi tập hợp được các công trình, bài viết nghiên cứu xoay quanh đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.2 Phương pháp so sánh
Sử dụng phương pháp so sánh, chúng tôi sẽ xác định được bản chất của đối tượng nghiên cứu trong tương quan với đối tượng của các công trình nghiên cứu khác; xác định bản chất của từng loại biểu tượng trong mối quan hệ với các biểu tượng khác
4.3 Phương pháp loại hình
Nói đến loại hình là nói đến tập hợp những sự vật, hiện tượng cùng
có chung những đặc điểm cơ bản nào đó Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi nhận dạng các biểu tượng khác nhau để xếp chúng về một kiểu/ loại phù hợp
4.4 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
Tiếp cận biểu tượng văn học từ góc nhìn văn hóa sẽ giúp luận án có điều kiện khám phá chiều sâu văn hoá, lịch sử nhân loại qua cách biểu đạt giá trị của biểu tượng trong tác phẩm văn học
Trang 7sự học…Vì thế, luận án sẽ sử dụng phương pháp liên ngành nhằm cắt nghĩa sâu hơn cách sử dụng biểu tượng cũng như các tầng nghĩa nằm sâu trong biểu tượng văn học
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt về biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam
- Góp phần hệ thống hóa các tri thức lý thuyết về biểu tượng và biểu tượng văn học, biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử làm cơ sở khám phá giá trị văn hóa và văn học trong tiểu thuyết lịch sử nói riêng và văn học nói chung
- Phân tích hệ biểu tượng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kỳ đổi mới, chỉ ra những thành tựu sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, qua đó, nhận thấy rõ hơn sự giàu có và phong phú của các giá trị văn hóa trong văn học
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lí luận
- Luận án xác định được quan điểm cơ bản về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
- Luận án đóng góp thêm một tiếng nói nghiên cứu tiểu thuyết lịch
sử đương đại Việt Nam từ lý thuyết biểu tượng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận án đi sâu nghiên cứu những giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc qua các hệ biểu tượng, từ đó góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế
- Là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học ở phổ thông và đại học
Trang 87 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Hệ biểu tượng tự nhiên trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam
Chương 3: Hệ biểu tượng con người trong tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam
Chương 4: Hệ biểu tượng văn hóa cộng đồng trong tiểu thuyết lịch
sử đương đại Việt Nam
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Vấn đề nghiên cứu biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử
1.1.1 Nghiên cứu biểu tượng
1.1.1.1 Khái lược tình hình nghiên cứu biểu tượng trên thế giới
Triết học mácxít xem biểu tượng là sản phẩm chủ quan cá nhân trong hoạt động nhận thức của con người, biểu tượng mất đi giá trị văn hoá không thuộc về cái đã có, cổ xưa được tích luỹ qua các thời đại và không
Theo Iu M Lotman, biểu tượng là một ký hiệu văn hóa Ông khẳng định văn hóa là hiện tượng ký hiệu học Mọi hiện tượng văn hóa đều có đặc điểm ký hiệu học
Tóm lại, con đường giải mã biểu tượng khá phong phú, mỗi cách giải mã có những đặc điểm riêng, hình thành nên hệ thống lí luận về biểu tượng
Trang 101.1.1.2 Tình hình nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam
Việc nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam diễn ra theo hai xu hướng chính là dịch thuật các công trình nghiên cứu nước ngoài và vận dụng lí thuyết đã được dịch thuật để nghiên cứu biểu tượng theo từng lĩnh vực đời sống xã hội
Về mặt dịch thuật và giới thiệu lí thuyết, có thể kể đến một số công trình đáng chú ý sau đây: 1/ Từ phân tâm học, chủ yếu là tác phẩm của
Sigmund Freud, Carl Jung như: Vật tổ và cấm kỵ (Đoàn Văn Chúc dịch), Thăm dò tiềm thức (Vũ Đình Lưu dịch); các ấn phẩm đề cập đến biểu
