(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả(Luận văn thạc sĩ) Đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả
Trang 1LƯƠNG ANH ĐỨC
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN
HÔ HẤP VÀ SINH SẢN (PRRS) Ở LỢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH, PHÂN LẬP MỘT SỐ VI KHUẨN
CÓ KHẢ NĂNG GÂY VIÊM PHỔI KẾ PHÁT
VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2LƯƠNG ANH ĐỨC
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN
HÔ HẤP VÀ SINH SẢN (PRRS) Ở LỢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH, PHÂN LẬP MỘT SỐ VI KHUẨN
CÓ KHẢ NĂNG GÂY VIÊM PHỔI KẾ PHÁT
VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Đề tài Luận văn được thực hiện bằng kinh phí của đề tài cấp tỉnh: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và đề xuất biện pháp phòng chống, giảm thiểu tác hại của dịch bệnh tai xanh (PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” do GS TS Nguyễn Thị Kim Lan làm chủ nhiệm
- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
- Mọi sự giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu, triển khai thí nghiệm và viết luận văn đã được cảm ơn Tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi
rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 17 tháng 10 năm 2016
TÁC GIẢ
Lương Anh Đức
Trang 4Tập thể giáo viên hướng dẫn GS TS Nguyễn Thị Kim Lan và PGS TS
Cù Hữu Phú đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và các đồng nghiệp tại Trường Cao đằng Nghề dân tộc nội trú Bắc Kạn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo và các cán bộ thuộc Chi cục Thú y tỉnh Bắc Ninh đã cung cấp số liệu giúp tôi hoàn thành luận văn này Xin trân trọng cảm ơn các hộ gia đình nuôi lợn tại Bắc Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình điều tra và lấy mẫu
Cuối cùng Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Mục tiêu của đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Sơ lược nghiên cứu về hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn 4
1.1.1 Phân loại, cấu trúc virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRSV) ở lợn và các đặc tính sinh học 5
1.1.2 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh của virus 7
1.1.3 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 8
1.2 Vai trò của một số vi khuẩn (A pleuropneumoniae, P multocida và S suis) trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 12
1.2.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn 12
1.2.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P multocida gây ra 16
1.2.3 Vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra 21
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 31
Trang 62.1.3 Địa điểm nghiên cứu 31
2.2 Vật liệu nghiên cứu 31
2.2.1 Mẫu bệnh phẩm 31
2.2.2 Động vật thí nghiệm 31
2.2.3 Các loại hoá chất, môi trường và nguyên vật liệu khác 32
2.2.4 Máy móc thiết bị 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.3.1 Điều tra tình hình lợn mắc và chết do bệnh tai xanh ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 - 2015 33
2.3.2 Xác định tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính với PRRS, nuôi cấy phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis từ bệnh phẩm của lợn tại Bắc Ninh 33
2.3.3 Xác định độc lực của một số chủng vi khuẩn phân lập được 33
2.3.4 Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được 33
2.3.5 Xác định hiệu quả của một số phác đồ điều trị viêm phổi ở lợn 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 34
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ bệnh tai xanh 34
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu 34
2.4.3 Phương pháp xác định mẫu bệnh phẩm lợn dương tính với PRRSV và phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida, S suis 34
2.4.4 Phương pháp xác định đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis 34
2.4.5 Phương pháp xác định serotype của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis 38
2.4.6 Phương pháp xác định số lượng vi khuẩn 39
2.4.7 Phương pháp xác định độc lực của các chủng vi khuẩn phân lập trên chuột bạch thí nghiệm 39
2.4.8 Phương pháp xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 39
Trang 72.4.9 Xây dựng phác đồ điều trị cho lợn mắc viêm phổi 40
2.4.10 Phương pháp xử lý số liệu 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Điều tra tình hình lợn mắc và chết do bệnh tai xanh ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 - 2015 42
3.1.1 Tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do tai xanh tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 - 2015 42
3.1.2 Sự phân bố bệnh tai xanh ở lợn tại các huyện, thành của tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 - 1015 45
3.1.3 Tỷ lệ lợn mắc và chết do bệnh tai xanh tại Bắc Ninh theo mùa vụ 46
3.1.4 Tỷ lệ lợn mắc và chết do bệnh tai xanh tại tỉnh Bắc Ninh theo loại lợn 48
3.1.5 Triệu chứng, bệnh tích chủ yếu của lợn mắc và chết do bệnh tai xanh 50
3.2 Xác định tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính với PRRS, nuôi cấy phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis từ bệnh phẩm của lợn tại Bắc Ninh 51
3.2.1 Kết quả chẩn đoán huyết thanh dương tính với PRRS ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh 51
3.2.2 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu bệnh phẩm lợn tại Bắc Ninh 54
3.2.3 Xác định đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn phân lập được 62
3.2.4 Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 68
3.3 Xác định độc lực của một số chủng vi khuẩn phân lập được 72
3.3.1 Xác định độc lực của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 72
3.3.2 Xác định độc lực của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 74
3.3.3 Xác định độc lực của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 76
3.4 Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn phân lập được 77
3.4.1 Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 77
3.4.2 Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 79
Trang 83.4.3 Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn S suis phân
lập được 81
3.5 Kết quả điều trị thử nghiệm lợn mắc bệnh viêm phổi 82
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Đề nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 97
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
A pleuropneumoniae: Actinobaccillus pleuroneumoniae
ADN: Acid Deoxyribonucleic
CAMP: Chiristie - Atkinson - Munch - Peterson
CFU: Colony Forming Unit
CPS: Capsule polysaccharide
Cs: Cộng sự
DNT: Dermanecrotic toxin
ELISA: Enzyme - linked Immuno sorbant assay
NAD: Nicotinamide Adenine Dinucleotide
OMPs: Outer membrane proteins
P multocida: Pasteurella multocida
PCR: Polymerase Chain Reaction
PRRS: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome PRRSV: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus
S suis: Streptococcus suis
Sta Aureus: Staphylococcus aureus
TSA: Tryptic Soya Agar
TSB: Tryptone soya broth
VK: Vi khuẩn
VP: Voges Prokauer
YE: Yeast Extract
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại kháng
sinh (NCCLS - 2002) 40 Bảng 3.2 Sự phân bố bệnh tai xanh ở lợn tại các huyện, thành của tỉnh Bắc
Ninh từ năm 2010 - 1015 45 Bảng 3.3 Tỷ lệ lợn mắc và chết do bệnh tai xanh tại Bắc Ninh theo mùa vụ 46 Bảng 3.4 Tỷ lệ mắc và chết do bệnh tai xanh tại tỉnh Bắc Ninh theo loại lợn 49 Bảng 3.5 Kết quả tổng hợp triệu chứng, bệnh tích chủ yếu ở lợn mắc và chết
do bệnh tai xanh 51 Bảng 3.6 Kết quả chẩn đoán huyết thanh dương tính với virus PRRS ở lợn tại
tỉnh Bắc Ninh 52
Bảng 3.7 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S
suis ở mẫu bệnh phẩm lợn tại Bắc Ninh 55
Bảng 3.8 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S
suis theo tuổi lợn tại Bắc Ninh 58
Bảng 3.9 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S
suis ở mẫu bệnh phẩm lợn dương tính và âm tính với PRRSV 60 Bảng 3.11 Kết quả xác định một số đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn
P multocida phân lập được 65 Bảng 3.12 Kết quả xác định một số đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn
S suis phân lập được 67
Bảng 3.13 Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae
Trang 11Bảng 3.18 Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 76 Bảng 3.19 Kết quả theo dõi kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn A
pleuropneumoniae phân lập được 78
Bảng 3.20 Kết quả theo dõi kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn P multocida
phân lập được 80
Bảng 3.21 Kết quả theo dõi kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn S suis
phân lập được 81 Bảng 3.22 Kết quả điều trị thử nghiệm lợn mắc bệnh viêm phổi 84
Trang 12DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh tai xanh tại tỉnh Bắc Ninh từ 2010 - 2015 44 Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ lợn chết và tiêu hủy do PRRS 44tại tỉnh Bắc Ninh từ
2010 - 2015 44 Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do bệnh tai xanh tại Bắc Ninh theo
mùa vụ 48 Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do bệnh tai xanh tại Bắc Ninh theo
loại lợn 49 Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ lợn dương tính huyết thanh học với PRRS virus tại Bắc Ninh 53
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis
phân lập được ở mẫu bệnh phẩm lợn tại Bắc Ninh 56
Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida
và S suis theo tuổi lợn tại Bắc Ninh 59 Hình 3.8 Biểu đồ tỷ lệ vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis
ở mẫu bệnh phẩm lợn dương tính và âm tính với PRRSV 61
Hình 3.9 Biểu đồ tỷ lệ serotype của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS - Porcine Reproductive and Respiratory Sydrome) còn gọi là “Bệnh tai xanh” là bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại rất lớn đối với chăn nuôi lợn trên toàn thế giới (Murthy A M và cs., 2015 [63]) Hội chứng PRRS được ghi nhận đầu tiên ở Mỹ vào năm 1987 Cũng tại Mỹ, trong những năm gần đây, bệnh đã trở thành đại dịch, gây thiệt hại kinh tế ước tính hàng năm lên đến 600.000 USD (Butler J E và cs., 2014 [50]) Bệnh đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam
Bệnh do virus PRRS có cấu trúc ARN, thuộc họ Arteriviridae gây ra trên lợn Bệnh
xuất hiện ở mọi lứa tuổi của lợn với tốc độ lây lan nhanh, làm chết nhiều lợn Bệnh
có thể có những diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát ở tất cả các địa phương trong cả nước
Khi mắc bệnh, lợn nái sảy thai hoặc đẻ non, lợn con đẻ ra yếu, thở khó, đôi khi có triệu chứng thần kinh, tỷ lệ chết cao; lợn thịt sốt, giảm ăn, sút cân; lợn đực chất lượng tinh giảm,… Các nghiên cứu trong nước cho thấy, khi lợn mắc PRRS, thường gặp các loại vi khuẩn gây bệnh kế phát trong đường hô hấp như
Actinobacillus pleuropneumoniae , Pasteurella multocida, Streptococcus suis serotype 2, Bordetella bronchiseptica (Nguyễn Hữu Nam và Nguyễn Thị Lan, 2007
[24]; Bùi Quang Anh và cs., 2008 [2]; Cù Hữu Phú, 2011 [30]), làm cho dịch trầm trọng với bệnh lý nặng và kéo dài, tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết cao
Từ năm 2007 - 2013, bệnh đã bùng phát mạnh ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước Lần đầu tiên dịch lợn tai xanh bùng phát ở Hải Dương vào ngày 12/3/2007, sau đó dịch lây lan nhanh và rộng khắp các tỉnh miền Bắc Trong năm 2007, toàn quốc có 324 xã, phường của 65 huyện, quận thuộc 18 tỉnh, thành phố có dịch Số lợn mắc bệnh là 70.577 con (chiếm 0,26% tổng đàn), số lợn chết và phải tiêu huỷ là 20.366 (chiếm gần 0,08%) Các năm tiếp theo dịch PRRS tiếp tục bùng phát ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có các tỉnh ven đồng bằng sông Hồng Bắc Ninh là tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển Tính đến tháng 10/2014, tỉnh Bắc Ninh có 410.678 con lợn, trong đó
Trang 14có 364.329 lợn thịt, 45.781 lợn nái và 568 lợn đực giống Chăn nuôi lợn đã mang lại nguồn thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình Nhiều năm gần đây, dịch tai xanh thường xảy ra trên địa bàn tỉnh, gây những thiệt hại to lớn cho người chăn nuôi Đặc biệt năm 2010, dịch tai xanh đã làm 64.073 lợn mắc bệnh, số tiêu hủy là 29.742 con, thiệt hại khoảng 60 tỷ đồng Bệnh tai xanh đã trở thành một hiểm họa đe dọa thường trực với ngành chăn nuôi của tỉnh Là một bệnh mới xuất hiện, trong khi việc nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ; đánh giá ảnh hưởng của bệnh tới năng suất chăn nuôi, xác định dương tính với virus, phân lập các vi khuẩn bội nhiễm gây viêm phổi kế phát chưa được thực hiện Việc sử dụng các phác đồ điều trị (gồm thuốc kháng sinh, thuốc trợ sức, hộ lý, chăm sóc) và các biện pháp phòng chống dịch đã được Chi cục thú y tỉnh Bắc Ninh thực hiện một cách tích cực, song chưa đạt hiệu quả như mong muốn Như vậy, nguy cơ cũng như thiệt hại trong chăn nuôi lợn do dịch tai xanh gây ra đối với tỉnh Bắc Ninh là rất lớn
Trong bệnh tai xanh, lợn chết nhiều là do vi khuẩn gây viêm phổi kế phát Các vi khuẩn này có nhiều serotype, ở các địa phương khác nhau, các sorotype có thể khác nhau Vì vậy, việc phân lập một số vi khuẩn gây viêm phổi kế phát để nghiên cứu và xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả là cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Đặc điểm dịch
tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản(PRRS) ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân lập một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồ điều trị hiệu quả" là vấn đề cần thiết
2 Mục đích của đề tài
Có cơ sở khoa học để xác định biện pháp phòng chống nhằm giảm thiểu tác hại của hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
3 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Phân lập và giám định một số loại vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát khi hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn xảy ra
Trang 15- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn, lựa chọn được phác
đồ điều trị hiệu quả nhất
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm
về đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn, vai trò của một số
vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát trong hội chứng này và biện pháp điều trị viêm phổi cho lợn
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xác định được phác đồ điều trị viêm phổi do một số loại vi khuẩn ở lợn hiệu quả, góp phần giảm thiểu tác hại khi có dịch bệnh tai xanh xảy ra trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược nghiên cứu về hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome (PRRS) còn gọi là “Bệnh tai xanh”, là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở lợn mọi lứa tuổi, do virus PRRS có cấu trúc ARN, thuộc họ Arteriviridae gây ra Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi của lợn với tốc độ lây lan nhanh, làm chết nhiều lợn lợn và gây ra những tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặng như sốt, ho, thở khó Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sảy thai, thai chết lưu, lây sang lợn con theo mẹ làm lợn yếu ớt, tiêu chảy, rối loạn hô hấp, tỷ lệ chết cao; lợn sau cai sữa, lợn thịt viêm phổi nặng, đực giống mất tính dục, chất lượng tinh kém Đây là bệnh mới, phức tạp, lợn mắc bệnh dễ mắc các loại bệnh khác như dịch tả lợn, phó thương hàn, tụ huyết trùng, liên cầu khuẩn, xoắn khuẩn, suyễn Bệnh có thể có những diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát ở tất cả các địa phương trong cả nước Bệnh tai xanh xuất hiện đầu tiên vào năm 1986 tại Hà Lan, tuy vậy bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ, tại khu vực phía Bắc của bang California, bang Iowa và bang Minnesota vào năm 1987, rất nhanh chóng lan sang Canada, các nước châu
Âu Năm 1998 bệnh phát ra ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân và chưa có những hiểu biết rõ ràng về bệnh nên các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đã được sử dụng để đặt tên cho bệnh với những tên gọi khác nhau như sau:
- Hội chứng hô hấp và vô sinh của lợn (SIRS)
- Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) (châu Mỹ)
- Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS)
- Hội chứng hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS)
- Bệnh tai xanh (châu Âu)
Trang 17Năm 1991, Viện Thú y Lelystad (Hà Lan) đã phân lập thành công virus Năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế về Hội chứng này được tổ chức tại Minesota (Mỹ),
Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (tiếng Anh: Porcine Respiratory and Reproductive Syndrome = PRRS) (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2007 [14]) Cho đến nay, bệnh vẫn tồn tại và phát triển mạnh và gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi ở nhiều khu vực trên thế giới Nhận định của thế giới về PRRS là dịch của nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia có ngành chăn nuôi lợn phát triển, gây tổn thất rất lớn về kinh tế Cho đến nay, chưa có bất
kỳ quốc gia nào có thể thanh toán được PRRS
1.1.1 Phân loại, cấu trúc virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRSV) ở lợn và các đặc tính sinh học
1.1.1.1 Phân loại
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae,
giống Nidovirales, có cấu trúc vỏ bọc dạng chuỗi đơn ARN Hiện nay, dựa vào phân
tích cấu trúc gen, người ta đã xác định được 2 nhóm virus: nhóm I gồm các virus thuộc chủng Châu Âu (tên gọi phổ thông là virus Lelystad) gồm 4 phân nhóm (subtype) đã được xác định Nhóm virus này được Viện Thú y Trung ương - Lelystad
- Hà Lan phân lập được trên tế bào đại thực bào phế nang của lợn và đặt tên là virus Lelystad - LV Nhóm II gồm các vi rút thuộc dòng Bắc Mỹ (với tên gọi là VR - 2332), nhóm này phân lập được ở lợn tại Mỹ vào năm 1992 Về mặt di truyền và tính kháng nguyên, hai nhóm virus này hoàn toàn khác nhau Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virus thuộc hai chủng Châu Âu và Bắc Mỹ là khoảng 40%, do
đó có ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng này
Kết quả nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy các chủng PRRSV tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 - 99,7% so với chủng virus gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và đều bị mất 30 axít amin Điều này cho thấy các chủng PRRSV ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ, có độc lực cao giống chủng ở Trung Quốc (Cục thú y, 2008 [6])
Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy, có sự khác biệt về tính di truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau Bản thân các virus
Trang 18trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về nucleotit khá cao (đến 20%), đặc biệt
là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ
Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận định, PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ, dòng Trung Quốc (Lê Thanh Hòa và cs., 2009 [18]; Nguyễn Văn Cảm và cs., 2011 [4]; Cao Văn Thật và cs., 2012 [40])
1.1.1.2 Hình thái và cấu trúc của PRRSV
Dưới kính hiển vi điện tử, PRRSV là loại có vỏ bọc, hình cầu, có kích thước
từ 45 - 55 nm, chứa nhân nucleocapsid có kích thước từ 30 - 35 nm
Virus gây PRRS là ARN virus với bộ gen là một phân tử ARN sợi đơn dương,
có những đặc điểm chung của nhóm Arterivirus Sợi ARN này có kích thước khoảng
15 kilobase, có 9 ORF (open reading frame) mã hoá cho 9 protein cấu trúc
Virus có 6 phân tử protein chính có khả năng trung hoà kháng thể, bao gồm bốn phân tử glycoprotein, một phân tử protein xuyên màng (M) và một protein nucleocapsid (N) (Tô Long Thành, 2007 [38])
Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [15] cho biết sợi đơn ARN của virus bao gồm một bộ gen có khoảng 15 kb, mã hóa 9 ORFs Bộ gen PRRSV bao gồm hai gen polymerase là ORF1a và ORF1b và bảy gen cấu trúc là ORF2a, 2b, 3, 4, 5, 6 và 7 ORF1a và ORF1b cấu thành khoảng 75% bộ gen của virus và được đặc trưng bởi một quá trình khung ribosome chuyển dịch thành một polyprotein lớn mà sự phân tách làm phát sinh các protein không cấu trúc (NSP) bao gồm cả RNA phụ thuộc polymerase Các khung đọc mở ORF2a, 3, 4 và 5 tất cả mã hóa cho các protein glycosyl hóa là GP2a, GP3, GP4, GP5 tương ứng Các ORF2b mới được định nghĩa
mã hóa các protein nhỏ nhất của các hạt virus được chỉ định GP2b ORF7 mã hóa các protein nuclocapsid không glycosyl hóa (N)
1.1.1.3 Đặc tính sinh học của virus
Virus gây PRRS rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở vùng phổi Virus nhân lên ngay bên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%) Đại thực bào bị giết chết nên sức đề kháng của lợn
Trang 19mắc bệnh bị suy giảm nghiêm trọng Do vậy lợn mắc PRRS thường dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát Virus không gây ngưng kết với các loại hồng cầu gà, dê, thỏ, chuột, hồng cầu type O của người Virus phát triển tốt trên môi trường tế bào đại thực bào phế nang lợn, trên tế bào dòng CL 2621, tế bào MA 140 với bệnh tích phá huỷ tế bào, sau 2 - 6 ngày tế bào co tròn, tập trung thành cụm dày lên, nhân co lại cuối cùng bong ra (William Christianson T và Han Soo Joo, 2001 [49]) Tuy có một số khác biệt về di truyền và kiểu hình nhưng các chủng virus Bắc Mỹ và các chủng virus Châu Âu lại cùng gây ra các triệu chứng lâm sàng về hô hấp và sinh sản ở lợn rất giống nhau Dựa vào những kết quả nghiên cứu tổn thương đại thể và vi thể của
tổ chức phổi lợn mắc bệnh, người ta chia ra hai nhóm virus là nhóm virus có độc lực cao và nhóm virus có độc lực thấp Nhóm virus có độc lực cao thường gây ra các tổn thương ở tổ chức phổi lợn bệnh nặng hơn nhóm virus có độc lực thấp Năm
2007, Kegong Tian và Yu [56] khi nghiên cứu về sự biến đổi về độc lực của PRRSV tại Trung Quốc cho rằng, virus đã có sự biến đổi về độc lực và hậu quả lợn nhiễm virus này có tỷ lệ chết cao, trên 20% trong tổng số nhiễm bệnh
1.1.2 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh của virus
1.1.2.1 Sức đề kháng của virus
Virus gây PRRS có thể tồn tại một năm ở nhiệt độ lạnh từ -20 đến -700C; trong điều kiện 40C virus có thể sống một tháng; với nhiệt độ cao cũng như các virus khác, PRRS đề kháng kém: ở 370C chịu được 48 giờ, 560C bị chết sau một giờ Trong huyết thanh bảo quản ở 40C hoặc -200C, sau 72 giờ có thể phân lập được PRRS từ 85% số mẫu Virus thích hợp ở pH 5 - 7
Với các chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit, virus dễ dàng
bị tiêu diệt Virus sống được trong pH từ 6,5 - 7,5 Dưới tác động của ánh nắng mặt trời hoặc tia tử ngoại, virus nhanh chóng bị vô hoạt
1.1.2.2 Khả năng gây bệnh của virus
Người và các động vật khác không mắc PRRS, tuy nhiên trong các loài thuỷ
cầm chân màng có vịt trời (Mallard duck) lại mẫn cảm Virus có thể nhân lên ở loài
Trang 20động vật này và chính đây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng nên rất khó khống chế Virus gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng là động vật mang trùng và có thể coi
là nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, 2007 [38])
Về độc lực, người ta thấy virus gây PRRS tồn tại dưới 2 dạng, đó là dạng cổ điển và dạng biến thể độc lực cao
- Dạng cổ điển có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn
- Dạng biến thể độc lực cao gây nhiễm bệnh cho lợn lây lan nhanh, trầm trọng và chết nhiều
1.1.3 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
1.1.3.1 Cơ chế sinh bệnh và phương thức truyền lây
Virus gây PRRS có trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước tiểu của lợn ốm hoặc lợn mang trùng và phát tán ra môi trường; tinh dịch của lợn đực giống nhiễm virus cũng là nguồn lây lan bệnh Ở lợn nái mang thai, virus có thể từ mẹ xâm nhiễm sang bào thai và gây bệnh Lợn mang trùng có thể bài thải virus trong vòng 6 tháng
Virus gây PRRS có thể xâm nhập vào cơ thể lợn theo đường hô hấp, tiêu hóa
và đường âm đạo Sau khi xâm nhập, đích tấn công chủ yếu của virus là các đại thực bào ở phế nang Đây là tế bào duy nhất có receptor phù hợp với cấu trúc hạt của virus, vì thế chúng hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong loại tế bào này và phá hủy nó Ở lợn mắc bệnh, một tỷ lệ lớn các tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virus xâm nhập rất sớm và phá hủy làm giảm khả năng phòng vệ của phổi Lúc đầu, PRRSV có thể kính thích sự tăng sinh của đại thực bào nhưng sau 2 -
3 ngày, virus này sẽ giết chết chúng, các virion được giải phòng ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác, tiếp tục quá trình nhân lên và phá hủy đại thực bào
Trong cơ thể lợn ốm do mắc PRRS có tới 40% tế bào đại thực bào bị virus giết chết (William Christianson T và Han Soo Joo, 2001 [49]) Trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thực bào đóng vai trò vô cùng quan trọng; kế phát do
