Những mục tiêu nên trên có thể đạt được thông qua việc hình thành và phát triển hệ thống các KCNST, trong đó thúc đẩy khả năng kết hợp với giải pháp giảm chất thải và phát thải tại
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TSKH Nguyễn Bích Đạt
2 TS Nguyễn Đình Chúc
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trần Duy Đông
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC HỘP xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 4
2.1 Mục đích nghiên cứu 4
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 5
4.1 Phương pháp luận 5
4.2 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp mới về khoa học của Luận án 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 10
7 Cơ cấu của luận án 10
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 12
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 12
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 16
1.3 Tổng kết về tình hình nghiên cứu 21
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI 24
2.1 Các khái niệm 24
2.1.1 Kinh tế tuần hoàn 24
2.1.2 Sinh thái học công nghiệp 27
2.1.3 Cộng sinh công nghiệp 28
2.1.4 KCN và phát triển KCN 30
Trang 52.1.5 Khu công nghiệp sinh thái 31
2.2 Vai trò của khu công nghiệp sinh thái 32
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển KCNST 36
2.3.1 Các nhân tố khách quan 36
2.3.2 Các nhân tố chủ quan 38
2.3.3 Các bên liên quan đến sự hình thành và phát triển khu công nghiệp sinh thái 39
2.4 Các tiêu chí xác định khu công nghiệp sinh thái 42
2.5 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển khu công nghiệp sinh thái 44
2.5.1 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển KCNST 44
2.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 62
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI 64
3.1 Tổng quan tình hình phát triển các khu công nghiệp 64
3.2 Vai trò của KCN trong phát triển kinh tế- xã hội 67
3.2.1 Thu hút nguồn lực đầu tư 67
3.2.2 Thúc đẩy thương mại 68
3.2.3 Đóng góp vào ngân sách nhà nước 70
3.2.4 Giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho người lao động 71
3.2.5 Tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế 73
3.3 Đánh giá thực trạng phát triển khu công nghiệp theo góc độ khu công nghiệp sinh thái 74
3.3.1 Tính bền vững về kinh tế 74
3.3.2 Tính bền vững về xã hội 78
3.3.3 Tính bền vững về môi trường 80
3.3.4 Khả năng đáp ứng các tiêu chí về KCNST 83
3.4 Đánh giá Chi phí - Lợi ích và tiềm năng chuyển đổi thông qua các kết quả thí điểm 87
3.4.1 Khai thác hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn trong doanh nghiệp 87
3.4.2 Tiềm năng cộng sinh trong khu công nghiệp 93
Trang 63.5 Điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT) của việc phát triển khu
công nghiệp theo mô hình khu công nghiệp sinh thái Việt Nam 104
3.5.1 Điểm mạnh 104
3.5.2 Điểm yếu 106
3.5.3 Cơ hội 107
3.5.4 Thách thức 108
CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP CHO VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI Ở VIỆT NAM 110
4.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến sự phát triển KCNST ở Việt Nam 110
4.1.1 Bối cảnh quốc tế 110
4.1.2 Bối cảnh trong nước 112
4.2 Quan điểm và yêu cầu đối với sự phát triển KCNST ở Việt Nam dưới góc độ quản lý nhà nước 114
4.2.1 Quan điểm phát triển KCNST 114
4.2.2 Yêu cầu phát triển KCNST 115
4.3 Định hướng phát triển KCNST tại Việt Nam 116
4.3.1 Định hướng chung 116
4.3.2 Mô hình phát triển 117
4.3.3 Trình tự thí điểm chuyển đổi một số KCN hiện tại sang KCNST ở Việt Nam 122
4.4 Một số giải pháp hình thành và phát triển KCNST 125
4.4.1 Giải pháp về quản trị 125
4.4.2 Giải pháp về quy hoạch phát triển và quy hoạch xây dựng KCNST 129 4.4.3 Nhóm giải pháp về thể chế, chính sách 130
4.4.4 Nhóm giải pháp về các biện pháp hỗ trợ 142
4.5 Một số kiến nghị 146
4.5.1 Đối với chính quyền trung ương 146
4.5.2 Đối với chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương 146
4.5.3 Đối với các Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh 147
4.5.4 Đối với Công ty phát triển hạ tầng KCNST 147
Trang 74.5.5 Đối với doanh nghiệp trong KCNST 148
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
CÁC PHỤ LỤC 163
Phụ lục 1 Các mô hình khu công nghiệp 163
Phụ lục 2 Vai trò của khu các công nghiệp, khu kinh tế trong thu hút đầu tư 173
Phụ lục 3 Vai trò của các khu công nghiệp, khu kinh tế trong việc dịch chuyển lao động 177
Phụ lục 4 Minh họa về mức độ đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư của các khu công nghiệp 179
Phụ lục 5 Tổng kết điểm mạnh và hạn chế của sự phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua 182
Phụ lục 6a Mẫu phiếu khảo sát thông tin cơ sở về KCN 188
Phụ lục 6b Tổng hợp kết quả khảo sát hiện trạng KCN 190
Phụ lục 7 Danh sách các cơ hội cộng sinh công nghiệp (sơ bộ) tại Khánh Phú (tỉnh Ninh Bình), Hòa Khánh (thành phố Đà Nẵng) và Trà Nóc 1&2 (thành phố Cần Thơ) 196
Phụ lục 8a Mẫu phiếu tham vấn mức độ đáp ứng tiêu chí về KCNST của các KCN thực hiện thí điểm chuyển đổi 200
Phụ lục 8b Kết quả khảo sát tham vấn mức độ đáp ứng tiêu chí về KCNST của các KCN thực hiện thí điểm chuyển đổi 202
Phụ lục 9 Phân tích Điểm mạnh-điểm yếu-cơ hội-thách thức (SWOT) của thực trạng phát triển khu công nghiệp nhằm chuyển đổi sang mô hình KCNST ở Việt Nam 204
Phụ lục 10a Mẫu phiếu Tham vấn chuyên gia về tiềm năng chuyển đổi sang KCN sinh thái 206
Phụ lục 10b Kết quả tham vấn chuyên gia về tiềm năng chuyển đổi sang KCN sinh thái 208
Trang 8CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt
CĐCN Chuyển đổi công nghiệp
CSCN Cộng sinh công nghiệp
CTNH Chất thải nguy hại
CTR Chất thải rắn
KCN Khu công nghiệp
KCNC Khu công nghệ cao
KCNST Khu công nghiệp sinh thái
KCNTTTT Khu công nghệ thông tin tập trung KCX Khu chế xuất
NCS Nghiên cứu sinh
PCCC Phòng cháy chữa cháy
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
STCN Sinh thái công nghiệp
SXSH Sản xuất sạch hơn
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
Trang 9Tiếng Anh
CE Nền kinh tế tuần hoàn (Circular Economy)
DEC Ủy ban Doanh nghiệp Devens (Devens Enterprise
Commission) EID Nhóm nghiên cứu phát triển CNST (Eco-industrial
Development FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct
Investment) KICOX Tổng công ty Công nghiệp Hàn Quốc (Korea Industrial
Complex Corporation-KICOX) MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Ministry of Planning and
Investment) NDRC Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia Trung Quốc
(National Development and Reform Commission of the People's Republic of China)
NPCEZP Chương trình thí điểm quốc gia khu kinh tế tuần hoàn
(National Pilot Circular Economy Zone Program) NPEIPP Chương trình thí điểm EIP quốc gia (National Pilot EIP
Program) RECP Hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn (Resource
Efficient and Cleaner Production) RMB Nhân dân tệ
SS Chất rắn lơ lửng (Suspended Solids)
TEDA Khu công nghiệp Thiên Tân (China's Tianjin
Economic-Technological Development Area) UNIDO Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (United
Nations Industrial Development Organization) USD Đô la Mỹ (US Dollar)
VDG Mục tiêu Phát triển Việt Nam (Vietnam Development
Goal)
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các lợi ích kinh tế - xã hội tiềm năng của KCNST 34Bảng 2.2 Các chính sách của chính phủ Trung Quốc 57Bảng 3.3 Thu hút FDI vào KCN và KKT ven biển, lũy kế đến hết tháng 12/2017 68Bảng 3.4 Cơ cấu thương mại trong và ngoài KCN, KKT ven biển năm
2017 69Bảng 3.5 Thực trạng lao động trong và ngoài KCN, giai đoạn 2011 - 2017 72Bảng 3.6 Tổng hợp khối lượng xả thải từ hệ thống KCN của cả nước 80Bảng 3.7 Thực trạng xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại KCN lũy
kế đến hết tháng 12/2017 81Bảng 3.8 Đánh giá kết quả thực hiện sản xuất sạch hơn trong khuôn khổ dự án MPI-UNIDO (2016) 83Bảng 3.9 Mức độ đáp ứng các tiêu chí KCNST theo nghị định 82/2018/NĐ-
CP 84Bảng 3.10 Số lượng các DN được đánh giá RECP và Đề xuất giải pháp 88Bảng 3.11 Lợi ích việc thực hiện RECP tại các DN 89Bảng 3.12 Các loại hình cộng sinh công nghiệp được đề xuất nghiên cứu khả thi 95Bảng 3.13 Lợi ích Kinh tế - Môi trường tiềm năng của cộng sinh công nghiệp 97Bảng 4.14 Sơ bộ định hướng khung chỉ tiêu KCNST của Việt Nam 132Bảng 4.15 Danh mục các văn bản cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới về quản
lý môi trường trong KCNST 135Bảng PL.16 Thực trạng phát triển các KCN trên phạm vi cả nước lũy kế đến tháng 12/2017 164Bảng PL.17 Quy mô vốn của các dự án FDI trong KCN so với ngoài KCN, lũy kế đến hết tháng 12/2017 173Bảng PL.18 Danh sách 20 nền kinh tế đầu tư nhiều nhất vào KCN, KKT ven biển tại Việt Nam, lũy kế đến hết tháng 12/2017 175Bảng PL.19 Đánh giá của doanh nghiệp về điều kiện sản xuất và dịch vụ hạ tầng trong KCN năm 2005 180
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình MĐ.1 Khung nghiên cứu của Luận án 6
Hình 2.2 Sơ đồ các khung khổ bền vững 26
Hình 2.3 Tổng quan các lợi ích từ KCNST đối với một số chủ thể 36
Hình 2.4 Phân kỳ phát triển KCN tại Việt Nam và các dấu mốc quan trọng 64 Hình 3.5 Quy mô doanh thu của doanh nghiệp trong KCN lớn hơn doanh nghiệp ngoài KCN hàng năm 70
Hình 3.6 Số thu NSNN bình quân doanh nghiệp trong KCN so với ngoài KCN 71
Hình 3.7 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta trong giai đoạn 2011 - 2016 74
Hình 3.8 Tỷ lệ lấp đầy của các KCN đã đi vào hoạt động lũy kế đến hết tháng 12/2017 75
Hình 3.9 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất của nhà máy Tràng An 90
Hình 3.10 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất giấy tại nhà máy Tân Long 91 Hình 3.11 Quy trình xây dựng và thực hiện cộng sinh công nghiệp 94
Hình 3.12 Thu hồi nhiệt thải giữa Nhà máy kính nổi Tràng An và Công ty May Nien Hsing (Ninh Bình) 100