tượng trong mối quan hệ với văn hoá tâm linh, nghệ thuật, tình yêu, tính cách dân tộc do Đỗ Lai Thúy và các cộng sự thực hiện; 2/ Từ ngôn ngữ, ký
hiệu học văn hóa với Ký hiệu học văn hóa của Iu M Lotman (1922-1993)
do nhóm tác giả Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình Sử thực hiện… Những công trình dịch thuật trên có giá trị nền tảng lí thuyết cho hướng nghiên cứu biểu tượng văn hóa và văn học ở Việt Nam
Nghiên cứu biểu tượng trong văn học cũng là hướng nghiên cứu được chú ý trong thời gian qua Tuy hoạt động nghiên cứu cũng đạt được kết quả đáng trân trọng, phản ánh được giá trị to lớn của thế giới biểu tượng trong đời sống xã hội nhưng nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam chưa hướng đến xây dựng hệ thống lí luận đặc thù, chưa thành lập được khoa nghiên cứu biểu tượng độc lập
1.1.2 Nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
Trước 1986, những công trình nghiên cứu về dòng văn học này không nhiều, chỉ là những bài viết ngắn, nhỏ lẻ đăng trên các tạp chí, thảng hoặc xuất hiện một số nhận định khái quát chung nhân đọc tác phẩm của Triêu Dương, Tân Dân Tử, Nguyễn Triệu Luật… Đáng kể nhất trong các
Trang 11công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước 1986 là công
trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ
Từ sau 1986, hoạt động nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử có bước chuyển biến tích cực trên lĩnh vực dịch thuật, cũng như phê bình Nhiều hội thảo chuyên đề về tiểu thuyết lịch sử diễn ra Hội thảo khoa học “Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử” (2012), hội thảo khoa học về nghiên cứu và giảng dạy tiểu thuyết lịch sử (2019), hay toạ đàm về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
Bên cạnh đó, có nhiều công trình luận án nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Luận án tiến sĩ của Bùi Văn Lợi bàn diện mạo và đặc điểm của tiểu
thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 Chuyên
luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 của Nguyễn Thị Tuyết Minh (do
Nxb CAND ấn bản năm 2012) là bước “chạy tiếp sức” rất ý nghĩa, tiếp nối
công trình của Bùi Văn Lợi Luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học của Nguyễn Văn Hùng là một công trình lí luận về
tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kỳ đổi mới Nhìn chung, các tác giả đã phân tích và tìm ra những đặc trưng quan trọng về điểm nhìn trần thuật, kết cấu tự sự, diễn ngôn tự sự của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kì này
1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài
1.2.1 Vấn đề biểu tượng
1.2.1.1 Khái niệm biểu tượng
Biểu tượng là gì? Theo nhà ký hiệu học văn hóa Iu.Lotman thì “từ
biểu tượng (symbol) là một trong những từ nhiều nghĩa nhất trong hệ thống các khoa học về ký hiệu” Tác giả J.Chevalier lại cho rằng “Không định nghĩa được biểu tượng Tự bản chất của nó, phá vỡ các khuôn khổ định sẵn
Trang 12và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm Nó giống như mũi tên bay
mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không nắm bắt được” Khảo sát những định nghĩa về biểu tượng từ các bộ từ điển, chúng ta
nhận thấy có sự tương đồng nhau khi xem biểu tượng là cái đại diện, biểu hiện cho cái gì đó, ngoài nó và khác nó Đó có thể là một vật, một hình
ảnh, một hành vi, một nghi thức, nghi lễ… có tính “ý niệm” được xã hội thừa nhận Có thể coi biểu tượng gồm có hai thành tố “Cái biểu đạt” và
“Cái được biểu đạt”
1.2.1.2 Phân biệt biểu tượng với một số dạng thức tương cận Biểu trưng: Là bày ra, trưng ra cho nhận thấy một cái gì đó Vật
được chọn làm biểu trưng có quan hệ nghĩa “gần gũi hay chồng khớp” với giá trị được diễn đạt
Ký hiệu: Ký hiệu được hiểu theo hai nghĩa: (1) - dấu hiệu vật chất
đơn giản do quan hệ tự nhiên hoặc do quy ước, được coi như thay cho một thực tế phức tạp hơn (chữ viết, ký hiệu hóa học); (2) - cái có thể nhận biết trực tiếp, cho phép kết luận về sự tồn tại hoặc về tính chân thực với một cái khác liên hệ với nó (chữ cái)