Trang 21những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp như Mycoplasma hyopneumoniae,
P multocida, S suis, A pleuropneumoniae Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1] khi xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS
ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2010 đã cho thấy lợn mắc PRRS thường kế
phát bệnh do các nhóm vi khuẩn đường hô hấp và đường ruột như A pleuropneumoniae, P multocida, S suis, Escherichia coli, Salmonella sp, Clostridium perfringens Kết quả phân lập được vi khuẩn A pleuropneumoniae với
tỷ lệ cao nhất 63,33% và thấp nhất là P multocida 10% Các tác giả nhận định các
nhóm vi khuẩn kế phát trên đã làm cho dịch PRRS trầm trọng và phức tạp hơn, lợn chết trong bệnh tai xanh chủ yếu là do các vi khuẩn gây viêm phổi kế phát này Vì vậy, sử dụng các biện pháp phòng chống đối với vi khuẩn kế phát là biện pháp hạn chế hữu hiệu tỷ lệ lợn chết trong bệnh tai xanh
1.1.3.2 Triệu chứng
Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho thấy: lợn bệnh thường có các triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, khó thở, táo bón hoặc ỉa chảy tốc độ lây lan nhanh Đặc biệt, một số con lợn mắc bệnh ở chóp tai bị ứ huyết có màu xanh tím và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn
Ở lợn nái, các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai
gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường ít uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi
Lợn đực giống biểu hiện sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh Triệu chứng chủ yếu là viêm dịch hoàn, bìu dái thấy nóng đỏ, (chiếm 95%), dịch hoàn có biểu hiện sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm tính hưng phấn trong hoạt động giao phối (Lê Văn Năm, 2007 [25]) Lượng tinh dịch thường
ít, chất lượng tinh dịch kém, thể hiện: nồng độ tinh trùng (C) thường dưới 8 x 106; hoạt lực của tinh trùng (A) dưới 0,6; sức kháng của tinh trùng (R) dưới 3000; tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K) tăng trên 10%; tỷ lệ sống của tinh trùng giảm xuống còn dưới
Trang 2270% và độ nhiễm khuẩn tăng cao trên 2 x 103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2007 [37])
Ở lợn choai, lợn thịt: lợn mắc bệnh sốt cao 400C đến 420C, bỏ ăn, ủ rũ, khó thở, ho; những phần da mỏng gần tai, phần da bụng lúc đầu có màu hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu hồng thẫm và xanh nhạt Lợn con mới sinh hầu như sẽ chết sau vài giờ; số còn sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất Lợn con có triệu chứng gầy yếu, bỏ bú, da xuất huyết phồng rộp, khó thở và tiêu chảy (Bùi Quang Anh và cs., 2008 [2])
Lợn con theo mẹ: lợn con sinh ra thường chết sau vài giờ Số con sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai sữa nhưng có triệu chứng khó thở và tiêu chảy Thể trạng gầy yếu, triệu chứng phát ra đột ngột, đường huyết hạ thấp do không bú mẹ, mí mắt sưng, có dử màu nâu, trên
da xuất hiện những đám phồng rộp Lợn con thường tiêu chảy hàng loạt và rất nặng, phân dính bết xung quanh hậu môn Đây là triệu chứng đặc trưng của lợn con chưa cai sữa, biểu hiện này không phổ biến ở lợn lớn Phát ban đỏ là biểu hiện phổ biến thứ hai và xảy ra ngay sau khi bệnh bắt đầu xuất hiện Chảy nước mắt, mắt có dử và
mí mắt sưng húp là biểu hiện phổ biến thứ 3, kết hợp với các dấu hiệu lạc giọng, khản tiếng, thở khó, thở thể bụng, chảy nước mũi, khớp đau, sưng to nên chân thường choãi ra, đi lại khó khăn, tỷ lệ tử vong cao (Lê Văn Năm, 2007 [25])
Lợn con đang bú hay mới cai sữa bị bệnh có thể có triệu chứng hô hấp Lợn mắc bệnh bỏ ăn, hắt hơi, tăng tần số hô hấp và có dấu hiệu bệnh hô hấp như thở há mồm Một số có thể chết và có thể tăng nhiễm vi khuẩn đường hô hấp kế phát Lợn lớn hơn có triệu chứng lâm sàng tương tự, mặc dù có nhẹ hơn và hiện tượng tím tái thỉnh thoảng xảy ra ở tai (bệnh tai xanh), ở âm hộ, đuôi, bụng hay mõm lợn Triệu chứng nhẹ hay không có triệu chứng lâm sàng là phổ biến
1.1.3.3 Bệnh tích
Mức độ bệnh tích đại thể của Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn phụ thuộc nhiều vào độc lực của virus và quá trình diễn biến của bệnh Bệnh tích đặc trưng của bệnh là viêm phổi hoại tử, các đám phổi bị đặc chắc ở các thuỳ phổi
Trang 23Thuỳ phổi bị bệnh thường có màu xám đỏ, có mủ và đặc chắc lại (nhục hoá) Trên
bề mặt cắt ngang của đám phổi bệnh thường lồi ra và khô Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hoá mủ ở mặt dưới của thuỳ đỉnh Về mặt tổ chức phôi thai học thường thấy dịch thẩm xuất và hiện tượng thâm nhiễm, trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ nhiều nhân Một bệnh tích đặc trưng nữa là sự thâm nhiễm của tế bào phế nang loại II (pneumocyse) làm cho phế nang bị nhăn lại, thường bắt gặp đại thực bào bị phân huỷ trong phế nang (Nguyễn Hữu Nam và Nguyễn Thị Lan, 2007 [24])
Một số bệnh tích khác có thể thấy: thận xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu họng, amidan sưng hoặc xung huyết; gan sưng, tụ
huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét niêm mạc van hồi manh tràng Viêm phổi kẽ là bệnh tích chắc chắn thấy ở PRRS Bệnh tích này có thể quan sát được ở lợn mọi lứa tuổi (William Christianson T và Han Soo Joo, 2001 [49]) Viêm mũi đặc trưng bởi mất lông nhung biểu mô, tế bào biểu mô bị sưng lên hoặc chứa khí, bong vẩy trên bề mặt biểu mô Viêm não không gây mủ với sự tập trung tế bào đơn nhân ở mạch máu ngoại vi, đôi khi được quan sát trên toàn bộ não
Viêm cơ tim rải rác, chủ yếu là bạch cầu đơn nhân tập trung quanh mạch
máu ngoại vi Lợn mắc PRRS bệnh tích thường thấy như thận xuất huyết lấm tấm
như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu, amidan sưng hoặc sung huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manh tràng; phổi tụ huyết, xuất huyết, cuống phổi chứa đầy dịch nhớt, sầu bọt (Bùi Quang Anh và cs., 2008 [2]) Theo Nguyễn Tiến Dũng (2011) [9], bệnh tích đặc trưng nhất là viêm phổi kẽ và viêm hạch lâm ba ở cả 2 dạng (PRRS dạng cổ điển và PRRS dạng sốt cao) Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy phổi bị viêm có màu đỏ xám, có mủ
và đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bị viêm lồi ra, khô Nhiều trường hợp lợn mắc bệnh bị viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh
1.1.3.4 Các biện pháp phòng bệnh
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu lợn mắc PRRS, do vậy việc phòng bệnh bằng vaccine và vệ sinh phòng bệnh, tiêu độc khử trùng hiện đang là hai biện
Trang 24pháp hữu hiệu ở nhiều cơ sở chăn nuôi lợn Để chủ động phòng chống dịch, cần thực hiện đồng bộ, kiên quyết các giải pháp phòng, chống dịch như: phát hiện sớm, bao vây xử lý kịp thời các ổ dịch; công tác tuyên truyền thực hiện sâu rộng tới các ngành, các cấp và người dân tham gia chăn nuôi; đặc biệt có sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp từ Trung ương tới các địa phương Thực hiện nghiêm việc tiêm vaccine phòng các bệnh nguy hiểm ở lợn theo Quyết định số 63/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (Nguyễn Ngọc Tiến, 2011 [44])
Trong PRRS thì vai trò của vi khuẩn kế phát là một nguyên nhân quan trọng gây chết hàng loạt lợn tại các địa phương xảy ra dịch hiện nay Do PRRSV với đích tấn công phá hủy đại thực bào, làm suy giảm miễn dịch, dẫn đến các mầm bệnh nhiễm trùng thứ phát có cơ hội trỗi dậy gây bệnh cho lợn Trong đó, một số loại vi
khuẩn thường gây viêm phổi ở lợn như A pleuropneumoniae, P multocida và S suis
1.2 Vai trò của một số vi khuẩn (A pleuropneumoniae, P multocida và S suis)
trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
Trong PRRS thì vai trò của vi khuẩn kế phát là một trong những nguyên nhân quan trọng gây chết hàng loạt lợn tại các địa phương xảy ra dịch hiện nay Do PRRSV với đích tấn công phá hủy đại thực bào, làm suy giảm miễn dịch, dẫn đến các mầm bệnh nhiễm trùng thứ phát có cơ hội trỗi dậy gây bệnh cho lợn Trong đó,
một số loại vi khuẩn thường gây bệnh viêm phổi ở lợn như A pleuropneumoniae, P multocida và S suis
1.2.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn
Trang 25Actinobacilus và đặt tên là A pleuropneumoniae bởi kết quả xác định có sự tương đồng ADN giữa H pleuropneumoniae và A ligrieressi
