Công ty thiết bị đo điện là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng Công ty thiết bị kỹ thuật điện - Bộ công nghiệp, thành lập vào ngày 01- 4 - 1983 theoquyết định số 176 của Bộ cơ khí
Trang 1PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÔNG TY THIẾT BỊ ĐO ĐIỆN.
I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY THIẾT BỊ ĐO ĐIỆN.
1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty.
Công ty thiết bị đo điện là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng Công
ty thiết bị kỹ thuật điện - Bộ công nghiệp, thành lập vào ngày 01- 4 - 1983 theoquyết định số 176 của Bộ cơ khí luyện kim (cũ).Công ty lúc đầu có tên gọi là Nhàmáy thiết bị đo điện và đến ngày 01 - 6 - 1995 công ty chính thức đổi tên thành
Công ty thiết bị đo điện với tên giao dịch là EMIC (Electrical Measuring
Instrument Company) Công ty có trụ sở sản xuất tại số 10 phố Trần Nguyên Hãn Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
-Trải qua 18 năm xây dựng và trưởng thành, công ty đã gặp không ít khó khănvới bao thăng trầm trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đến thời điểm này công
ty đã trở thành một trong những đơn vị làm ăn có hiệu quả của Tổng công ty thiết
bị kỹ thuật điện
Quá trình hình thành và phát triển của công ty có thể chia thành hai giai đoạnchính như sau:
1.1 Giai đoạn 1: Từ năm 1983 đến năm 1989:
Đây là giai đoạn mới thành lập với tên gọi là Nhà máy chế tạo thiết bị đođiện, được tách ra từ một phân xưởng của Nhà máy chế tạo biến thế thuộc Bộ cơkhí luyện kim (cũ) Lúc này cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty còn nghèo nàn lạchậu Máy móc thiết bị nhà xưởng hầu như đã khấu hao hết Tổng số cán bộ côngnhân viên trong thời gian này là 300 Số vốn được cấp ban đầu chỉ là 10 triệu đồng.Trong giai đoạn này công ty chủ yếu sản xuất các loại máy phát điện có côngsuất từ 2-200 Kw ( chiếm khoảng 70% giá trị tổng sản lượng) Ngoài ra, công tycòn chế tạo một số loại đồng hồ vôn kế, am-pe kế và sửa chữa, hiệu chỉnh các thiết
Trang 2bị đo điện nhập khẩu các linh kiện để sản xuất, chủ yếu được nhập từ Liên Xô vàBungari Công nghệ sản xuất cũng được nhận từ các nước này.
Nền kinh tế nước ta thời kỳ này còn mang nặng tính tập trung quan liêu baocấp Công ty chỉ việc sản xuất theo chỉ tiêu do cấp trên giao Việc tiêu thụ sảnphẩm và thu mua các yếu tố đầu vào đã có nhà nước đảm bảo, điều này làm triệttiêu động lực phát triển của công ty và làm cho cán bộ công nhân viên chưa thực
sự gắn bó với công ty
Một đặc điểm nữa có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của công ty sau này
là cuối giai đoạn này, công ty đã bắt đầu tự nghiên cứu loại công tơ đo điện mộtpha Sản phẩm đã trở thành mặt hàng chủ yếu của công ty hiện nay
1.2 Giai đoạn 2: Từ năm 1990 đến nay:
Năm 1990 đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ chế quản lý ở nước ta.Cùng với sự phát triển kinh tế về mọi mặt thì mạng lưới điện quốc gia ngày càngphát triển để có thể làm cơ sở , tiền đề cho sự phát triển nói chung Trong giai đoạnnày có ba sự kiện lớn ảnh hưởng căn bản đến hoạt động sản xuất kinh doanh củacông ty:
(+) Sự kiện thứ nhất: Đây là thời kỳ mà nền kinh tế nước ta có sự chuyển đổi
từ một nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang một nền kinh tế hoạt độngtheo cơ chế thị trường, cơ chế mà đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự túc từ việc muasăm các yếu tố đầu vào đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra Doanh nghiệpphải tự chịu trách nhiệm trước kết quả sản xuất kinh doanh của mình
(+) Sự kiện thứ hai: thời kỳ này đánh dấu sự tan rã của hệ thống xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu Điều này đã làm chấm dứt mối quan hệ truyền thống giữa công
ty với các đối tác ở Liên Xô và Đông Âu
(+) Sự kiện thứ ba: Một số nhà máy thuỷ điện có công suất lớn đi vào hoạt
động đã làm cho mạng lưới điện trong cả nước tăng nhanh Nhu cầu về máy phátđiện giảm mạnh nhưng nhu cầu về các sản phẩm đo điện lại tăng lên rất nhanh
Trang 3Chính vì lẽ đó mà công ty đã chuyển hướng sản xuất kinh doanh, không sản xuấtmáy phát điện nữa mà tập trung toàn bộ năng lực sản xuất và các sản phẩm đođiện, đặc biệt là công tơ đo điện một pha.
