1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận Lịch sử Việt Nam cận đại: Liên khu việt bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 1954)

14 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 107,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VAI TRÒ CỦA LIÊN KHU VIỆT BẮC TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (19451954)Nhóm 3Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXHNV, Đại học Quốc gia Hà Nội“Cách mạng đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi” (Hồ Chí Minh) Trong chiến tranh, hậu phương là một trong những nhân tố có tính chất quyết định. Hậu phương có vững thì tiền tuyến mới mạnh. Chính vì vậy, khi phân tích về nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến, không thể không kể đến sự đóng góp về sức người và sức của, phục vụ hậu cần, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cho các chiến dịch của toàn nhân dân ta nói chung và nhân dân các dân tộc tại các tỉnh thuộc chiến khu Việt Bắc nói riêng. Một hậu phương vững chắc là một hậu phương có chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội đáp ứng được các yêu cầu của cuộc kháng chiến. Chính vì vậy, Trung ương Đảng, Chính phủ đã chọn Việt Bắc làm căn cứ địa kháng chiến và cũng là một trong những hậu phương quan trọng của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. Chiến khu Việt Bắc không chỉ là căn cứ địa Cách mạng của nhân dân ta trong những năm chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 mà còn là “Thủ đô kháng chiến” của cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân tộc ta trong suốt cuộc kháng chiến. 1. Việt Bắc là nơi đặt cơ quan đầu não kháng chiến, có vị trí chiến lược để vừa tiến công vừa phòng thủ.Chiến khu Việt Bắc là một vùng đất nằm phía Bắc của thủ đô Hà Nội trong những năm kháng chiến chống Pháp. Việt Bắc bao gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang hay còn được gọi tắt là Cao Bắc Lạng Thái Tuyên Hà. Phía Tây giáp với vùng núi Tây Bắc được ngăn cách bởi dãy Hoàng Liên Sơn, phía Bắc và phía Đông giáp trung quốc được chia cắt bởi đường biên giới Việt Trung, phía Đông Nam giáp với tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, phía Nam giáp với các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng. Đây là vùng núi và trung du có nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phần phía Tây của Việt Bắc là nơi tập trung rất nhiều dãy núi cao như Tây Côn Lĩnh, Kiều Liên Ti. Phần phía Bắc giáp biên giới Việt Trung là các cao nguyên với độ cao trung bình từ 1000 1200m và sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu. Ngoài ra, cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp như là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng. Vùng đất này có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là Sông Lô, Sông Chảy, Sông Gâm,…Việt Bắc có nhiều dãy núi cao hiểm trở, trùng trùng điệp điệp, với những hang động lớn có sức chứa hang trăm người. Rừng núi chiếm trên 60% với nhiều núi cao và sâu, mật độ sông suối dày lòng hẹp, độ dốc lớn, có sương mù dày đặc. Ngoài ra cũng có những đồng bằng nhỏ hẹp, những dòng sông xen kẽ cánh đồng, gò đồi thấp nhấp nhô. Liên khu Việt Bắc có 19 dân tộc anh em, sống xen kẽ nhau. Người Kinh chiếm 65% dân số rồi đến dân tộc Tày, Nùng…Các dân tộc thường cư trú thành từng vùng nhưng họ sống gần gũi với nhau, thông hiểu phong tục tập quán và hoàn cảnh sinh hoạt của nhau. Từ thực tế cuộc sống hàng ngàn năm phải dựa vào nhau nên các dân tộc sớm có truyền thống đoàn kết trong lao động sản xuất, trong đấu tranh với thiên nhiên, với xã hội bất công, chống thổ phỉ, chống ngoại xâm để bảo vệ cuộc sống hạnh phúc chung.Với truyền thống lâu đời vẻ vang, nhân dân Việt bắc cùng đoàn kết chặt chẽ trong phong trào đấu tranh dựng nước và giữ nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và hoạt động của Việt Minh, đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã nhanh chóng tiếp thu đường lối cánh mạng của Đảng, kiên quyết đi theo con đường cách mạng mà đảng vạch ra và là một trong những lực lượng quan trọng quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với sự kiên cường, bất khuất, liên tiếp vùng lên đấu tranh chống áp bức bóc lột, Việt Bắc trở thành “cái nôi của các cách mạng”.Ngày 19121946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuộc chiến đấu ở Hà Nội và các đô thị khác ở Bắc vĩ tuyến 16 diễn ra sôi nổi. Các cuộc chiến đấu này đã làm tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, bước đầu làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân Pháp. Cùng với đó, tháng 31947 cơ quan lãnh đạo của Trung ương Đảng, Nhà nước đã di chuyển lên căn cứ Việt Bắc an toàn. Việt Bắc lại một lần nữa trở thành trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến, là nơi Trung ương Đảng, Bác Hồ, Chính phủ trực tiếp chỉ đạo cho cuộc kháng chiến.Kinh tế, chính trị và con người ở Việt Bắc đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến. Đây là vùng đất có nguồn tài nguyên rừng, nước, lương thực, thực phẩm của nền kinh tế tự nhiên có thể tự cung, tự cấp làm hậu phương căn cứ địa. Tuy là vùng đồi núi nhưng các tỉnh thuộc khu vực Việt Bắc cũng có những cánh đồng vừa và nhỏ. Dọc theo các con sông, trên các thung lũng như: Sóc Hà, Đồng Mu, Bó Thạch…Ngoài ra, con người ở đây giản dị, chân thành, chất phác. Vậy nên khi tiếp nhận ánh sáng của Đảng, đồng bào các dân tộc tại Việt bắc có một niềm tin son sắt vào Đảng. Đó chính là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong cuộc kháng chiến. Đây là một vùng đất có địa thế hiểm trở, địa hình lý tưởng với chiến thuật “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”, là nơi những đội du kích, Cứu quốc quân có thể dựa vào núi rừng hiểm trở để đảm bảo bí mật, che giấu lực lượng, tổ chức hoạt động, ngăn chặn các cuộc càn quét lớn của Pháp. Do quá trình kiến tạo địa chất, cùng với sự tác động của khí hậu, song ngòi ngang dọc làm cho địa hình Cao Bằng trở thành muôn hình, muôn vẻ. Giữa các ngọn núi khe sâu, thung lũng lifng chảo rộng, hẹp khác nhau, rất kín đáo đã tạo điều kiện cho việc sản xuất và có tác dụng che dấu, bảo vệ lực lượng của cách mạng. “Khi có giặc giã thì hang động, mái đá có ngườm kín đáo, là nơi tốt nhất để đồng bào các dân tộc ẩn náu và cất giấu lương thực, thực phẩm, gia súc. Địa hình hiểm trở của núi, song, các thung lũng, hang động… được nhân dân ta phát huy tác dụng mạnh mẽ trong cuộc kháng chiến. Không chỉ là vị trí chiến lược để phòng thủ mà Việt bắc còn là nơi có vị trí thuận lợi cho việc thực hiện lối đánh du kích, phòng thủ và tiến đánh quân địch. Đó là “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.trích của ai, nguồnNgoài ra, Việt Bắc còn là nơi có thể tiếp nhận viện trợ từ bên ngoài, đây chính là một thế mạnh lớn của Việt Bắc. Việt Bắc được coi là “cảng nổi” giữ vai trò giao lưu quốc tế của cả nước, phía Bắc có 13 cửa khẩu chính và 2 cửa khẩu quốc gia ngoài ra còn có hàng trăm lối mòn sang Trung Quốc, tiện lợi cho việc liên lạc quốc tế. Việt Bắc cũng là nơi tiếp nhận vận chuyển hàng hóa viện trợ của các nước XHCN đặc biệt là Trung Quốc chi viện cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta.Chiến khu Việt Bắc được xây dựng trên một vùng rộng lớn, địa hình chủ yếu là núi rừng. Phía bắc giáp Trung Quốc, vùng biên giới Việt Trung là nơi cách mạng hoạt động rất thuận lợi và qua đây có thể lien lạc với phong trào Cộng sản quốc tế. Phần phía Nam là vùng trung du, đồng bằng, gặp thời cơ thuận lời, lực lượng vũ trang cách mạng có thể tiến nhanh phát huy thắng lợi và nếu gặp khó khăn có thể lui về để bảo toàn lực lượng. Vùng phía Tây có thể kiên lạc với các tỉnh thuộc khu vực Tây bắc và phần phía Đông có thể liên lạc với Hải Phòng và xa hơn là vùng biển. Có