∗ Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
A pleuropneumoniae là vi khuẩn có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, bắt màu gram
âm, kích thước khoảng 0,3 - 0,5 x 0,6 - 1,4 pm, không di động, không sinh nha bào,
có khả năng hình thành giáp mô, tuy nhiên một số chủng không có giáp mô cũng đã được quan sát thấy Dưới kính hiển vi điện tử quan sát thấy vi khuẩn có nhung mao
hay còn gọi là pili với kích thước 0,5 - 2 x 60 - 450 nm
A pleuropneumoniae là một loại vi khuẩn khó phân lập trên các môi trường thông thường và thường phụ thuộc vào yếu tố V Do vậy, khi nuôi cấy
A pleuropneumoniae cần các môi trường giàu dinh dưỡng Vi khuẩn không phát triển trên môi trường thạch máu thông thường mà chỉ có thể mọc trên
thạch máu đã được bổ sung NAD hoặc có cấy kèm vi khuẩn Staphylococcus aureus. Sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc mọc xung
quanh đường cấy Staphylococcus aureus với kích thước 0,5 - 1 mm và hình
thành một vùng dung huyết β Vùng dung huyết này thường được quan sát rõ
hơn trên môi trường thạch có bổ sung 5 - 7% máu cừu
Trên môi trường TSA: trong thành phần của môi trường này được bổ sung Yearst Extract (YE) và huyết thanh ngựa Sau 24 - 48 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành khuẩn lạc nhỏ, màu trắng trong, dưới ánh sáng đèn điện có màu xám xanh
Trên môi trường thạch chocolate: sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành khuẩn lạc nhầy, màu trắng xám
∗ Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn A pleuropneumoniae lên men đường glucose, xylose, mannitol,
mannose và không lên men đường arabinose, lactose, raffinose, sorbitol Dương tính với phản ứng urease, oxidase, CAMP, O.N.P.G; âm tính với phản ứng sinh Indol và không mọc trên thạch MacConkey (Trịnh Quang Hiệp và cs., 2004 [17];
Trang 26Cù Hữu Phú và cs., 2005 [29]; Đặng Xuân Bình và cs., 2007 [3]; Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010 [13])
∗ Cấu trúc kháng nguyên
Vi khuẩn A pleuropneumoniae từ lâu đã được nhiều nghiên cứu xác định là
nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn và được chia thành 2
biotype chính dựa trên nhu cầu cần sử dụng NAD (Nicotinamide Adenine Dinucleotide) hay còn gọi là yếu tố V cho quá trình sinh trưởng của vi khuẩn Biotype 1 cần có NAD, còn biotype 2 thì không đòi hỏi NAD trong quá trình nuôi cấy, song vẫn cần có các pyridine nucleotid đặc hiệu hoặc các chất tiền thân của pyridine nucleotid cho quá trình tổng hợp NAD
∗ Các yếu tố độc lực
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy độc lực ở các serotype khác nhau của vi khuẩn
A pleuropneumoniae phần lớn được quyết định bởi các ngoại độc tố mà chúng sản sinh ra polysaccharide vỏ, lipopolysaccharide, protein màng, protein thu nhận sắt, yếu tố bám dính, ngoại độc tố và một vài loại enzym có liên quan cũng đóng vai trò
quan trọng đối với độc lực của vi khuẩn A pleuropneumoniae
∗ Khả năng đề kháng với kháng sinh
Sự mẫn cảm với kháng sinh của A pleuropneumoniae đã được Cù Hữu Phú
và cs (2005) [29] cho biết ít mẫn cảm nhất là kanamycin (45,45%), neomycin (50%), lincomycin (63,64%) Nghiên cứu của Tiêu Quang An và cs (2011) [1] cho
biết, các chủng A pleuropneumoniae phân lập được ở lợn mắc PRRS mẫn cảm cao
với các loại kháng sinh như florfenicol (89,47%), amoxicillin (84,21%), erythromycin (78,95%), kistasamycin (73,68%) và kháng mạnh streptomycin (100%), enroloxacin (94,74%), colistin (94,74%), gentamicin (89,47%)
1.2.1.2 Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn do A pleuropneumoniae
∗ Dịch tễ
Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn lây lan rộng và được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới, nơi có ngành chăn nuôi lợn phát triển Bệnh có mặt và lây lan mạnh ở
Trang 27hầu hết các nước Châu Âu và một phần ở Mỹ, Canada, Mexico, Nam Mỹ, Nhật Bản,
Hàn Quốc và Australia Ở Việt Nam, trong những năm gần đây A pleuropneumoniae
đã được phân lập và đánh giá là một trong những nguyên nhân gây bệnh viêm đường
hô hấp khá quan trọng ở tất cả các trại lợn trên toàn quốc
A pleuropneumoniae là vi khuẩn cư trú ở đường hô hấp trên của lợn Tất cả
các lứa tuổi đều bị cảm nhiễm Trong trường hợp cấp tính của bệnh thì tỷ lệ chết thường cao Tỷ lệ chết cũng phụ thuộc vào độc lực của vi khuẩn và sự lưu hành bệnh trong môi trường Bệnh nặng hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn nếu nhiễm kế phát các bệnh khác như Aujeszky’s và hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS)
∗ Triệu chứng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh thể hiện ở nhiều mức, phụ thuộc vào tuổi của lợn, tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh Biểu hiện lâm sàng của bệnh có thể là quá cấp tính, cấp tính hoặc mãn tính
- Thể quá cấp tính: lợn mắc bệnh sốt 41,50C, mệt mỏi, bỏ ăn, có thể nôn mửa và tiêu chảy Thời gian ngắn trước khi chết, thường có những biểu hiện khó thở dữ dội, thở bằng mồm, lợn ở tư thế ngồi thở, nhiệt độ giảm nhanh Ngay trước khi chết, có chảy nhiều dịch bọt lẫn máu ở miệng và mũi, nhịp tim tăng; phần da ở mũi, tai, chân và sau cùng toàn bộ cơ thể trở nên tím tái, lợn mắc bệnh thường chết sau 24 - 36 giờ
- Thể cấp tính: ở thể này thường có nhiều lợn cùng mắc bệnh trong một chuồng hoặc ở những chuồng khác nhau Lợn bệnh sốt từ 40,50C - 410C, da đỏ, mệt mỏi, nằm không muốn dậy, không muốn uống, bỏ ăn Các dấu hiệu hô hấp nặng như khó thở, ho và đôi khi thở bằng miệng rất rõ Toàn thân suy sụp trong vòng 24 giờ đầu Bệnh diễn biến khác nhau ở từng cá thể, phụ thuộc vào mức độ tổn thương
ở phổi và thời điểm bắt đầu điều trị Lợn thường sống sót nếu qua được 4 ngày đầu của bệnh
- Thể mãn tính: xuất hiện sau khi các dấu hiệu cấp tính mất đi Lợn mắc bệnh không có biểu hiện rõ ràng trên lâm sàng Những con vật mắc bệnh thể mãn tính là nhân tố truyền bệnh cho những lợn khác Những dấu hiệu viêm phổi sẽ biểu
Trang 28hiện rõ hơn nếu có nhiễm trùng kế phát các vi sinh vật đường hô hấp khác
(Mycoplasma, Pasteurella, PRRS) hay các nhân tố Stress
∗ Bệnh tích
Lợn bệnh có những tổn thương chủ yếu ở đường hô hấp Đa số các trường hợp lợn bị viêm hai bên phổi với tổn thương ở các thùy đỉnh, thùy tim cũng như ít nhất một phần mỏm trên của thùy hoành Viêm màng phổi tơ huyết và fibrin thường rất rõ
ở những lợn chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh Hầu hết những nghiên cứu đều
kết luận rằng những tổn thương trên là do độc tố của vi khuẩn A pleuropneumoniae
gây ra Ở các trường hợp tử vong nhanh chóng như thể cấp tính thấy khí quản và các phế quản bị lấp đầy bởi các chất tiết nhầy, bọt nhuốm máu, phổi trở nên sẫm màu, có rất nhiều máu ở lồng ngực và nhiều tơ huyết gắn giữa phổi, thành ngực, cơ hoành và màng ngoài tim
∗ Điều trị bệnh
Vi khuẩn A pleuropneumoniae có MIC (nồng độ ức chế tối thiểu) cao với
streptomycin, kanamycin, spectinomycin, spiramycin và lincomycin
Kháng sinh được chọn lựa trong điều trị phải là kháng sinh có nồng độ ức chế tối thiểu thấp và có khả năng diệt khuẩn tốt nhất Một số kháng sinh mới có gần đây như các dẫn xuất quinolone (enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp (ceftiofur sodium) đã được chứng minh trên thử nghiệm rất có kết quả Một số nhà khoa học đã xác định được tilmicosin có hiệu quả cao trong điều trị bệnh do vi
khuẩn A pleuropneumoniae gây ra ở lợn
1.2.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P multocida gây ra
1.2.2.1 Vi khuẩn P multocida
∗ Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn P multocida thuộc bộ Eubacteriales, họ Parvobateriaceae, tộc Pasteurelliae , giống Pasteurella, loài Pasteurella multocida Kích thước của vi khuẩn P multocida có sự thay đổi phụ thuộc vào nguồn gốc của chúng, vi khuẩn
Trang 29phân lập từ bò có kích thước đồng nhất từ 0,5 - 1,2 µm, trong khi đó P multocida
phân lập từ lợn có dạng tròn hơn, kích thước từ 0,8 - 1,0 µm
Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở lợn là loại cầu trực khuẩn, bắt màu Gram
âm, có kích thước 0,2 - 0,41 x 0,04 - 1,5 µm, hai đầu tròn, không di động, không sinh nha bào, thường bắt màu sẫm ở hai đầu trong các tiêu bản máu ở phủ tạng lợn
còn tươi P multocida là loại vi khuẩn sống hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện, điều