Những sự kiện trên đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty, nó đặt ra những thách thức lớn đòi hỏi công ty phải có những thay đổicăn bản để thích nghi với cơ chế mới, điều kiện kinh doanh mới và với sự thay đổicủa nhu cầu trên thị trường Nhận thức được vấn đề trên, ban lãnh đạo của công ty
đã đưa ra những quyết định đúng đắn, giúp công ty vượt qua những khó khăn củathời kỳ chuyển đổi cơ chế và trở thành một công ty làm ăn có lợi nhuận như hiệnnay
Để thích ứng với những thay đổi của thị trường, công ty đã quyết định từ bỏmặt hàng truyền thống là máy phát điện và tập trung vào sản xuất các sản phẩm đođiện như: công tơ điện một pha, công tơ ba pha, đồng hồ vôn-ampe, biến dòng,biến áp Ngoài ra để tận dụng lợi thế về vị trí nằm ở trung tâm của thủ đô Hà Nội,năm 1990 công ty đã quyết định đầu tư một khách sạn trên phần diện tích của nhàmáy, đến cuối năm 1991 khách sạn đi vào hoạt động và đã góp phần đáng kể vàothu nhập của công ty
Để nâng cao chất lượng sản phẩm, cạnh tranh với hàng nhập khẩu và nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tháng 1 - 1995 công ty đã ký hợp đồng chuyển
giao công nghệ và xuất khẩu sản phẩm trị giá 200.000 USD với hãng LANDIS GYP, một hãng sản xuất công tơ hàng đầu của Thuỵ Sỹ Tháng 6 - 1996 công ty
-ký hợp đồng với hãng APRAVE của Cộng hoà Pháp về tư vấn chương trình quản
lý chất lượng ISO-9001 Tháng 2 - 1999 công ty được cấp chứng chỉ ISO-9001(đây
là đơn vị đầu tiên được nhận chứng chỉ này) Nhờ đó, công ty đã nâng cao chấtlượng sản phẩm và có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu
2 Đặc điểm của sản phẩm và quá trình sản xuất của Công ty thiết bị đo điện.
