1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận: Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam với ASEAN từ năm 1991 đến năm 2000

24 77 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 56,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam với ASEAN từ năm 1991 đến năm 20001. Lý do chọn đề tàiNgay từ khi ra đời Chính phủ Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chú Minh đã tuyên bố thực hiện chính sách ngoại giao “thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới” và “sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hòa bình”.Trong quan hệ với các nước Đông Nam Á, từ lâu Việt Nam đã thiết lập những mối quan hệ đậm nhạt khác nhau với từng quốc gia những các mối quan hệ này luôn giữ vị trí quan trọng. Suốt chặng đường dài của lịch sử ngoại giao Việt Nam, quan hệ với ASEAN cũng có nhiều bước thăm trầm. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thằng lợi, tháng 71976 Việt Nam đã đưa ra chính sách 4 điểm đối với khu vực, chủ trương xây dựng quan hệ hữu nghị với tất cả các nước ASEAN. Tháng 81976, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước ASEAN. Tuy nhiên đến năm 1979, do bất đồng quan điểm trong việc giải quyết vấn đề Campuchia, quan hệ Việt Nam ASEAN từ quan hệ thân thiết hợp tác chuyển sang quan hệ đối đầu. Sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia thì mối quan hệ này mới có sự thay đổi và ấm dần lên. Sau những bước đi và thủ tục cần thiết, ngày 2871995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN.Sự kiện Việt Nam ra nhập ASEAN đã thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đặc biệt là chính sách đối ngoại với khu vực theo hướng chủ động hội nhập.Tôi lựa chọn đề tài “Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam với ASEAN từ năm 1991 đến năm 2000” để làm rõ hơn đường lối, chính sách, chủ trương và các hoạt động đối ngoại của Đảng với ASEAN trong giai đoạn 1995 đến 2000.

Trang 1

Mục Lục

Mở đầu 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục của bài viết 4

Nội dung ……… 5

1 Tình hình thế giới và trong nước 5

2 Chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng với ASEAN từ năm 1991 đến năm 2000 7

2.1 Chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng với ASEAN từ năm 1991 đến năm 1995 7

2.2 Chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng với ASEAN từ năm 1995 đến năm 2000 11

3 Hoạt động đối ngoại của Đảng với ASEAN từ năm 1991 đến năm 2000 13

Kết luận 23

Tài liệu tham khảo 24

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Ngay từ khi ra đời Chính phủ Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chú Minh

đã tuyên bố thực hiện chính sách ngoại giao “thân thiện với tất cả các nước dânchủ trên thế giới” và “sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện với bất cứ một nước nàotrên nguyên tắc tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, khôngxâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳngcùng có lợi và chung sống hòa bình”

Trong quan hệ với các nước Đông Nam Á, từ lâu Việt Nam đã thiết lậpnhững mối quan hệ đậm nhạt khác nhau với từng quốc gia những các mối quan hệnày luôn giữ vị trí quan trọng Suốt chặng đường dài của lịch sử ngoại giao ViệtNam, quan hệ với ASEAN cũng có nhiều bước thăm trầm Sau khi cuộc khángchiến chống Mỹ kết thúc thằng lợi, tháng 7/1976 Việt Nam đã đưa ra chính sách 4điểm đối với khu vực, chủ trương xây dựng quan hệ hữu nghị với tất cả các nướcASEAN Tháng 8/1976, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nướcASEAN Tuy nhiên đến năm 1979, do bất đồng quan điểm trong việc giải quyếtvấn đề Campuchia, quan hệ Việt Nam - ASEAN từ quan hệ thân thiết hợp tácchuyển sang quan hệ đối đầu Sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia thì mốiquan hệ này mới có sự thay đổi và ấm dần lên Sau những bước đi và thủ tục cầnthiết, ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN

Sự kiện Việt Nam ra nhập ASEAN đã thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhànước Việt Nam trong việc triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chínhsách đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đặc biệt là chính sách đốingoại với khu vực theo hướng chủ động hội nhập

Tôi lựa chọn đề tài “Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Namvới ASEAN từ năm 1991 đến năm 2000” để làm rõ hơn đường lối, chính sách, chủtrương và các hoạt động đối ngoại của Đảng với ASEAN trong giai đoạn 1995 đến2000

Trang 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Với vị trí chiến lược quan trọng của khu vực, Đông Nam Á nói chung vàASEAN nói riêng đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các học giả trong và ngoàinước