Hình 3.13 Vị trí của Pepsico Việt Nam, Bia Sài Gòn – Miền Tây, Vinamilk và Nhà máy xử lý nước thải tập trung 102
Hình 4.14 Các nguyên tắc phát triển KCNST 117
Hình 4.15 Mô hình tổng quan về KCNST tại Việt Nam 119
Hình 4.16 Quy trình triển khai KCNST tại Việt Nam 122
Hình 4.17 Mô hình quản trị KCNST tại Việt Nam 125
Hình 4.18 Các nguyên tắc xây dựng hệ tiêu chí đánh giá KCNST 131
Hình PL.19 Quy mô dự án FDI trong KCN và ngoài KCN lũy kế đến hết tháng 12/2017 phân theo địa phương (triệu USD) 174
Hình PL.20 Chuyển dịch cơ cấu lao động nước ta trong giai đoạn 2011 - 2017 177
Hình PL.21 Cơ cấu trình độ lao động trong khu công nghiệp 178
Hình PL.22 Tiền lương sản xuất theo giờ và chỉ số giá đất công nghiệp của Việt Nam so với một số quốc gia trong khu vực 179
Trang 12DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1 Cắt giảm CO2 – Con số biết nói 96Hộp PL.2 Mức độ tinh vi trong kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam ở mức rất thấp so với các nền kinh tế trong khu vực 184
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống các khu công nghiệp (KCN) đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện chiến lược mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển công nghiệp và khuyến khích xuất khẩu ở nước ta Tính đến cuối tháng
6 năm 2020, cả nước có 335 KCN đã thành lập trong đó 260 KCN đi vào hoạt động
và 75 KCN đang đền bù, giải phóng mặt bằng., tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng, và Tây Nam Bộ Các doanh nghiệp trong KCN đã góp phần nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước, xuất khẩu và tạo công ăn việc làm
Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ tính riêng năm 2019, các KCN đã tạo ra tổng giá trị sản lượng khoảng 219 tỷ Đô la Mỹ, trong đó, kim ngạch xuất khẩu tương đương 59% giá trị sản lượng và đạt gần 130 tỷ Đô la Mỹ, đóng góp gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Cũng trong thời gian này, các doanh nghiệp trong KCN đóng ngân sách lên tới 128 nghìn tỷ đồng Hàng năm, doanh nghiệp trong các KCN tạo ra khoảng 40 - 45% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước và hiện lũy kế tạo công ăn việc làm cho hơn 3,5 triệu người lao động
Bên cạnh những đóng góp tích cực nêu trên, quá trình phát triển hệ thống các KCN với tốc độ nhanh đang gây ra nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường Cả nước còn 29 KCN, tương ứng 11% trong số các KCN đang hoạt động, chưa có
hệ thống xử lý nước thải tập trung đi vào hoạt động Nước thải từ một số KCN được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận chưa qua xử lý, gây ô nhiễm đối với nước mặt cũng như hệ sinh thái dưới nước, đồng thời gây nên những tác động tiêu cực tới nông nghiệp, thủy sản và nguồn nước uống của người dân
Lượng chất thải rắn do các doanh nghiệp tại các KCN thải ra cũng ngày càng gia tăng, với chất thải rắn nguy hại chiếm tới 20% lượng rác thải Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm không khí đang trở nên ngày càng trầm trọng tại các khu vực có các KCN sử dụng công nghệ lạc hậu và không có hệ thống xử lý khí thải Hệ thống máy phát điện công nghệ lạc hậu trong nhiều KCN cũng đang góp phần vào việc xả khí thải gây ra hiệu ứng khí nhà kính, gây ra biến đổi khí hậu Các bệnh nghề nghiệp liên quan đến hệ hô thấp, các giác quan, cũng trở nên phổ biến đối với công nhân và nhân viên trực tiếp tiếp xúc với môi trường ô nhiễm tại các KCN Hơn nữa, vấn đề liên kết sử dụng chung dịch vụ hạ tầng, tái sử dụng rác thải, nước thải
và phụ phẩm nhằm sử dụng năng lượng hiệu quả hơn và ứng dụng các biện pháp
Trang 14sản xuất sạch hơn, tăng khả năng cạnh tranh cũng chưa được các doanh nghiệp trong KCN và các công ty phát triển hạ tầng KCN quan tâm đúng mức
Tình hình trên cho thấy, bên cạnh việc tiếp tục tuy trì và thúc đẩy những đóng góp tích cực của các KCN vào tăng trưởng kinh tế, cũng cần chú ý tập trung
xử lý các vấn đề môi trường bên trong và bên ngoài KCN, giảm chất thải và phát thải tại các KCN, tái chế và tái sử dụng sản phẩm phụ, sử dụng hiệu quả tài nguyên
và năng lượng Thúc đẩy phát triển KCN theo hướng bền vững, ứng dụng lý thuyết sinh thái học công nghiệp, hiện thực hóa nền kinh tế tuần hoàn trong sản xuất, cụ thể là phát triển KCNST, là một trong những cách tiếp cận góp phần xử lý tại nguồn các vấn đề về môi trường trong quá trình sản xuất công nghiệp KCNST có thể được hình thành mới hoặc hình thành từ việc chuyển đổi các KCN hiện hữu, trong
đó khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực năng lượng, nước, nguyên vật liệu, tái sử dụng rác thải, giảm thải và thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài khu
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã đặt trọng tâm phát triển bền vững các KCN trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường Các quốc gia này đã chủ động xây dựng các cơ chế, chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp trong KCN sử dụng chung dịch vụ hạ tầng, tái sử dụng rác thải, nước thải và phụ phẩm nhằm giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh thông qua thúc đẩy mô hình khu công nghiệp sinh thái (KCNST) Mô hình KCNST đã được phát triển khá sớm ở các nước châu Âu,
Mỹ, sau đó đến một số quốc gia Châu Á Liên hợp quốc cũng coi việc phát triển KCNST như là một trong những trọng tâm thúc đẩy phát triển bền vững công nghiệp toàn cầu Từ việc hỗ trợ thí điểm mô hình KCNST tại 7 quốc gia, trong đó
có Việt Nam, từ năm 2013 đến nay việc triển khai thí điểm đã được nhân rộng tại hơn 40 KCN trên 17 quốc gia Với những kết quả tích cực dưới góc độ hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và sản xuất sạch hơn, hiện nay, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) đang tiếp tục đẩy mạnh chương trình phát triển KCNST trên nhiều quốc gia
Nền tảng lý luận về KCNST được xây dựng từ thực tiễn phát triển các KCN, cụm liên kết, chuỗi sản xuất… trên thế giới Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến KCNST như sinh thái công nghiệp, cộng sinh công nghiệp, chuyển hóa công nghiệp hay kinh tế toàn hoàn, nhưng đây là các nghiên cứu ở những thời điểm khác nhau, hoặc chưa nghiên cứu toàn diện kết nối các lý thuyết liên quan này Các nghiên cứu này cũng chưa được quan tâm nghiên cứu tại các quốc gia có điều kiện phát triển tương đồng với Việt Nam
Trang 15Giảm thiểu những tác động tiêu cực của việc phát triển các KCN, cải thiện các tác động về môi trường, thúc đẩy sử dụng năng lượng có hiệu quả, đẩy mạnh hợp tác giữa các doanh nghiệp, tăng cường lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp, ngày càng trở nên cấp thiết trong thực tế phát triển bền vững ở nước ta Những mục tiêu nên trên có thể đạt được thông qua việc hình thành và phát triển hệ thống các KCNST, trong đó thúc đẩy khả năng kết hợp với giải pháp giảm chất thải và phát thải tại doanh nghiệp, tái chế và tái sử dụng sản phẩm phụ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng Các tiêu chí kỹ thuật về môi trường, kinh tế, xã hội, các điều kiện chuyển đổi thành KCNST được cụ thể hóa, cùng với các nhiệm vụ được quy định rõ ràng cho các cơ quan ở trung ương và địa phương sẽ giúp các công ty phát triển hạ tầng KCN và các doanh nghiệp trong KCN hiện thực hóa mô hình KCNST trong thực tiễn.
Xuất phát từ khía cạnh quản lý nhà nước, Chính phủ đã ban hành một số chiến lược phát triển trong đó yếu tố phát triển bền vững là quan điểm xuyên suốt như: Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2010-2020, Chiến lược tăng trưởng xanh 2010-2020, Chiến lược phát triển bền vững thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ (Agenda21)… Đồng thời, lần đầu tiên mô hình KCNST đã được thể chế hóa tại Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, trong đó đã đưa ra khái niệm cơ bản về KCNST, mục tiêu xây dựng hình thành KCNST, một số tiêu chí cơ bản và ưu đãi cho KCNST Tuy nhiên, để triển khai được mô hình này trên thực tiễn, cần nghiên cứu
cụ thể hóa các tiêu chí kỹ thuật ở góc độ kinh tế, môi trường và xã hội, các điều kiện để chuyển đổi KCN thông thường sang KCNST; đưa ra các giải pháp thực thi
ở cấp độ trung ương (ban hành các cơ chế chính sách còn thiếu, sửa đổi các quy định luật pháp còn vênh nhau, chưa tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển KCNST,…), và ở cấp độ địa phương (các nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ban quản lý KCN, cơ chế phối hợp và những ưu đãi có thể được áp dụng,…); Quan trọng hơn là cần cụ thể hóa các nhiệm vụ mà các công ty hạ tầng KCN và doanh nghiệp KCN, là các bên trực tiếp hưởng lợi từ mô hình Đây là những việc cần triển khai để hiện thực hóa mô hình KCNST trong thực tiễn và là những yêu cầu cấp bách cần nghiên cứu triển khai sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế
Chính sự cần thiết, tiềm năng phát triển và khoảng trống trong hệ thống quy định pháp lý và quản lý nhà nước đối với KCNST tại Việt Nam đã thúc đẩy nghiên
cứu sinh (NCS) lựa chọn đề tài: “Phát triển khu công nghiệp sinh thái ở Việt Nam” cho Luận án Tiến sỹ của mình trong chuyên ngành Quản lý kinh tế
Trang 162 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Một cách tổng thể, Luận án có mục đích đề xuất các giải pháp nhằm hình thành và phát triển các KCNST ở Việt Nam thông qua việc rà soát, đúc kết các kiến thức từ các nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn ở các nước về KCNST đồng thời đánh giá thực trạng phát triển KCN(ST) ở Việt Nam để làm rõ cơ sở lý luận và nghiên cứu vận dụng vào Việt Nam
- Trên cơ sở lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng phát triển KCN ở Việt Nam, đề xuất một số giải pháp về chính sách và quản lý thúc đẩy hình thành và phát triển KCNST ở nước ta
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án là trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Nền tảng lý luận cơ bản nào cho việc phát triển KCNST?