Trang 42.1 Đặc điểm về sản phẩm: Hiện nay ngoài việc kinh doanh khách sạn ra
thì nhiệm vụ của công ty là sản xuất các sản phẩm đo điện để đáp ứng nhu cầu củathị trường Các sản phẩm chính của công ty bao gồm:
- Công tơ điện một pha cơ hoặc điện tử, một giá hoặc nhiều giá các loại
- Công tơ điện ba pha cơ hoặc điện tử, một giá hoặc nhiều giá các loại
- Máy biến dòng hạ thế hình xuyến kiểu đúc epoxy từ 50/5A đến 10.000/5A,cấp chính xác 0,5 và 1
- Máy biến dòng trung thế kiểu đúc epoxy trong nhà và ngoài trời tới 36 Kv,dòng điện sơ cấp từ 5A đến 5000A; dòng điện thứ cấp 1A, 5A hoặc 1A và 5A, cấpchính xác 0,5; cấp bảo vệ 5P5; 5P10; 5P15; 5P20; 5P30
- Máy biến áp đo lường trung kế kiểu đúc epoxy hoặc ngâm dầu cách điệntrong nhà và ngoài trời tới 36 Kv; cấp chính xác 0,5; cấp bảo vệ 3P, 6P
- Đồng hồ Vôn và đồng hồ Ampe các loại, cấp chính xác 2 và 2,5
- Cầu chì rơi
Công ty vừa nghiên cứu chế tạo thành công lần đầu tiên ở nước ta một loạisản phẩm mới có giá trị kinh tế kỹ thuật cao như: công tơ điện một pha, ba pha,dây loại 20/80A xuất khẩu sang thị trường Nam Mỹ; máy biến dòng đo lườngtrung thế, kiểu ngâm dầu phụ thuộc 35 Kv với kiểu dáng đẹp, chất lượng ổn định,đạt các chỉ tiêu kỹ thuật; các loại biến áp nguồn Reclosses cho máy cắt loại 1 tỷ sốbiến áp và 2 tỷ số biến áp dung lượng từ 75 VA đến 300 VA; máy biến dòng trungthế có ba mạch (1 mạch đo lường, 2 mạch bảo vệ từ 1 đến 5 tỷ số biến dòng) Đây
là loại sản phẩm có độ phức tạp cao, kích thước lớn thay thế cho hàng từ trước tới
nay phải nhập của nước ngoài Máy biến dòng bảo vệ thứ tự “không” kiểu 2.C.T
với một hoặc nhiều tỷ số biến dòng dùng vào bảo vệ quá tải, ngăn mạch hoặc bị ròmột pha trong các trạm điện có công suất lớn Các loại máy biến dòng hạ thế kiểu
thanh cái (hình chữ thập) thích ứng với việc lắp đặt trong tủ điện có công suất lớn.
Trang 5Trong các sản phẩm của công ty, công tơ điện một pha và ba pha là sản phẩmchủ yếu chiếm khoảng 80% lượng bán ra Đối tượng tiêu dùng công tơ là các hộgia đình, cơ quan, tổ chức, nhà máy mua điện của mạng lưới điện quốc gia nhằmphục vụ cho đời sống sinh hoạt, sản xuất và các công ty điện lực dùng các công tơ
để quản lý điện theo từng khu vực dân cư Và tất cả khách hàng đều yêu cầu cácđặc tính của sản phẩm phải đảm bảo:
- Đảm bảo an toàn khi sử dụng: không chập, hở, rò rỉ
- Đảm bảo tính chính xác: cần đảm bảo sự công bằng khi khách hàng mua sảnphẩm
- Đảm bảo tính ổn định và lâu bền: tuổi thọ của sản phẩm phải dài và có chấtlượng ổn định trong suốt quá trình sử dụng
- Đảm bảo tính tiện dụng: kích thước phù hợp với hợp đồng, số dễ nhìn
2.2 Đặc điểm của nguyên vật liệu đầu vào.
Bảng 2.1 Lượng tiêu dùng các loại vật tư chính qua các năm.
Trang 6khẩu từ các nước như: Thái Lan, Nhật, Thuỵ Sỹ Điều này làm cho chi phí vật tư
của công ty chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất
3 Một số chỉ tiêu phản ánh quy mô của công ty thiết bị đo điện.
3.1 Vốn của công ty.
Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có
hai nguồn vốn đó là vốn cố định và vốn lưu động, bên cạnh đó một doanh nghiệp
nhà nước nào cũng có nguồn vốn ngân sách cấp, nguồn vốn tự bổ sung và công ty
EMIC cũng là một công ty như vậy Sau đây là các chỉ tiêu phản ánh tình hình vốn
của Công ty thiết bị đo điện trong mấy năm gần đây
( Nguồn báo cáo tài chính của EMIC)
Qua bảng trên ta thấy rằng vốn kinh doanh của công ty có xu hướng tăng lên,
vốn chủ sở hữu cũng tăng lên hằng năm, trong khi đó vốn nợ lại khá ổn định và có
quy mô nhỏ so với vốn kinh doanh và so với vốn chủ (hệ số nợ nhỏ hơn 0,5) Điều
Trang 7đó cho thấy tình hình tài chính của công ty là rất an toàn và công ty đang theo đuổichính sách tài chính thận trọng vốn cố định và vốn lưu động cùng có xu hướngtăng lên, sở dĩ vốn cố định và vốn lưu động tăng lên là do doanh thu của công tytrong mấy năm gần đây liên tục tăng làm nhu cầu dự trữ các loại tài sản lưu độngnhư vật tư, bán thành phẩm không ngừng tăng lên, hơn nữa do tình hình cạnh tranhtrên thị trường đã trở nên gay gắt hơn buộc công ty phải tăng cường chính sách bánchịu, hai nguyên nhân đó đã làm cho vốn lưu động của công ty tăng, mặt khác sonhà nước đánh giá lại tài sản cố định của công ty và trong mấy năm gần đây công
ty đã đầu tư mua sắm một số máy móc thiết bị đã làm cho vốn cố định của công tytăng lên
3.2 Tài sản cố định của công ty.
Tài sản cố định của công ty bao gồm quyền sử dụng đất, hệ thống nhà xưởng
và các máy móc thiết bị Tài sản cố định mà trực tiếp nhất là các máy móc thiết bịthể hiện năng lực sản xuất, trình độ công nghệ kỹ thuật của công ty, nó ảnh hưởngtrực tiếp đến chất lượng sản phẩm và chi phí sản xuất từ đó ảnh hưởng đến hiệuquả hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty
Về mặt bằng sản xuất, công ty được nhà nước cấp cho quyền sử dụng 1,1hecta đất nằm ở trung tâm thành phố Hà Nội Đây là một lợi thế rất lớn của công tytrong giao dịch thương mại, nó tạo điều kiện cho công ty mở rộng sang lĩnh vựckinh doanh khách sạn, cho thuê văn phòng góp phần đáng kể vào kết quả chungcủa công ty
Giá trị còn lại của toàn bộ tài sản cố định của toàn công ty năm 1997 là 21,7
tỷ đồng, năm 1998 là 24,6 tỷ đồng, năm 1999 là 25,6 tỷ đồng và năm 2000 là 27,1
tỷ đồng Giá trị còn lại của tài sản cố định tăng lên một phần là do công ty đầu tưmua sắm một số máy móc thiết bị mới
Mặc dù trong mấy năm gần đây công ty đã mua sắm một số máy móc thiết bịmới của Thuỵ Sĩ, Nhật, Mỹ, Đài Loan nhưng số lượng máy có xuất xứ từ các nước
Trang 8Đông Âu và Trung Quốc được mua trước năm 1989 còn chiếm tỷ trọng lớn Trong
đó nhiều máy móc đã khấu hao hết từ lâu,trong khi nguồn vốn nhà nước cấp thêmrất nhỏ nên công ty vẫn phải tận dụng số máy móc thiết bị đã khấu hao hết này
4 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong mấy năm gần đây 4.1 Lợi nhuận hơn hai lần vốn đầu tư.
Nhờ không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm,EMIC đã từng bước khẳng định được uy tín với khách hàng trong nước và đangvươn mạnh ra thị trường nước ngoài, chủ động hội nhập thị trường khu vực vàquốc tế Theo đánh giá của các nhà quản lý và chuyên gia công nghệ Việt Nam,EMIC là doanh nghiệp sẽ có bước phát triển ổn định, vững chắc khi đất nước hộinhập thị trường thế giới một cách đầy đủ
Năm 1992, EMIC mới chế tạo và tiêu thụ gần 134.000 công tơ và cung ứngcho thị trường trong nước và xuất khẩu hơn một triệu công tơ điện một pha, hơn60.000 công tơ điện ba pha gồm hàng chục loại khác nhau cùng với hơn 54.000máy biến dòng và máy biến áp các loại Tính chung đến nay EMIC đã trang bị chomạng lưới điện trong cả nước và xuất khẩu gần 5.000.000 công tơ điện một pha,gần 360.000 công tơ điện ba pha và hàng trăm nghìn thiết bị đo điện khác Hàngtriệu hộ tiêu thụ điện trong cả nước đang sử dụng các thiết bị đo điện do EMIC chếtạo và đều yên tâm về dòng điện an toàn liên tục, không bị tổn thất quá mức chophép
Chất lượng sản phẩm đã và đang đem lại sự phát triển ổn định vững chắc vàthịnh vượng cho EMIC, vốn đầu tư cho mỗi chu kỳ trang thiết bị công nghệ mới,bình quân sau 4-5 năm hoạt động đều được thu hồi để tái đầu tư Trong 10 nămqua, công ty đã nộp cho ngân sách nhà nước được 51,2 tỷ đồng, tăng hơn tổng vốnđầu tư trong cùng thời kỳ hơn 13 tỷ đồng, lãi được 82.664 tỷ đồng, tăng gấp hơn2,2 lần tổng số vốn đầu tư
Trang 9Năm 2000 vừa qua EMIC đạt được hơn 116 tỷ đồng giá trị tổng sản lượng vớitổng đầu tư 143,2 tỷ đồng; lãi được 13,9 tỷ đồng chiếm hơn 50% tổng số lãi củaTổng Công ty thiết bị kỹ thuật điện EMIC hiện có đủ vốn để kinh doanh, khôngphải vay vốn của ngân hàng nhiều như các doanh nghiệp khác Từ năm 1999 đếnnay, EMIC đảm bảo đủ việc làm cho 810 cán bộ công nhân viên với mức lươngbình quân trên dưới 1.800.000 đồng/tháng.
4.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong 4 năm gần đây.
Trong mấy năm gần đây Công ty thiết bị đo điện luôn là một công ty làm ăn
có lãi của Tổng Công ty thiết bị kỹ thuật điện
Bảng 2.4 Kết quả sản xuất - kinh doanh trong 4 năm qua của Công ty:
Chỉ tiêu Đơnvị 1997 1998 1999 2000
Tốcđộtăng1998(%)
Tốcđộtăng1999(%)
Tốcđộtăng2000(%)
I Giá trị
sản xuất
Triệuđồng 74.585 98.985
162.205
144.000
Sách
Triệuđồng 8.458 10.861 15.728 16.241 118 145 103
Trang 10IV Lợi nhuận
Sau thuế
Triệuđồng
960.125
942.952
Kinh doanh
Triệuđồng
Nhìn vào bảng kết quả sản xuất-kinh doanh của Công ty ta thấy rằng Công ty
có xu hướng mở rộng hoạt động kinh doanh nhưng đến năm 1999 thì hoạt động sảnxuất của Công ty bị chững lại do các nguyên nhân chủ yếu sau:
(+) khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997-1998 đã làm các đối tác xuất
khẩu của Công ty giảm hợp đồng xuất khẩu sản phẩm
(+) đồng tiền Việt Nam sụt giá mạnh so với đồng đô la Mỹ trong khi Công ty
phải nhập khẩu nhiều vật tư từ nước ngoài làm cho chi phí vật tư tăng, gây khókhăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Trang 11(+) việc nhà nước áp dụng thuế VAT thay cho thuế doanh thu đã làm tăng số
thuế thực tế mà công ty phải nộp Năm 1999, tuy doanh thu giảm so với năm 1998nhưng số thuế phải nộp vẫn tăng Năm 2000 vừa qua công ty lại sản xuất tăng vọt
so với năm 1999 với tổng doanh thu đạt 145.34 triệu đồng
Bảng 2.5 Thuế nộp ngân sách của Công ty thiết bị đo điện:
Tốcđộtăng1999-1998(%)
Tốcđộtăng2000-1999(%)
1 Thuế doanh thu
1996 đến 1998 tăng 1,6 tỷ đồng nhưng đến năm 1999 lợi nhuận bị giảm sút dodoanh thu giảm trong khi thuế phải nộp tăng lên và đến năm 2000 thì do công ty đãgiải quyết và khắc phục được những khó khăn trên nên doanh thu tăng, do đó lợinhuận cũng tăng đạt 13.000 triệu đồng Tiền lương bình quân của cán bộ côngnhân viên trong công ty có xu hướng tăng lên, hàng năm tăng 300.000 đồng/người
từ 1996 đến 1999 nhưng đến năm 2000 lương bình quân của cán bộ công nhân
Trang 12viên trong công ty đạt 1,8 triệu đồng/người Điều này chứng tỏ đời sống của cán bộcông nhân viên được cải thiện đáng kể, củng cố thêm sự gắn bó của cán bộ côngnhân viên đối với công ty.