Một số tác phẩm viết về quan hệ ngoại giao Việt Nam - ASEAN như: Việt

Nam - Đông Nam Á: Quan hệ lịch sử văn hóa của Viện nghiên cứu Đông Nam Á; Việt Nam - ASEAN quan hệ song phương và đa phương của Vũ Dương Ninh; Quan hệ Việt Nam - ASEAN chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam của Vũ Đình

Hương;…

Ngoài ra còn có các bài tạp chí như: Vấn đề Việt Nam gia nhập ASEAN của Nguyễn Vũ Tùng, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 năm 1994; Về quan hệ

Việt Nam ASEAN của Nguyễn Huy Hồng, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2

năm 1995; Những thuận lợi và thách thức khi Việt Nam gia nhập ASEAN của Nguyễn Cảnh Huệ, Tạp chú Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 năm 1996; Việt Nam

gia nhập ASEAN tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế của Hà Văn Thầm,

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Giới thiệu và phân tích chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng vớiASEAN giai đoạn 1991 - 2000

Trang 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Bài viết chủ yếu nghiên cứu các chủ trương chínhsách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với các nước ASEAN, quá trình chỉ đạo củaĐảng và Nhà nước trong việc tổ chức và triển khai các chính sách đã đề ra

- Thời gian: Tập trung đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam vàASEAN từ năm 1991 đến năm 2000

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử

- Phương pháp logic

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp so sánh và hệ thống hóa

6 Bố cục của bài viết

Bài tiểu luận gồm 3 phần:

1 Tình hình thế giới và trong nước

2 Chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng với ASEAN từ năm 1991đến năm 2000

3 Hoạt động đối ngoại của Đảng với ASEAN từ năm 1991 đến năm 2000

Trang 5

1 Tình hình thế giới và trong nước

Trong những năm 1991 – 2000 tình hình quốc tế có nhiều chuyển biếnnhanh chóng và phức tạp Mỹ vẫn tiếp tục đóng vai trò siêu cường duy nhất chiếm

ưu thế vượt trội Do vậy, Mỹ đẩy mạnh chính sách “can dự linh hoạt” đồng thời

“kiềm chế” đối với Nga và Trung Quốc Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, Mỹđẩy mạnh thực hiện chính sách “dính líu tích cực”, thông qua quan hệ kinh tế,chính trị, văn hóa, các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, tác động gây phânhóa nội hộ thực hiện chuyển hóa từ bên trong Quan hệ giữa các nước lớn thay đổitheo hướng Nga, Trung Quốc, Ấn Độ xích lại gần nhau Bên cạnh đó, sự xuất hiệncủa những vấn đề an ninh phi truyền thống tác động đến an ninh các nước vừa vànhỏ Đó là “chủ nghĩa can thiệp nhân đạo”, do Mỹ và phương Tây thúc đẩy Nhữngxung đột về sắc tộc, về sắc tộc và tôn giáo ẫn diễn ra ở khắp các khu vực trên thếgiới

Xu hướng chạy đua vũ trang gia tăng Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên,Pakistan,… liên tiếp tiến hành các vụ thử tên lửa; Mỹ gấp rút triển khai hệ thốngphòng thủ tên lửa chiến lược (NMD) và kế hoạch phòng thủ tên lửa chiến trường(TMD), không phê chuẩn Hiệp định Cấm thử hạt nhân CTBT Tình hình trên đãtạo nguy cơ đe họa an ninh nhiều khu vực

Ở Đông Nam Á, năm 1997 diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ bắtđầu ở Thái Lan Ngày 2/7/1997 khi các nhà quản lý tiền tệ của Thái Lan tuyên bốbãi bỏ việc gắn giá trị của đồng Bạt vào đồng USD Mỹ Chỉ sau 1 ngày, đồng Bạt

đã mất giá 205 Vòng xoay của cuộc khủng hoảng này nhanh chóng bao trùm toànbộ nền kinh tế Thái Lan và lan sang các nước trong và ngoài khu vực nhưMalaysia, Indonesia, Philippines và Hàn Quốc Cuộc khủng hoảng tiền tệ đã để lạicho một số nước ASEAN những hậu quả nghiêm trọng như nợ nước ngoài của cácnước ASEAN 6 tăng quá lớn do đồng tiền bị phá giá, không có khả năng thanhtoán các món nợ đến kỳ thanh toán Indonesia nợ nước ngoài 140 tỷ USD, tươngđương với 88,7% GDP, số tiền nợ của Thái Lan là 90 tỷ USD bằng 97,1% GDPcủa cả nước, tiêu dùng đầu tư tư nhân giảm mạnh, xuất khẩu vẫn chưa phục hồi docác nước không có sức tài trợ cho nhập khẩu; tốc độ tăng trưởng của các nước

Trang 6

giảm nghiêm trọng đăc biệt là ở Thái Lan (-5%), Indonesia (-1,5%); tỷ lệ thấtnghiệp tăng cao1.

Không chỉ chịu tác động mạnh mẽ trên phương diện kinh tế, xã hội, một sốnước ASEAN còn chịu tác động mạnh mẽ trên phương diện chính trị; Ở Indonesia,phong trào đấy tranh đòi độc lập của Đông Timo, phong trào Aceh trỗi dậy Năm

1999, Tổng thống Habibi phải tiến hành cuộc trưng cầu ý dân về nền độc lập củaĐông Timo Kết quả là 78,5% phiếu ủng hộ Đông Timo tách khỏi Indonesia ỞPhilippines, các lực lượng hồi giáo ly khai do mặt trận giải phóng tân tộc Môrôlãnh đạo đã tích cực hoạt động trở lại

Do bị khủng hoảng, ASEAN bị suy yếu, các nước không hỗ trợ được chonhau khắc phục khủng hoảng, nội bộ xuất hiện những mâu thuẫn mới Một số nướcđòi thay đổi nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp vào công việc nội bộ củacác nước thành viên Một số nước ASEAN phụ thuộc nhiều hơn vào Mỹ và quỹtiền tệ quốc tế (IMF) cả về chính sách phát triển vĩ mô và cũng như về đường lốichính trị Nội bộ một số nước như Indonesia, Malaysia mất ổn định Quan hệ giữamột số nước ASEAN cũng xuất hiện một số vấn đề phức tạp như vai trò củaIndonesia giảm sút; Thái Lan muốn vươn lên nắm vị trí hàng đầu trong ASEAN,phối hợp với một số nước khác (Philippines và Singapore) muốn thay đổi nguyêntắc cơ bản của ASEAN là đồng thuận và không can thiệp; xuất hiện sự khác biệtgiữa nhóm ASEAN lục địa với nhóm ASEAN hải đảo, ASEAN Phật giáo vớiASEAN Hồi giáo

ASEAN đã hoàn thành ý tưởng ASEAN 10, cũng phấn đấu cho hòa bình, ổnđịnh ở khu vực Song, các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau, trình độ pháttriển kinh tế không đồng đều, các nước có cùng nhu cầu hợp tác, liên kết kinh tế,song cạnh tranh cũng rất quyết liệt đang đặt ASEAN trước những thách thực mới.Môi trường an ninh khu vực Đông Nam Á đang diễn biến hết sức phức tạp vẫnchứa đựng những nhân tố tiềm ẩn có thể gây bùng nổ xung đột bất kỳ lúc nào

Ở trong nước, công cuộc đổi mới bước đầu đã thu được nhiều thành tựu tolớn, GDP tăng bình quân hàng năm 7%, mỗi năm hơn 1,2 triệu lao động có việclàm mới Giảm được trên 40 vạn hộ đói nghèo, khoa học công nghệ, văn hóa,

1

Lê Công Phụng (2005), Việt Nam – ASEAN 10 mười năm nhìn lại, tạp chí thông tin đối ngoại số 8 năm 2005, tr.19

– 22.

Trang 7

thông tin, y tế giáo dục, thể thao có bước phát triển đáng kể Kinh tế bắt đầu có tíchlũy, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, quan hệ đối ngoại không ngừngđược mở rộng,… Những thành tựu sau 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới đãtăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống củanhân dân, củng cố vững chắc đoàn kết dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nâng cao vị thế

và uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tàichính và tiền tệ ở khu vực cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta, nhất là vềthương mại và đầu tư nước ngoài Nhịp độ tăng trưởng GDP liên tục giảm từ 8,8%năm 1996 còn lại 4,7% năm 2000 do lĩnh vực xuất khẩu và thu hút đầu tư nướcngoài đều không đạt chỉ tiêu, điều đó buộc chúng ta phải chú ý nhiều hơn đến việckích cầu nội địa để bù đắp sự sụt giảm kinh tế đối ngoại Những thành tựu củacông cuộc đổi mới đã tạo ra thế và lực mới cho Việt Nam

Bên cạnh những thành tựu của công cuộc đổi mới đã tạo ra thế và lực mớicho Việt Nam Bên cạnh những lợi thế đó, Việt Nam còn phải đối mặt với nhiềukhó khăn thử thách bao trùm lên tất cả là “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so vớinhiều nước trong khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt do điểm xuất phátcủa ta là quá thấp, ta lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt”2 Ngoài

ra, Việt Nam còn phải đối phó với những khó khăn thách thức khác như: Âm mưudiễn biến hòa bình của các thế lực thù địch; Tình hình khu vực Châu Á – Thái BìnhDương và biển Đông còn diễn biến phức tạp; Nguy cơ lệch hướng xã hội chủnghĩa và quan liêu tham nhũng

2 Chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng với ASEAN từ năm

âm mưu “diễn biến hòa bình”, kích động việc thực hiện đa nguyên đa đảng, xóa bỏ

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, truyền bá

2

Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia Hà

Nội, tr.79.

Trang 8

những tư tưởng độc hại, đưa lực lượng biệt kích, gián điệp vào phá hoại nước ta,câu kết với các phần tử xấu trong nước tăng cường hoạt động chống phá chế độ.Hơn thế nữa, các nước xã hội chủ nghĩa lúc này cũng lâm vào khủng hoảng trầmtrọng dẫn đến sự hoài nghi về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xãhội về ý thức hệ làm cho tình hình trở nên thêm phức tạp

Cùng lúc đó, ở trong nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã bước đầu

có những chuyển biến về kinh tế xã hội nhưng khủng hoảng vẫn chưa hoàn toànchấm dứt, có thể bùng phát trở lại bất cứ lúc nào Trong bối cảnh khó khăn đó,Đảng ta đã tiến hành Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991).Nghịquyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6năm 1991 thể hiện sự nắm bắt tình hình mới của toàn Đảng ta và đã chỉ rõ: “Nhiệm

vụ đối ngoại bao trùm là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị, tạođiều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phầntích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dântộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”3

Đảng nhận định trong đời sống chính trị - kinh tế quốc tế, quan hệ giữa cácquốc gia, dân tộc bên cạnh lợi ích mang tính giai cấp, mang tính ý thức hệ còn cónhững có những lợi ích mang tính phổ biến, tính toàn cầu trong một thế giới mà sựphụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ thì nhu cầu cần có sự phối hợp, hợp tácgiữa các nước để giải quyết vấn đề quốc tế là một nhu cầu khách quan với tất cảcác quốc gia Trong điều kiện như vậy, Đại hội VII khẳng định chủ trương “hợptác, bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị -

xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”4 Với chủtrương như vậy, Đảng Cộng sản Viêt Nam đã tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạnvới tất cả các nước trong cộng đồng quốc gia phân đấu vì hòa bình, độc lập và pháttriển”5

Quan hệ Việt Nam – ASEAN bắt đầu có những chuyển biến tích cực và việcHiệp định Pari về Campuchia được ký kết tháng 10/1991 đã đánh dấu chấm dứtcủa “thời kỳ Campuchia” trong quan hệ Việt Nam – ASEAN, mở ra một thời kỳmới, thời kỳ hợp tác của cả hai bên

Trang 9

Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh nên lợi ích lớn nhất của đấtnước lúc này cũng là duy trì hòa bình, ổn định khu vực, tạo dựng một môi trườngquốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc đổi mới, tập trung sức lực vào pháttriển nền kinh tế vốn bị chiến tranh tàn phá, cải thiện đời sống nhân dân, đưa đấtnước đi lên theo kịp với nhịp độ phát triển trung của các nước trong khu vực và thếgiới Hội nghị Trung ương 3, khóa VII (tháng 6/1992) đã ra Nghị quyết chuyên đề

về công tác đối ngoại, Nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ công tác đối ngoại, tưtưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại, các phương châm xử lý các vấn đề quan hệquốc tế; đề ra chủ trương mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệđối ngoại của Việt Nam, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa,… trên cơ sở giữ vữngđộc lập, tự chủ và các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh tổ,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi,bảo vệ và phát triển kinh tế,…

Trong giai đoạn này, đã có lãnh đạo của Việt Nam và các nước ASEAN đã

có nhiều chuyến thăm viếng lẫn nhau, góp phần gia tăng sự hiểu biết và tin cậy.Bên cạnh đó, phía Việt Nam và các nước ASEAN đã ký hang chục hiệp định cấpchính phủ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển hợp tác kinh tế, thương mại,đầu tư, hoa học kỹ thuật Các nước ASEAN trở thành bạn hàng quan trọng, chiếmkhoảng 30% hàng xuất – nhập khẩu của nước ta Các nước thành viên ASEANcũng chiếm hơn 20% tổng số đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Ngày 22/7/1992, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp ước Bali và trở thànhquan sát viên của ASEAN tại hội nghị Ngoại trưởng các nước ASEAN lần thứ 25ở Manila (Philippines) Từ đây, Việt Nam tham gia từng bước vào một số cơ chế

và chương trình hợp tác của ASEAN với tư cách quan sát viên Tiếp đó, trong cácchuyến thăm chính thức Singapore và Vương quốc Thái Lan, các nhà lãnh đạo cấpcao của Việt Nam cũng đang một lần nữa khẳng định lại mong muốn được mởrộng quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, coi trọng sự hợp tác nhiều mặt vớitừng nước ASEAN và tổ chức ASEAN Sẵn sàng gia nhập ASEAN vào thời điểmthích hợp

Có thể nói, trong những năm từ 1992 đến 1994, quan hệ ngoại giao giữaViệt Nam với các nước ASEAN được đẩy mạnh tăng cường bằng các chuyến thămcủa các nhà lãnh đạo nước ta tới các nước ASEAN và ngược lại Tháng 9/1994,Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký quyết định thành lập Vụ ASEAN (Bộ Ngoại giao) đểphối hợp hoạt động giữa Việt Nam và ASEAN Như vậy, với những phát triển

Trang 10

nhanh chóng và thuận lợi trong quan hệ Việt Nam – ASEAN, Đảng và Nhà nước ta

đã tích cực chủ động chuẩn bị mọi mặt để gia nhập ASEAN

Ngày 17/10/1994, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã gửi thư choNgoại trưởng Brunei, chủ tịch đương nhiệm Ủy ban thường trực ASEAN (ASC)chính thức đặt vấn đề Việt Nam gia nhập ASEAN Tháng 2/1995, các nướcASEAN nhất trí sẽ tổ chức kết nạp Việt Nam vào ASEAN 26 trước phiên họp củaHội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN lần thứ 28 tại Bruney

Ngày 28/7/1995, lễ kết nạp Việt Nam vào ASEAN được tổ chức trọng thể.Việc Việt Nam gia nhập ASEAN, trở thành thành viên chính thức của tổ chức này

có ý nghĩa rất quan trọng Trước hết, sự kiện này chấm dứt một thời gian dài khuvực này bị chia thành hai trận tuyến đối địch nhau Mặt khác việc gia nhậpASEAN góp phần quan trọng vào củng cố xu thế hòa bình, ổn định và hợp tác khuvực, tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đấtnước, cải thiện một cách cơ bản và thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ song phương giữaViệt Nam với các nước ASEAN

Gia nhập ASEAN góp phần chuẩn bị và tạo thuận lợi cho Việt Nam thamgia hội nhập khu vực và quốc tế tích lũy thêm kinh nghiệm, chuẩn bị cho việctham gia các hiệu quả các cơ chế hợp tác rộng lớn hơn Với các tư cách thành viêncủa ASEAN, chúng ta có nhiều thuận lợi khi tham gia vào các tổ chức như APEC,WTO Đồng thời Việt Nam có cơ hội thuận lợi hơn để học tập, chia sẻ kinh nghiệmphát triển, tiếp cận khoa học công nghệ hiện đại với các nước trong khu vực, cánbộ của Việt Nam có nhiều cơ hội để gặp gỡ, giao lưu với các đồng nghiệp củamình trong khu vực, từng bước làm quen với cơ chế hợp tác đa phương Tham giaASEAN giúp Việt Nam điều chỉnh dần các thủ tục hành chính, phong cách làmviệc theo hướng phù hợp tiêu chuẩn quốc tế và khu vực Bộ trưởng Bộ Ngoại giaoNguyễn Mạnh Cầm đã phát biểu tại lễ kết nạp Việt Nam vào ASEAN “đây là sựkiện quan trọng có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ Việt Nam và các nước ASEAN,một mốc mới đánh dấu sự thay đổi cục diện ở Đông Nam Á sau 50 năm kể từ khichiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc Đây cũng là một nhân tố mới góp phần đẩymạnh sự hợp tác kinh tế - thương mại trong khu vực vì sự phồn vinh của mỗi nước

và của cả Đông Nam Á Sự kiện này đồng thời là bằng chứng hùng hồn nói về xuhướng khu vực hóa đang phát triển mạnh mẽ cùng với xu thế quốc tế hóa ngàycàng tăng trong một thế giới tùy thuộc lẫn nhau ngày càng rõ nét”6

6

Bộ Ngoại giao (1995), Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr145 - 146.

Trang 11

2.2 Chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng với ASEAN từ năm 1995 đến năm 2000.

Trước tình hình thế giới diễn biến phức tạp, Đại hội VIII của đảng đã đề ra:Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hòa vình và tạo điềukiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độclập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội 7

Về đường lối đối ngoại, Đại hội VIII tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục thựchiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa cácquan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả nước trong cộngđồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Hợp tác nhiều mặt songphương và đa phương với các nước, các tỏ chức quốc tế và khu vực trên nguyêntắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau không can thiệp vàocông việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại vàtranh chấp bằng thương lượng”8 Trên cơ sở đó, Đại hội cũng đề ra đường lối đốingoại cụ thể trong quan hệ với ASEAN là “ra sức tăng cường quan hệ với các nướcláng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN”9

Để đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, Bộ Chính trị đã ra nghị quyết 01/NQ-TW ngày 18/11/1996 về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 5năm 1996 – 2000 Nghị quyết đã nêu rõ: “Kinh tế đối ngoại phát triển trên nhiềumặt; kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu tăng nhanh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhucầu phát triển kinh tế, xã hội”10 Song, hiệu quả kinh tế đối ngoại chưa cao Việcphát triển kinh tế chưa hướng mạnh xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu còn thấp,…

cơ chế xuất khẩu chưa hợp lý Nhập siêu quá lớn,…”11 Từ đó, đưa ra những nhiệm

vụ kinh tế đối ngoại: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngại nhằm góp

7 Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia Hà

Trang 12

phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện thắng lợi kếhoạch phát triển kinh tế xã hội năm 1996 – 2000 và chuẩn bị cho sự phát triển vàođầu thế kỷ XXI theo các nguyên tắc độc lập, dân chủ, tôn trọng chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, kết hợp chặt chẽ kinh tế đối ngoạivới chính trị đối ngoại, quốc phòng an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóadân tộc,… Đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại nhưng cótrọng tâm, trọng điểm, khai thác lợi thế của nước ta và tận dụng xu thế phát triểncủa thế giới và khu vực, 12

Nghị quyết 01-NQ/TW cũng đã chỉ ra những giải pháp, cơ chế, chính sáchchủ yếu, trong đó có vấn đề thị trường và đối tác cần chú trọng là Hiệp hội ASEAN

và các nước láng giềng

Để thúc đẩy quan hệ hợp tác với ASEAN, Chính phủ ra các Nghị định số

NĐ 91/CP ngày 18/12/1995; NĐ 82/CP ngày 13/12/1996; NĐ 15/CP ngày12/3/1998; NĐ 14/CP ngày 23/3/1999; NĐ 09/CP ngày 21/3/2000 ban hành danhmục hàng hóa của Việt Nam để thực hiện Hiệp định về chương trình ưu đãi thuếquan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN

Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ, Nghị quyếthội nghị cũng chỉ rõ: “Chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, phápluật và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhậpthị trường khu vực và thế giới… Có kế hoạch cụ thể chủ động thực hiện các camkết trong khuân khổ AFTA”13 Hội nghị đề ra nhiệm vụ “Xây dựng lộ trình giảmdần thuế nhập khẩu theo Hiệp định ưu đãi thuế quan (CEPT) áp dụng trong cácnước ASEAN và các cam kế quốc tế khác”14

Với những chủ trương của Đảng về quan hệ đối ngoại nói chung, quan hệViệt Nam – ASEAN nói riêng thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết của Đảngtrong những năm 1995 – 2000 đã thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam – ASEAN,định hướng cho Việt Nam từng bước tham gia vào các lĩnh vực hợp tác củaASEAN

12

Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 – 1999, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, tr.248 – 249.

13

Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ Tư ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb

Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr.60.

14 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ Tư ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb

Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr.76 - 77.

Ngày đăng: 14/10/2020, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w