- Kinh nghiệm phát triển KCNST của các nước có thể đúc rút những bài học nào cho Việt Nam?
- Những vấn đề đặt ra từ sự phát triển của các KCN tại Việt Nam thời gian qua và khả năng phát triển KCNST tại Việt Nam trên cơ sở chuyển đổi các KCN truyền thống?
- Các giải pháp nào có thể giúp hình thành và phát triển KCNST trong bối cảnh phát triển ở Việt Nam?
Trang 17- Những kiến nghị cụ thể đối với các bên có liên quan trong việc hình thành
và phát triển KCNST là như thế nào?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án:
Luận án nghiên cứu sự hình thành các KCNST từ việc chuyển đổi các KCN truyền thống
- Phạm vi về nội dung:
Luận án nghiên cứu các giải pháp hình thành KCNST từ góc độ quản lý nhà nước, tập trung vào các nhóm giải pháp về quản trị và quy hoạch, giải pháp về thể chế và chính sách, giải pháp về các biện pháp hỗ trợ phát triển KCNST
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận của luận án được cụ thể hóa bởi các nội hàm của KCNST
và sơ đồ hóa trong Hình 1 ở trang sau đây:
Trang 18Hình MĐ.1 Khung nghiên cứu của Luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Là luận án chuyên ngành quản lý kinh tế, các phương pháp nghiên cứu được
sử dụng bao gồm các nghiên cứu lý luận nhằm tổng quát hóa và hệ thống hóa các nghiên cứu trước đây, kinh nghiệm của các nước, đồng thời hình thành cơ sở lý thuyết cho việc phát triển KCNST ở nước; phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp thống kê mô tả, so sánh đối chiếu; phương pháp phân tích lợi ích – chi phí, SWOT; và phương pháp điều tra, khảo sát lấy ý kiến chuyên gia
Phương pháp nghiên cứu bàn giấy, tổng quan tài liệu
Thu thập, phân tích các dữ liệu nghiên cứu bao gồm các nghiên cứu, đề tài trong và ngoài nước đã được thực hiện gồm các nghiên cứu sơ cấp, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn liên quan đến các nội dung Luận
Trang 19án Đây là phương pháp được áp dụng một cách nhất quán đối với toàn bộ nội dung của Luận án Phương pháp này giúp tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
về KCNST, khái quát hoá hệ thống lý luận về KCNST, những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng KCNST cũng như kinh nghiệm của các nước trong việc chuyển đổi KCN truyền thống thành KCNST
Phương pháp phân tích hệ thống
KCNST là một khái niệm liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực; từ tổ chức hành chính và quản trị và các vấn đề về kinh tế, đến môi trường, xã hội và cộng đồng Chính vì vậy, Luận án sẽ sử dụng cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu Phương pháp phân tích hệ thống coi đối tượng nghiên cứu, mà ở đây là các KCNST, như một hệ thống Khi phân tích các thành tố, phần tử của hệ thống để phát hiện tính chỉnh thể của hệ thống, các thành tố phần tử được nghiên cứu như là một “tập con” để phân tích và có kiến giải về giải pháp quản lý đối với hệ thống cụ thể hơn
Phương pháp này, kết hợp với kết quả phân tích theo các phương pháp định tính để luận bàn, đề xuất cơ chế, chính sách để xây dựng và phát triển KCNST ở Việt Nam áp dụng trong các chương 3 và 4 của luận án
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp này là việc nghiên cứu đối tượng ở hai hoặc nhiều thời điểm khác nhau hoặc ở các địa điểm khác nhau nhằm tìm kiếm sự khác biệt, xu hướng thay đổi và các yếu tố ảnh hưởng đến các thay đổi ghi nhận được Luận án sử dụng phương pháp này trong việc so sánh đối chiếu kinh nghiệm phát triển KCNST quốc
tế để đúc rút bài học kinh nghiệm cho phát triển KCNST ở Việt Nam và để nghiên cứu bức tranh hiện trạng phát triển của các KCN ở nước ta nhằm xác định tiềm
năng chuyển đổi
Phương pháp thống kê mô tả
Luận án sử dụng thống kê mô tả để trình bày và phân tích các loại số liệu khác nhau thu thập được từ thực tế và từ các nghiên cứu, điều tra trước đây như cơ
sở dữ liệu tổng điều tra doanh nghiệp bắt đầu từ năm 2001 cho đến nay; cơ sở dữ liệu về KCN trong giai đoạn 2011-2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; cơ sở dữ liệu của các nghiên cứu về KCN trong thời gian qua Luận án cũng thu thập và mô tả các số liệu thống kê của các KCNST thí điểm thông qua các bộ số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và đầu tư
Trang 20Phương pháp phân tích Chi phí - Lợi ích
Đây là phương pháp mang tính hệ thống để tính toán và so sánh lợi ích và chi phí của việc thực hiện một hoạt động (ví dụ như dự án, chính sách, can thiệp, đầu tư ) nhằm xác định tính đúng đắn, khả thi của việc thực hiện hoạt động đó Luận án phân tích lợi ích, chi phí của việc thực hiện chuyển đổi ở 04 KCN tại tỉnh Ninh Bình và thành phố Đà Nẵng và Cần Thơ thuộc đối tượng nghiên cứu thông qua việc đánh giá chi phí tài chính đầu tư và lợi ích (kinh tế, môi trường) thu được
từ việc thực hiện các sáng kiến KCNST từ đó đưa ra các gợi ý cho việc mở rộng thực hiện chuyển đổi ở quy mô toàn quốc
Phương pháp phân tích Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức (SWOT)
Đây là một công cụ hữu ích để nhận diện, đánh giá các năng lực và tiềm năng nội tại (Điểm mạnh - Điểm yếu) đồng thời đánh giá các yếu tố bên ngoài tác động đến chủ thể nghiên cứu (Cơ hội - Thách thức) Trong phạm vi của Luận án, NCS khai thác phương pháp SWOT truyền thống bằng cách xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để tổng kết, bổ trợ cho việc đánh giá tiềm năng chuyển đổi sang KCNST và các yếu tố tác động đến quá trình chuyển đổi này
ở Việt Nam trước khi đưa ra các đề xuất về lộ trình và giải pháp chuyển đổi
Phương pháp điều tra, khảo sát và lấy ý kiến chuyên gia
Luận án sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát nhằm thu thập thông tin về các KCN đang được thí điểm chuyển đổi sang KCNST Đồng thời, luận án cũng
sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm có được những ý kiến xác đáng phục vụ việc phân tích và đề xuất chính sách cho việc phát triển KCNST ở nước
ta Từ kết quả thu được thông qua sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát và lấy ý kiến chuyên gia, Luận án đúc rút và nêu bật những đánh giá để đưa ra các kết luận Luận án thực hiện và sử dụng số liệu thu thập được từ 3 cuộc điều tra:
1) Thứ nhất: Tìm hiểu thông tin cơ sở về KCN thí điểm
Đối tượng: Ban quản lý các KCN thuộc các tỉnh/thành phố Ninh Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ
Thời gian thực hiện: tháng 12/2016
Mẫu phiếu: Bảng hỏi gồm 28 câu hỏi dạng bán cấu trúc (phụ lục 6a)
Hình thức thu thập thông tin: gửi phiếu qua đường bưu điện/email
Hình thức xử lý thông tin: lập bảng tổng hợp thông tin (phụ lục 6b)
2) Thứ hai: Tham vấn chuyên gia về tiềm năng chuyển đổi sang KCNST
Trang 21Đối tượng: Cán bộ quản lý cấp Vụ, cấp Sở phụ trách quản lý nhà nước về KCN
Thời gian thực hiện: từ tháng 12/2017 đến tháng 12/2018
Mẫu phiếu: Bảng câu hỏi mở (Phụ lục 10a)
Hình thức thu thập thông tin: thảo luận/phỏng vấn trực tiếp; ghi âm, ghi kết quả trực tiếp lên phiếu
Hình thức xử lý thông tin: tổng kết và tóm tắt kết quả, lồng ghép trong các nội dung của Luận án (phần lớn cho phần phân tích SWOT và chương 4);
Báo cáo kết quả khảo sát chi tiết tại Phụ lục 10b
Quy mô: 30 quan sát
3) Thứ ba: Mức độ đáp ứng tiêu chí về KCNST của các KCN thực hiện thí điểm chuyển đổi
Đối tượng: các Ban quản lý KCN thuộc các tỉnh/thành phố Ninh Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai, Hải Phòng và các công ty phát triển hạ tầng KCN Khánh Phú, Gián Khẩu, Hòa Khánh, Trà Nóc 1&2, Amata và Đình Vũ Thời gian thực hiện: tháng 3/2019
Mẫu phiếu: Bảng hỏi gồm 8 câu hỏi dạng bán cấu trúc (phụ lục 8a)
Hình thức thu thập thông tin: gửi phiếu qua đường bưu điện/email
Hình thức xử lý thông tin: lập bảng tổng hợp câu trả lời (phụ lục 8b)
Quy mô: 12 quan sát
5 Đóng góp mới về khoa học của Luận án
Trên cơ sở tổng quát hoá, phân tích thực trạng, đánh giá khả năng chuyển đổi và thu thập ý kiến các chuyên gia về phát triển KCN và chuyển đổi sang KCNST ở Việt Nam, Luận án đã có những đóng góp mới về mặt khoa học Cụ thể là:
- Làm rõ nền tảng lý thuyết về phát triển KCNST, hệ thống hoá các lý luận
về KCNST làm cơ sở cho việc đánh giá, phân tích khả năng chuyển đổi và phát triển KCNST ở Việt Nam
- Tổng hợp và đưa ra được khái niệm KCNST và sử dụng cách tiếp cận sáng kiến KCNST xuyên suốt trong các nội dung phân tích và đánh giá Hệ thống hoá
và xác định các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển KCNST Luận án đã bước đầu
đề cập đến hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và xếp loại KCNST cho Việt Nam
Trang 22- Rút ra những bài học kinh nghiệm quan trọng từ việc nghiên cứu thực tiễn của các nước cho việc hình thành và phát triển KCNST ở Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KCN ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2017 từ góc độ phát triển KCNST thông qua các số liệu thống kê và điều tra chính thức của các cơ quan thuộc Chính phủ, kết hợp với khảo sát thực tế
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hình thành và phát triển KCNST ở Việt Nam bao gồm các giải pháp về quản trị và quy hoạch, về thể chế và chính sách và các biện pháp hỗ trợ cũng như những kiến nghị đối với các cơ quan quản
lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các công ty phát triển hạ tầng KCN và doanh nghiệp trong KCN trong việc xây dựng và phát triển KCN sinh thái ở Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án đã làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về KCNST được áp dụng trên thế giới và đã được bắt đầu triển khai ở Việt Nam Luận án đã đánh giá được những mặt được và các hạn chế trong việc phát triển KCN tại Việt Nam dưới các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường Từ đó, đặt nền tảng cho việc đề xuất phát triển KCNST như là một giải pháp hướng đến phát triển bền vững KCN Các phân tích, đánh giá của Luận án góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể về nguyên nhân, hiện trạng và giải pháp phát triển KCNST từ thực trạng phát triển KCN ở nước ta
Luận án có thể được coi là tài liệu tham khảo mang tính hệ thống cho việc xây dựng chính sách và đề xuất hệ thống thể chế quản lý và phát triển KCNST ở Việt Nam Đồng thời, các nghiên cứu và phân tích của luận án có giá trị tham khảo cho việc giảng dạy, bồi dưỡng, xây dựng chính sách cho các cơ quan nghiên cứu
và hoạch định chính sách đối với KCN nói chung và KCNST nói riêng ở Việt Nam
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận án gồm 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận
án
Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu quốc tế và trong nước theo các chủ đề: KCNST, sinh thái học công nghiệp, kinh tế tuần hoàn, cộng sinh công nghiệp để làm cầu nối cho các nội dung về cơ sở lý luận được trình bày tại Chương
2
Trang 23Chương 2 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển khu công
nghiệp sinh thái
Chương 2 phân tích các khái niệm liên quan đến chủ đề của Luận án như
KCNST, kinh tế học tuần hoàn và các khái niệm bổ trợ như cộng sinh công nghiệp,
sinh thái học công nghiệp là các khái niệm cơ sở của các phân tích, đánh giá và đề
xuất tại chương 3 và 4 của Luận án Đồng thời, trong Chương này cũng tổng hợp
kinh nghiệm phát triển KCNST của một số nước đi trước như Đan Mạch, Italia,
Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc nhằm rút ra một số bài học kinh nghiệm cho việc phát
triển KCNST ở Việt Nam
Chương 3 Thực trạng phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam dưới góc
độ khu công nghiệp sinh thái
Chương 3 đánh giá tổng quan tình hình phát triển KCN trong giai đoạn từ
khi hình thành đến nay để cung cấp bức tranh tổng thể trước khi đánh giá thực
trạng KCN Việt Nam dưới góc độ KCNST Chương này nhằm cung cấp các phân
tích nền tảng cho “mức độ sẵn sàng” chuyển đổi thành KCNST, trước khi đề xuất
lộ trình và giải pháp chuyển đổi của các KCN ở Việt Nam
Chương 4 Quan điểm, định hướng và các khuyến nghị giải pháp cho
việc hình thành và phát triển khu công nghiệp sinh thái ở Việt Nam
Chương 4 nghiên cứu và đề xuất các quan điểm, định hướng và các giải pháp
và khuyến nghị cho việc hình thành và phát triển khu công nghiệp sinh thái ở Việt
Nam đối với từng bên liên quan khác nhau (cơ quan quản lý nhà nước ở trung
ương, địa phương, các công ty phát triển hạ tầng KCN, các doanh nghiệp trong
KCN) một cách phù hợp với bối cảnh phát triển của Việt Nam
Trang 24CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Khái niệm Khu công nghiệp sinh thái
KCNST được hình thành xuất phát từ một cách tiếp cận mới trong việc xử
lý các vấn đề môi trường phát sinh từ hoạt động sản xuất trong các KCN Hoạt động sản xuất công nghiệp, cách thức loài người đáp ứng những nhu cầu của mình, vừa đem lại điều kiện vật chất tốt hơn cho con người, đồng thời gây ra những vấn
đề về môi trường và xã hội cần xử lý Đối với các vấn đề môi trường, cách tiếp cận ban đầu đối với những ảnh hưởng môi trường của hoạt động sản xuất công nghiệp
là xử lý khi đã xảy ra Cách tiếp cận này hiện vẫn đang được áp dụng, đồng thời với việc ra đời của cách tiếp cận hiện đại hơn, xử lý rốt ráo hơn đối với các vấn đề môi trường của sản xuất công nghiệp nói chung và KCN nói riêng Cách tiếp cận
“xử lý tại nguồn” thông qua việc sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm thiểu phát thải, khép kín quá trình sản xuất bằng việc chuyển hoá chất thái thành các đầu vào hữu ích cho một chu trình sản xuất mới, được đánh giá là hiệu quả hơn cả về chi phí và giảm thiểu tác động môi trường của quá trình sản xuất [77] Cách tiếp cận hiện đại trong xử lý vấn đề môi trường trong quá trình sản xuất công nghiệp tại các KCN giúp hình thành nên các KCNST
KCNST là hướng đi trong việc bảo vệ môi trường, dựa trên nền tảng sử dụng hiệu quả năng lượng, khép kín vòng vật liệu và cộng sinh công nghiệp (CSCN) [42] KCNST là một cộng đồng sản xuất và dịch vụ mà trong đó doanh nghiệp tìm kiếm và nâng cao hiệu suất môi trường và kinh tế thông qua sự hợp tác trong quản
lý các vấn đề môi trường và tài nguyên, bao gồm năng lượng, nước và vật liệu Nhờ hợp tác làm việc với nhau, cộng đồng các doanh nghiệp tìm kiếm một lợi ích tập thể lớn hơn tổng của các lợi ích cá nhân mỗi công ty [95], [141]
Hiểu một cách thông thường, KCNST là một cộng đồng doanh nghiệp hợp tác với nhau và với cộng đồng địa phương, nhằm chia sẻ một cách hiệu quả các nguồn lực như thông tin, nguyên vật liệu, năng lượng, cơ sở hạ tầng và môi trường
tự nhiên, hướng tới các lợi ích kinh tế, cải thiện chất lượng môi trường, gia tăng nguồn lực con người cho cả cộng đồng doanh nghiệp và địa phương đó [116] Mục tiêu của một KCNST là cải thiện lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp tham gia, đồng thời giảm thiểu các tác động môi trường Các biện pháp đi kèm bao gồm thiết
kế cơ sở hạ tầng thân thiện, sản xuất sạch hơn, ngăn ngừa ô nhiễm, sử dụng hiệu quả năng lượng và xây dựng quan hệ đối tác doanh nghiệp Các KCNST cũng đảm
Trang 25bảo lợi ích cho các cộng đồng xung quanh trên nền tảng lợi ích sự phát triển [116], [43]
Cote and Hall [44] đã đưa ra một định nghĩa chi tiết hơn, theo đó KCNST là
hệ thống công nghiệp bảo tồn các nguồn lực tự nhiên và kinh tế; giảm năng lượng vật chất sản xuất, bảo hiểm và chi phí xử lý; cải thiện hiệu quả hoạt động, chất lượng, sức khỏe người lao động và hình ảnh công cộng Các KCNST là đối tượng của việc tăng lợi suất, khi các chính phủ, doanh nghiệp và xã hội cùng tìm ra giải pháp cho việc sử dụng và tái chế, xử lý chất thải và khí thải Cách tiếp cận này bao gồm thiết kế xanh của hạ tầng KCN và nhà máy; sản xuất sạch hơn, phòng chống
ô nhiễm môi trường; hiệu quả năng lượng; đồng thời tạo ra các lợi ích cho cộng đồng lân cận [117], [96]
Tương tự như vậy, Lowe [92, tr.1] đưa ra định nghĩa KCNST, là định nghĩa
được các tổ chức quốc tế sử dụng một cách phổ biến: “KCNST là một cộng đồng
các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ chung hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ Các doanh nghiệp thành viên đó tìm kiếm các lợi ích cao hơn về kinh tế, xã hội và môi trường thông qua việc hợp tác trong quản lý các vấn đề môi trường và nguồn lực Bằng cách phối hợp với nhau, cộng đồng doanh nghiệp hướng tới đạt được lợi ích tập thể lớn hơn tổng các lợi ích cá biệt mà mỗi công ty có thể đạt được nhờ vào tối ưu hóa hoạt động của bản thân”
Bản chất của Khu công nghiệp sinh thái
KCNST dựa trên những nguyên tắc sinh thái công nghiệp (STCN), trong đó các hệ thống công nghiệp có thể hoạt động giống như các hệ thống sinh thái tự nhiên, huy động sự tham gia của các ngành công nghiệp riêng biệt trong cách tiếp cận tập thể, qua đó hiệu quả kinh tế được cải thiện trong khi dấu chân sinh thái giảm [37], [79], [128] KCNST thực chất hoạt động dựa trên mô trình sản xuất tích hợp, khép kín, trong một hệ thống mới, thay thế cho hệ thống sản xuất truyền thống
có quy trình tuyến tính, từ khai thác tài nguyên - sản xuất - tiêu thụ sản phẩm - phát thải tách biệt Mô hình sản xuất tích hợp, khép kín này được cổ vũ bởi Frosch và Gallopoulos [58] và được nghiên cứu, phát triển sau đó bởi nhiều nhà nghiên cứu, ứng dụng Trong KCNST, việc tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu được tối ưu hóa, chất thải sinh ra được tối thiểu hóa, và đầu ra của một quá trình sẽ là đầu vào thô cho quá trình khác KCNST dựa trên sinh thái học công nghiệp, đồng thời giúp ứng dụng sinh thái học công nghiệp một cách hiệu quả và là hệ thống tốt hơn trong việc phối hợp công nghệ, các quá trình sản xuất và hành vi người tiêu dùng [58], [59]
KCNST cho phép sự tham gia của các ngành công nghiệp riêng lẻ thông qua
"sự thay đổi công nghiệp có hệ thống" bao gồm trao đổi vật lý của vật liệu và các
Trang 26sản phẩm; quản lý, chia sẻ các tiện ích chung và cơ sở hạ tầng [37], [128], [129], [140] KCNST kết nối quá trình khác nhau như chất thải sản xuất, nhà máy, và người tiêu dùng, cho phép không chỉ trao đổi hữu hình mà còn trao đổi phi vật chất như kiến thức, nguồn nhân lực và kỹ thuật [103], [38] Cộng đồng cộng tác giữa các doanh nghiệp trong KCNST hình thành nên "hệ sinh thái công nghiệp"; từ đó
có thể tìm thấy lợi thế so sánh trong quan hệ đối tác giữa doanh nghiệp, chính phủ, cộng đồng, và các nhóm khác [93], 140]
Một KCNST có điểm tương tự như một KCN thông thường ở chỗ nó là một tài sản mà một số các doanh nghiệp dùng chung, có chung quyền quản lý hoặc sở hữu cơ sở hạ tầng, dịch vụ [93] Mặc dù vậy so với KCN, thuật ngữ KCNST có thể được áp dụng để hiểu một cách toàn diện, rõ ràng hơn về sự bền vững [103] Sự khác biệt là một KCNST liên quan đến mức độ phối hợp, hợp tác giữa các ngành công nghiệp hay còn gọi là "cộng sinh công nghiệp", trong đó năng lượng
và nguyên vật liệu sản xuất bởi một ngành công nghiệp được tiêu thụ như là đầu vào của ngành hay doanh nghiệp khác Các ngành công nghiệp và quy trình trao đổi được xem như tương tác hệ thống chứ không phải là thành phần biệt lập trong một hệ dòng chảy tuyến tính Ý tưởng là để tạo ra một mạng lưới các doanh nghiệp cộng tác, vận hành như một hệ sinh thái thông qua phục hồi tài nguyên và chất thải sản xuất nhờ mối quan hệ cộng sinh để cải thiện hiệu suất môi trường, tăng lợi nhuận và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng [131]
Trên cơ sở các đặc tính nêu trên, Chertow [37, tr.11-30] chia KCNST thành
5 loại theo vùng địa lý và chất lượng, cấp độ hoạt động trao đổi, gồm: (1) Trao đổi chất thải; (2) Trao đổi trong một cơ sở doanh nghiệp; (3) Trao đổi trong một KCN; (4) Trao đổi trong các doanh nghiệp gần nhau nhưng không cùng KCN; và (5) Trao đổi trong vùng không gian rộng lớn Những hoạt động của KCNST cũng phải đương đầu những khó khăn, mà đặc biệt là: (1) rào cản kỹ thuật; (2) thiếu thông tin; (3) trở ngại về tổ chức; và (4) trở ngại về quy định và pháp lý [56, tr.63-68]
Sự hình thành Khu công nghiệp sinh thái
Đã có nhiều nghiên cứu về việc hình thành KNCST trên thực tế ở các nước Một trong những hướng dẫn đầu tiên về hình thành KCNST cho rằng, cần thực hiện 10 bước để đảm bảo việc thiết kế các KCN có tính đến các vấn đề môi trường
và giảm thiểu ô nhiễm [76] Những nguyên tắc cụ thể về xây dựng KNCST cũng được đưa ra, bao gồm: (1) hài hòa với thiên nhiên; (2) đảm bảo hệ thống năng lượng; (3) quản lý luồng nguyên vật liệu và chất thải; (4) quản lý cấp thoát nước; (5) quản lý khu công nghiệp sinh thái hiệu quả; (6) kết hợp xây dựng/cải tạo; (7) hòa nhập với cộng đồng địa phương [93] Trên cơ sở những nguyên tắc này, nhiều
Trang 27hướng dẫn cụ thể về việc lập kế hoạch, thiết kế và triển khai khu công nghiệp sinh thái cũng được đưa ra [91], [93]
Việc phát triển các KCNST đảm bảo yếu tố kinh tế và môi trường đã được triển khai ở nhiều nước Các báo cáo về tình hình phát triển cũng như bài học và kinh nghiệm xây dựng khu công nghiệp sinh thái ở Mỹ [65], [70], [71], Trung Quốc [32], [54], [60] [124], [144], [147], Hà Lan [70], [71], Brazil [51], Châu Âu [65], Hàn Quốc [110], [111], [112], [113], [114]
Về việc hình thành KCNST, theo Lowe et al [95], có 3 cách thức bao gồm: (1) Thiết kế và xây dựng trên một vị trí hoàn toàn mới; (2) Chuyển đổi từ các KCN truyền thống đang hoạt động và cải tạo các khu đang bị ô nhiễm; và (3) Cải tạo,
mở rộng trên các khu vực sản xuất sẵn có Với mỗi cách thức lựa chọn, đều có các thách thức trong cả giai đoạn hình thành, xây dựng và vận hành Do vậy, luôn phải
có cân nhắc giữa lợi ích và chi phí; và cần xác định liệu có thể vượt qua thách thức hay không
Có quan điểm nhận định, do các KCN truyền thống đem lại lợi ích kinh tế nhưng lại không xem xét "chi phí" cho suy thoái môi trường nên sự chuyển đổi các KCN hiện có sang KCNST dự kiến sẽ góp phần vào việc giảm ô nhiễm và phát triển bền vững KCN Vì vậy, KCNST được coi là một mô hình công nghiệp mới
để giải quyết cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường của phát triển bền vững [140] Tuy nhiên, việc chuyển đổi theo cách này cần sự đồng thuận của nhiều phía, đặc biệt là Công ty phát triển hạ tầng KCN và các doanh nghiệp trong KCN để có thể cải thiện các chỉ tiêu môi trường Ngoài ra, còn cần nguồn lực để giải quyết các vấn đề ô nhiễm hiện có [95]
Tương tự, Conticelli and Tondelli [42] cho rằng KCNST tự phát triển thành công hơn so với những khu được thiết kế từ ban đầu Việc tự tổ chức phối hợp giữa các công ty là mấu chốt của thành công hơn là việc lên kế hoạch định vị sẵn các KCN Cũng không có những mâu thuẫn trong việc theo đuổi việc lấp đầy KCN và
sự cần thiết phải cung cấp những điều kiện tốt để thu hút đầu tư, dẫn đến làm giảm các tác động tiêu cực đối với hệ sinh thái địa phương Vì vậy, việc định vị, quy hoạch các KCN trên khu vực đất mới là không cần thiết, thay vào đó cần xem xét các cơ hội chuyển đổi tại các KCN hiện có, mặc dù xu hướng này còn mờ nhạt Hướng đi này tạo ra một lợi thế kép, một mặt nhân rộng sáng tạo mới về mô hình KCN bền vững; mặt khác góp phần vào việc việc sử dụng đất “bền vững” bằng việc tái sử dụng có hiệu quả đất đã đô thị hóa mà không ảnh hưởng đến các vùng đất mới và các hệ sinh thái
Trang 28Mặc dù vậy, việc xây dựng KCN mới cũng có các lợi thế nhất định vì cách tiếp cận này tạo không gian tự do cao hơn cho các thử nghiệm và chọn lựa Quá trình xác định địa điểm và xây dựng KCNST sẽ được thiết kế tốt và rõ ràng hơn [95] Ngoài ra, đối với doanh nghiệp trong KCN, kiến thức phòng ngừa có thể thay thế cho các biện pháp sản xuất sạch hơn do họ có thể sử dụng cách tiếp cận sản xuất sạch hơn để thiết kế dây chuyền sản phẩm Thêm vào đó, việc ước tính đầu vào/đầu ra cũng giúp cho việc phân bố địa điểm tối ưu, với các nhóm doanh nghiệp
có liên quan gần nhau, gần hạ tầng và dịch vụ cần thiết [134]
Quy hoạch các KCNST hiện tại thể hiện thông qua việc tìm cách bố trí KCN tại một vị trí thuận lợi về môi trường kinh doanh, tổ chức dịch vụ và cơ sở vật chất,
hạ tầng sinh thái, công nghệ Quan điểm này được hỗ trợ bởi các chính sách của địa phương nhằm hướng tới lợi ích kinh tế, nhưng bỏ qua vấn đề bảo vệ đất tự nhiên và xu hướng tăng lưu lượng giao thông khi các khu mới ở vị trí xa Ngoài ra, việc quy hoạch sử dụng đất như vậy đang tạo ra sự thiếu bền vững trong sử dụng tài nguyên đất Trước mắt, sự phát triển này sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong ngắn hạn, nhưng sẽ là bất lợi nghiêm trọng cho cả nền kinh tế và môi trường trong dài hạn [95]
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển Khu công nghiệp sinh thái
Các nhân tố góp phần vào sự thành công của KCNST gồm có: (1) Xây dựng các chính sách hỗ trợ KCNST; (2) Thiết lập các hệ thống giám sát và đánh giá KCNST một cách thường xuyên; (3) Xây dựng các chiến lược phát triển ngành; và (4) Khuyến khích sự hợp tác của các bên liên quan hoặc nên bắt đầu với các mô hình thí điểm [123]
Một KCNST sẽ có nhiều khả năng thành công nếu nó là một phần của sáng kiến cộng đồng rộng lớn hơn Các chủ đề cần quan tâm là phát triển nhà ở cho người lao động; sáng tạo một chiến lược cộng đồng để giảm tổng dòng thải (dân
cư, thương mại, công cộng và công nghiệp); phát triển của một khu vực bằng các sản phẩm trao đổi hiệu quả cao; cung cấp cho thị trường các vật liệu hiện tại bị loại
bỏ như chất thải; tăng cường quy hoạch phát triển kinh tế để khuyến khích các doanh nghiệp phù hợp; huy động các nguồn lực giáo dục để giúp các doanh nghiệp
và các hoạt động của chính phủ tăng hiệu quả năng lượng và ngăn ngừa ô nhiễm; giảm phát thải khí nhà kính thông qua một chương trình hoạt động cộng đồng [90]
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước
Khái niệm Khu công nghiệp sinh thái
Trang 29KCNST với nền tảng lý thuyết là sinh thái công nghiệp là một khái niệm mới tại Việt Nam Sinh thái học công nghiệp được đề cập đến trong hai tài liệu, bài giảng về sinh thái học công nghiệp của Đại học xây dựng [26] và tiểu luận sinh thái phát triển tại Đại học Huế [27] Cả hai tài liệu này đều đề cập một cách hết sức khái quát khái niệm sinh thái học công nghiệp Trong khi Nguyễn Thị Kim Thái [26] giới thiệu khái niệm sinh thái công nghiệp như là tiền đề trong hệ thống quản
lý môi trường nghiệp, thì Võ Văn Thiệp [27] giới thiệu khái niệm hệ sinh thái công nghiệp là một khái niệm tổng hợp từ các khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cả nông nghiệp và công nghiệp
Gần đây hơn, Dự án Triển khai sáng kiến phát triển KCNST hướng tới mô hình KCN bền vững ở Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và UNIDO thực hiện tại Việt Nam từ năm 2014-2019 đã có một số nghiên cứu về KCNST Quan niệm
về KCNST được dự án sử dụng một cách thống nhất xuất phát từ tiếp cận của UNIDO, trong đó KCNST được định nghĩa một cộng đồng các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ chung hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ, hợp tác trong quản lý các vấn
đề môi trường và nguồn lực để đạt được lợi ích lớn hơn về kinh tế, xã hội và môi trường so với khi hoạt động riêng lẻ Nghiên cứu của dự án cũng cho thấy các khái niệm về KCNST được sử dụng tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Đan Mạch và của một
số nước khác [137]
Dự án này cũng đã hỗ trợ Bộ Kế hoạch và đầu tư trong việc xây dựng các quy định về KCNST trong Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế Định nghĩa về KCNST được quy định tại Điều 2 Nghị định 82/2018/NĐ-CP là định nghĩa chính thức đầu tiên và duy nhất có hiệu lực tại Việt Nam cho đến nay Theo Nghị định