thể nói, đây là khu vực có vị trí thuận lợi và hết sức cơ động, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”.SỰ CAN THIỆP CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI HỘI NGHỊ GIƠ NE VƠ VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH VÀ LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG (1954)Nhóm 7Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXHNV, Đại học Quốc gia Hà Nội Bước vào thế kỉ XX đầy biến động, sự chuyển biến trong nước cũng như trên thế giới tác động không nhỏ đến tiển trình giải phóng dân tộc của nước ta. Xét trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể,sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954,hiệp định Genever kết thúc cuộc chiến Đông Dương được đặt trong mối tương quan giữa các nước lớn. Lập trường của Anh, Pháp, Mĩ không được xét nhiều đến vì vốn dĩ, Pháp đưa quân xâm lược Đông Dương, hơn trăm năm cai trị còn có những mối quan tâm,lợi ích của nhân dân và chính quốc Pháp. Tuy nhiên, điều khiến quốc tế thật sự ngạc nhiên chính là thái độ của Trung Quốc. Từng là một nước ủng hộ Việt Nam, họ cùng với Liên Xô trong phe XHCN trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống pháp đã viện trợ và ủng hộ Việt Nam rất nhiều. Sự thay đổi lập trường cách bất ngờ của Trung Quốc khiến chính Việt Nam lúc đó lúng túng, có thể nói việc kí vào hiệp định Genever theo ý muốn của Trung Quốc là một thất bại ngoại giao lớn của nền ngoại giao Việt Nam. Xung quanh sự can thiệp của Trung Quốc vẫn còn nhiều khía cạnh chưa được xét đến,còn nhiều vấn đề quan trọng tác động trực tiếp đến quá trình đấu tranh chống Mĩ của nhân dân Việt Nam sau này. Vì vậy, bài viết mong muốn sẽ làm rõ những mặt quan trọng nhưng đầy tính ẩn số đó.Từ cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi. Khi đó, hình thái hai phe của cuộc chiến tranh lạnh đã hiện lên rõ nét. Ở châu Âu, sự phân chia Đông Âu XHCN và Tây Âu TBCN đã xuất hiện một “điểm nhấn” quan trọng với sự thành lập 2 nhà nước Đức (CHDC Đức và CHLB Đức) vào năm 1949. Và ở châu Á, sự hình thành 2 nhà nước trên bán đảo Triều Tiên (CHDCND Triều Tiên và Đại Hàn Dân Quốc) càng khơi sâu vết hằn của một thế giới đối đầu. Đặc biệt, sự thành lập CHND Trung Hoa năm 1949 do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã xoay chuyển tình hình thế giới, làm cho uư thế của CNXH trở nên nổi trội, một cục diện mới xuất hiện ở miền Đông Á. Khi đó, ở khu vực này đang diễn ra 3 cuộc chiến tranh: 1. Cuộc chiến tranh Đông Dương chống thực dân Pháp âm mưu quay lại tái lập chế độ thuộc địa 2. Đoạn kết của cuộc nội chiến ở Trung Quốc do Giải phóng quân tiến hành nhằm quét sạch tàn quân Quốc dân đảng3. Cuộc chiến tranh mới bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên giữa hai miền đất nước.Cuộc chiến trên Đại lục Trung Hoa tạm kết thúc khi Nhà nước Cộng hòa Nhân dân tính toán khôn ngoan đã dừng chân bên bờ biển phía Đông, để lại Hồng Kông trong tay Anh, Ma Cao trong tay Bồ và Đài Loan cho chính quyền bại trận Quốc Dân đảng. Đỉnh điểm của tình hình căng thẳng ở phương Đông bộc lộ khi cuộc chiến tranh Triều Tiên bị “quốc tế hóa”. Mỹ nhảy vào chiến trường dưới danh nghĩa đội quân Liên Hiệp Quốc cùng 13 nước đồng minh cứu nguy cho Hàn Quốc. Các đơn vị Chí nguyện quân Trung Quốc trực tiếp tham chiến, viện trợ cho Triều Tiên. Do vậy, cuộc chiến tranh đã vượt khỏi giới hạn nội bộ hai miền vì mục tiêu thống nhất đất nước mà bán đảo này bị biến thành bãi chiến trường đọ sức trực tiếp giữa 2 lực lượng Trung Quốc và Mỹ, đằng sau đó là sự ủng hộ của các nước thuộc hai phe: Liên Xô cùng các nước XHCN một bên và Anh, Pháp cùng các nước TBCN một bên. Nơi đây trở thành điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai nửa của “Trật tự Yalta” mà mỗi bên đều muốn giành phần thắng.Song trong bối cảnh quốc tế phân hóa hai phe thì chiến trường Việt Nam cũng không tránh khỏi trở thành nơi tranh giành ảnh hưởng giữa hai hệ thống xã hội. Liên Xô, Trung Quốc ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam; Mỹ, Anh viện trợ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp. Cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân ta chẳng những gắn kết với phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa mà còn mang sắc thái của cuộc đấu tranh vì thắng lợi của CNXH. Nói cách khác, nó đi vào quỹ đạo của cuộc đấu tranh giữa 2 hệ tư tưởng, 2 chế độ chính trị ngày càng lan tỏa khắp hành tinh. Frăngxoa Gioayô nhận xét: “Bộ chỉ huy Pháp không chỉ đối phó với một cuộc nổi dậy có tính dân tộc mà là chống đối một sự nghiệp, không phải không có lý do để có thể xem như một trong những biểu hiện của cuộc chạm trán Đông Tây trong khung cảnh chiến tranh lạnh”. Cho nên, những biến động trên chiến trường Việt Nam không thể không chịu tác động của tình hình thế giới và ngược lại, chiến cuộc ở Việt Nam cũng có ảnh hưởng đến tình hình chung của khu vực và thế giới.1.Toan tính của các nước lớn, không chỉ có Trung QuốcNgày 8.5.1954, Hội nghị quốc tế về Đông Dương khai mạc. Nhưng ngay từ những năm đầu thập kỷ 50. trong khi diễn biến trên chiến trường ngày càng quyết liệt thì phương án đi tìm lối thoát bằng con đường đàm phán đã xuất hiện trong suy tính của các cường quốc tư bản. Bản thân kế hoạch Nava cũng hàm chứa ý tưởng tìm một giải pháp danh dự cho cuộc chiến đầy tổn thất. Nhất là khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt với bản Hiệp định ký kết ở Bàn Môn Điếm (tháng 7.1953) thi niềm hy vọng về việc thương lượng nổi lên rõ hơn. Tại Hội nghị ngoại trưởng bốn nước ở Beclin (1.1954) gồm Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp, ngoại trưởng Liên Xô Môlôtôp đưa ra đề nghị triệu tập Hội nghị Giơnevơ có cả CHND Trung Hoa tham dự để bàn về vấn đề Triều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông Dương.Là một trong những nước đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới II, song Liên Xô đã phải gánh chịu những tổn thất vô cùng nặng nề, trên 30 triệu người bị chết, hàng chục vạn làng xã, đô thị, cơ sở kinh tế bị tàn phá1. Phát huy vai trò trụ cột của mình với cách mạng thế giới, Liên Xô vừa phải ưu tiên khôi phục đất nước, vừa phải thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, chống nguy cơ chiến tranh tái diễn. Với uy tín và ảnh hưởng chính trị rất lớn lúc đó, Liên Xô đã khích lệ, động viên và ủng hộ về tinh thần đối với nhân dân lao động bị áp bức đang vùng lên đấu tranh để tự giải phóng, nhưng Liên Xô cũng chưa có điều kiện để giúp đỡ một cách mạnh mẽ về vật chất cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam. Trước chính sách chạy đua vũ trang của Mỹ, tháng 61951, Liên Xô đưa ra sáng kiến giải quyết cuộc chiến tranh Triều Tiên: Các bên tham chiến cần mở ngay cuộc thương lượng nhằm thực hiện đình chỉ chiến sự và ký kết hiệp định đình chiến, quy định việc hai bên cùng rút khỏi vĩ tuyến 38... mở ra xu hướng giải quyết các vấn đề tranh chấp quốc tế bằng thương lượng. Đầu năm 1953, sau khi Stalin mất, Liên Xô điều chỉnh sâu hơn chính sách đối ngoại hòa bình thông qua thương lượng. Liên Xô đã nhận lời Anh và Pháp điều đình với Chính phủ Triều Tiên giải quyết thành công vấn đề tù binh chiến tranh và ngoại kiều, dẫn đến ký kết Hiệp định đình chiến ngày 2771953 trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng ở vĩ tuyến 38 và không bàn đến vấn đề chính trị. Đồng thời đưa ra dư luận đình chiến ở Triều Tiên cần thúc đẩy việc kết thúc chiến tranh Đông Dương. Ngày 481953, Liên Xô gửi công hàm cho Anh, Pháp, Mỹ đề nghị triệu tập hội nghị năm nước lớn (Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc) để nghiên cứu các biện pháp làm giảm bớt căng thẳng ở Viễn Đông.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA LIÊN KHU VIỆT BẮC TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN

CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)

Nhóm 3

Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

“Cách mạng đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi” (Hồ Chí Minh)1

Trong chiến tranh, hậu phương là một trong những nhân tố có tính chất quyết định Hậu phương có vững thì tiền tuyến mới mạnh Chính vì vậy, khi phân tích về nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến, không thể không kể đến sự đóng góp về sức người và sức của, phục vụ hậu cần, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cho các chiến dịch của toàn nhân dân ta nói chung và nhân dân các dân tộc tại các tỉnh thuộc chiến khu Việt Bắc nói riêng Một hậu phương vững chắc là một hậu phương có chế

độ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội đáp ứng được các yêu cầu của cuộc kháng chiến Chính vì vậy, Trung ương Đảng, Chính phủ đã chọn Việt Bắc làm căn cứ địa kháng chiến và cũng là một trong những hậu phương quan trọng của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược Chiến khu Việt Bắc không chỉ là căn cứ địa Cách mạng của nhân dân

ta trong những năm chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 mà còn

là “Thủ đô kháng chiến” của cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân tộc

ta trong suốt cuộc kháng chiến

1 Việt Bắc là nơi đặt cơ quan đầu não kháng chiến, có vị trí chiến lược để vừa tiến công vừa phòng thủ.

Chiến khu Việt Bắc là một vùng đất nằm phía Bắc của thủ đô Hà Nội trong những năm kháng chiến chống Pháp Việt Bắc bao gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang hay còn được gọi tắt là Cao Bắc -Lạng - Thái - Tuyên - Hà Phía Tây giáp với vùng núi Tây Bắc được ngăn cách bởi dãy Hoàng Liên Sơn, phía Bắc và phía Đông giáp trung quốc được chia cắt bởi đường biên giới Việt - Trung, phía Đông Nam giáp với tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, phía Nam giáp với các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng Đây là vùng núi và trung du

có nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất Phần phía Tây của Việt Bắc là nơi tập trung rất nhiều dãy núi cao như Tây Côn Lĩnh, Kiều Liên Ti Phần phía Bắc giáp biên giới Việt - Trung là các cao nguyên với độ cao trung bình từ 1000 - 1200m và sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu Ngoài ra, cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp như là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng Vùng đất này có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là Sông Lô, Sông Chảy, Sông Gâm,

Việt Bắc có nhiều dãy núi cao hiểm trở, trùng trùng điệp điệp, với những hang động lớn có sức chứa hang trăm người Rừng núi chiếm trên 60% với nhiều núi cao và