Về sản lượng sản xuất, sản lượng công tơ một pha chiếm tỷ trọng rất lớn (trên80%) Nhưng điều đáng chú ý là các sản phẩm còn lại lại có giá trị lớn trên mỗi sảnphẩm, trước mắt dung lượng thị trường cho các sản phẩm này còn bé, tốc độ tăngtrưởng chậm nên công tơ một pha vẫn là mặt hàng chủ lực quyết định đến sự thànhbại của công ty Do đó khi phân tích thực trạng mở rộng thị trường phải đặt trọngtâm cho mặt hàng công tơ một pha
Như vậy trong mấy năm gần đây, kết quả sản xuất kinh doanh của công tythiết bị đo điện có xu hướng tăng lên, nhịp điệu sản xuất cũng tăng lên, nhưng hiệuquả kinh doanh lại có xu hướng giảm sút Điều đó là do: tốc độ tăng trưởng củadoanh thu và vốn kinh doanh tăng nhanh, trong khi tốc độ tăng trưởng của lợinhuận lại nhỏ hơn Do đó công ty cần phải rà soát lại các kế hoạch và chính sáchcũng như các biến động từ môi trường kinh doanh, đặc biệt là sức ép cạnh tranh đểphân tích, tìm ra những khó khăn mà công ty đã và sẽ gặp phải, từ đó đề ra cácchính sách thích hợp hơn nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty
II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG TY THIẾT BỊ ĐO ĐIỆN.
1 Khái quát về thị trường các sản phẩm đo điện.
1.1 Đặc điểm của thị trường các sản phẩm đo điện.
a) Do các sản phẩm của công ty chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường trong
nước nên bài viết này cũng tập trung vào thị trường các sản phẩm đo điện trongnước
Ngày nay điện năng là một sản phẩm không thể thiếu để cung cấp năng lượngphục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất Điện khí hoá toàn quốc là mục tiêu của mọi
Trang 13quốc gia trong thời kỳ công nghiệp hoá nhằm cung cấp năng lượng cho nền kinh tếquốc dân Mạng lưới điện trở thành một yếu tố của cơ sở hạ tầng góp phần thúcđẩy sự phát triển của nền kinh tế và sự phồn vinh của xã hội.
Nước ta hiện đang ở trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, điện khí hoánhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển Mạng lưới điện quốc gia cho đến nay vẫncòn chưa bao phủ hết đất nước, nhất là các tỉnh miền núi, nông thôn vẫn còn tìnhtrạng thiếu điện Phương hướng của ngành điện là sẽ tập trung xây dựng các nhàmáy điện, phát triển nhanh mạng lưới điện nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sảnxuất Tốc độ phát triển của mạng lưới điện là rất nhanh Hơn nữa, chất lượng củamạng lưới điện nói chung là rất thấp Do đó, trong những năm tới ngành điện sẽphải đầu tư cải tạo, nâng cấp mạng lưới điện Việc chính phụ cho phép công tyđiện lực Việt Nam xây dựng nhiều đương dây tải điện cao thế và đường dây Bắc -Nam đã làm tăng nhanh tốc độ phát triển mạng lưới điện quốc gia Hiện nay chínhphủ đang xem xét đề án xây dựng đường dây tải điện Bắc Nam thứ hai
Thị trường các sản phẩm đo điện là một thị trường thứ phát Sự phát triển củathị trường này phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của ngành điện, đặc biệt là sựphát triển của mạng lưới điện Chỉ khi nào có mạng lưới điện và có quan hệ mua -bán điện thì mới phát sinh nhu cầu về các sản phẩm đo điện
(*) Đối tượng tiêu dùng của các sản phẩm đo điện bao gồm:
- Các hộ gia đình: khi các hộ gia đình mua điện của công ty điện lực họ phải
mua công tơ điện để đo lượng điện tiêu thụ
- Các doanh nghiệp: phải mua công tơ để đo công suất điện sử dụng Ngoài
ra các nhà máy lớn và các doanh nghiệp chuyên ngành còn có nhu cầu mua các sảnphẩm đo điện khác như máy biến dòng, máy biến áp
- Các cơ quan, tổ chức, trường học, bệnh viện : có nhu cầu mua công tơ
để đo lượng điện tiêu thụ
Trang 14- Các nhà thầu: Ở nước ta các công ty điện lực chưa quản lý hết việc bán
điện trên toàn quốc, ở nhiều vùng còn tồn tại các nhà thầu Các nhà thầu cũng cónhu cầu mua công tơ để làm công tơ tổng
- Các công ty điện lực: có nhu cầu mua công tơ để làm công tơ tổng nhằm
quản lý việc bán điện Ngoài ra còn có nhu cầu mua các sản phẩm đo điện khácnhư máy biến áp, máy biến dòng, cầu chì rơi
Như vậy, đối tượng tiêu dùng các sản phẩm đo điện bao gồm cả những ngườimua điện để sử dụng và cả những người bán điện
(*) Thị trường các sản phẩm đo điện trong nước có các đặc điểm sau:
- Quy mô của thị trường các sản phẩm đo điện là rộng lớn và là thị trường
đang tăng trưởng mạnh Với dân số khoảng 80 triệu người, nước ta có khoảng 13triệu hộ gia đình cộng với 5800 doanh nghiệp nhà nước, nhiều doanh nghiệp tưnhân, liên doanh, hệ thống cơ quan, tổ chức, trường học, bệnh viện và hệ thốngcác công ty điện lực trên 61 tỉnh thành trong cả nước tạo thành một thị trường khálớn cho các sản phẩm đo điện Trong những năm qua, mạng lưới điện phát triểnnhanh làm cho phần thị trường đã được đáp ứng là khá rộng lớn Thực tế là năm
2000 thị trường Việt Nam tiêu thụ khoảng 1,5 triệu chiếc công tơ một pha, riêngCông ty thiết bị đo điện đã bán ra thị trường hơn 1 triệu chiếc công tơ một pha và
ba pha Cùng với tốc độ phát triển đang diễn ra nhanh chóng của mạng lưới điện,tốc độ tăng trưởng của thị trường sản phẩm đo điện cũng diễn ra khá nhanh (ướctính 10% mỗi năm) tạo ra một thị trường hấp dẫn thu hút nhiều công ty trong vàngoài nước tham gia vào ngành
- Mức độ cạnh tranh của ngành điện lực hiện nay còn tương đối thấp: trước
năm 1990 khi công ty chưa sản xuất được mặt hàng công tơ, nước ta phải nhậpkhẩu hoàn toàn mặt hàng này từ Liên Xô, Trung Quốc Nhưng từ năm 1991 khiLiên Xô bị tan rã thì việc cung cấp mặt hàng này chủ yếu là do các công ty và cácnhà nhập khẩu từ Trung Quốc Tuy nhiên chất lượng của công tơ nhập khẩu từ