này, “Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp
trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp”
Bản chất của Khu công nghiệp sinh thái
Cho đến nay, những nghiên cứu trong nước chủ yếu mang tính nghiên cứu thực tiễn và chính sách có liên quan đến KCNST Về liên kết sản xuất, Nguyễn Đình Tài [25] đề cập liên kết ngành như là yếu tố nền tảng nâng cao khả năng cạnh tranh như: giúp các doanh nghiệp có cơ hội tăng năng suất; thúc đẩy quá trình sáng tạo và đổi mới; và tác động quan trọng đến việc hình thành các doanh nghiệp mới trong ngành hoặc trong các ngành có liên quan Việc phát triển một mạng lưới liên
Trang 30kết hữu hiệu sẽ tạo điều kiện giúp tăng năng lực cạnh tranh Điển hình là sự gần kề
về địa lý tạo ra lợi thế kinh tế nhờ quy mô, giúp giảm giá thành sản phẩm, tăng cường liên kết, chia sẻ thông tin và các nguồn lực khác Việc phát triển mạng lưới liên kết cũng giúp nâng cao trình độ công nghệ trong nước, phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, tạo việc làm
và giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội khác, ví dụ như vấn đề môi trường
Lê Thế Giới [16] bàn về các luận điểm cơ bản của lý thuyết cụm công nghiệp
và lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh trong phát triển các lợi thế cạnh tranh công nghiệp ở cấp độ quốc gia, vùng và địa phương Từ đó, phân tích làm rõ mối quan
hệ giữa công nghiệp hỗ trợ với cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh Và trên cơ sở nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam, tác giả đưa ra các khuyến nghị trong trong nghiên cứu chính sách thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam
Trương Chí Bình [2] sử dụng cách tiếp cận liên kết giữa các phân đoạn chính bao gồm thượng nguồn (nghiên cứu, thiết kế), trung nguồn (lắp ráp, gia công) và
hạ nguồn (phân phối) với các liên các liên kết dọc, ngang và hỗn hợp để phân tích liên kết trong các chuỗi sản xuất Theo Trương Chí Bình để có được liên kết, cần
có điều phối tốt và quản lý hiệu quả, đồng thời lợi nhuận cần phải được chia sẻ trong liên kết giá trị để khuyến khích các bên tham gia Liên kết ngành, theo tác giả, hiện tại đã khá phổ biến trong giới hoạch định chính sách quốc tế như một công cụ quan trọng để phát triển kinh tế địa phương, kinh tế ngành cũng như hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ Lý do quan trọng nhất lý giải sự thành công của cụm liên kết công nghiệp trên toàn cầu là nguyên tắc phát triển liên kết tổng hợp trong cụm công nghiệp Việc liên kết này được xem là một nguồn lực quan trọng hơn cả nguồn lực tài chính, công nghệ, tri thức hay kỹ năng lao động
Cũng về liên kết công nghiệp, Nguyễn Thị Nguyệt [21] đánh giá cao vai trò chủ đạo của doanh nghiệp đầu đàn, liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp liên quan, và quá trình đổi mới với vai trò chủ đạo là các tổ chức khoa học công nghệ Cũng theo Nguyễn Thị Nguyệt, ở Việt Nam, cụm liên kết ngành theo đúng khái niệm thì chưa có, song các hình thái phôi thai của cụm liên kết ngành đã tồn tại Tuy vậy quá trình này đang gặp khá nhiều khó khăn về các mặt: chất lượng nguồn nhân lực, thiếu doanh nghiệp đầu đàn và liên kết hợp tác yếu, yếu về công nghiệp
hỗ trợ, điều kiện sống và làm việc bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường Để giải quyết thực trạng này, Nguyễn Thị Nguyệt gợi ý một số giải pháp gồm: cải thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường thu hút các doanh nghiệp đầu đàn
và phát triển mạng liên kết; công nghiệp hỗ trợ; phát triển hạ tầng kỹ thuật và khoa
Trang 31học công nghệ; bảo vệ môi trường, cải thiện đời sống, và tăng cường an sinh xã hội
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển Khu công nghiệp sinh thái
Về KCNST, đã có một số nghiên cứu đề cập đến việc phát triển KCN và xu hướng phát triển KCNST có thể áp dụng ở Việt Nam Việc hình thành và phát triển KCN ở nước ta đã có những đánh giá từ rất sớm Báo cáo của Bộ Xây dựng [7] đã đánh giá công tác quản lý phát triển công nghiệp, giới thiệu quy hoạch tổng thể và một số quy hoạch chi tiết các KCN trong những năm tới ở nước ta Báo cáo này đã đưa ra danh mục các KCN được đầu tư đến năm 2000, đến năm 2020 và sơ đồ phân
bố các KCN trên toàn quốc và tại ba vùng kinh tế trọng điểm
Nghiên cứu của Nguyễn Cao Lãnh [17] là một trong những nghiên cứu đầu tiên về KCNST Nghiên cứu này đề cập đến những vấn đề lý thuyết cơ bản của KCNST bao gồm: khái niệm, mục tiêu của một khu sinh thái Nghiên cứu này đã khẳng định việc phát triển KCNST không chỉ đem lại lợi ích của việc phát triển KCNST trên góc độ phát triển công nghiệp nói chung mà còn trên góc độ xã hội
và góc độ môi trường Theo Nguyễn Cao Lãnh, cơ sở khoa học của phát triển KCNST là sản xuất sạch và sinh thái học công nghiệp; thiết kế xây dựng và quy hoạch bền vững; kinh tế bền vững Cách tiếp cận của nghiên cứu này mang tính thực tiễn và từ phạm vi hẹp là quy hoạch phát triển KCNST Mặc dù là nghiên cứu đầu tiên và chi tiết nhất về KCNST, nghiên cứu này mới chỉ dừng ở việc mô tả các nguyên tắc thiết kế KCNST trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm phát triển KCNST của các nước Các cơ sở về chính sách, thể chế, và các hỗ trợ cũng như các tiêu chuẩn về KCNST nhằm phát triển KCNST chưa được đề cập trong nghiên cứu này
Sau nghiên cứu của Nguyễn Cao Lãnh, báo cáo của Trung tâm khoa học công nghệ Việt Nam [28] cũng đặt ra vấn đề phát triển KCNST và sinh thái công nghiệp ở Việt Nam Nghiên cứu này cho biết, có ba lợi ích kinh tế trực tiếp và ba lợi ích kinh tế gián tiếp, tám lợi ích về mặt môi trường của KCNST Nghiên cứu
đã chỉ ra, để thiết kế một KCNST cần đi theo 5 chiến lược: (1) lồng ghép vào các
hệ thống tự nhiên; (2) tối đa hiệu suất sử dụng năng lượng; (3) nguyên liệu và quản
lý chất thải tại chỗ; (4) quản lý KCNST hiệu quả; và (5) xây dựng và phục hồi Nghiên cứu này đưa ra kết luận còn quá sớm để lồng ghép các nguyên tắc sinh thái công nghiệp và nội dung phát triển KCNST sau khi viện dẫn hai ví dụ gồm: KCNST của công ty Powerday ở London (Vương quốc Anh) và KCNST ở Quảng Đông (Trung Quốc)
Kinh nghiệm phát triển Khu công nghiệp sinh thái
Trang 32Đánh giá về kinh nghiệm quốc tế trong phát triển KCNST, Phạm Nguyên Ngọc Anh [1] cũng cho rằng, mô hình KCNST được xem là giải pháp khắc phục
có hiệu quả những vấn đề về môi trường, góp phần phát triển bền vững Nghiên cứu này đề cập đến một số mô hình KCNST tiêu biểu, bao gồm KCN Kalunborg (Đan Mạch), Guirtang (Trung Quốc) và KCN xanh (Thái Lan) Nghiên cứu chỉ ra
sự cần thiết phải có chiến lược và lộ trình phát triển các công nghiệp sinh thái, các địa phương cần chủ động, tích cực hưởng ứng song cần có kế hoạch và thực hiện từng bước, tránh làm ồ ạt Đối với các KCNST, việc quản lý thông tin và trao đổi thông tin về chất thải giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với ban quản lý, giữa các chủ thể trong và ngoài hàng rào khu phải được tiến hành chặt chẽ và cập nhật một cách thường xuyên Nghiên cứu cũng chỉ ra sự cần thiết phải có những chuyển biến thực chất, từ chính các doanh nghiệp, cũng như vai trò quản lý của nhà nước, cơ sở hạ tầng sẵn có và làm mới theo tiêu chuẩn của KCN Đối với các trường hợp xây mới thì vấn đề tài chính là cản trở lớn nhất
Nghiên cứu toàn diện hơn về kinh nghiệm quốc tế trong phát triển và đánh giá KCNST gần đây là của UNIDO và MPI [137] được thực hiện với sự hỗ trợ của
Dự án Triển khai sáng kiến KCNST hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam Nghiên cứu này đã rà soát kinh nghiệm về phát triển và đánh giá KCNST tại các nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Đan Mạch, Italy, Thái Lan và rút ra một số bài học Thứ nhất, KCNST được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi các KCN hiện
có Điều kiện tiên quyết để hình thành KCNST theo phương thức này là có sự đồng thuận và tự nguyện của tất cả các bên có liên quan, trong đó quan trọng nhất là các doanh nghiệp Thứ hai, động lực lớn nhất thúc đẩy sự phát triển của KCNST là lợi ích của các doanh nghiệp tham gia KCNST Bên cạnh đó, các công ty quản lý hạ tầng KCN cũng đóng góp vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển KCNST, đồng thời với việc hình thành khung khổ pháp lý Ủng hộ của cộng đồng bên trong và bên ngoài hàng rào KCN cũng đóng vai trò đáng kể trong việc bảo đảm sự bền vững của KCNST Thứ ba, việc thiết lập một hệ thống đánh giá phù hợp để giúp chuyển đổi các KCN thành KCNST và thực hiện đánh giá liên tục đối với KCNST là rất quan trọng Việc xây dựng tiêu chí, ngưỡng đánh giá đảm bảo tính khoa học, mang tính khả thi, phù hợp với đặc điểm quốc gia là khá khó khăn
và trên thực tế, chưa có quốc gia nào xây dựng được một bộ tiêu chí toàn diện để đánh giá và xếp hạng KCNST trên cả các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường Thứ tư, kinh nghiệm của các nước, đặc biệt là các nước Đông Bắc Á, đã cho thấy, KCNST không thể thành công nếu không có sự tham gia của chính quyền ở tất cả các cấp Không chỉ hình thành khung khổ pháp lý cho KCNST, Nhà nước còn cần xây dựng được các biện pháp khuyến khích, ưu đã và hỗ trợ có hiệu quả, nhằm tạo động lực cho doanh nghiệp và cộng đồng trong việc phát triển KCNST
Trang 33Bên cạnh những nghiên cứu chung, mang tính định hướng và học hỏi kinh nghiệm, nghiên cứu của Nguyễn Cao Luận [20] về phát triển KCNST ở Đà Nẵng dựa trên cơ sở sinh thái học công nghiệp là nghiên cứu trực tiếp khuyến nghị về việc xây dựng KCNST thái ở một địa phương cụ thể Theo Nguyễn Cao Luận một KCNST thực sự cần phải là: (1) một mạng lưới các doanh nghiệp sử dụng các bán thành phẩm, phế phẩm hay phụ phẩm của nhau; (2) một tập hợp các doanh nghiệp tái chế; (3) một tập hợp các công ty có công nghệ sản xuất bảo vệ môi trường; sản xuất sản phẩm “sạch”; (4) một KCN được thiết kế theo một chủ đề môi trường nhất định; (5) một KCN với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và công trình xây dựng bảo vệ môi trường; và (6) một khu vực phát triển hỗn hợp và đồng bộ Đây có thể coi là nghiên cứu trong nước đầu tiên có liên hệ giữa khái niệm sinh thái học công nghiệp
và KCNST, trong đó xác định hệ thống khép kín của KCNST, từ CSCN, thực hiện trao đổi chất, tái sinh tái chế, tuần hoàn năng lượng và vật chất nhằm giảm thiểu chấi thải, thu lợi ích kinh tế, đồng thời đạt được hiệu quả môi trường
1.3 Tổng kết về tình hình nghiên cứu
Việc tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về KCNST đã làm rõ một số vấn đề Thứ nhất, KCNST là một mô hình tiên tiến hướng đến việc phát triển bền vững, mô hình này đã và đang được các nước trên thế giới áp dụng và nhân rộng Việc áp dụng mô hình KCNST diễn ra ở các nước phát triển và đang phát triển, với quy mô và phạm vi khác nhau Các nước đang phát triển như Trung Quốc và Thái Lan đang triển khai có hiệu quả KCNST trong việc xử lý các vấn đề môi trường thông qua việc khép kín chu trình sản xuất trong phạm vi KCN
Thứ hai, cơ sở cho việc hình thành và phát triển KCNST là khả năng khép kín chu trình sản xuất, chuyển đổi từ mô hình sản xuất tuyến tính truyền thống, từ khai thác - chế biến - sản xuất - tiêu dùng - phát thải Sự phát triển của khoa học công nghệ cũng như các nền tảng và mô hình sản xuất hiện đại cho phép các quá trình sản xuất công nghiệp có thể được cải thiện bởi những nguyên vật liệu hiện đại, tiết kiệm hơn, có khả năng tái sử dụng cao hơn, đồng thời với khả năng tiết kiệm năng lượng, và sử dụng lại các phế liệu, phế thải Cơ sở lý thuyết cho việc hình thành và phát triển KCNST là lý thuyết về sinh thái học công nghiệp, cộng sinh công nghiệp
Thứ ba, chủ thể của KCNST và quá trình chuyển đổi từ KCN thông thường sang KCNST là các doanh nghiệp, trong đó vai trò của công ty phát triển hạ tầng
là quan trọng Các doanh nghiệp là chủ thể của quá trình liên kết và hợp tác, khép kín quy trình sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và giảm thải ra môi trường Đã có nhiều sáng kiến trong việc mở rộng sự liên kết và hợp tác, thậm chí
Trang 34mở rộng ra ngoài phạm vi KCNST trên cơ sở nền tảng công nghệ thông tin Sự thành công của các KCNST gắn với sự thành công của các doanh nghiệp, hay nói cách khác, chỉ khi lợi ích có được từ việc phát triển KCNST của các doanh nghiệp lớn hơn những chi phí của quá trình này mới đảm bảo cho tính bền vững của các KCNST
Thứ tư, vai trò của nhà nước với khung pháp lý rõ ràng và các biện pháp hỗ trợ, thúc đẩy phát triển KCNST là rất quan trọng Sự hình thành nhanh chóng hệ thống KCNST tại các nước gắn liền với một khung khổ thể chế chịu trách nhiệm
về KCNST, với các tiêu chí đánh giá, phân loại KCN và KCNST rõ ràng, minh bạch, được thực hiện thường xuyên
Bên cạnh những khía cạnh đã được làm rõ từ cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm của các nước trong phát triển KCNST thời gian qua, việc tổng quan các nghiên cứu
ở Việt Nam cũng cho thấy có nhiều khoảng trống nghiên cứu Những khoảng trống này chính là lý do để bản Luận án này được thực hiện
Một là, việc nghiên cứu, tổng quan và rà soát các nghiên cứu lý thuyết và
thực tiễn cho thấy, phát triển KCNST là một vấn đề mới, có xuất phát điểm là từ phát triển trên thực tế, nhưng đã được khái quát hóa, phát triển thành các lý thuyết
cơ bản làm nền tảng cho sự phát triển thực tiễn của KCNST Các nghiên cứu ở Việt Nam mới dừng ở mức độ tổng quan các nghiên cứu quốc tế nhằm đưa ra những khuyến nghị về phát triển KCNST
Hai là, việc tổng quan các nghiên cứu trong nước và khảo sát thực tiễn ở
nước ta cũng cho thấy, trong lĩnh vực phát triển KCNST, còn thiếu khá nhiều các kiến thức thực tiễn về khả năng phát triển KCNST ở nước ta Trong đó phải kể đến việc còn thiếu những phân tích về hệ thống thể chế, quy định pháp lý, chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển, cơ chế liên quan đến việc chuyển đổi các KCN
cũ sang mô hình KCNST Đây là lĩnh vực mà Luận án nhắm đến để có thể có những đóng góp thực tiễn, có giá trị gia tăng, cho việc hình thành và phát triển KCNST ở nước ta
Ba là, định nghĩa và một số tiêu chí đánh giá KCNST hiện mới được đưa ra
tại Việt Nam theo quy định của Nghị định 82/2018/NĐ-CP Vì vậy, các tiêu chí cụ thể với các chỉ tiêu định lượng xác định KCNST, cũng như yêu cầu của hệ thống
bộ máy quản lý chuyên biệt dành cho KCNST chưa được quy định chi tiết trong các quy định pháp luật Những tiêu chí cụ thể nhằm đánh giá và định danh KCNST chưa được nghiên cứu và xây dựng Chính vì vậy, việc nghiên cứu về KCNST, đặc biệt là cơ chế quản lý, khả năng chuyển đổi, tiêu chí đánh giá là hết sức quan trọng
Trang 35Các vấn đề này là mục tiêu nghiên của Luận án, với đóng góp vào sự hiểu biết sâu rộng hơn về khả năng hình thành và phát triển các KCNST ở nước ta, đồng thời đóng góp một cách thực tiễn thông qua các đề xuất chính sách về hình thành
và phát triển các KCNST tại Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN KHU
CÔNG NGHIỆP SINH THÁI 2.1 Các khái niệm
2.1.1 Kinh tế tuần hoàn
Kinh tế tuần hoàn là thuật ngữ mới, được Pearce và Turner (1990) đưa ra một cách chính thức trong cuốn sách “Kinh tế học tài nguyên thiên nhiên và môi trường” Nhưng với tư cách là một cách tiếp cận đối với việc phát triển bền vững, chủ thể có đóng góp lớn nhất đối với sự phát triển của khái niệm kinh tế tuần hoàn
là Quỹ MacAthur (MacAthur Foundation) Trong loạt báo cáo “Hướng tới nền kinh
tế tuần hoàn” bắt đầu được xuất bản từ năm 2010 của Quỹ MacAthur [23], kinh tế tuần hoàn được định nghĩa là một mô hình công nghiệp mới, có mục tiêu loại bỏ rác thải - tác nhân gây hại đến môi trường Mô hình này đối nghịch mới mô hình công nghiệp hiện tại, còn được xem là nền kinh tế tuyến tính, sử dụng tài nguyên theo quy trình "khai thác - chế tạo - thải bỏ” Với khái niệm kinh tế tuần hoàn, Quỹ MacAthur ủng hộ việc sử dụng hàng hóa có thành phần “dưỡng chất”, là thành phần mà hệ sinh thái có thể hấp thụ và không bị hủy hoại, cùng với việc chuyển mục đích sử dụng các thành phần mà hệ sinh thái không hấp thụ được thông qua việc tái sử dụng, sửa chữa, và tái chế
Kinh tế tuần hoàn là mô hình mang tính dài hạn, có khả năng đảm bảo tăng trưởng kinh tế mà không gây áp lực lên việc tiêu thụ tài nguyên hữu hạn Kinh tế tuần hoàn mang lại cơ hội đổi mới trong tất cả các lĩnh vựcvà thay thế việc thải bỏ bằng việc phục hồi [27] Trong nền kinh tế tuần hoàn, việc tiêu dùng cuối cùng hàng hóa dựa trên việc thuê hàng hóa, và không còn việc bán hàng hóa có khả năng
tạo ra rác thải Theo Quỹ MacArthur, kinh tế tuần hoàn là “Một hệ thống công
nghiệp được thiết kế và có dự định mang tính phục hồi hoặc tái tạo Kinh tế tuần hoàn thay thế khái niệm 'cuối đời' bằng khái niệm phục hồi, chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo, loại bỏ việc sử dụng các hóa chất độc hại, làm suy yếu việc tái
sử dụng và nhằm mục đích loại bỏ chất thải thông qua thiết kế vượt trội của vật liệu, sản phẩm, hệ thống và, trong phạm vi này, các mô hình kinh doanh” [23, tr.7]
Định nghĩa này nêu rõ kinh tế tuần hoàn mang tính phục hồi và loại bỏ rác thải thông qua thiết kế và qua các vật liệu, sản phẩm, thiết kế hệ thống tốt hơn, được kích hoạt bởi các mô hình kinh doanh sáng tạo Kinh tế tuần hoàn tập trung vào hiệu lực sinh thái hơn là hiệu quả sinh thái và tối ưu hóa toàn diện tất cả các thành phần, khiến cho kinh tế tuần hoàn trở thành một khung khổ trong đó trọng tâm được đặt vào việc thiết về và tư duy hệ thống
Trang 37Bên cạnh khái niệm về kinh tế tuần hoàn do Quỹ MacArthur sử dụng, còn
có nhiều định nghĩa khác tồn tại song song và chưa có sự thống nhất chung Ngay cả việc áp dụng ở các quốc gia, kinh tế tuần hoàn cũng không được hiểu một cách thống nhất Tổng hợp lại, có thể thấy sáu yếu tố chính cấu thành nền tảng của nền kinh tế tuần hoàn là: (1) sử dụng tài nguyên không tái tạo vừa phải và hiệu quả nhất
có thể; (2) khai thác tài nguyên tái tạo, tôn trọng các điều kiện đổi mới của các tài nguyên này; (3) thiết kế sinh thái và sản xuất sạch; (4) tiêu dùng thân thiện với môi trường; (5) tái chế chất thải làm tài nguyên; và (6) xử lý chất thải không gây ô nhiễm
Nhưng ngay cả các yếu tố chính này cũng được nhấn mạnh ở các mức độ khác nhau khi áp dụng trên thực tiễn khái niệm kinh tế tuần hoàn Ở Nhật Bản và Đức, là hai quốc gia sớm triển khai khái niệm kinh tế tuần hoàn trên thực tế, cũng
sử dụng hai định nghĩa khác nhau về kinh tế tuần hoàn Sự khác biệt chủ yếu nằm
ở việc xác định phạm vi của kinh tế tuần hoàn liên quan đến vấn đề chất thải và việc ngăn ngừa, tái chế, tái sử dụng các chất thải Ở Hà Lan, khái niệm kinh tế tuần hoàn có thêm khía cạnh về việc sử dụng nguyên liệu thô có ít tác động hơn đến môi trường Tại Trung Quốc, quốc gia đầu tiên trên thế giới thể chế hóa kinh tế tuần hoàn bằng quy định pháp luật, kinh tế tuần hoàn có định nghĩa rộng hơn, bao gồm các tài nguyên khác nằm ngoài các nguyên vật liệu và chất thải Tại các quốc gia như Nhật Bản và Trung Quốc, vai trò của các bên liên quan được nhấn mạnh
và trên thực tế bao gồm sự tham gia của tất cả các chủ thể, như chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ Các quốc gia này nhấn mạnh đến các khía cạnh khác nhau của kinh tế tuần hoàn, liên quan cả khía cạnh ngăn ngừa và tái sử dụng Trong khi Trung Quốc nhấn mạnh đến việc việc thúc đẩy công nghệ sạch và sinh thái công nghiệp thì Nhật Bản và Đức nhấn mạnh đến thiết kế sinh thái, còn Hà Lan nhấn mạnh đến về phương pháp quản lý chất thải và thay thế các tài nguyên không tái tạo bằng các tài nguyên tái tạo
Bên cạnh những khía cạnh mang tính ứng dụng của kinh tế tuần hoàn, đóng góp của khái niệm kinh tế tuần hoàn còn nằm ở việc xác định một khung khổ rộng lớn hơn, mang tính triết lý, đối với việc tiếp cận phát triển bền vững Hình dưới thể hiện mối quan hệ của kinh tế tuần hoàn đối với một số khái niệm khác có liên quan Trong khung khổ này, phát triển bền vững nằm ở vị trí bao trùm nhất, vừa mang tính triết lý, vừa ảnh hưởng đến phạm vi toàn xã hội Ở vị trí công cụ, thiết kế sinh thái có thể được ứng dụng trong từng doanh nghiệp, giữa một nhóm các doanh nghiệp, và trong các chuỗi giá trị Một khái niệm phổ biến khác có liên quan là phân tích vòng đời, vừa có chức năng công cụ, vừa là khung khổ hướng dẫn thực hiện và bao gồm các bước thực hiện Phân tích vòng đời được áp dụng chủ yếu trong xem xét hệ thống công nghiệp trong một chuỗi giá trị Nằm giữa các khái
Trang 38niệm, vừa có tính khung khổ hướng dẫn với các bước thực hiện, và được áp dụng
ở các quy mô khác nhau, là khái niệm sinh thái học công nghiệp Nằm trên những khái niệm mang tính công cụ hoặc khung khổ hướng dẫn hoặc các quy trình thực hiện và hướng tới phát triển bền vững là khái niệm kinh tế tuần hoàn Điểm quan trọng của khái niệm kinh tế tuần hoàn là khả năng vươn đến phạm vi kinh tế toàn cầu và khả năng hoàn thiện khái niệm như là một khuynh hướng phát triển mang tính triết lý
Hình 2.2 Sơ đồ các khung khổ bền vững
Nguồn: NCS điều chỉnh từ CIRAIG (2015)
Về mối quan hệ giữa sinh thái học công nghiệp, là khung khổ nền tảng của KCNST, và kinh tế tuần hoàn, thì hai khái niệm này có cùng cách tiếp cận với tư duy hệ thống và hiệu quả tài nguyên là những trọng tâm chủ chốt nhất Có thể nói, khái niệm và ứng dụng của sinh thái học công nghiệp hoàn toàn phù hợp với khái niệm kinh tế tuần hoàn, và với cách nhìn tổng thể, sinh thái học công nghiệp với ứng dụng chủ chốt là KCNST, đóng vai trò thúc đẩy và hiện thực hóa kinh tế tuần hoàn Sinh thái học công nghiệp khuyến khích các dòng năng lượng và vật chất giữa các doanh nghiệp công nghiệp để tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên
Kinh tế tuần hoàn là một khái niệm đa cấp độ, mang tính xã hội, có thể xem
là một sự thay đổi hệ thống, một bộ công cụ mới, một ngành có khái niệm bao trùm Nhiều yếu tố của kinh tế tuần hoàn đóng vai trò là những biện pháp có thể
Trang 39
giúp giảm thiểu ảnh hưởng của các doanh nghiệp đến hệ sinh thái, đến mức độ cho phép đạt được sự bền vững tổng thể mang tính phục hồi cho trái đất Kinh tế tuần hoàn là một khái niệm hoặc ý tưởng hiện đang được phát triển, với nội dung thay đổi, và có ranh giới mở Kinh tế tuần hoàn có cùng nguồn gốc với khái niệm sản xuất và tiêu dùng bền vững, nhưng được bổ sung bởi các khái niệm khác nhau, trong đó có sinh thái học công nghiệp Với cách tiếp cận như vậy, kinh tế tuần hoàn
có thể được coi là có phạm vi rộng hơn, bao trùm cả sinh thái học công nghiệp và
có khả năng hấp thu những khái niệm có liên quan của phát triển công nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường trước những ảnh hưởng của hoạt động công nghiệp như cộng sinh công nghiệp và KCNST (được đề cập ở các phần tiếp theo)
2.1.2 Sinh thái học công nghiệp
Mục tiêu hạn chế sự lãng phí tài nguyên và giảm thiểu xả thải đã bắc cầu cho việc hình thành một hệ thống lý thuyết về sự tuần hoàn của quá trình của sản xuất Hệ thống lý thuyết này đã dần được mở rộng để bao hàm không chỉ sự khép kín của sản xuất mà còn cả vai trò của tiêu dùng, và cuối cùng được mở rộng ra ở quy mô toàn bộ nền kinh tế với khái niệm kinh tế tuần hoàn Mục tiêu cuối cùng của hệ thống lý thuyết này là không có (hoặc giảm thiểu) ô nhiễm môi trường gây
ra do xả thải từ quá trình sản xuất và tiêu dùng của loài người Trong nền kinh tế được tối ưu này, các đầu vào được sử dụng hiệu quả, trong khi mọi đầu ra bao gồm chất thải được xử lý để quay trở lại làm đầu vào của quá trình sản xuất Sự hiệu quả và tính bền vững của hệ thống công nghiệp trong mối tương quan với hệ sinh
thái tự nhiên như vậy được định nghĩa là sinh thái học công nghiệp [48], [103]
Cũng có ý kiến cho rằng: STCN là một khung khổ tổ chức hệ thống trên nhiều mặt của quản lý môi trường [92] Nhiệm vụ căn bản của STCN là hài hòa giữa đầu vào
và đầu ra các hoạt động sản xuất công nghiệp của con người với những giới hạn của sinh quyển Với cách tiếp cận hệ thống và toàn diện, STCN là một trong những nền tảng cho ngành công nghiệp phát triển bền vững vì một xã hội bền vững
Có thể nói, STCN được hình thành từ sự thay đổi một cách căn bản quan niệm về quản lý môi trường, xuất phát từ nhận thức về sự tương đồng trong vận hành giữa các hệ sinh thái tự nhiên và quá trình sản xuất công nghiệp cũng như tính bền vững của hệ sinh thái tự nhiên [48], [68], [77]
Ý tưởng về hệ thống công nghiệp tuần hoàn khép kín được khai triển với các nguyên lý về hệ thống công nghiệp bền vững Tính quy luật của sinh thái trong hoạt động công nghiệp của con người bao gồm: (1) hệ thống công nghiệp là hệ thống có sự liên quan chặt chẽ giữa khai thác, sản xuất, phân phối, tiêu dùng và phát thải; (2) quá trình sản xuất công nghiệp gắn chặt với vòng đời của các nguyên
Trang 40vật liệu được sử dụng; (3) sinh thái tự nhiên là hệ thống có hiệu quả nhất về việc
sử dụng tài nguyên và năng lượng; và (4) sản xuất công nghiệp có hiệu quả hơn thông qua khép kín quy trình sử dụng vật liệu, tối ưu hóa sử dụng năng lượng thông qua việc thu hồi, tái chế, tái sử dụng
Hệ STCN có ba đặc tính: (1) sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng; (2) CSCN diễn ra, trong đó các chất thải và phế phẩm công nghiệp được tái sản xuất, tái sử dụng và làm đầu vào cho quá trình sản xuất công nghiệp; và (3) đảm bảo sự
đa dạng và linh hoạt trước những cú sốc bất ngờ trong quá trình sản xuất công nghiệp [58] Đây là xuất phát điểm cho hàng loạt các nghiên cứu tiếp theo, phân tích, nhìn nhận, đánh giá và phóng chiếu về hệ thống công nghiệp từ góc độ hệ sinh thái, mô phỏng hệ sinh thái tự nhiên trong đó hiệu quả của việc sử dụng năng lượng
và tài nguyên được tối ưu hóa thông qua một hệ thống tuần hoàn [31], [108] Nguyên tắc của STCN, bao gồm: (1) Hướng đến không có chất thải; (2) Thiết kế
vì môi trường; (3) Chuyển hóa vật chất công nghiệp (có cái nhìn tổng thể về dòng nguyên liệu và năng lượng); (4) Quản lý tại giao diện giữa công nghiệp và môi trường; (5) Tạo lập và khai thác thông tin; (6) Khép kín các chu kỳ; (7) Thay đổi nhận thức về quan hệ công nghiệp và môi trường; và (8) Có thông tin chính xác (phản hồi của tự nhiên) và có giá cả đúng (hạch toán xanh) [108], [96]
Mục tiêu của STCN là: (1) Tối ưu hóa nguyên liệu (ít chất thải); (2) Tối ưu hóa năng lượng; và (3) Tối ưu hóa vốn (con người và tài chính) [68]
Gốc rễ của STCN là tư duy hệ thống khép kín, tương tự hệ sinh thái tự nhiên với 6 đặc trưng: (1) Tương tự như hệ sinh học; (2) Quan điểm hệ thống; (3) Thay đổi về công nghệ; (4) Vai trò của các công ty; (5) Giảm sử dụng nguyên vật liệu
và hiệu quả sinh thái; và (6) Luôn phát triển [86]
Khung khổ áp dụng sinh thái học công nghiệp có thể được áp dụng với các phạm vi như sau: (1) doanh nghiệp; (2) giữa các doanh nghiệp trong một không gian nhất định, hoặc trong một ngành sản xuất; và (3) vùng/giữa các quốc gia Trong khung khổ ứng dụng sinh thái học công nghiệp, ứng dụng thiết thực nhất là việc hình thành các KCNST từ các KCN hiện hữu và thiết kế các KCN mới
2.1.3 Cộng sinh công nghiệp
Trong lý thuyết về KCNST, “cộng sinh công nghiệp” là một phạm trù khoa
học quan trọng Cộng sinh công nghiệp (industrial symbiosis) (CSCN) là sự mô
phỏng theo mô hình sinh thái tự nhiên về mối quan hệ cộng sinh nơi việc trao đổi chất và các nguồn lực của sinh vật diễn ra một cách tương hỗ Việc mô phỏng sinh
thái tự nhiên diễn ra trong các ngành công nghiệp theo cách tiếp cận tập thể để tạo