Bùi Thúy Giang; Lê Hà My; Nông Đức Duy; Hoàng Ngọc Tân; Nguyễn Phương Thảo; Tạ Duy; Cao Thị Khánh Linh; Nguyễn Thị Lê

1 Nguồn:

Trang 2

sâu, mật độ sông suối dày lòng hẹp, độ dốc lớn, có sương mù dày đặc Ngoài ra cũng

có những đồng bằng nhỏ hẹp, những dòng sông xen kẽ cánh đồng, gò đồi thấp nhấp nhô

Liên khu Việt Bắc có 19 dân tộc anh em, sống xen kẽ nhau Người Kinh chiếm 65% dân số rồi đến dân tộc Tày, Nùng…Các dân tộc thường cư trú thành từng vùng nhưng họ sống gần gũi với nhau, thông hiểu phong tục tập quán và hoàn cảnh sinh hoạt của nhau Từ thực tế cuộc sống hàng ngàn năm phải dựa vào nhau nên các dân tộc sớm có truyền thống đoàn kết trong lao động sản xuất, trong đấu tranh với thiên nhiên, với xã hội bất công, chống thổ phỉ, chống ngoại xâm để bảo vệ cuộc sống hạnh phúc chung

Với truyền thống lâu đời vẻ vang, nhân dân Việt bắc cùng đoàn kết chặt chẽ trong phong trào đấu tranh dựng nước và giữ nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và hoạt động của Việt Minh, đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã nhanh chóng tiếp thu đường lối cánh mạng của Đảng, kiên quyết đi theo con đường cách mạng mà đảng vạch ra và là một trong những lực lượng quan trọng quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam Với sự kiên cường, bất khuất, liên tiếp vùng lên đấu tranh chống áp bức bóc lột, Việt Bắc trở thành “cái nôi của các cách mạng”

Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Cuộc chiến đấu ở Hà Nội và các đô thị khác ở Bắc vĩ tuyến 16 diễn ra sôi nổi Các cuộc chiến đấu này đã làm tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, bước đầu làm thất bại

kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân Pháp Cùng với đó, tháng 3/1947 cơ quan lãnh đạo của Trung ương Đảng, Nhà nước đã di chuyển lên căn cứ Việt Bắc an toàn Việt Bắc lại một lần nữa trở thành trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến, là nơi Trung ương Đảng, Bác Hồ, Chính phủ trực tiếp chỉ đạo cho cuộc kháng chiến

Kinh tế, chính trị và con người ở Việt Bắc đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến Đây là vùng đất có nguồn tài nguyên rừng, nước, lương thực, thực phẩm của nền kinh tế tự nhiên có thể tự cung, tự cấp làm hậu phương căn cứ địa Tuy là vùng đồi núi nhưng các tỉnh thuộc khu vực Việt Bắc cũng có những cánh đồng vừa và nhỏ Dọc theo các con sông, trên các thung lũng như: Sóc Hà, Đồng Mu, Bó Thạch…Ngoài ra, con người ở đây giản dị, chân thành, chất phác Vậy nên khi tiếp nhận ánh sáng của Đảng, đồng bào các dân tộc tại Việt bắc có một niềm tin son sắt vào Đảng Đó chính là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong cuộc kháng chiến

Đây là một vùng đất có địa thế hiểm trở, địa hình lý tưởng với chiến thuật “tiến

có thể đánh, lui có thể giữ”, là nơi những đội du kích, Cứu quốc quân có thể dựa vào núi rừng hiểm trở để đảm bảo bí mật, che giấu lực lượng, tổ chức hoạt động, ngăn chặn các cuộc càn quét lớn của Pháp Do quá trình kiến tạo địa chất, cùng với sự tác động của khí hậu, song ngòi ngang dọc làm cho địa hình Cao Bằng trở thành muôn hình, muôn vẻ Giữa các ngọn núi khe sâu, thung lũng lifng chảo rộng, hẹp khác nhau, rất kín đáo đã tạo điều kiện cho việc sản xuất và có tác dụng che dấu, bảo vệ lực lượng của cách mạng “Khi có giặc giã thì hang động, mái đá có ngườm kín đáo, là nơi tốt nhất để đồng bào các dân tộc ẩn náu và cất giấu lương thực, thực phẩm, gia súc Địa

Trang 3

hình hiểm trở của núi, song, các thung lũng, hang động… được nhân dân ta phát huy tác dụng mạnh mẽ trong cuộc kháng chiến Không chỉ là vị trí chiến lược để phòng thủ

mà Việt bắc còn là nơi có vị trí thuận lợi cho việc thực hiện lối đánh du kích, phòng thủ và tiến đánh quân địch Đó là “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.[trích của ai, nguồn]

Ngoài ra, Việt Bắc còn là nơi có thể tiếp nhận viện trợ từ bên ngoài, đây chính

là một thế mạnh lớn của Việt Bắc Việt Bắc được coi là “cảng nổi” giữ vai trò giao lưu quốc tế của cả nước, phía Bắc có 13 cửa khẩu chính và 2 cửa khẩu quốc gia ngoài ra còn có hàng trăm lối mòn sang Trung Quốc, tiện lợi cho việc liên lạc quốc tế Việt Bắc cũng là nơi tiếp nhận vận chuyển hàng hóa viện trợ của các nước XHCN đặc biệt là Trung Quốc chi viện cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta

Chiến khu Việt Bắc được xây dựng trên một vùng rộng lớn, địa hình chủ yếu là núi rừng Phía bắc giáp Trung Quốc, vùng biên giới Việt - Trung là nơi cách mạng hoạt động rất thuận lợi và qua đây có thể lien lạc với phong trào Cộng sản quốc tế Phần phía Nam là vùng trung du, đồng bằng, gặp thời cơ thuận lời, lực lượng vũ trang cách mạng có thể tiến nhanh phát huy thắng lợi và nếu gặp khó khăn có thể lui về để bảo toàn lực lượng Vùng phía Tây có thể kiên lạc với các tỉnh thuộc khu vực Tây bắc

và phần phía Đông có thể liên lạc với Hải Phòng và xa hơn là vùng biển Có thể nói, đây là khu vực có vị trí thuận lợi và hết sức cơ động, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”

2 Liên khu Việt Bắc chi viện sức người, sức của cũng như động viên về mặt tinh thần hiệu quả cho cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Kháng chiến muốn có được thắng lợi thì phải có một hậu phương vững mạnh, đáp ứng được nhu cầu chi viện sức người, sức của và cả tinh thần, chính trị cho tiền tuyến