kiện thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 370C trong môi trường trung tính hay hơi
kiềm (pH: 7,2 - 7,4) Vi khuẩn P multocida mọc tốt trên một số môi trường như nước thịt, thạch thường, thạch máu Vi khuẩn P multocida phát triển trong môi
trường phổ thông có thêm tụy đệm CaCl2 và MgCl2 cũng giống như phát triển trên môi trường BHI - Brain Heart Infusion
Môi trường tốt nhất cho P multocida là môi trường YPC (yeast extract
peptone L - cytine) có thêm sacarose và sodium sulfite (Na2SO4) và môi trường TSA (tryptone soya agar) Trên môi trường TSA kích thước của khuẩn lạc sẽ lớn
hơn Vi khuẩn P multocida phát triển trên môi trường YPC thạch máu sẽ tạo nhiều
kháng nguyên quan trọng hơn khi cấy trong các môi trường tổng hợp khác, đây cũng là môi trường giúp tái tạo giáp mô của vi khuẩn Vi khuẩn không phát triển trên môi trường MacConkey và thạch Citrate
∗ Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn P multocida lên men đường glucose, mannitol, sorbitol, galactose;
không lên men đường lactose, arabinose, maltose Phản ứng sinh Indol, Catalaza và Oxydaza: dương tính; phản ứng Urease: âm tính; không mọc trên môi trường MacConkey (Đỗ Quốc Tuấn, 2008 [48])
Trang 30trò quan trọng trong quá trình hình thành miễn dịch Kháng nguyên K bao quanh thân vi khuẩn giúp cho vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào và ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên thân O và kháng thể O
∗ Khả năng đề kháng với kháng sinh
Ở Việt Nam, Đỗ Quốc Tuấn và Nguyễn Quang Tuyên (2007) [47] cho biết
25 chủng P multocida phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh mẫn
cảm cao với các kháng sinh như chlotetracyclin, neomycin và ampicillin và cũng đã
xác định mức độ mẫn cảm của các chủng P.multocida phân lập được ở lợn tại một
số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam với một số kháng sinh thông dụng đã cho thấy
các chủng P.multocida mẫn cảm cao với norfloxacin, lincomycin và neomycin Tiêu Quang An và cs (2011) [1] cũng cho biết các chủng P multocida phân lập được ở
lợn mắc PRRS mẫn cảm cao với các kháng sinh như amoxicillin (100%), ampicillin (66,67%), gentamicin (66,67%) và kháng mạnh các kháng sinh như streptomycin, enrofloxacin, colistin
1.2.2.2 Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P mutocida
∗ Triệu chứng
Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P multocida gây ra rất khác nhau tùy
thuộc vào chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể là thể quá cấp, thể cấp tính và thể mãn tính
- Thể quá cấp tính: lợn bệnh mệt mỏi, kém ăn, hoặc bỏ ăn, nằm một chỗ, không đứng dậy được, sốt cao (41 - 420C), uống nhiều nước, run rẩy Xuất hiện thuỷ thũng ở cổ, họng, hầu do viêm làm cho hầu sưng, cổ cứng, má phị, mặt mũi sưng húp, có khi phía dưới bụng và giữa hai hàng vú sưng, con vật thở khó, thở khò khè, cổ duỗi thẳng, mũi phồng ra khép lại từng hồi, nhịp tim nhanh Các niêm mạc
đỏ sẫm hoặc tím bầm, nốt xuất huyết, vết đỏ hay tím xuất hiện ở tai, cổ, bụng, phía trong đùi Bệnh tiến triển từ 12 giờ đến 1 - 2 ngày, con vật chết vì ngạt thở Lợn mắc bệnh ở thể này có biểu hiện đang bình thường đột nhiên kêu rống lên rồi lăn ra chết, sau khi chết xác lợn tím bầm, sùi bọt mép Trường hợp này xảy ra khi mầm bệnh đã có sẵn ở cơ sở chăn nuôi
Trang 31- Thể cấp tính: lợn mắc bệnh bắt đầu ủ rũ, ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt đến 410C hoặc hơn Sau đó, xuất hiện các triệu chứng giống ở thể quá cấp nhưng không trầm trọng bằng Niêm mạc mũi lợn bệnh bị viêm, con vật thở khó, thở nhanh, có tiếng khò khè, ướt trong phế quản, chảy nước mũi đặc, nhờn, đục, có khi có mủ, máu; ho khan, từng tiếng, ho co rút toàn thân, khi gõ vùng ngực con vật đau, thấy có vùng
âm đục; tim đập nhanh; chảy nước mắt; trên da nổi những chấm đỏ hoặc đám tím bầm ở những phần da mềm; chỗ da mỏng ít lông thường viêm xuất huyết Phù thũng dưới da vùng hầu và lan rộng xuống cổ Những vùng này có hiện tượng sưng
to và bùng nhùng Lợn mắc bệnh lúc đầu táo sau ỉa chảy có khi có máu hoặc cục máu do xuất huyết ruột Bệnh tiến triển từ 3 đến 12 ngày, con vật gầy yếu dần, ăn ít hoặc không ăn rồi chết Tỷ lệ chết có thể lên tới 80%, nếu con vật không chết thì có thể chuyển sang thể mãn tính
Thể mãn tính: thể này thường tiếp theo thể cấp tính, con vật khó thở, thở nhanh và thở khò khè, hơi sốt nhẹ, các khớp bị sưng nhất là khớp gối Con vật ho nhiều khi vận động, có đám da tróc bong vẩy, niêm mạc miệng đóng màng giả gây
áp xe Bệnh tiến triển 3 - 6 tuần sau đó con vật gầy yếu dần rồi chết do suy nhược (Phan Thanh Phượng và cs., 2006 [32])
∗ Bệnh tích
- Thể quá cấp tính: lợn chết đột ngột, do đó các bệnh tích thường ít đặc trưng, chứng xuất huyết và sung huyết có thể thấy ở khắp cơ thể (Phan Thanh Phượng và cs., 2006 [32]) Lợn bệnh có bệnh tích xuất huyết ở thanh mạc, niêm mạc và các cơ quan nội tạng, xuất huyết nhiều điểm trên da Hạch lâm ba sưng đỏ, thuỷ thũng, thấm nước Hầu viêm, thấm tương dịch Lách sưng, tụ máu Thận ứ máu Trên da có nốt đỏ hoặc tím bầm Phổi xuất huyết, thuỷ thũng, thấm tương dịch
- Thể cấp tính: theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [31] khi mổ khám lợn bệnh có bệnh tích thuỳ phế viêm; phổi viêm tụ máu từng đám, nhất là vùng sâu hoặc phía sau Phổi bị viêm có nhiều vùng gan hoá cứng ở các thời kỳ khác nhau, thấm tương dịch đỏ nhạt, khi cắt thấy có vân, có hạt nhiều màu sắc, các mô cứng nổi lên, có nhiều ổ hoại tử viền màu vàng, tổ chức liên kết giữa tiểu thuỳ dày lên,
Trang 32thấm nước thuỷ thũng nhưng không xuất huyết Khí quản, phế quản tụ máu, xuất huyết có bọt nhớt màu hồng Màng phổi dính vào lồng ngực, có khi có chấm xuất huyết, chứa nước ngoại xuất, có mủ màng giả, sợi huyết Hầu viêm, thuỷ thũng, thấm tương dịch vàng Dạ dày, ruột viêm cata, tụ máu, xuất huyết Lách hơi sưng, màu đỏ sẫm, có ổ viêm cứng, đôi khi lách bình thường Hạch lâm ba ngực, hầu sưng
tụ máu Hạch màng ruột sưng, thấm nước Thận ứ máu, có màu đỏ sẫm Cao Văn
Hồng (2002) [19] cho biết lợn chết do P multocida gây ra có thịt tím hồng, nhớt,
thấm tương dịch, tỷ lệ viêm phổi khá cao tới 90,90%, xoang bụng tích nước màu vàng với tỷ lệ phát hiện từ 84,0 - 90,91%, hạch hầu sưng (93,64%) Tim sưng, bao tim tích nước (97,58%) Theo Phan Thanh Phượng và cs (2006) [32], bệnh tích điển hình ở thể này là viêm da có những vết, mảng đỏ sẫm, tím bầm ở bụng, ngực, khoeo chân Khi mổ khám lợn bệnh ở thể cấp tính người ta phát hiện thấy quá trình nhiễm trùng huyết cấp tính, kèm theo chứng xuất huyết trên khắp các màng thanh mạc, niêm mạc và các cơ quan bên trong, nhiều xuất huyết điểm trên da Chứng phù
nề dưới da, vùng cổ và vùng ngực rất nặng và rất đặc trưng, tích nhiều nước trong xoang bụng và xoang ngực
- Thể mãn tính: theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [31] các bệnh tích ở thể này là phổi viêm mãn tính, có vùng gan hoá hoại tử vàng xám, cứng, có ổ áp xe,
có khi bị cazein hoá như fomat, đám bã đậu hoá Phế quản viêm mãn tính, màng phổi dày ra ở vùng phổi bị hoại tử, có chỗ dính vào lồng ngực Hạch lâm ba, hạch hạnh nhân, khớp xương mô liên kết dưới da có những đám bã đậu, gan lách có đám cazein hoá
∗ Điều trị bệnh
Theo Phan Thanh Phượng và cs (2006) [32], trong thực tế vi khuẩn P multocida
có nhiều biến chủng kháng lại các thuốc kháng sinh thông thường, nên muốn điều trị có hiệu quả cần phải tiến hành kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh để chọn loại kháng
sinh có hiệu quả Đỗ Quốc Tuấn (2008) [48] cho biết, các chủng P multocida phân
lập được ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam mẫn cảm cao với norfloxacin, lincomycin, neomycin và đã chọn hai kháng sinh là lincomycin và
Trang 33norfloxacin điều trị lợn mắc bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra, tỷ lệ lợn khỏi
bệnh từ 84,37% đến 91,48%
1.2.3 Vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra
1.2.3.1 Vi khuẩn S suis
∗ Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn S suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ Lactobacillales , lớp Bacilli Streptococcus là vi khuẩn Gram dương, hình cầu hoặc