Dấu hiệu: Dấu hiệu là một từ rất thông dụng trong đời sống hằng
ngày Đó là dấu để làm hiệu, báo hiệu một cái gì đó sắp sửa xảy ra Vật làm “dấu” cũng đơn giản là hình ảnh, cử chỉ, màu sắc…có tính ước lệ
Tín hiệu: Tín hiệu là một từ có hàm nghĩa cố định, bất biến và
không thay thế cho vật nào
Ẩn dụ: Là phương thức chuyển nghĩa của cái này cho cái kia Mối
quan hệ giữa vật/cái biểu đạt và cái được biểu đạt dựa trên cơ sở tương đồng nhau
Trang 13Phúng dụ: Là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta dùng hình
ảnh cụ thể, sinh động để biểu thị một ý niệm về triết lý nhân sinh hay một bài học luân lý đạo đức, nhằm làm cho sự trình bày đó trở nên sâu sắc, thâm thúy
1.2.1.3 Hình tượng nghệ thuật và biểu tượng nghệ thuật
Trong tác phẩm văn học, hình tượng và biểu tượng không phải là những cái song trùng cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào nhau mà nằm trong cấu trúc hình tượng của tác phẩm Gốc của hình tượng được xây dựng
từ tư duy hình tượng chủ quan của người nghệ sĩ còn gốc của biểu tượng thuộc về văn hoá và tâm thức cộng đồng Nếu hình tượng thường đồng hoá mình với những giá trị bên ngoài, phảng phất trong đó những mẫu hình nghệ thuật bên cạnh nó thì biểu tượng có sự đồng hoá nội tại các giá trị vào mình
để tạo nên thế giới khó phân định, khó nắm bắt cụ thể
1.2.2 Vấn đề tiểu thuyết lịch sử
1.2.2.1 Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử
Như tên gọi, thể tài tiểu thuyết lịch sử có sự kết hợp chặt chẽ giữa hai thành tố lịch sử và tiểu thuyết, chất liệu hiện thực và đặc trưng phản ảnh của loại hình nghệ thuật ngôn từ Theo quan niệm truyền thống, tiểu thuyết lịch sử là sự tái hiện chân thực về lịch sử đã qua Theo quan niệm hiện đại, tiểu thuyết lịch sử là diễn ngôn lịch sử dưới cái nhìn của thời đại dân chủ hóa, toàn cầu hóa Nhà văn viết về lịch sử theo nguyên tắc “hoài
cổ vi kim”
Chúng ta có thể khái quát những quan điểm nhận thức về tiểu thuyết lịch sử như sau: 1) Lịch sử là nguồn cảm hứng nghệ thuật trong quá trình sáng tác; 2) Lịch sử không phải là lâu đài để nhà văn chạy trốn hiện thực đang diễn ra mà là cái cớ để nhà văn trải nghiệm, chất vấn hiện tại và tương
Trang 14lai; 3) Tính quy mô, bao quát rộng lớn các vấn đề của hiện thực bằng nhận thức mới của thời đại làm cho các sự kiện, nhân vật lịch sử trở nên gần gũi với đời sống đương đại hơn so với khoa học lịch sử; 4) Hư cấu nghệ thuật không thể thiếu khi viết về lịch sử Hư cấu khác với bịa đặt, viết lại lịch sử 1.2.2.2 Vài nét về tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam
Về mặt nghệ thuật trần thuật: Kết cấu, ngôn ngữ, điểm nhìn, giọng điệu trần thuật của tiểu thuyết lịch sử thể hiện rõ nhất sự đổi mới Về phương diện hiện thực lịch sử: Các nhà văn không ngần ngại gia cố chất đời tư, thế sự vào các nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử Về khuynh hướng sáng tác: Căn cứ vào kết cấu nghệ thuật sẽ có các kiểu loại tiểu
thuyết theo kết cấu nhân/quả, tiểu thuyết theo kết cấu tuyến nhân vật chính diện/phản diện, tiểu thuyết theo kết cấu chương hồi, tiểu thuyết theo kết
cấu mang dấu ấn hậu hiện đại Căn cứ vào mục đích sẽ có tiểu thuyết lịch
sử chính sử, giáo huấn, tiểu thuyết lịch sử - văn hóa Căn cứ vào tính chất
và chức năng phản ảnh sẽ có khuynh hướng tiểu thuyết mô phỏng lịch sử
và khuynh hướng tiểu thuyết hư cấu lịch sử
1.3 Hướng tiếp cận của luận án
Hướng tiếp cận của luận án xác định hai vấn đề cơ bản là tiểu thuyết lịch sử và hệ biểu tượng
Tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam (khái niệm đương đại vừa dùng để nói đến thời gian ấn hành tác phẩm vừa nói đến phương thức sáng tạo và tiếp nhận khác với trước đó, tính từ 1986) có nhiều khuynh
hướng sáng tác, nhưng khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử - văn hóa là khuynh hướng nổi bật hơn cả Đó là những diễn ngôn về lịch sử, văn hóa mang cảm quan nghệ thuật thời đại dân chủ, hội nhập