2.1 Xây dựng hậu phương Việt Bắc vững mạnh về mọi mặt

Về chính trị

Ngày 6/1/1946, đồng bào các dân tộc Việt Bắc: Tày, Nùng, Dao, H’mông… đã tham gia đi bỏ phiếu bầu các đại biểu xứng đáng vào Quốc hội, hội đồng nhân dân tỉnh, huyện, xã Chính quyền nhân dân ra đời trong đấu tranh cách mạng, được nhân dân tín nhiệm gửi gắm niềm tin càng thêm vững vàng để đảm đương nhiệm vụ nặng nề hơn

Mặt trận thống nhất dân tộc được mở rộng, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời nhằm mục đích thu hút thêm lực lượng, đoàn kết toàn dân để chống kẻ thù chung Các tổ chức quần chúng của Đảng như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữa cứu quốc, Nông dân cứu quốc…đều được củng cố và tăng cường cán bộ, có sự chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất Đến năm 1949, toàn Liên khu có 119 chi bộ với trên 1600 đảng viên2 [nguồn]; các cơ sở đảng trong vùng địch tạm chiếm cũng tăng lên, nhiều chi bộ sau khi phục hồi

đã phát triển tốt như vùng Ôn Châu, Cao Lộc (Lạng Sơn)

Hội phụ nữ tại Việt Bắc hoạt động mạnh, sôi nổi và có hiệu quả Nhiều chị em

đã hăng hái tham gia du kích, làm công tác địch vận, quyên góp công quỹ kháng chiến, vận động bà con tham gia phong trào “hũ gạo nuôi quân”, “hòm tiền kháng chiến”…

2

Trang 4

Hội nông dân cứu quốc được tổ chức rộng khắp trong chiến khu Việt Bắc Hội viên tăng nhanh chóng, năm 1948 từ 140000 hội viên sang đến giữa năm 1949 số hội viên đã tăng lên gấp đôi (236.000 hội viên) [nguồn]; Các phân đội Nông dân cứu quốc luôn đi đầu trong các phong trào vận động giảm tô, lập tập đoàn tự túc…và vận động nông dân tham gia mọi công tác kháng chiến như vào du kích, lập làng chiến đấu, đấu tranh chống địch càn quét cướp phá,…

Trong những năm 1948 - 1950, Đảng bộ Liên khu phát triển mạnh về số lượng,

số đảng viên tăng lên rất nhanh nhưng chất lượng chưa được chú ý đúng mức năm

1951, để đảm bảo thắng lợi cho mọi nhiệm vụ trước tình hình mới, lãnh đạo Đảng bộ Liên khu chú ý tăng cường công tác xây dựng và củng cố Đảng viên Cuối năm 1951, Liên khu mở lớp chỉnh huấn đầu tiên học tập nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II và nghị quyết Ban chấp hành Đảng bộ Liên khu Việt Bắc cho 145 tỉnh ủy viên

và huyện ủy viên Năm 1953, Liên khu lại tổ chức tiếp năm lớp cho 358 cán bộ đảng, phần lớn là những đồng chí thuộc dân tộc ít người… Hàng vạn tổ chức cơ sở của Đảng đã ăn sâu bám rễ trong nhân dân

Về kinh tế

Đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã cố gắng hết sức chi viện sức người sức của cho tiền tuyến trong các trận chiến Được sự chỉ đạo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, các công đoàn cơ sở trong liên khu nhanh chóng tập hợp được các công nhân và thợ thủ công ở các xí nghiệp, các thị trấn Tháng 8/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc Phong trào thi đua ái quốc phát triển sôi nổi rộng khắp Liên khu, đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng hậu phương Liên khu còn chỉ đạo tiến hành tạm cấp ruộng đất cho dân cày, phát động phong trào tăng gia sản cuất, cải thiên đời sống nhân dân, xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân…Đầu năm 1949,

16 đồn điền của Pháp và Việt gian với diện tích 13.644 mẫu được đem chia có 163.00 bần, cố nông Năm 1948, nhân dân giao trồng được 16.700 héc-ta lúa, đến năm 1950 tăng lần là 53.200 héc-ta lúa và tăng gấp đôi về diện tích hoa màu Vụ mùa năm 1950, toàn Liên khu Việt Bắc thu hoạch được 586.950 tấn thóc

Đầu tháng 7/1951, chi điểm mậu dịch đầu tiên của Nhà nước được tổ chức tại hai thị xã là Thái Nguyên và Tuyên Quang Mậu dịch cung cấp 35% hàng nhu yếu phẩm cho bộ đội Trong những tháng giáp hạt, mậu dịch vẫn khống chế được giá gạo, không để tăng vọt, góp phần ổn định đời sống nhân dân

Nông nghiệp phát triển, các ngành nghề khác cũng có bước tiến mới nhằm phục

vụ quốc phòng và dân sinh Các xưởng sản xuất vũ khí của Liên khu được trang bị thêm một số máy móc Những xưởng cơ khí nhỏ của huyện ra đời, rèn đúc nông cụ và góp phần sửa chữa vũ khí thô sơ Các cơ sở sản xuất giấy, dệt vairm chế biến nước mắm, ép dầu, làm đường mật ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn… hoạt động mạnh Các mỏ than tại Thái Nguyên, Tuyên Quang… được khai thác theo quy mô lớn

để cung cấp cho các xí nghiệp và binh công xưởng Các nghề truyền thống của đồng bào miền núi như trồng cán bông gai, nhuộm vải, dệt vải… được duy trì và phát triển

Về giao thông vận tải, từ năm 1950 những tuyến đường số 2 (Tuyên Quang

-Hà Giang), số 3 (Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng) và một số đường nội tỉnh đã

Trang 5

được hoàn thành về cơ bản Trong năm 1951, Liên khu Việt Bắc tiếp tục huy động hàng vạn dân công cùng lực lượng giao thông công chính và thanh niên xung phong làm mới và sửa chữa 1.563km đường

2.2 Chi viện sức người, sức của cho cuộc kháng chiến

Mở đầu là chiến dịch Việt Bắc 1947, tại đây Đảng ta chủ trương phát động mạnh mẽ chiến tranh du kích, lực lượng ba thứ quân và quan trọng là bộ đội địa phương và dân quân tự vệ Vì vậy, mọi khả năng của quân dân Việt Bắc được tiến hành triệt để Tất cả đều huy động cho chiến dịch Việt Bắc Kết thúc chiến dịch ta đã tiêu diệt được rất nhiều sinh lực địch và buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài với Việt Nam.Đây là sự chi viện sức người và của lớn rất lớn của hậu phương Việt Bắc

Trong chiến dịch Biên Giới, đồng bào Việt Bắc đã cung cấp cho chiến dịch 316 tấn lương thực, 33 tấn muối, 530 con trâu, bò, lợn …3

Phát huy kết quả đạt được, Liên khu tiếp tục phối hợp với lực lượng của Bộ chiến đấu giành được nhiều thắng lợi trong chiến dịch Trần Hưng Đạo (2/1951) Thực hiện kế hoach Đông - Xuân 1952 của Trung ương Đảng, Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu Việt Bắc đã chỉ đạo lực lượng vũ trang phối hợp hoạt động với chiến trường chính Điện Biên Phủ Trong chiến dịch Đông - Xuân 1953, lực lượng vũ trang Liên khu đã đánh 754 trận, san bằng 42 đồn, phá 11 vị trí khác; diệt 9.765 tên, làm bị thương 2.500 tên, bắt 2.095 tên địch, thu 300 súng các loại, bắn hỏng, bắn cháy 292 xe quân sự, 41 xe tăng - xe bọc thép, phá 3 đầu máy xe lửa, 37 toa xe, đánh chìm 3 ca nô,

2 xà lan, bắn rơi 9 máy bay của thực dân Pháp

Đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã huy động 35.000 dân công, 4.680 tấn lương

Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn trong đợt 2 và 3 của chiến dịch còn gửi cho bộ đội đang chiến đấu 34.000 kg thịt lợn4…góp phần cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn…

Trải qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với ý chí tự lực tự cường, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang Việt Bắc đã vượt qua bao gian nan thử thách, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang: Xây dựng, chiến đấu và bảo vệ căn cứ địa Cách mạng tháng Tám; bảo vệ thành công trọn vẹn các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh; tiếp tục củng cố hậu phương, đóng góp sức người, sức của, chi viện các chiến trường đánh mạnh thắng lớn

Việt Bắc đã thực hiện được nhiệm vụ làm chỗ đứng chân an toàn, vững chắc của Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh để triển khai các hoạt động nhằm xúc tiến mạnh mẽ công cuộc kháng chiến của cả nước Căn cứ địa Việt Bắc đã góp phần xây dựng những binh đoàn tập trung đảm nhiệm vị trí cơ động hiến lược khắp

3 Hồ Chí Minh với Việt Bắc 30 năm cách chiến tranh cách mạng 1945-1975, T.1, NXB Quân đội Nhân dân, Hà

Nội, 1990, tr.126

4 Hồ Chí Minh với Việt Bắc 30 năm cách chiến tranh cách mạng 1945-1975, T.1, NXB Quân đội Nhân dân, Hà

Nội, 1990, tr.128

Trang 6

các chiến trường Căn cứ địa Việt Bắc chính là biểu tượng khẳng định cho quyết tâm kháng chiến sắt đá của quân và dân ta

Tài liệu tham khảo

Bộ Quốc Phòng (2014), Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam tập IV, Nxb CHính

trị Quốc gia, Hà Nội

Bộ Tư lệnh Quân khu 1 (1990), Tổng kết chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chiến lược

quân sự của Liên khu Việt Bắc (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội

Bộ Tư lệnh Quân khu 1 (1990), Việt Bắc 30 năm chiến tranh cách mạng, Nxb

Quân đội nhân dân, Hà Nội

Lê Mậu Hãn (1997), Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập III, Nxb Giáo dục, Hà

Nội

Hoàng Ngọc La (1995), Căn cứ địa Việt Bắc (1940 - 1945), Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội

Nguyễn Xuân Minh (2006), Căn cứ địa ATK Việt Bắc- Một sáng tạo trong kháng

chiến chống thực dân Pháp", Tạp chí Lịch sử quân sự (180), tr 34-38

Lê Xuân An (1998), Xây dựng căn cứ địa Việt Bắc theo chủ trương của Trung

ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh (1946 - 1954), Tạp chí Lịch sử Đảng (6).

Trang 7

SỰ CAN THIỆP CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI HỘI NGHỊ GIƠ NE VƠ VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH VÀ LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG

(1954)

Nhóm 7

Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

Bước vào thế kỉ XX đầy biến động, sự chuyển biến trong nước cũng như trên thế giới tác động không nhỏ đến tiển trình giải phóng dân tộc của nước ta Xét trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể,sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954,hiệp định Genever kết thúc cuộc chiến Đông Dương được đặt trong mối tương quan giữa các nước lớn Lập trường của Anh, Pháp, Mĩ không được xét nhiều đến vì vốn dĩ, Pháp đưa quân xâm lược Đông Dương, hơn trăm năm cai trị còn có những mối quan tâm,lợi ích của nhân dân và chính quốc Pháp Tuy nhiên, điều khiến quốc tế thật sự ngạc nhiên chính là thái độ của Trung Quốc Từng là một nước ủng hộ Việt Nam, họ cùng với Liên Xô trong phe XHCN trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống pháp đã viện trợ và ủng hộ Việt Nam rất nhiều Sự thay đổi lập trường cách bất ngờ của Trung Quốc khiến chính Việt Nam lúc đó lúng túng, có thể nói việc kí vào hiệp định Genever theo ý muốn của Trung Quốc là một thất bại ngoại giao lớn của nền ngoại giao Việt Nam Xung quanh sự can thiệp của Trung Quốc vẫn còn nhiều khía cạnh chưa được xét đến,còn nhiều vấn đề quan trọng tác động trực tiếp đến quá trình đấu tranh chống

Mĩ của nhân dân Việt Nam sau này Vì vậy, bài viết mong muốn sẽ làm rõ những mặt quan trọng nhưng đầy tính ẩn số đó

Từ cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi Khi đó, hình thái hai phe của cuộc chiến tranh lạnh đã hiện lên rõ nét Ở châu Âu, sự phân chia Đông Âu XHCN và Tây Âu TBCN đã xuất hiện một “điểm nhấn” quan trọng với sự thành lập 2 nhà nước Đức (CHDC Đức và CHLB Đức) vào năm 1949 Và ở châu Á,

sự hình thành 2 nhà nước trên bán đảo Triều Tiên (CHDCND Triều Tiên và Đại Hàn Dân Quốc) càng khơi sâu vết hằn của một thế giới đối đầu Đặc biệt, sự thành lập CHND Trung Hoa năm 1949 do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã xoay chuyển tình hình thế giới, làm cho uư thế của CNXH trở nên nổi trội, một cục diện mới xuất hiện ở miền Đông Á Khi đó, ở khu vực này đang diễn ra 3 cuộc chiến tranh:

1 Cuộc chiến tranh Đông Dương chống thực dân Pháp âm mưu quay lại tái lập chế

độ thuộc địa

2 Đoạn kết của cuộc nội chiến ở Trung Quốc do Giải phóng quân tiến hành nhằm quét sạch tàn quân Quốc dân đảng

3 Cuộc chiến tranh mới bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên giữa hai miền đất nước.

Cuộc chiến trên Đại lục Trung Hoa tạm kết thúc khi Nhà nước Cộng hòa Nhân dân tính toán khôn ngoan đã dừng chân bên bờ biển phía Đông, để lại Hồng Kông trong tay Anh, Ma Cao trong tay Bồ và Đài Loan cho chính quyền bại trận Quốc Dân đảng Đỉnh điểm của tình hình căng thẳng ở phương Đông bộc lộ khi cuộc chiến tranh Triều Tiên bị “quốc tế hóa” Mỹ nhảy vào chiến trường dưới danh nghĩa đội quân Liên Hiệp

Nguyễn Thị Hoa, Hà Thị Kiều, Lê Thị Huyên, Nguyễn Thị Anh, Nguyễn Văn Chính, Vũ Văn Vụ

Trang 8

Quốc cùng 13 nước đồng minh cứu nguy cho Hàn Quốc Các đơn vị Chí nguyện quân Trung Quốc trực tiếp tham chiến, viện trợ cho Triều Tiên Do vậy, cuộc chiến tranh đã vượt khỏi giới hạn nội bộ hai miền vì mục tiêu thống nhất đất nước mà bán đảo này bị biến thành bãi chiến trường đọ sức trực tiếp giữa 2 lực lượng Trung Quốc và Mỹ, đằng sau đó là sự ủng hộ của các nước thuộc hai phe: Liên Xô cùng các nước XHCN một bên và Anh, Pháp cùng các nước TBCN một bên Nơi đây trở thành điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai nửa của “Trật tự Yalta” mà mỗi bên đều muốn giành phần thắng

Song trong bối cảnh quốc tế phân hóa hai phe thì chiến trường Việt Nam cũng không tránh khỏi trở thành nơi tranh giành ảnh hưởng giữa hai hệ thống xã hội Liên Xô, Trung Quốc ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam; Mỹ, Anh viện trợ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp Cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân ta chẳng những gắn kết với phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa mà còn mang sắc thái của cuộc đấu tranh vì thắng lợi của CNXH Nói cách khác, nó đi vào quỹ đạo của cuộc đấu tranh giữa 2 hệ tư tưởng, 2 chế độ chính trị ngày càng lan tỏa khắp hành tinh

Frăngxoa Gioayô nhận xét: “Bộ chỉ huy Pháp không chỉ đối phó với một cuộc nổi dậy

có tính dân tộc mà là chống đối một sự nghiệp, không phải không có lý do để có thể xem như một trong những biểu hiện của cuộc chạm trán Đông - Tây trong khung cảnh chiến tranh lạnh”

Cho nên, những biến động trên chiến trường Việt Nam không thể không chịu tác động của tình hình thế giới và ngược lại, chiến cuộc ở Việt Nam cũng có ảnh hưởng đến tình hình chung của khu vực và thế giới

1 Toan tính của các nước lớn, không chỉ có Trung Quốc

Ngày 8.5.1954, Hội nghị quốc tế về Đông Dương khai mạc Nhưng ngay từ những năm đầu thập kỷ 50 trong khi diễn biến trên chiến trường ngày càng quyết liệt thì phương án đi tìm lối thoát bằng con đường đàm phán đã xuất hiện trong suy tính của các cường quốc tư bản Bản thân kế hoạch Nava cũng hàm chứa ý tưởng tìm một giải pháp danh dự cho cuộc chiến đầy tổn thất Nhất là khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt với bản Hiệp định ký kết ở Bàn Môn Điếm (tháng 7.1953) thi niềm hy vọng

về việc thương lượng nổi lên rõ hơn Tại Hội nghị ngoại trưởng bốn nước ở Beclin (1.1954) gồm Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp, ngoại trưởng Liên Xô Môlôtôp đưa ra đề nghị triệu tập Hội nghị Giơnevơ có cả CHND Trung Hoa tham dự để bàn về vấn đề Triều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông Dương

Là một trong những nước đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới II, song Liên Xô đã phải gánh chịu những tổn thất vô cùng nặng nề, trên 30 triệu người bị chết, hàng chục vạn làng xã, đô thị, cơ sở kinh tế bị tàn phá1 Phát huy vai trò trụ cột của mình với cách mạng thế giới, Liên Xô vừa phải ưu tiên khôi phục đất nước, vừa phải thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, chống nguy cơ chiến tranh tái diễn Với

uy tín và ảnh hưởng chính trị rất lớn lúc đó, Liên Xô đã khích lệ, động viên và ủng hộ

về tinh thần đối với nhân dân lao động bị áp bức đang vùng lên đấu tranh để tự giải phóng, nhưng Liên Xô cũng chưa có điều kiện để giúp đỡ một cách mạnh mẽ về vật chất cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc,

Trang 9

trong đó có Việt Nam Trước chính sách chạy đua vũ trang của Mỹ, tháng 6-1951, Liên Xô đưa ra sáng kiến giải quyết cuộc chiến tranh Triều Tiên: "Các bên tham chiến cần mở ngay cuộc thương lượng nhằm thực hiện đình chỉ chiến sự và ký kết hiệp định đình chiến, quy định việc hai bên cùng rút khỏi vĩ tuyến 38 " mở ra xu hướng giải quyết các vấn đề tranh chấp quốc tế bằng thương lượng Đầu năm 1953, sau khi Stalin mất, Liên Xô điều chỉnh sâu hơn chính sách đối ngoại hòa bình thông qua thương lượng Liên Xô đã nhận lời Anh và Pháp điều đình với Chính phủ Triều Tiên giải quyết thành công vấn đề tù binh chiến tranh và ngoại kiều, dẫn đến ký kết Hiệp định đình chiến ngày 27-7-1953 trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng ở vĩ tuyến 38 và không bàn đến vấn đề chính trị Đồng thời đưa ra dư luận "đình chiến ở Triều Tiên cần thúc đẩy việc kết thúc chiến tranh Đông Dương" Ngày 4-8-1953, Liên Xô gửi công hàm cho Anh, Pháp, Mỹ đề nghị triệu tập hội nghị năm nước lớn (Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc) để nghiên cứu các biện pháp làm giảm bớt căng thẳng ở Viễn Đông

Đi đôi với việc đưa ra sáng kiến triệu tập Hội nghị Giơnevơ tìm giải pháp kết thúc chiến tranh Đông Dương, Liên Xô tiếp tục xúc tiến các hoạt động viện trợ Việt Nam một số mặt hàng chiến lược về vũ khí, khí tài quân sự Tất cả các mặt hàng này đều được Liên Xô giao cho Trung Quốc, để sau đó chuyển tới Việt Nam

Ngày 27-4-1954, được sự ủy nhiệm của Anh và Mỹ, Pháp gặp Liên Xô để thoả thuận về thành phần hội nghị khi bàn về vấn đề Đông Dương Lúc này, các nước Anh, Pháp, Mỹ đã tính đến một cơ cấu hội nghị trên cơ sở loại trừ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Song trong tất cả các cuộc tiếp xúc giữa Liên Xô và Pháp, Liên Xô luôn kiên định lập trường có tính nguyên tắc về sự cần thiết phải có sự tham gia của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Ngoại trưởng Liên Xô Môlôtốp còn nhấn mạnh rằng, sẽ không chấp nhận sự có mặt của các quốc gia liên kết – Chính phủ Bảo Đại, Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia nếu như Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không được chấp nhận dự Hội nghị Đồng thời đưa ra sáng kiến để Liên Xô và Anh làm đồng Chủ tịch, khi Hội nghị bàn về vấn đề Đông Dương Cuối cùng, ngày

2-5-1954 các nước Anh, Pháp, Mỹ buộc phải chấp nhận đề án của Liên Xô

2 Toan tính của Trung Quốc khi đến Hội nghị Giơ ne vơ (1954) về Đông Dương

Trung Quốc đến Giơ ne vơ với mục tiêu chính đó là: an ninh của Trung Quốc

và mở rộng vùng ảnh hưởng của Trung Quốc

Trước hết là Trung Quốc muốn tạo 1 vùng đệm ở Đông Nam Á, bảo đảm an ninh biên giới phía Nam, ngăn chăn tránh đối đầu với Mỹ,chia rẽ và làm suy yếu 3 nước Đông Dương Đồng thời muốn nối lại quan hệ với các nước phương Tây để phát triển kinh tế xã hội, khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế

Điều này chúng ta có thể thấy rất rõ:

“ Lập trưởng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa muốn tạo ra nhiều nước riêng biệt ở Đông Dương, muốn ban căng hóa Đông Dương dĩ nhiên dẫn đến sự chia rẽ tình đoàn kết giữa những người yêu nước ở các nước Đông Dương, làm suy yếu các mặt trận cách mạng và dân chủ ở Lào và Campuchia đang hướng về chủ nghĩa xã hội trên thế giới” Đó là chính sách chia để trị Măng đét phrang khi đàm phán với Chu Ân Lai đã

Trang 10

tin tưởng là Trung Quốc rõ ràng tán thành chia cắt lâu dài, tán thành sự tồn tại phía Nam Trung Quốc nhiều quốc gia đa dạng Cho nên Bắc Kinh đã hạn chế bớt những yêu sách của Việt Minh tại Gio ne vơ, đặc biệt đã gây sức ép với Việt Nam dân chủ cộng hòa phải giảm bớt tham vọng đối với miền Nam Việt Nam và đối với các nước khác tại Đông Dương, để tạo nên một sự cân bằng mới ở ngay Việt Nam và trên bán đảo Đông Dương Ý đồ Bắc Kinh còn ở chỗ là bị cắt mất vùng lúa gạo thừa thãi ở Nam Kỳ, Bắc Việt chỉ còn có thể hướng về Trung quốc để bổ sung nguồn thực phẩm còn thiếu

Không những thế,Trung Quốc còn gây sức ép với Việt Nam trong những vấn đề then chốt như về thời hạn tuyển cử : Việt Nam dân chủ cộng hòa đòi thời hạn, Chu Ân Lai đưa ra đề nghị hợp lý là “ cuộc tuyển cử nên lùi lại 2 năm cho đến năm 1956, còn thời hạn chính xác sẽ do đại biểu hai miền Nam Bắc thỏa thuận với nhau” Về giới tuyến : Trong khi phía Việt Nam dân chủ cộng hòa giữ nguyên ý kiến là vĩ tuyến 16 thì Chu

Ân Lai nói “ thực tế là Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyệt đối không cần đến con đường con đường số 9” mà phía Pháp thì coi đó là con đường ra biển của Lào Sau đó là khẳng định với phía Pháp là đã làm cho Việt Minh chấp nhận ý kiến của Trung Quốc

Sự can thiệp của Trung Quốc trên bàn đàm phán tại hội nghị Giơ-ne-vơ năm

1954 đã quá rõ ràng Do phải gánh chịu những tổn thất nặng nề ở Triều Tiên và đang tập trung cho kế hoạch 5 năm(1953-1957), Trung Quốc rất muốn giải quyết vấn đề Đông Dương theo chiều ngăn không để Mỹ có cơ hội can thiệp vào Đông Dương như

đã làm ở Triều Tiên.Một giải pháp theo kiểu Triều Tiên là thích hợp nhất: Một Bắc Việt Nam giáp ranh theo chế độ XHCN được dùng làm lá chắn,một Nam Việt Nam thuộc quyền kiểm soát của Pháp sẽ ngăn không để Mĩ vào Ngày 24/8/1953 Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố “Cuộc đình chiến ở Triều Tiên làm chuẩn mực cho những cuộc xung đột khác” Lợi dụng vị trí là một nước viện trợ quân sự chủ yếu và nắm con đường vận chuyển duy nhất chi viện cho Việt Nam ,đồng thời lợi dụng việc Pháp không muốn nói chuyện trên thế yếu với Việt Nam,những người lãnh đạo Trung Quốc đã tự cho phép mình đàm phán với Pháp để thỏa thuận về những điểm cơ bản của một giải pháp về vấn đề Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng

3 Tác động đến quá trình đàm phán giữa các phái đoàn và kết cục của hội nghị

Phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu đưa ra 8 điểm yêu cầu giải quyết đồng thời hai vấn đề quân sự và chính trị.Còn phái đoàn Trung Quốc đưa ra hai điều kiện để chấm dứt chiến tranh là Pháp chấm dứt chiến tranh thực dân;Mĩ không được can thiệp vào Đông Dương

Đối với Trung Quốc thì chấm dứt chiến tranh bằng giải pháp chia cắt Việt Nam là phương pháp phù hợp với thực tiễn nước này và tình hình thế giới,Chu Ân Lai đã nhiều lần bày tỏ điều này trong các cuộc gặp riêng với các phái đoàn Anh,Pháp trong các ngày 16,17/6/1954 Ngày 16/6/1954 Chu Ân Lai cùng Thứ trưởng Trương Văn Thiên đã đến nhà I.Dơn và nói rằng có thể “thuyết phục được với Việt Minh rút khỏi Lào giải quyết 3 vấn đề và Cam-pu-chia” Ngày 17/6/1954 Thủ tướng Chu Ân Lai gặp trưởng đoàn đại biểu Pháp G Biđôn đưa ra những nhân nhượng chính trị có tính chất

Ngày đăng: 14/10/2020, 14:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w