hình trứng, đường kính nhỏ hơn 1 gm, chúng thường đứng riêng lẻ, xếp thành đôi hoặc thành từng chuỗi ngắn như chuỗi hạt, có độ dài ngắn không đều nhau Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường Vi khuẩn thuộc nhóm yếm khí tùy tiện, không di động, không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thành giáp
mô Vi khuẩn S suis là những vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện, gây bệnh
thích hợp ở nhiệt độ 370C và phát triển tốt trên nhiều loại môi trường như:
- Môi trường nước thịt: vi khuẩn S suis hình thành hạt hoặc những bông, rồi
lắng xuống đáy ống Sau 2 giờ nuôi cấy môi trường trong, đáy ống có cặn
- Môi trường thạch thường: vi khuẩn S suis hình thành khuẩn lạc dạng S,
khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám
- Trên môi trường đặc: có thể quan sát thấy khuẩn lạc sau 24 giờ nuôi cấy với kích thước khoảng 1 - 2 mm Sau 72 giờ thì kích thước khuẩn lạc lớn nhất, có thể đạt tới 3 - 4 mm Nếu được nuôi trong điều kiện có 5 - 10% CO2 thì khuẩn lạc sẽ phát triển nhanh hơn và rộng hơn Dạng khuẩn lạc trên môi trường thạch thường nhỏ và khô hơn trên môi trường có bổ sung dinh dưỡng
- Trên môi trường thạch máu: vi khuẩn hình thành khuẩn lạc tròn, gọn, hơi vồng, sáng trắng, mịn, dung huyết sau 24 giờ nuôi cấy
- Trên môi trường MacConkey: vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ nuôi cấy, hình thành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim
Trang 34∗ Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn S suis có khả năng lên men đường glucose, lactose, succrose,
inulin, trehalose, maltose, fructose; không lên men các loại đường ribose, arabinose, sorbitol, mannitol, dextrose và xylose Các phản ứng Oxydase, Catalase, Indol: Âm tính (Trịnh Phú Ngọc, 2002 [26])
∗ Khả năng đề kháng với kháng sinh
Ở Việt Nam, Trịnh Phú Ngọc (2002) [26] khi kiểm tra khả năng mẫn cảm
với kháng sinh của các chủng vi khuẩn Streptococcus phân lập được cho thấy số
chủng mẫn cảm với penicillin G biến động từ 59,09 - 63,63% Sau đó, Trương Quang Hải và cs (2012) [11] khi xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi
khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi cho biết các chủng vi khuẩn
S suis mẫn cảm cao với các loại kháng sinh như ceftiofur, florfenicol, amoxicillin,
amikacin và có hiện tượng kháng lại một số kháng sinh streptomycin, neomycin,
tetracycline, penicillin G Điều này đã thể hiện theo thời gian vi khuẩn S suis đã có
hiện tượng kháng thuốc với một số kháng sinh thông dụng như streptomycin, neomycin, tetracycline và penicillin G
1.2.3.2 Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra
Bệnh do vi khuẩn S suis gây ra ở lợn đã được thông báo là xảy ra ở hầu khắp
các nước trên thế giới đặc biệt là các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển Khả
năng gây bệnh của S suis phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sức đề kháng của con vật,
điều kiện vệ sinh môi trường, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, tính chất kháng nguyên và độc lực của vi khuẩn sản sinh Bệnh có thể bị lây nhiễm từ trại lợn này sang trại khác thông qua vật chủ trung gian là ruồi
∗ Triệu chứng và bệnh tích:
Lợn từ 1 - 3 tuần tuổi thường mắc thể viêm não và viêm màng não với các triệu chứng như ủ rũ, kém ăn, sưng hầu, khó nuốt, đi lại khó khăn, lông khô, dựng đứng, sốt, da mẩn đỏ
Trang 35Lợn hoạt động khó khăn, đi lại loạng choạng, khi nằm có biểu hiện tư thế như bơi chèo, tê liệt Lợn mắc bệnh có hiện tượng viêm một khớp, khớp viêm thường là khớp bẹn, đầu gối hoặc khớp bàn chân Các tổn thương đầu tiên bao gồm thủy thũng, sưng khớp, màng khớp xung huyết, dịch khớp đục Các biến đổi về bệnh tích vi thể không có sự sai khác giữa các serotype gây bệnh và thường tập trung ở não, phổi, tim và các khớp Các tổn thương quan sát thấy như viêm màng não, viêm não, viêm phổi - màng phổi có mủ hoặc viêm phổi kẽ
Lê Văn Tạo (2007) [34] cho biết, để gây bệnh vi khuẩn S suis sau khi vào cơ
thể sẽ nhân lên tại hạch hạch nhân rồi vào máu gây nhiễm trùng huyết, nên triệu chứng đầu tiên là sốt 40,6 - 41,70C, triệu chứng thần kinh như run rẩy, đứng không vững, liệt, dẫn đến chết Triệu chứng, bệnh tích và các thể bệnh thường thấy:
- Thể nhiễm trùng huyết: lợn bệnh sốt rất cao (41 - 420C), chảy nước mắt, ly
bì, nằm bệt, niêm mạc đỏ sẫm, da đỏ tím từng mảng Lợn bệnh chết trong khoảng 1 đến 3 ngày, tỷ lệ chết lên đến 100% Bệnh tích: da đỏ tím từng mảng, tụ huyết và xuất huyết ở một số phủ tạng (lách, thận, hạch lâm ba)
- Thể viêm não tuỷ: lợn bệnh sốt cao, bỏ ăn, đi lại siêu vẹo, run rẩy, co giật, nôn mửa, hôn mê và chết sau 2 - 3 ngày Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa và lợn
từ 2 - 3 tháng tuổi, tỷ lệ chết 100% Bệnh tích: màng não tụ huyết và xuất huyết, dịch não và tủy vẩn đục
- Thể viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi: lợn bệnh sốt cao, chảy nước mắt, dịch mũi, họng sưng, bỏ ăn, thở khó, thở nhanh; da tụ huyết từng mảng Thể này thường gặp ở lợn con và lợn sau cai sữa, tỷ lệ chết 60 - 70% Bệnh tích: hạch amidan sưng, tụ máu, niêm mạc phế quản tụ huyết, niêm mạc mũi có màng giả, tiểu phế quản và phế nang viêm có dịch thẩm xuất, có mủ và bọt khí; hạch phổi sưng, tụ huyết Lợn bị bệnh thể phổi gây ra bệnh tích ở phổi có các mức độ biểu hiện khác nhau từ viêm phổi - màng phổi dạng nhục hoá đến viêm phổi dạng fibrin có mủ
- Thể viêm hạch: Sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thủy thũng, sau thành apxe mủ, lâu thành bã đậu Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5 - 8 ngày, tỷ lệ chết 20 - 30% Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng tụ huyết ở giai đoạn đầu, giai đoạn cuối viêm bã đậu
Trang 36∗ Điều trị bệnh
Chẩn đoán phát hiện sớm bệnh do vi khuẩn S suis gây ra và điều trị bằng
kháng sinh thích hợp là biện pháp nhằm tăng khả năng sống sót cho đàn lợn Trịnh
Phú Ngọc (2002) [26] cho biết vi khuẩn S suis phân lập được mẫn cảm với
penicilin và trong thực tế, khi sử dụng penicilin kết hợp dexamethasone điều trị
bệnh do S suis gây ra ở lợn, điều trị từng cá thể kết hợp với chăm sóc và nuôi
dưỡng tốt có thể khỏi bệnh hoàn toàn Theo Trương Quang Hải và cs (2012) [11]
trong 25 chủng vi khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi mẫn cảm
cao với cefiofur (92,0%), florfenicol (88,0%), amoxicillin (88,0%) và amikacin (72,0%) nên có thể sử dụng một trong các kháng sinh trên để điều trị cho lợn khi
mắc viêm phổi do vi khuẩn S suis gây ra
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện PRRS ở Việt Nam vào năm 1997, PRRS được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh miền Nam Kết quả kiểm tra thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu có huyết thanh dương tính với PRRS (dẫn theo Nguyễn Hùng Cường, 2013 [8])
Như vậy có thể thấy virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta trong một thời gian dài Tuy nhiên, kể từ khi xác định được kháng thể kháng virus PRRS
ở đàn lợn giống nhập từ Mỹ, tại Việt nam chưa từng có vụ dịch PRRS nào xảy ra
Dấu ấn quan trọng của dịch PRRS tại Việt Nam được bắt đầu từ ngày 12/3/2007 khi hàng loạt đàn lợn tại Hải Dương có những biểu hiện ốm khác thường sau đó lây lan ra các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi lợn (Tô Long Thành và Nguyễn Văn Long, 2008 [39])
Theo Nguyễn Thu Hiền (2008) [16], các triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn mắc PRRS bao gồm: sốt cao, giảm ăn, khó thở, ho, chảy nước mũi, đau mắt; ở lợn nái có sảy thai, đẻ non, thai chết lưu; ở lợn đực có giảm hưng phấn, dịch hoàn sưng Bệnh tích đại thể chủ yếu của lợn mắc PRRS là phổi sung huyết, xuất huyết, thận xuất huyết, lách nhồi huyết, gan sưng có điểm hoại tử, não xung huyết
Trang 37Nguyễn Thị Hồng Nhung (2009) [28] cho biết: từ tháng 3 đến tháng 7 năm
2008, trừ Hà Tây (cũ), PRRS xảy ra tại Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình khá nghiêm trọng, với tổng số 16.339 con lợn ốm, chết và tiêu huỷ, trong đó nặng nhất
là đàn lợn của Thái Bình, tổng số lợn ốm, chết và tiêu huỷ 9.447 con Khi sử dụng vacxin PRRS nhập từ Trung Quốc để tiêm phòng cho 13.011 con lợn của 4 tỉnh Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình và Hà Tây (cũ), trong vòng 7 ngày theo dõi liên tục có 70 con lợn có phản ứng nhẹ (chiếm 0,54%) Như vậy vacxin hoàn toàn an toàn cho lợn
Theo Đào Thị Nhàn (2010) [27], bệnh tích đại thể của lợn mắc PRRS tập trung chủ yếu ở phổi: phổi viêm, hoại tử Một số các bệnh tích khác bao gồm: Hạch lâm ba sưng to, tụ máu, thận xuất huyết điểm, viêm tử cung ở lợn nái Bệnh tích vi thể chủ yếu của lợn mắc PRRS là phổi xuất huyết, phế quản phế viêm, viêm kẽ phổi, hạch lâm ba xuất huyết, tử cung thâm nhiễm tế bào viêm Ngoài ra các bệnh tích khác thay đổi tuỳ thuộc vào tình trạng của bệnh Virus PRRS phân bố nhiều nhất ở phổi và hạch lâm ba của lợn mắc PRRS
Phan Thị Lan Chi (2011) [5] cho biết: tỷ lệ mắc bệnh PRRS ở các trại nghiên cứu cao nhất ở nhóm lợn con, thấp hơn ở nhóm lợn choai và thấp nhất ở nhóm lợn nái Các triệu chứng của bệnh gồm: sốt, mệt mỏi, kém ăn hoặc bỏ ăn, một số nái chửa có hiện tượng sảy thai
Bùi Văn Tú (2011) [46] khi nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên đã cho biết: Tỷ lệ mắc bệnh của lợn nái là 11,47%, lợn đực là 0,21%, lợn thịt 50,01% và lợn sữa là 38,29% Chăn nuôi theo quy mô công nghiệp tỷ lệ mắc thấp hơn so với chăn nuôi theo phương thức truyền thống Nuôi với mật độ cao hơn tiêu chuẩn thì tỷ
lệ mắc cao hơn so với nuôi mật độ đúng tiêu chuẩn
Theo Trần Thị Bích Hồng (2011) [20], những nái trong đàn xảy ra Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản được giữ lại nuôi để sản xuất con giống thì một tỷ lệ lớn
số lợn nái phải phối giống sau lần phối thứ 2 hoặc thứ 3 mới thụ thai, thâm chí có nái sau phối lần 3 vẫn không thụ thai và phải loại thải Thời gian động dục lại kéo
Trang 38dài hơn bình thường Số con đẻ ra/lứa, số con nuôi đến cai sữa, trọng lượng sơ sinh/con, trọng lượng cai sữa/con đều thấp hơn so với bình thường
Mai Thị Thu Hằng (2013) [12] đã phân lập và giải trình tự thành công gen M của 5 chủng virus PRRS phân lập từ 5 địa phương khác nhau Quảng Ninh, Hưng Yên, Nghệ An, Bạc Liêu, Tiền Giang, ký hiệu theo thứ tự là 10-QiNi, 10-HuY, 10-NgAn, 10-BaLi, 10-TiGi Kết quả nghiên cứu là cơ sở để phân tích các biến chủng của virus PRRS cũng như sản xuất vaccine phòng chống dịch bệnh ở Việt Nam hiện nay
Nguyễn Hùng Cường (2013) [8] cho biết: Trong 4 năm từ 2010 - 2013, tỉnh Bắc Ninh năm nào cũng xuất hiện dịch tai xanh Tỷ lệ lợn mắc PRRS cao nhất vào mùa Xuân, thấp hơn ở mùa hè và mùa Thu, mùa đông lợn không nhiễm bệnh Lợn mọi lứa tuổi đều cảm nhiễm với virus PRRS, tỷ lệ mắc cao nhất là lợn thịt và lợn con, thấp nhất là lợn nái Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn nái mắc PRRS là các rối loạn sinh sản và hô hấp; đối với lợn con theo mẹ, lợn sau cai sữa, lợn thịt, triệu chứng chủ yếu là rối loạn hô hấp Bệnh tích đại thể của lợn mắc PRRS tập trung chủ yếu ở phổi: phổi viêm (77,78%), phù phổi (88,88%), phổi hoại tử (61,11%) Một số các bệnh tích khác bao gồm: hạch lâm ba phổi sưng to, tụ máu, thận xuất huyết điểm, viêm tử cung ở lợn nái
Năm 2012, Nguyễn Thị Thu (2013) [42] đã kiểm tra 158 mẫu huyết thanh lợn ở thực địa bằng phương pháp RT - PCR: Tỷ lệ dương tính với PRRSV là 79,11
% (n = 125 mẫu), trong đó 123 mẫu thuộc chủng NA (77,85 %) và 2 mẫu thuộc chủng EU (1,27%), tỷ lệ âm tính chiếm 20,89 % (n = 33 mẫu)
Lợn ở mọi lứa tuổi nuôi tại Bắc Giang đều có nguy cơ mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) Tỷ lệ mắc cao nhất ở lợn con 12,48%, thấp nhất là lợn thịt 6,52%; tỷ lệ chết do PRRS ở lợn con là 24,86% và thấp nhất là lợn nái và
hậu bị 4,41% Có 17,78% vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được từ lợn
dương tính với virus PRRS và xác định là nguyên nhân phổ biến làm cho lợn mắc PRRS thêm trầm trọng (Nguyễn Quốc Huy, 2013 [21])
Theo Lê Văn Dương (2013) [10], ở tỉnh Bắc Giang lợn con có tỷ lệ mắc PRRS
là cao nhất ở (13,46%), thấp nhất là lợn thịt (6,04%) Tỷ lệ tử vong do PRRS ở lợn con
là 24,09% và thấp nhất là lợn nái và hậu bị 3,45% Nguy cơ đàn lợn mắc PRRS ở Vụ
Trang 39Đông - Xuân cao gấp 2,07 lần so với vụ Hè - Thu và lợn con ≤ 2 tháng tuổi nguy cơ mắc PRRS cao gấp 1,35 - 2,23 lần so với lợn nái và lợn thịt (P < 0,001)
Nguyễn Quang Tính và Nguyễn Hùng Cường (2014) [45] cho biết: lợn nái mắc bệnh xuất hiện các triệu chứng lâm sàng là rối loạn bộ máy hô hấp và sinh sản; đối với lợn sau cai sữa, lợn choai, triệu chứng chính là rối loạn hô hấp
Phạm Văn Lý (2014) [23] đã tiến hành giải trình tự gen của virus gây bệnh PRRS ở lợn tại một số địa phương có dịch của tỉnh Thái Bình và cho biết, các chủng virus phân lập được thuộc chủng virus PRRS có nguồn gốc từ Trung Quốc
Theo Nguyễn Minh Cường (2015) [9], tỷ lệ mang virus PRRS ở lợn và tỷ lệ lưu hành bệnh tại một số địa phương thuộc tỉnh Quảng Ninh năm 2015 khá cao, chiếm 65,3% Điều đó chứng tỏ dịch tai xanh có thể bùng phát trở lại ở tỉnh Quảng Ninh bất cứ lúc nào nếu địa phương không có sự quan tâm phòng chống đúng mức
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn được ghi nhận lần đầu tiên trong các báo cáo về các thiệt hại của ngành công nghiệp chăn nuôi tại Mỹ Tại các ổ dịch biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của PRRS đã được báo cáo ở Mỹ vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước (1987) người ta thấy số lượng lợn chết trong điều kiện bình thường tăng lên và lợn chậm lớn Các triệu chứng lâm sàng bao gồm rối loạn sinh sản nghiêm trọng, viêm phổi ở lợn con sau cai sữa, chậm lớn, giảm năng suất và tỷ lệ tử vong tăng (Neumann E J và cs., 2005 [64]) Khi đó đã có nhiều giả thuyết được đặt ra, người ta cũng bắt đầu kiểm tra sự bất thường ở đường sinh sản của lợn giống nhưng vào thời điểm đó vẫn chưa thể biết được mối liên hệ của nguyên nhân gây ra tình trạng nêu trên, bệnh vẫn còn là một bí ẩn Hàng năm ước tính tiêu phí ngành công nghiệp chăn nuôi lợn ở Mỹ là 560 triệu USD cho bệnh tai xanh (Neumann E J và cs., 2005 [64])
Rất nhanh chóng, năm 1988 bệnh tai xanh đã lan sang nước láng giềng Canada và tiếp tục hoành hành trong khi đó bí ẩn về căn bệnh vẫn chưa được giải
mã Sau 2 năm, các ổ dịch có các triệu chứng lâm sàng tương tự đã được báo cáo ở CHLB Đức (1990) Sau 5 năm (1991) kể từ khi có báo cáo đầu tiên về bệnh, virus
Trang 40đã được tìm thấy tại Hà Lan Các tác giả người Hà Lan đã xác định được đặc tính của virus sau khi thực nghiệm thành công các chỉ tiêu của định đề Koch và virus được đặt tên là virus Lelystad, là tên Viện Thú y đã phát hiện ra virus (Terpstra C
và cs., 1991 [69]) Sau đó không lâu, virus PRRS được Mỹ đặt tên là ATCC VR -
2332 (Collin J E và cs., 1992 [51]) Đứng trước những thiệt hại cũng như diễn biến phức tạp của bệnh, năm 1992, tại hội nghị quốc tế về bệnh tổ chức ở St.Paul, Minnesota, tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã chính thức đặt tên cho bệnh này là Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS) (Gonnie Nodelijk, 1996 [52])
Tính từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục (trừ châu Úc và New Zealand) trên Thế giới đã báo cáo phát hiện có PRRS lưu hành Con số thực tế sẽ còn khác rất nhiều Trong số các nước nêu trên có cả các nước có ngành chăn nuôi phát triển mạnh như Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức…
Tại Trung Quốc, dịch bệnh PRRS đã xuất hiện trong những năm gần đây và hiện đang còn tồn tại Theo Tian K và Yu Zhao (2007) [70], virus PRRS gây ra đại dịch lây lan ở hơn 10 tỉnh thành của Trung Quốc làm chết 2.000.000 con lợn, trong
đó có hơn 400.000 sảy thai, đẻ non Tính từ đầu năm đến tháng 7/2007, dịch bệnh
đã xảy ra ở trên 25 tỉnh, với trên 180.000 lợn mắc bệnh và 45.000 con chết Qua một số nghiên cứu với qui mô lớn, người ta đã xác định virus gây bệnh PRRS tại Trung Quốc thuộc chủng Bắc Mỹ thể cường độc gây ra
Tại Thái Lan, một nghiên cứu quy mô rộng lớn từ năm 2000 - 2003 cho thấy các virus PRRS được phân lập từ nhiều địa phương gồm cả chủng Châu Âu và chủng Bắc Mỹ, trong đó virus thuộc chủng Bắc Mỹ chiếm 33,58% Dịch bệnh PRRS lần đầu tiên xuất hiện ở nước này vào năm 1989 và tỷ lệ lưu hành huyết thanh của bệnh cũng thay đổi khác nhau, từ 8,7% vào năm 1991 và trên 76% vào năm 2002 Nguồn gốc PRRS tại Thái Lan là do việc sử dụng tinh lợn nhập nội đã bị nhiễm virus PRRS hoặc là do các đàn nhập nội mang trùng
Xie J và cs (2014) [74] cho biết: năm 2006, một chủng virus độc lực cao của bệnh tai xanh xuất hiện ở Trung Quốc và gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn