1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn kĩ năng nghe viết chính tả cho học sinh lớp 3

82 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 677,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cố gắng sử dụng nhiều biện pháp, nhiều hình thức dạy chính tả nhằm giúp học sinh hìnhthành, phát triển và hoàn thiện kĩ năng viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩnmực theo hướng

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Giả thiết khoa học 6

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Cấu trúc của đề tài 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Một số khái niệm liên quan tới đề tài 7

1.1.2 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 23

1.2.1 Khảo sát thực trạng rèn kĩ năng nghe, viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La 23

1.2.2 Kết quả khảo sát 24

Tiểu kết chương 1 37

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NGHE - VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 3 38

2.1 Tạo hứng thú cho học sinh 38

2.2 Củng cố quy tắc chính tả cho học sinh 39

2.3 Luyện phát âm đúng 40

2.4 Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ 41

2.5 Giúp học sinh ghi nhớ luật chính tả 42

2.6 Tạo cho học sinh có nhiều cơ hội giao tiếp bằng tiếng Việt 44

2.7 Rèn kĩ năng chính tả cho học sinh qua các bài tập chính tả 44

Tiểu kết chương 2 47

CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 48

3.1 Những vấn đề chung 48

3.1.1 Mục đích của thể nghiệm 48

Trang 2

3.1.2 Đối tượng, thời gian, địa bàn thể nghiệm 48

3.1.3 Nội dung và tiêu chí đánh giá thể nghiệm 48

3.1.4 Phương pháp thể nghiệm 49

3.2 Thể nghiệm và đánh giá kết quả thể nghiệm 49

3.2.1 Mô tả thiết kế thể nghiệm 49

3.2.2 Kết quả thể nghiệm 50

Tiểu kết chương 3 56

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

1 KẾT LUẬN 58

2 KHUYẾN NGHỊ 59

2.1 Đối với giáo viên 60

2.2 Đối với học sinh 60

2.3 Đối với phụ huynh 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 63

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả khảo của giáo viên về hình thức dạy học Chính tả chủ yếu

25

Bảng 1.2: Tổng hợp phương pháp dạy học Chính tả chủ yếu của giáo viên 26

Bảng 1.3: Thầy, cô thường rèn kĩ năng chính tả cho học sinh trong những thời gian nào? 26

Bảng 1.4: Thầy, cô thấy trong quá trình học tập, học sinh thường hay mắc những lỗi cơ bản nào? 27

Bảng 1.5: Tổng hợp ý kiến của học sinh về hứng thú học Chính tả 28

Bảng 1.6: Theo em học chính tả khó hay dễ? 28

Bảng 1.7: Theo em để nắm vững kiến thức chính tả nên học như thế nào là phù hợp? 29

Bảng 1.8: Trong giờ học Chính tả em có tích cực phát biểu xây dựng bài không? 29

Bảng 1.9: Trong một tiết học Chính tả em thường gặp khó khăn ở phần nào? 30

Bảng 1.10: Lỗi chính tả của học sinh 31

Bảng 1.11: Đánh giá kết quả bài kiểm tra chính tả 34

Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả khảo sát một số lỗi của hai lớp TN và ĐC qua bài kiểm tra chính tả 51

Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả xếp loại khảo sát hai lớp TN và ĐC về một số lỗi chính tả của học sinh 51

Bảng 3.3: Bảng số liệu tổng hợp kết quả xếp loại khảo sát hai lớp TN và ĐC qua thể nghiệm bài chính tả nghe - viết 52

Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả phiếu bài tập thể nghiệm điền phụ âm đầu vào chỗ chấm 53 Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả bài tập thể nghiệm điền bộ phận vào chỗ chấm 55

Bảng 3.6: Tổng hợp kết quả bài tập thể nghiệm điền dấu thanh vào các từ sao cho chúng có nghĩa tiếng Việt 55

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tiếng Việt là một trong những môn chính và quan trọng trong chương trìnhGiáo dục tiểu học Đây là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức chung vềtiếng Việt, hình thành cho các em vốn tiếng Việt, kỹ năng tiếng Việt để các em học tập

và tư duy Chính vì thế, việc dạy và học tiếng Việt trong trường tiểu học cần phải đượcchú trọng Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới chú trọng hình thành kĩ năng nghe, nói,đọc, viết thông qua các phân môn tiếng Việt như: Học vần, Tập viết, Luyện từ và câu,Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Kể chuyện Qua đó góp phần hình thành lòng yêu mếntiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Do đó, dạy học tiếng Việtnhằm hình thành cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo về ngôn ngữ và các thao tác tư duy.Dạy cho các em biết truyền đạt tư tưởng, tình cảm của mình một cách chính xác và biểucảm

1.2 Trong trường tiểu học, phân môn Chính tả là môn học cụ thể hóa mục tiêucủa môn Tiếng Việt Phân môn Chính tả có một vị trí hết sức quan trọng (trước hết nó làmột môn học có tính chất công cụ) nhằm hình thành ở học sinh kĩ năng sử dụng tiếngViệt, trong đó đặc biệt chú ý tới kĩ năng nghe - viết (có kết hợp với kĩ năng nghe và kĩnăng viết) Học sinh có viết đúng, viết nhanh thì mới có phương tiện để học các mônhọc khác được dễ dàng Chính tả cung cấp cho HS một số kiến thức về chữ viết như:cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc chính tả Từ đó góp phần rèn luyện cho HS cácthao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, thay thế, bổ sung, so sánh, khái quát hoá Mặtkhác phân môn Chính tả còn có nhiệm vụ cung cấp kiến thức cơ bản về các quy tắcchính tả đồng thời rèn luyện cho HS kĩ năng viết đúng, viết rõ, viết nhanh, viết đẹp Quahọc Chính tả HS có được những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội, về con người, vănhoá, văn học Việt Nam và nước ngoài, các em được bồi dưỡng lòng yêu cái đẹp, cáithiện, lòng trung thực, lẽ phải và sự công bằng trong xã hội Chính tả còn bồi dưỡng cho

HS một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như: cẩn thận, chính xác, ócthẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm

1.3 Tuy nhiên, việc dạy học sinh nghe và viết đúng chính tả là một việc làm vôcùng khó khăn, nó đòi hỏi sự kết hợp vận dụng linh hoạt và sáng tạo nhiều yếu tố, nhiềubiện pháp, phương pháp và hình thức dạy học Để khắc phục tình trạng học sinh viết sailỗi chính tả ở Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La, nhiều giáo viên đã

Trang 5

cố gắng sử dụng nhiều biện pháp, nhiều hình thức dạy chính tả nhằm giúp học sinh hìnhthành, phát triển và hoàn thiện kĩ năng viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩnmực theo hướng “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”

1.4 Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Việc viếtđúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng Tuy nhiên với tình hìnhthực tế tại địa phương, nơi có nhiều người dân ở những vùng miền khác đến làm ăn,sinh sống, đặc biệt là số lượng dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ cao nên hiện tượng khôngđồng nhất trong phát âm là phổ biến Chính vì vậy mà số HS mắc lỗi chính tả hiện nayrất nhiều Thuận Châu là một huyện miền núi có nhiều dân tộc cùng chung sống như:Thái, Mường, H’Mông, Khơ mú, Kinh, Sinh Mun, Kháng,… do quá trình sinh hoạthàng ngày và tập quán sinh sống riêng của mỗi dân tộc cũng phần nào ảnh hưởng đếnkhả năng giao tiếp bằng tiếng Việt và hoạt động học tập của HS

Học sinh Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La, nhất là HS dântộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn trong nghe và viết tiếng Việt Khi viết các emthường hay nhầm lẫn các phụ âm đầu, phần vần, dấu thanh, nguyên nhân chính là xuấtphát từ việc “nghe không hiểu” dẫn đến việc viết sai theo

Xuất phát từ những lý do nói trên, chúng tôi chọn đề tài “Rèn kĩ năng nghe - viếtchính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La” làmđối tượng nghiên cứu, với mong muốn đưa ra được một số biện pháp nhằm nâng caonăng lực nghe - viết chính tả cho HS, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn TiếngViệt ở trường tiểu học nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu

Đã có những công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học

sinh tiểu học nói chung và học sinh dân tộc thiểu số nói riêng, trong đó đã đề cập đếnphương dạy học phân môn Chính tả Trong đề tài này, chúng tôi quan tâm tới một sốcông trình sau:

Chuyên đề Dạy học chính tả ở Tiểu học của Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân Thảo đã

phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học chính tả ở tiểu học, đồng thời đưa ra một

số nguyên tắc, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chính tả nhằm nâng cao chấtlượng dạy học chính tả nói riêng và dạy học môn Tiếng Việt nói chung Ngoài ra tác giảcòn đề ra một số quy tắc chính tả tiếng Việt giúp người đọc biết viết đúng, thành thạo âmtiết, từ đó hình thành kỹ năng chính tả tiếng Việt

Trang 6

Giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt, PGS.TS Nguyễn Quang Ninh đã cung

cấp một số vấn đề chung về phương pháp và nguyên tắc đặc trưng của việc dạy họctiếng Việt, cụ thể với phân môn Chính tả, tác giả đã đưa ra ba phương pháp đặc trưngcủa phân môn này là trực quan, so sánh - đối chiếu và giải thích, đồng thời cung cấpnhững kiến thức cơ bản về nội dung phân môn, phân bố chương trình và quá trình lênlớp của một tiết Chính tả

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Phương pháp dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc

cấp tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Dự án phát triển giáo viên tiểu học) đã nhấn

mạnh những mục tiêu cơ bản dạy học môn Chính tả cho học sinh dân tộc thiểu số, một sốhạn chế khi dạy phân môn Chính tả ở vùng dân tộc và những nguyên nhân cơ bản dẫn đếnhọc sinh dân tộc thiểu số hay mắc lỗi chính tả

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Dạy học lớp 3 theo chương trình tiểu học mới của

Bộ Giáo dục và Đào tạo (Dự án phát giáo viên tiểu học) đã đề cập đến hình thức chính

tả nghe - viết, nhớ lại để viết chính tả, âm, vần, thanh điệu Nội dung luyện tập: viết hoatên người và địa danh nước ngoài, tập phát hiện, sửa lỗi chính tả phương ngữ Mức độcần đạt: 60 chữ/15 phút, đúng chính tả, trình bày chính tả đúng quy định, thành thạo

Giáo trình Tiếng Việt thực hành của Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng, Nhà

xuất bản Giáo dục, tháng 4/2003 Nội dung sách gồm hai phần chính được biên soạnđan xen vào nhau theo từng chương Bao gồm: Giản yếu về lí thuyết tiếng Việt, mụctiêu nhiệm vụ của tiếng Việt thực hành, xác định ngôn ngữ, nội dung cần diễn đạt trongmỗi loại văn bản khác nhau Hệ thống bài tập thực hành, để củng cố, phát triển thêm khảnăng học tập tiếng Việt, sử dụng chính tả trong các hành văn

Chuyên đề Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo

(Dự án phát triển giáo viên tiểu học) đã giúp bạn đọc nắm được những đổi mới trongnội dung và phương pháp dạy học phân môn Chính tả theo chương trình và SGK mới.Nắm được bản chất và phương pháp dạy học chính tả theo hướng tích cực hóa hoạtđộng của HS Vận dụng sáng tạo, linh hoạt những hiểu biết đã có vào thiết kế, kế hoạchbài học để dạy chính tả theo hướng phát huy tính tích cực của từng HS Thực hành kếhoạch để bài học đạt hiệu quả, thể hiện sự nắm vững những kiến thức đã thu nhận được.Nhằm chủ động, sáng tạo, có ý thức vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào thực tếgiảng dạy

Trang 7

Cuốn sách Vui học tiếng Việt của Trần Mạnh Hưởng đã nhấn mạnh những kiến

thức tiếng Việt cơ bản giúp HS luyện tập thành thạo các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, các

em suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữviết của dân tộc

Những công trình nghiên cứu trên đề cập tới nhiều phương diện khác nhau nhưngđều tập trung nhấn mạnh tới các hình thức và phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu họctrong đó có dạy học Chính tả Đây là những tiền đề lí luận vô cùng quan trọng để chúngtôi thực hiện đề tài “Rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểuhọc Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng dạy học chính tả nhằm tìm ra biệnpháp hữu hiệu khắc phục, giải quyết những khó khăn trong dạy học chính tả theo hướngđổi mới chú trọng phát huy năng lực của người học Từ đó nhằm góp phần nâng caonăng lực nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - ThuậnChâu - Sơn La nói riêng và hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận: trên cơ sở tổng hợp các tư liệu về lí thuyết có liên quan đếnvấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho việc đề xuất các định hướng của đề tài

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho họcsinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La

4.2 Khách thể nghiên cứu

Trang 8

Khách thể nghiên cứu là Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La.

Cụ thể:

+ Khảo sát 02 giáo viên dạy Chính tả lớp 3

+ Khảo sát hai lớp 3 tổng số 44 HS, trong đó lớp đối chứng là lớp 3A3: 22 HS;lớp thể nghiệm là lớp 3A1: 22 HS

5 Phạm vi nghiên cứu

* Giới hạn về đối tượng và khách thể nghiên cứu: do thời gian và điều kiện cóhạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

- Nghiên cứu một sở cơ sở lí luận của việc dạy học chính tả

- Xây dựng kế hoạch và khảo sát thực trạng dạy học chính tả

- Đề xuất biện pháp rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3

- Thiết kế thể nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất trong đề tài

* Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Trường Tiểu học Chiềng Pha Thuận Châu Sơn La

Trang 9

-6 Giả thiết khoa học

Trong trường tiểu học, phân môn Chính tả có vị trí vô cùng quan trọng, tuy nhiênviệc dạy chính tả cho học sinh hiện nay còn gặp nhiều khó khăn Chúng tôi giả định nếucác biện pháp trong đề tài được thực hiện thành công thì sẽ góp phần vào giải quyếtnhững khó khăn đó, đồng thời cũng góp phần vào việc thực hiện mục tiêu của mônTiếng Việt ở tiểu học hiện nay

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đề ra, chúng tôi xâydựng nhóm phương pháp nghiên cứu như sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp đọc, phân tích, tổng hợp để xử lý tư liệu liên quan đến đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp trắc nghiệm

- Phương pháp thu thập thông tin

- So sánh, đối chiếu lí luận với thực tiễn, rút ra kết luận và đề xuất

7.3 Phương pháp toán học

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh, thống kê, xử lí số liệu mà chúngtôi khảo sát được

8 Cấu trúc của đề tài

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Biện pháp rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3

Chương 3: Thể nghiệm sư phạm

Trang 10

Chuẩn chính tả bao gồm chuẩn chữ viết các âm (phụ âm, nguyên âm, bán âm) vàcác thanh, chuẩn viết tên riêng (viết hoa), chuẩn viết phiên âm từ và thuật ngữ vaymượn Hiện nay, chuẩn viết các âm và các thanh tiếng Việt đã được xác định theo hệthống ngữ âm của chữ viết Chuẩn viết hoa tuy chưa thật thống nhất, nhưng xu hướngđang được chấp nhận là viết hoa con chữ đầu của mỗi âm tiết thuộc từ tên riêng (ViệtNam, Hồ Xuân Hương, ) Nếu tên riêng là cụm từ thể hiện một hay hơn một danh từchung và một danh từ riêng thì viết hoa con chữ đầu thuộc âm tiết đầu thuộc âm tiết đầucủa các danh từ chung, còn danh từ tiếng viết hoa theo quy định (Bộ Giáo dục và Đàotạo, Trường Đại học Tây Bắc, ) Chuẩn viết âm từ vay mượn (tiếng nước ngoài) phứctạp hơn: đang tồn tại hai cách viết phiên âm, đó là phiên âm âm tiết hóa (có gạch nốigiữa các âm tiết của từ như: Lê - nin, Pa - ri ) và phiên âm từ hóa (viết liền các âm tiết,tôn trọng âm chữ theo hệ La tinh như Pari, Canada, Victor Hugo ) [4; tr 136].

1.1.1.2 Chính tả nghe - viết

Chính tả nghe - viết là kiểu bài thể hiện đặc trưng của phân môn chính tả Kiểubài này yêu cầu HS nghe từng từ, cụm từ, câu do GV đọc, vừa nghe vừa tái hiện hìnhthức chữ viết của các từ, cụm tự, câu ấy Hay nói cách khác, học sinh phải có năng lựcchuyển ngôn ngữ âm thanh thành ngôn ngữ viết Yêu cầu đặt ra là học sinh phải viết đủ

số âm tiết đã nghe, viết đúng và nhanh theo tốc độ quy định của từng lớp, nghĩa là học

sinh cùng lúc phải phối hợp nghe để nhớ, viết [7; tr 202].

Trang 11

1.1.1.3 Chính âm

Theo cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II (Lê Phương Nga) có đề

cập đến vấn đề chính âm như sau: Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngônngữ có giá trị và hiệu lực về mặt xã hội Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ởtiểu học Chính âm liên quan đến vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt Việc hiểu biết về chính âm sẽ giúp chúng ta xác định được nội dung đọcđúng, đọc diễn cảm một cách có nguyên tắc

1.1.1.4 Kĩ năng

Khi nói về khái niệm kĩ năng thì có rất nhiều quan điểm khác nhau, theo cuốn từđiển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), năm 2005, NXB Đà Nẵng có đề cập về kháiniệm kĩ năng như sau: kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận đượctrong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Cũng có quan niệm cho rằng, kĩ năng là năng lực(khả năng) của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sởhiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi

Trên đây là một số khái niệm mà nhóm đề tài quan tâm để phục vụ cho việcnghiên cứu

1.1.2 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

1.1.2.1 Một số quan điểm về đổi mới Giáo dục tiểu học

Vấn đề đổi mới toàn diện về giáo dục trong đó có đổi mới phương pháp dạy học

đã được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thông qua Nghị quyết Trung ương

IV (khóa VII), nghị quyết Trung ương II (khóa VII) và Luật Giáo dục Những quanđiểm về đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục tiểuhọc nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt trong các văn bản sau:

Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/06/2014 Ban hành Chương trình hành độngcủa Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ 8Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế xác định “đổi mới hình thức,phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lựccủa người học, kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kì học, cuối năm họctheo mô hình của các nước có nền giáo dục phát triển” [3; tr Sđd]

Trang 12

Trong chỉ thị số 40 - CT/TN ngày 15 tháng 6 năm 2004, Ban Bí thư Trung ươngĐảng đã ban hành về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộquản lí giáo dục Mục tiêu của chỉ thị là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ đảm bảochất lượng, đồng bộ về cơ cấu đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành Thông tư số

30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định đánh giá học sinh tiểu học Theo thông tư này, nhiều điểm mới trong đánh giá kết quả học tập của

thường xuyên của HS không phải bằng điểm số như trước đây mà thay bằng lời nhậnxét Mô hình này kế thừa những mặt tích cực của mô hình dạy truyền thống, nhưngnhấn mạnh “đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khíchtính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh”, “đánh giá không sosánh với học sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh”

Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” ởtrường phổ thông theo hướng dẫn tại Công văn số 3535/BGDĐT-GD ngày 27/5/2013,

mà mục tiêu của phương pháp này là chú ý cung cấp kiến thức cho học sinh, chú ýnhiều đến việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS

Những quan điểm trên đều nhằm mục đích đổi mới toàn diện nền giáo dục theohướng tích cực, đây là những tiền đề, cơ sở thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổthông nói chung và cấp tiểu học nói riêng Một số quan điểm về đổi mới giáo dục này sẽ

là những cơ sở khoa học cơ bản để nhóm tác giả nghiên cứu đúng hướng và có thể gópphần thực hiện mục tiêu giáo dục

1.1.2.2 Một số đặc điểm tâm sinh lí và ngôn ngữ của học sinh

a) Cơ sở tâm sinh lí

Bậc tiểu học là một giai đoạn học tập mới đối với trẻ Đến trường thực hiện hoạtđộng học tập là bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ ở lứa tuổi này Hoạt độnghọc tập cũng là hoạt động chủ đạo của các em Vì vậy khi tiến hành dạy học cho HS cầnchú đến các đặc điểm tâm lí lứa tuổi tiểu học

Viết chữ nói chung và viết chính tả nói riêng không chỉ là vận động cơ bắp mà còn

là những thao tác trí óc của người viết Kĩ năng chính tả bao gồm các cử động phối hợpthuần thục các ngón tay, bàn tay, cổ tay, cánh tay sử dụng bút làm sao thể hiện đúng cácchữ, đảm bảo sự khu biệt và tốc độ viết chữ nhanh Hệ cơ, xương và hệ thần kinh cao

Trang 13

cấp đang phát triển Do đó khi dạy viết chính tả cho HS cần chú ý không cho các emviết quá nhiều, điều chỉnh tư thế ngồi viết cũng như tư thế viết đúng Ngoài ra khả năngchú ý của HS tiểu học còn yếu, thiếu bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ phântán Các em chỉ hay chú ý và hứng thú với các môn học có đồ dùng trực quan sinh động.Vậy nên khi dạy học chính tả nghe viết cho HS tiểu học cần khơi gợi sự hứng thú, lòngyêu quý môn học cho các em.

Mục đích dạy chính tả là hình thành cho HS năng lực viết thành thạo, thuần thục

chữ viết theo đúng chuẩn chính tả, giúp HS hình thành kĩ xảo chính tả Kĩ xảo chính tảnghĩa là giúp HS viết đúng chính tả một cách tự động hóa, không cần phải nhớ đến quytắc chính tả, không cần đến sự tham gia của tư duy Để đạt được điều này có thể tiếnhành theo hai cách: có ý thức và không có ý thức Cách có ý thức , phải bắt đầu từ việcnhận thức các quy tắc, các mẹo luật chính tả và luyện tập, từng bước đạt tới các kĩ xảochính tả Cách này sẽ tiết kiệm thời gian công sức và đó cũng là con đường ngắn nhất vàđạt hiệu quả cao Cách không có ý thức, không cần biết đến sự tồn tại của các quy tắcchính tả, không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng vàngữ pháp chính tả, mà chỉ đơn thuần là viết đúng từng trường hợp, từng từ cụ thể vớichuẩn chính tả Ở đây, không tốn nhiều thời gian, công sức và không thúc đẩy sự pháttriển của tư duy, chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định Ở tiểu học, cầnvận dụng linh hoạt và phù hợp với từng giai đoạn lứa tuổi, đặc điểm tâm lí để có thể đạtđược các yêu cầu về tiêu chuẩn chính tả Đối với các lớp đầu cấp (lớp 1, 2, 3) chủ yếu

sử dụng cách không có ý thức, còn các lớp cuối cấp (lớp 4, 5) chủ yếu là cách có ý thức

Kĩ năng viết đúng chính tả phải có sự kết hợp thuần thục của ngón tay, bàn tay,

cổ tay, cánh tay thì mới có thể viết đúng, nhanh và đẹp Vậy nên chính tả đòi hỏi phải có

sự kết hợp khéo léo của cá nhân Chính tả giúp học sinh phát triển thính giác (Chính tảnghe - viết) và giúp thính giác của các em nhạy bén hơn Tăng cường sự tập trung chú ýcủa học sinh

Mặt khác, “Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm Viết chính tả tiếng Việt chủyếu là ghi âm âm tiết, thể hiện các thành phần âm vị trong cấu trúc âm tiết thành chữ -

âm tiết Các chữ cái biểu tượng âm thanh, nói đúng hơn là biểu tượng thính giác âmthanh, được tiếp nhận thính giác qua lời nói Trong khi chính tả đối với các ngôn ngữ cóbiến đổi hình thái biểu hiện qua chữ viết thường đòi hỏi phải phân biệt các dạng thứcngữ pháp của từ chính tả tiếng Việt thường phục vụ vào mối liên hệ âm vị - chữ cái và

Trang 14

mối liên hệ âm - nghĩa ở những trường hợp có đồng âm” [7; tr 194].

Bên cạnh biểu tượng thính giác âm thanh, viết đúng chính tả còn là sự tái tạo cácmẫu chữ, các kĩ năng ghi nhớ các biểu tượng thị giác về chữ - âm tiết và cách viết âmtiết Biểu tượng thị giác có quan hệ với nghĩa Mối liên hệ chữ - nghĩa được phản ánhtrong quá trình tiếp nhận, ghi nhớ và thể hiện bằng chữ viết Điều này được biểu diễnqua sơ đồ:

(Biểu tượng thính giác có liên hệ với nghĩa)

(Biểu tượng thị giác có liên hệ với nghĩa)

Như vậy, lí luận tâm lí học hiện đại đề cao vai trò của ý thức, phát huy tính tíchcực tự động hóa trong việc hình thành kĩ năng chính tả Các nhà tâm lí học nhấn mạnh

sự thống nhất giữa tự động và ý thức ở một mức độ nhất định của kĩ năng chính tả:

“Việc động viên tính tự giác tích cực của học sinh khi tiếp thu tài liệu chính tả mới đặcbiệt quan trọng Tính tính cực đó được biểu hiện ở sự tập trung chú ý, tập trung tư tưởngcao độ của học sinh trong giờ học Sự chú ý không phải một chức năng độc lập của tâm

lí con người như sự tái hiện tư duy, tình cảm Sự chú ý luôn đi kèm với một hoạt độngnhất định của con người, đánh dấu mức độ tự giác, tích cực với công việc mà anh ta tiến

hành” (D.N Bôgooiavlenxki, Các nguyên tắc tâm lí của việc dạy chính tả, người dịch

Lê A) Xuất phát từ cơ sở tâm lí học, trong dạy học chính tả cần sử dụng các phươngpháp thích hợp có tác dụng khơi gợi và kích thích sự chú ý, tích cực hóa hoạt động tưduy của học sinh, làm cho học sinh nhận thức được đầy đủ ý nghĩa thực tiễn của chính

tả trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết Những yêu cầu của kĩ năng chính tảđược học sinh tiếp nhận và tự giác rèn luyện để ứng dụng có hiệu quả trong thực tiến.[7;

tr 194]

b) Cơ sở ngôn ngữ học

Thứ nhất, đặc điểm ngữ âm tiếng Việt, Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn

lập, tức là mỗi một tiếng (âm tiết) tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết.Trong tiếng Việt có một loại đơn vị đặc biệt gọi là tiếng, mỗi tiếng gọi là một âm tiết.Tiếng Việt là một thứ ngôn ngữ có nhiều thanh điệu độc lập mang nghĩa Vì thế trong

Chữ

Âm - cách viết - nghĩa

Âm - cách viết

Trang 15

chuỗi lời nói, ranh giới giữa các âm tiết được thể hiện rõ ràng, các âm tiết không bị nốidính với nhau như trong các ngôn ngữ biến hình Về cấu tạo, âm tiết tiếng Việt là một hệthống âm thanh có tổ chức nhất định, các yếu tố cấu tạo âm tiết kết hợp với nhau ở mức

độ lỏng, chặt khác nhau Phụ âm đầu, vần và thanh kết hợp với nhau khá chặt chẽ Vần

có vai trò quan trọng trong tiếng Việt Âm tiết có thể không có phụ âm đầu nhưng khôngthể thiếu phần vần, có phần vần thì câu từ đó mới có nghĩa Âm tiết có vị trí đặc biệtquan trọng trong hệ thống các đơn vị ngữ âm tiếng Việt Đồng thời tập trung đầy đủnhững đặc điểm của tiếng Việt về mặt ngữ âm Bên cạnh đó, âm tiết còn là đơn vị cơbản trên bình diện biểu hiện của hệ thống các đơn vị ngữ pháp và hệ thống các đơn vị

ngữ từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt Như vậy, chính tả tiếng Việt về cơ bản là chính tả

âm tiết Viết đúng chính tả tiếng Việt chủ yếu là biết viết đúng các tổ hợp chữ cái ghi âmtiết Do đó việc lựa chọn chữ - âm tiết làm đơn vị để dạy trong quá trình dạy tiếng Việt

nói chung, dạy chính tả nói riêng, cần được coi là vấn đề hiển nhiên, rõ ràng

Thứ hai, đặc điểm chữ viết tiếng Việt, chữ viết tiếng Việt thường được gọi là chữ

Quốc ngữ, cách gọi này có tác dụng phân biệt với chữ Hán (chữ viết tiếng Trung Quốc)

và chữ Nôm (chữ viết được tạo ra trên cơ sở của chữ Hán) Chữ Hán và chữ Nôm tồn tạitrong thời kì phong kiến và có phạm vi sử dụng hạn chế Chữ Quốc ngữ được xây dựngtrên cơ sở chữ cái La tinh bao gồm 26 kí hiệu cơ bản Mỗi kí hiệu biểu hiện một âm vịtương ứng trong ngôn ngữ Vì thế, chữ viết tiếng Việt là một chữ viết được ghi âmtương đối hợp lí Ở cấp độ âm tiết, nói chung có sự đối ứng một - một giữa âm và chữ -

“phát âm thế nào thì viết thế ấy” Đối với người Việt Nam, có một số lượng lớn âm tiết

mà ai cũng có thể viết đúng chính tả dễ dàng Như vậy, về cơ bản, chính tả tiếng Việt là

chính tả ngữ âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau [7; tr 190] Chữ viết

tiếng Việt được tạo trên cơ sở của chữ Hán Các âm trong tiếng Việt được ghi lại bằng

chữ cái hoặc tập hợp các chữ cái Chữ viết tiếng Việt gồm các chữ cái sau: dùng để ghi

11 nguyên âm đơn: a, ă, â, e, ê, i(y), o, ô, ơ, u, ư và 3 nguyên âm đôi iê (yê, ia, ya), ươ,(ưa), uô (ua); dùng 23 phụ âm: b, c (k, q), ch, d, đ, g (gh), gi, h, kh, l, m, n, nh, ng (ngh),

p, ph, r, s, t, th, tr, v, x Ngoài các chữ cái, do tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu, chữviết tiếng Việt còn sử dụng thêm 5 dấu để ghi 6 thanh điệu đó là: thanh huyền, thanhngã, thanh nặng, thanh hỏi, thanh sắc Không dùng dấu để ghi thanh ngang Chữ viếttiếng Việt, một chữ viết ghi âm với nguyên tắc chính tả thuần túy âm vị học (hay nhưvẫn quen gọi là nguyên tắc ngữ âm học), không phản ánh một cách phát âm tự nhiên

Trang 16

một cách thực tế tồn tại của tiếng Việt hiện đại Nguyên tắc âm vị học trong chữ viết yêucầu giữa âm và chữ phải có quan hệ tương ứng “1-1” Để đảm bảo nguyên tắc này, chữquốc ngữ ít nhất phải thỏa mãn hai điều kiện: mỗi âm chỉ do một kí hiệu biểu thị và mỗi

kí hiệu luôn luôn chỉ có một giá trị, tức biểu thị chỉ một âm duy nhất ở mọi vị trí trongtừ

Một số những bất hợp lí trong chữ quốc ngữ liên quan đến việc dạy chính tả cho học sinh, ta có thể quy vào hai trường hợp chính: vi phạm nguyên tắc tương ứng “1-1”

giữa kí hiệu và âm thanh, vi phạm tính đơn trị của kí hiệu Về vi phạm nguyên tắc tươngứng “1-1” giữa kí hiệu và âm thanh, điều này thể hiện ở chỉ dùng kí hiệu để biểu thị một

âm Ví dụ: âm /k/ được biểu thị bằng kí hiệu c, k, q; âm /i/ được kí hiệu bằng i, y; âm/uo/ được biểu thị bằng uô, ua Về vi phạm tính đơn trị của kí hiệu, điều này thể hiện cụthể ở chỗ: một kí hiệu biểu thị nhiều âm khác nhau tùy thuộc vào vị trí của nó trongquan hệ với những âm trước và sau nó Ví dụ: chữ a chủ yếu dùng để biểu thị /a/; nhưngkhi đúng trước u và y ở cuối âm tiết lại biểu thi â, /ă/ v.v [9; tr 227]

Thứ ba, đặc điểm ngữ nghĩa tiếng Việt, chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm

nhưng trong thực tế muốn viết đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng, hiểunghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả Vì vậy, việcđặt một hình thức ngữ âm nào đó trong từ (mỗi từ gắn với một nghĩa xác định) sẽ giúphọc sinh dễ dàng viết đúng chính tả Xét ở góc độ này, chính tả tiếng Việt còn là loạichính tả ngữ nghĩa [7; tr 193] Việc nhìn nhận và hiểu nghĩa của từ nào đó thì viết đúngchính tả cũng có phần có cơ sở Chẳng hạn từ có hình thức ngữ âm là “za” khi học sinhchưa thể phân biệt được nên viết với r, d, gi thì việc căn cứ vào nghĩa của từ khi kết hợpvới một từ khác, học sinh lại có thể xác định được và viết đúng từ cần viết, ví dụ như:viết là “ra” (trong ra vào, ngoài ra, ) là “da” (trong da tay, da chân, ) hay “gia” (tronggia đình, gia tộc, ) Do đó, khi còn phân vân trong trường hợp không biết nên viết vớihình thức chính tả nào cho đúng, chúng ta có thể xét đến bình diện ngữ nghĩa này làmcăn cứ

Trên đây là những cơ sở khoa học của việc dạy học chính tả, giúp nhóm đề tàichúng tôi nắm được một số lí luận khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1.2.3 Một số vấn đề chung về dạy học Chính tả ở tiểu học

a) Vị trí, nhiệm vụ, chương trình của dạy học Chính tả

* Vị trí của việc dạy học Chính tả

Trang 17

Khi nói đến vị trí của chính tả cần nói đến hai nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, vị trí của chính tả trong đời sống xã hội, chính tả có vai trò quan trọng

trong đời sống của mỗi cá nhân và cả cộng đồng xã hội Việc thực hành tốt các kĩ năng

về chính tả, đặc biệt là nghe - viết không chỉ có ý nghĩa trong giao tiếp hằng ngày màcòn thể hiện tư duy và trình độ văn hóa của mỗi người Giao tiếp trong xã hội cần cómột chuẩn mực, chuẩn mực về lời nói và chữ viết thì người được giao tiếp mới có thểhiểu được nội dung giao tiếp Chính tả biểu hiện tư duy được thể hiện ở chỗ nó là mộtcái đã biết trước, nắm được và nhớ được nhanh, chính xác những quy tắc về chữ viết.Chính tả thể hiện trình độ văn hóa ở chỗ, đó là những người có vốn hiểu biết, có trình

độ học thức, hiểu về văn hóa Việt thì mới có thể sử dụng câu từ đúng Một khía cạnhnào đó, chính tả rèn tính cẩn thận, chính xác, bồi dưỡng cho HS tinh thần trách nhiệmvới công việc, óc thẩm mĩ Dân ta thường có câu “ Luyện nét chữ - rèn nết người ” làvậy Chính tả giúp cho người đọc, người nghe hiểu được nội dung mà mình cần truyềnđạt Hay nói cách khác là nói đúng, viết đúng thì người đọc, người nghe mới tiếp nhậnđúng Hiểu và dùng đúng chính tả thì mới tự tin bước ra ngoài xã hội và như thế mớikhẳng định được bản thân Để có thể giao tiếp tốt trong xã hội, chính tả có thể coi là mộtyếu tố rất quan trọng nên mỗi người cần phải học tập và tìm cho mình vốn hiểu biết vềchính tả để có thể giao tiếp thành công trong cuộc sống

Thứ hai, vị trí của phân môn Chính tả ở trường tiểu học, Chính tả là một phân

môn có tầm quan trọng đặc biệt của môn Tiếng Việt ở tiểu học, chính tả dạy cho các emtri thức và các kĩ năng về chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng viếttrong giao tiếp Giúp các em học tập, giao tiếp và tham gia các hoạt động xã hội đượcthuận tiện hơn Sử dụng đúng chính tả góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng và thốngnhất của tiếng Việt Đến với trường, lớp HS biết đến chữ viết và cách sử dụng nó tronghoạt động giao tiếp Tiểu học là giai đoạn các em đã biết sử dụng lời nói, chữ viết để thểhiện suy nghĩ của mình nên cần phải rèn kĩ năng chính tả cho các em để sau này các em

có thể dễ dàng học tập và giao tiếp Ngoài ra, chính tả còn giúp cho việc hình thành vàphát triển tư duy cho học sinh Bởi chính tả còn đòi hỏi các em phải nhớ đúng và cách

sử dụng từ ngữ, để có thể hình thành thói quen viết đúng chính tả Qua phân môn Chính

tả, HS hiểu và biết cách sử dụng chính tả thì mới có thể tiếp thu các kiến thức khoa học

tự nhiên và khoa học xã hội khác Điều đó có thể thấy rõ trong quá trình học tập của các

em Bất kì môn học nào cũng đòi hỏi phải biết đọc, viết đúng và hiểu được nội dung từ

Trang 18

ngữ Chính tả là môn học có tính chất công cụ, có vị trí quan trọng trong đời sống củahọc sinh, là môn học đặt nền móng cho sự phát triển ngôn ngữ và tiếp thu các kiến thứckhác HS biết sử dụng chính tả thì mới có thể học tập giao tiếp tốt đối với gia đình, bạn

bè và thầy cô Hiểu đúng về chính tả thì các em dễ dàng tiếp thu các kiến thức từ ngườikhác và những kiến thức khoa học nhất định Hình thành kĩ năng, kĩ xảo về chính tả đểcác em có thể tự tin học tập và tiến bước xa hơn trên con đường tìm đến tri thức, mộtphần nào đó dạy cho các em hiểu biết hơn về sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt

* Nhiệm vụ của dạy học Chính tả

Phân môn Chính tả dạy cho trẻ biết chữ để học tiếng, dùng chữ để học các mônkhác và để sử dụng trong giao tiếp hằng ngày Qua các giờ học Chính tả, học sinh nắmđược các quy tắc chính tả, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo chính tả, hình thành năng lựcviết đúng, thể hiện các văn bản trên vở, bảng, từ đó góp phần hình thành nhân cách và

phát triển tư duy cho học sinh Cùng với phân môn Tập viết, phân môn Chính tả giúp

học sinh nắm vững các quy tắc chính tả, hình thành các kĩ năng chính tả, củng cố vàhoàn thiện các tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và chữ viết tiếng Việt, trang bị cho

học sinh công cụ để học tập và giao tiếp trong xã hội Qua phân môn Chính tả, bồi

dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen cẩn thận, sạch sẽ, kiên trì,

từ đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho các em

* Chương trình của việc dạy học Chính tả lớp 3

+ Viết đúng mẫu chữ, đúng chính tả, không mắc quá 5 lỗi/1 bài/60 tiếng (chữ)

HS không vừa đánh vần vừa viết, có ý thức phân biệt các âm, vần dễ lẫn trên chữ viết

+ Đạt tốc độ viết từ 60 - 70 chữ/15 phút

+ Bồi dưỡng cho HS một số đức tính, thái độ cần thiết trong công việc như: cẩnthận, chính xác, có óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm

b) Nguyên tắc dạy học Chính tả

Trang 19

Dạy học Chính tả ở tiểu học cần tuân thủ theo những quy tắc nhất định Theocuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt I (Lê Phương Nga) có đề cập một số nguyên tắcsau:

* Nguyên tắc dạy học chính tả theo khu vực

Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung dạy chính tả phải sát với phương ngữ, nghĩa làxuất phát từ thực tế mắc lỗi chính tả của học sinh ở từng khu vực, từng miền để hìnhthành nội dung giảng dạy Có xác định được những trọng điểm chính tả cần dạy chotừng khu vực, từng địa phương thì mới tối ưu hóa việc dạy chính tả được Bên cạnh đó,khi dạy chính tả cho học sinh tiểu học giáo viên cần có sự mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạotrong giảng dạy những nội dung cụ thể sao cho sát hợp với đối tượng học sinh mình dạy.Trong chừng mực nhất định, có thể giảm bớt những nội dung không cần thiết trong sáchgiáo khoa và bổ sung những nội dung thấy cần thiết ngoài sách giáo khoa Khi dạychính tả cho học sinh giáo viên cần nắm được nguyên tắc này và vận dụng phù hợp đểtruyền đạt đúng kiến thức và học sinh tiếp thu một cách có hiệu quả

* Nguyên tắc kết hợp giữa chính tả có ý thức và chính tả không có ý thức trong dạy học chính tả

Trong học tập, mọi hoạt động đều là hoạt động có ý thức Khái niệm “có ý thức”

và “không có ý thức”có thể được hiểu là học các “quy tắc, quy luật” chính tả đối lập vớihọc thuộc các trường hợp chính tả “bất quy tắc”

Có thể phân biệt hai loại chính tả đó là loại chính tả có ý thức và không có ý thứcnhư sau:

Thứ nhất, loại chính tả có thức: đó là loại chính tả nhằm phát hiện các quy tắcchính tả trên cơ sở của phép viết đúng chính tả Loại chính tả này về cơ bản đây là conđường được triển khai từ việc nhận thức các quy tắc và các mẹo luật chính tả để làm cơ

sở cho việc thực hành luyện tập tiến tới hình thành kĩ năng, kĩ xảo viết đúng chính tảcho học sinh Chính tả có ý thức đòi hỏi HS vận dụng các thao tác tư duy như so sánh,phân tích, tổng hợp, để rút ra quy tắc chính tả vận dụng vào để viết Học sinh nắmđược quy tắc chính tả, nắm được cách viết đúng mà không cần phải ghi nhớ máy móctheo từng trường hợp cụ thể

Thứ hai, loại chính tả không có ý thức: đó là loại chính tả “bất quy tắc”, cần họcthuộc và ghi nhớ các trường hợp cụ thể Con đường này được hiểu là việc hình thành kĩxảo một cách tự nhiên Đặc trưng của nó có thể là lĩnh hội một hành động nào đó thì

Trang 20

việc dạy chính tả không cần chú ý đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, không cầnhiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở ngữ pháp của chính tả mà đơnthuần chỉ là viết được từng từ cụ thể, từng trường hợp riêng lẻ.

Khi dạy chính tả cho HSTH chúng ta không được chỉ để tâm đến con đường có ýthức mà còn phải chú ý đến con đường chính tả không có ý thức Bởi cách ghi nhớ máymóc trong con đường không có ý thức sẽ giúp HS phản ứng nhanh mà không cần phải

tư duy vẫn chọn được cách viết phù hợp

* Nguyên tắc phối hợp giữa phương pháp xây dựng cái đúng và loại bỏ cái sai trong dạy học chính tả

- Phương pháp xây dựng cái đúng: cung cấp cho học sinh những quy tắc chính tả,hướng dẫn học sinh thực hành, luyện tập nhằm hình thành các kĩ xảo

- Phương pháp bỏ cái sai: phương pháp này đưa ra các trường hợp viết sai chính

tả, hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó hướng đến cái đúng, loại bỏ các lỗichính tả

Có thể thấy, cả hai phương pháp này đều có những ưu và hạn chế riêng nhưng ưuđiểm bên này sẽ khắc phục hạn chế bên kia và ngược lại Vì vậy, khi dạy chính tả ở tiểuhọc cần sử dụng phối hợp cả hai phương pháp này Như thế việc dạy học sẽ đạt hiệuquả cao hơn

* Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt và quy tắc viết hoa hiện hành

Chính tả tiếng Việt luôn có những nguyên tắc nhất định Cố gắng đảm bảo sự

nhất quán của tiếng Việt trong từng trường hợp cụ thể Theo cuốn Tiếng Việt thực hành,

Bùi Minh Toán (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, có đề cập đến các nguyên tắc kếthợp chính tả và quy tắc viết hoa hiện hành:

- Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt

Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết: tất cả các chữ cai ghi nguyên âm đều

có thể làm kí hiệu ghi âm chính của âm tiết; có hai chữ cái để ghi âm đệm là o và u, các

kí hiệu: p, t, m, n, c, ng (nh), i (y), u (o) biểu thị các âm cuối

Sự phân bố các vị trí giữa các kí hiệu cùng biểu thị một âm:

K, C, Q: K viết trước kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): e, ê, i

(kính, kiên, kia, ); C viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a,

ă, â, o, ô, ơ, u, ư (ca, căn, cân, ); Q viết trước âm đệm: u (quả, quang, quăng, ) (Riêngtrường hợp ka, ki, theo thói quen k vẫn viết trước a)

Trang 21

G, GH - NG, NGH: G, NG viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên

âm đôi): a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư (nga, ngăn, go, gô, ngơ, ); GH, NGH viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): ơ, ê, i (nghe, ghế, nghiền, ); IÊ, YÊ, IA, YA;

IÊ viết sau âm đầu, trước âm cuối: chiến, tiên tiến, diễn viên, ; YÊ viết sau âm đệm,

trước âm cuối: tuyên truyền, quyên, duyên, hoặc khi mở đầu bằng âm tiết: yết, yên; IA

viết sau âm đầu, không có âm cuối: chia, phía, kia, ; YA viết sau âm đệm, không có âm

cuối: khuya

UA, UÔ: UA viết khi không có âm cuối: ủa, của, múa, ; UÔ viết trước âm cuối:

suối, suốt, chuối,

ƯA, ƯƠ: ƯA viết khi không có âm cuối: chưa, thừa, chứa, ; ƯƠ viết trước âm

cuối: nước, thương, chương,

O, U làm âm đệm: sau chữ cái ghi phụ âm Q chỉ viết U: quang, quân, quyên, quen, ; sau các âm khác hoặc mở đầu âm tiết thì viết O trước các nguyên âm: a, ă, e

( hoa, khoăn, toét, ) và viết U trước các nguyên âm: â, ê, y, ya, yê (huân, khuynh,khuya, nguyên, huê, )

I, Y làm âm chính: I viết sau âm đầu: bi, phi, kĩ, mĩ, kính, minh, ; Y viết sau âm đệm: quy, quynh, Khi đứng một mình viết I đối với các từ thuần Việt: ỉ eo, ầm ĩ,…

viết Y đối với từ gốc Hán: y tá, ý kiến,

- Quy tắc viết hoa hiện hành: Chữ hoa trong tiếng Việt có các chức năng cơ bản

sau:

+ Đánh dấu sự bắt đầu một câu

+ Ghi tên riêng của người, địa danh, tên cơ quan, tổ chức,

+ Biểu thị sự tôn kính: Bác Hồ, Người,

Quy định về cách viết hoa tên riêng:

Thứ nhất, đối với tên riêng tiếng Việt

Tên người và tên địa lí: Viết hoa tất cả các chữ cái đầu của các âm tiết và khôngdùng gạch nối: Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Quang Trung, Sơn La, Nam Định, Yên Bái,

Tên tổ chức cơ quan: viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên và các âm tiết đầucủa các bộ phận tạo thành tên riêng: Trường Tiểu học Chiềng pha, Trường Đại học TâyBắc,

Thứ hai, đối với tên riêng không phải tiếng Việt

Trang 22

Những tên riêng có hình thức phiên âm Hán Việt quen dùng trong tiếng Việt thìnói chung không thay đổi: Anh, Pháp, Mĩ, Lỗ Tấn, (viết hoa tất cả các chữ cái đầu âmtiết của tên riêng phiên âm Hán Việt) Đối với những trường hợp khác, phiên âm trựctiếp ra tiếng Việt, viết sát theo cách đọc (đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viếthoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết: Phri - đrích Ăng - ghen, Mát - xcơ -va, ) Tên cơ quan tổ chức, đoàn thể nước ngoài nếu được viết theo cách định nghĩa thìviết như viết các tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể Việt Nam; nếu viết tắt thì viết nguyêndạng tắt, có thể viết ghi thêm tên dịch nghĩa hoặc tên nguyên dạng: WB (Ngân hàng Thếgiới), WB (World Bank),

Những nguyên tắc trên đây sẽ là những yếu tố giúp người đọc hiểu biết hơn vềchính tả tiếng Việt Đây cũng chính là những lí luận cơ bản để nhóm đề tài triển khainhững nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu

c) Phương pháp dạy học Chính tả

Phương pháp dạy học Chính tả là sự cụ thể hóa các phương pháp chung cho phùhợp với đặc điểm của phân môn Dưới đây là các phương pháp thường được sử dụngtrong phân môn Chính tả

* Phương pháp phân tích ngôn ngữ

Phương pháp phân tích ngôn ngữ bao gồm các thao tác phân tích và tổng hợp.Thao tác phân tích thể hiện ở việc phân tích cấu tạo của chữ (ghi tiếng), cách đọc các

âm, vần khó hay dễ lẫn, giải thích nghĩa trên tiếng/từ Phân tích còn là so sánh sự tươngđồng, khác biệt về âm, nghĩa và chữ của các từ ngữ có trong bài Việc phân tích giúpcho HS khắc sâu, ghi nhớ và hiểu sâu sắc về hiện tượng chính tả

Ngược lại với phân tích là tổng hợp Các thao tác tổng hợp thể hiện trong việc

khái quát các hiện tượng chính tả thành các quy tắc chính tả hoặc thành các mẹo chính

tả cho HS dễ nhớ, dễ viết Thao tác phân tích tổng hợp được phối hợp với nhau mộtcách linh hoạt trong suốt giờ học Chính tả Muốn hoạt động phân tích ngôn ngữ có hiệuquả cần phải tạo điều kiện để HS thực hành phân tích, tổng hợp GV không làm hộ màgiữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, giúp HS lưu ý các hiện tượng chính tả cần quan tâm

* Phương pháp giao tiếp

Phương pháp giao tiếp được thể hiện ở việc GV tổ chức tiết học bằng cách giaonhiệm vụ học tập sao cho HS tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động giao tiếp mộtcách có hiệu quả

Trang 23

Hình thức giao tiếp trong dạy học chính tả rất đa dạng, bao gồm cả nghe, nói,đọc, viết Thao tác nghe trong phân môn Chính tả vừa là nghe, đọc bài chính tả, vừa lànghe GV hoặc nghe bạn nói về hiện tượng chính tả, quy tắc chính tả Trong giờ họcChính tả thao tác viết được sử dụng thường xuyên nhất, từ bước kiểm tra bài cũ đếnbước viết chính tả đoạn bài, và cả bước làm bài tập chính tả âm, vần

Muốn HS giao tiếp được tốt, GV phải soạn hệ thống câu hỏi và bài tập chính tảphong phú, phù hợp với đặc điểm tâm lí, đặc điểm ngôn ngữ và vốn hiểu biết về tựnhiên và xã hội của HS Cần tạo ra tình huống để HS hứng thú với bài học, khắc sâukiến thức hơn cho các em

* Phương pháp rèn luyện theo mẫu

Phương pháp rèn luyện theo mẫu trong dạy học chính tả là sự vận dụng các quytắc hay mẹo chính tả đã biết vào các trường hợp tương tự Khi thực hiện các bài tậpchính tả âm - vần, HS sử dụng các thao tác so sánh, điền thế, phân tích, tổng hợp theomẫu từ trước hoặc do GV hướng dẫn Qua đó HS có thể giải các bài tập một cách thoảimái và chủ động Rèn luyện theo mẫu còn thể hiện ở việc viết theo mẫu cho trước Mẫu

có thể là bài chính tả tập chép trong SGK hoặc do GV viết lên bảng Chính vì điều này,bài chính tả đoạn - bài được chọn cho HS viết phải là mẫu mức không chỉ về các hiệntượng chính tả mà còn là một văn bản mẫu về nội dung cách sử dụng từ ngữ

Dạy học chính tả cho HS GV cần sử dụng một cách có hiệu quả các phương phápdạy học trên Không được đề cao quá phương pháp nào, sử dụng các phương pháp đúnglúc đúng chỗ, đúng nội dung sao cho tiết dạy đạt hiệu quả nhất Những phương phápdạy học này sẽ là những tiền đề lí luận để nhóm đề tài biết áp dụng và tìm ra những ưuđiểm và khắc phục những hạn chế khi dạy học chính tả cho HS

1.1.2.4 Những quy định cơ bản vê cách viết và kỹ thuật viết

Để viết đúng chính tả tiếng Việt thì người viết cần phải nắm được các quy định

về cách viết và kĩ thuật viết chữ Có như vậy thì mới có thể đảm bảo viết đúng, viết đẹp

và nhanh Theo cuốn Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, Đào Ngọc - Nguyễn Quang Ninh,

Nhà xuất bản Giáo dục đã đề cập đến những quy định về cách viết và kĩ thuật viết nhưsau:

a) Tư thế ngồi viết và cầm bút

Ngay ở lớp 1 học sinh đã được hướng dẫn về tư thế ngồi viết và cầm bút như sau

- Ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vào bàn

Trang 24

- Đầu hơi cúi, cự li giữa mắt và vở từ 25cm đến 30cm.

- Tay trái đặt lên phía trước bên trái cuốn vở (hoặc giấy viết)

- Tay phải cầm bút và điều khiển nét viết bằng 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ vàngón giữa) Các ngón tay phối hợp đồng thời với cổ tay, cánh tay và di chuyển trêntrang giấy một cách mềm mại theo nét viết, theo dòng chữ (từ trái sang phải) Viết hếtmột dòng chữ lại nâng bút lên và chuyển xuống dòng kế tiếp

Ngồi viết đúng tư thế, cầm bút đúng kỹ thuật sẽ tạo nên sự thoải mái khi viết, chữviết đẹp hơn và tránh được vẹo cột sống, cận thị,

b) Nét viết

Hiện nay trong nhà trường chúng ta chỉ dạy cho học sinh viết chữ nét đều vàđứng (vuông góc với dòng kẻ), không bắt buộc học sinh phải viết chữ có nét thanh nétđậm Tuy vậy, học sinh cũng có thể viết chữ có nét thanh nét đậm hoặc nét chữ nghiêng

để tạo nên những dáng chữ khác nhau

c) Kích thước chữ

Độ cao của chữ viết Tiếng Việt (bao gồm cã chữ viết thường, chữ viết hoa và chữsố) được chia thành 2 nhóm:

- Nhóm chữ có độ cao 1 đơn vị: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, m, n, r, s, v, x

- Nhóm chữ có độ cao 2 đơn vị bao gồm:

+ Các chữ viết thường sau: b, d, đ, g, h, k, l, p, q, y

+ Tất cả các chữ viết hoa: A, B, C, D

+ Tất cả các chữ số: 1, 2, 3, 4

Riêng chữ t viết thường có độ cao 1 đơn vị rưỡi

d) Tên gọi các nét cơ bản

- Nét ngang (-) có trong các chữ như: A, đ, E

- Nét sổ ( | ) có trong các chữ như: L, H, K

- Nét xiên ( / , \ ) có trong các chữu như: X, K, N

- Nét móc bao gồm:

+ Nét móc lên ( ) có trong các chữ như r, t

+ Nét móc xuống ( ) có trong các chữ như n, m

+ Nét móc 2 đầu ( ) có trong các chữ như v, n

+ Nét móc nghiêng ( ) có trong các chữ như: K, R, Y

- Nét hất ( ) có trong các chữ như i, t, u

Trang 25

- Nét cong ( ) có trong các chữ c, o, x

- Nét khuyết ( ) có trong các chữ như h, k, l, g

- Nét xoắn ( ) có trong các chữ như b, v, s, k

e) Vị trí dấu thanh trong chữ viết

Trong mỗi chữ, dấu thanh bao giờ cũng được đặt ở chữ cái ghi âm chính của vần(riêng thanh ngang không ghi dấu)

- Các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã đặt ở phía trên chữ cái ghi âm chính

Ví dụ: bàn, ghế, vở,

- Riêng dấu nặng đặt ở dưới chữ cái ghi âm chính

Ví dụ: bệnh viện, đặt, nặng, nhẹ,

- Trong các chữ ghi tiếng có bán âm đầu (âm đệm) thì dấu thanh cũng được ghi ở

âm chính (dù sau âm chính không có âm cuối vần)

Ví dụ: chỉ, hỏa, thủy, hoàng,

- Trong các chữ có tiếng nguyên âm đôi thì dấu thanh ghi như sau:

+ Nếu sau nguyên âm đôi không có âm cuối vần thì dấu thanh ghi vào chữ cáithứ nhất của nguyên âm đôi

Ví dụ: cửa, mưa, múa, kìa,

+ Nếu sau nguyên âm đôi có âm cuối vần thì dấu thanh đặt vào dấu thanh thứ haicủa nguyên âm đôi

Ví dụ: hiểu, điểm, cuối,

Những quy định và kĩ thuật viết chữ sẽ là những cơ sở để chúng tôi đề xuất các biệnpháp rèn cho học sinh các kĩ năng viết chữ để đảm bảo với yêu cầu, đó còn là những líluận cơ bản để chúng tôi phát hiện và rèn chính tả cho học sinh

Lí thuyết về chính tả nói riêng và tiếng Việt nói chung rất sâu rộng Những hiểubiết về các nguyên tắc chính tả là cơ sở lí luận quan trọng giúp chúng tôi triển khainghiên cứu thực tiễn dạy học chính tả ở Trường Tiểu học Chiềng Pha và đưa ra nhữngbiện pháp cụ thể để khắc phục những lỗi mà các em hay mắc phải

Trang 26

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khảo sát thực trạng rèn kĩ năng nghe, viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trường

Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La

1.2.1.1 Mục đích khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát nhằm phát hiện những lỗi chính tả mà học sinh lớp

3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La thường gặp Từ đó đi vào tìmhiểu nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh và đề xuất những biện pháp khắc phục

1.2.1.2 Nội dung khảo sát

a) Về giáo viên

Để tìm hiểu PP dạy học chính tả, tâm lý và năng lực của HS khi học bài Chính tảnghe -viết chúng tôi đã xây dựng phiếu khảo sát dành cho GV gồm những câu hỏi sau:Câu 1: Thầy (cô) thường sử dụng những hình thức dạy chủ yếu nào trong các giờ học Chính tả?

Câu 2: Khi dạy Chính tả cho học sinh, thầy (cô) thường dạy theo phương pháp nào?Câu 3: Thầy (cô) thường cho học sinh rèn kĩ năng chính tả trong những thời gian nào?Câu 4: Trong quá trình dạy học, thầy (cô) thấy học sinh thường mắc những lỗi cơ bảnnào?

Câu 5: Theo thầy (cô) làm thế nào để các em viết đúng chính tả một cách thành thạo?Câu 6: Thầy (cô) hãy cho biết những khó khăn trong quá trình dạy học chính tả nghe -viết cho học sinh?

Câu 2: Theo em, học Chính tả khó hay dễ?

Câu 3: Trong giờ học Chính tả, em có tích cực phát biểu ý kiến xây dựng bài không?Câu 4: Trong một tiết học Chính tả, em thường gặp khó khăn ở phần nào?

Câu 5: Theo em để nắm vững kiến thức chính tả nên học như thế nào là phù hợp?

- Bài kiểm tra chính tả:

Chính tả nghe - viết: Chiếc áo len.

Trang 27

Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá Em muốn ngồi dậy xin lỗi mẹ và anh, nhưng lại xấu hổ vì mình đã vờ ngủ Áp mặt xuống gối, em mong trời mau sáng để nói với mẹ: “Con không thích chiếc áo ấy nữa Mẹ hãy để tiền mua áo

ấm cho cả hai anh em.” (Theo Từ Nguyên Thạch)

1.2.1.3 Thời gian và địa điểm khảo sát

- Thời gian khảo sát: tháng 12 năm học 2015 - 2016

- Địa điểm khảo sát: Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La

1.2.1.4 Đối tượng khảo sát

- Khảo sát giáo viên chủ nhiệm của 2 lớp: 3A1, 3A3

- Khảo sát 44 học sinh của 2 lớp: 3A1(22 HS), 3A3 (22 HS)

1.2.1.5 Cách thức khảo sát

- Xây dựng phiếu khảo sát

- Dự giờ tiết dạy học Chính tả

- Kiểm tra vở viết của một số học sinh

Trang 28

b) Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm như trên, hiện trạng dạy học vẫn còn tồn tại một số hạnchế như sau: vì nhà trường áp dụng chương trình dạy học theo chương trình VNEN,phân môn Chính tả không còn tách riêng biệt thành một tiết học riêng nữa, mà nó đượcdạy kèm theo các môn học khác Vì vậy, thời gian dành riêng cho phân môn này là ít.Thời gian giáo viên luyện tập cho học sinh không nhiều Điều kiện vật chất phục vụ choviệc dạy còn chưa đáp ứng được nhu cầu dạy học Một số giáo viên chưa chọn được choviệc dạy những phương pháp thích hợp dẫn đến việc nắm bắt của học sinh chưa thực sựđạt hiệu quả Vì học sinh ở đây hầu như là con em dân tộc thiểu số, ít tiếp xúc với xã hộibên ngoài, khả năng hiểu biết của học sinh còn hạn chế vì vậy việc dạy học của giáoviên cũng gặp nhiều khó khăn

Qua khảo sát về phía giáo viên, chúng tôi tổng hợp kết quả thành trong các bảngsau:

Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả khảo của giáo viên về hình thức dạy học Chính tảchủ yếu

Rất thườngxuyên (%)

Thườngxuyên(%)

Khôngthườngxuyên (%)

Không sửdụng(%)

1 Thầy cô đọc, trò ghi

chép

2(100%)

0(0%)

0(0%)

0(0%)

2 Đàm thoại giải quyết

vấn đề

2(100%)

0(0%)

0(0%)

0(0%)

3 Học sinh tự nghiên cứu

và kết luận

0(0%)

0(0%)

2(100%)

0(0%) Nhìn vào bảng 1.1, ta thấy hình thức dạy học Chính tả chủ yếu của giáo viên làthầy cô đọc, trò ghi chép và hình thức đàm thoại giải quyết vấn đề Hai hình thức nàyđược sử dụng rất thường xuyên trong tiết học Chính tả 2/2 giáo viên lựa ở mức độ rấtđồng ý chiếm 100% Còn hình thức học sinh tự nghiên cứu và kết luận thì các giáo viên

ít sử dụng hơn, 2/2 giáo viên đều đồng ý ở mức độ sử dụng là không thường xuyênchiếm 100%

Bảng 1.2: Tổng hợp phương pháp dạy học Chính tả chủ yếu của giáo viên

Trang 29

Rất thườngxuyên(%)

thườngxuyên(%)

Khôngthườngxuyên(%)

Không sửdụng(%)

1 Phương pháp giao

tiếp

2(100%)

0(0%)

0(0%)

0(0%)

0(0%)

3 Phương pháp thực

hành luyện tập

2(100%)

0(0%)

0(0%)

0(0%)

4 Phương pháp trực

quan

0(0%)

2(100%)

0(0%)

0(0%) Qua bảng kết quả khảo sát trên cho thấy 2/2 thầy cô sử dụng phương pháp giao tiếp,phương pháp phân tích ngôn ngữ và phương pháp thực hành luyện tập trong giờ họcChính tả ở mức độ rất thường xuyên chiếm 100% Hay có thể thấy rằng, thầy cô sửdụng đan xen các phương pháp này trong tiết học Chính tả Còn phương pháp trực quanđược thầy cô sử dụng ở mức độ thường xuyên, 2/2 thầy cô đồng ý chiếm 100%

Bảng 1.3: Thầy, cô thường rèn kĩ năng chính tả cho học sinh trong những thờigian nào?

STT Tiêu chí lựa chọn

Mức độĐồng ý

(%)

Không đồng ý(%)

Rất đồng ý(%)

Rất khôngđồng ý(%)

1 Trong giờ học

Chính tả

0(0%)

0(0%)

2(100%)

0(0%)2

(100%)

0(0%)

0(0%)

0(0%)

3 Trong các giờ học

khác

1(50%)

0(0%)

1(50%)

0(0%) Nhìn vào bảng 1.3, cho thấy đa số thầy cô thường rèn kĩ năng chính tả cho học sinhtrong giờ học Chính tả, 2/2 thầy cô chiếm 100% ở mức độ rất đồng ý Thời gian luyệntập ở nhà cũng được thầy cô chú trọng, 2/2 thầy cô đồng ý chiếm 100% Luyện tậpchính tả trong các giờ học khác cũng được quan tâm, 1/2 thầy cô đồng ý chiếm 50% vàcũng cùng tỉ lệ đó 1/2 thầy cô sử dụng ở mức độ rất đồng ý chiếm 50%

Trang 30

Bảng 1.4: Thầy, cô thấy trong quá trình học tập, học sinh thường hay mắc nhữnglỗi cơ bản nào?

STT Lỗi sai cơ bản

Mức độRất nhiều

(%)

Nhiều(%)

Rất ít(%)

Không có(%)

(0%)

2(100%)

0(0%)

0(0%)

(0%)

0(0%)

2(100%)

0(0%)

(0%)

0(0%)

2(100%)

0(0%)

(0%)

1(50%)

1(50%)

0(0%)

(0%)

0(0%)

1(50%)

1(50%)

Ở bảng 1.4, tổng hợp ý kiến của giáo viên về các lỗi sai cơ bản của học sinh chothấy: sai về phụ âm đầu là nhiều, 2/2 giáo viên chọn ở mức độ nhiều chiếm 100% Sai

về lỗi viết hoa tự do ít hơn, 1/2 giáo viên thấy ở mức độ nhiều chiếm 50% và 1/2 giáoviên nhận thấy ở mức độ rất ít chiếm 50% Các lỗi còn lại ít gặp hoặc không có

Qua kết quả khảo sát lấy ý kiến của các giáo viên về dạy chính tả cho học sinhcho thấy, các thầy cô đã rất quan tâm đến phân môn này Sử dụng các phương pháp dạyhọc đa dạng, cách thức hợp lí và cùng với đó là phát hiện chính xác những lỗi sai cơ bảncủa học sinh Thầy cô đã tận dụng thời gian một cách phù hợp để rèn kĩ năng chính tảcho học sinh

1.2.2.2 Thực trạng học chính tả nghe - viết của học sinh

tự tìm tòi, khám phá tìm ra cái mới Học sinh ngoan, chú ý nghe thầy cô giảng và có

nhiều em tích cực trong tiết học Đa số các em tập trung học tập, trong khi nghe - viết

bài HS không nói chuyện riêng, ngược lại các em rất chăm chú viết bài

b) Hạn chế

Trang 31

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên thì vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau: việc

lĩnh hội tri thức của một số học sinh còn hạn chế, còn có những em không chú ý đến bàihọc, không chịu tư duy, suy nghĩ dẫn đến lực học của học sinh không được đều Họcsinh gặp nhiều khó khăn trong việc học và ghi nhớ quy tắc chính tả Kĩ năng nghe - viếtcủa các em chưa vững chắc và chữ viết của các em chưa được đẹp

Qua khảo sát về học sinh chúng tôi đã tổng hợp lại thành các bảng sau:

Bảng 1.5: Tổng hợp ý kiến của học sinh về hứng thú học Chính tả

Trang 32

chính tả dễ và rất dễ chiếm tỉ lệ ít, dễ chiếm 12/44 HS chiếm 27,27% và rất dễ chiếm8/44 HS chiếm 18,18%.

Bảng 1.7: Theo em để nắm vững kiến thức chính tả nên học như thế nào là phùhợp?

Rất đồng ý(%)

Đồng ý(%)

Rất khôngđồng ý (%)

Không đồng

ý (%)1

Chỉ cần học những

kiến thức GV dạy

trên lớp

00%

1636,36%

00%

3963,63%

00%

00%

00%Qua bảng 1.7, cho thấy việc xác định phương hướng học của học sinh khi họcphân môn Chính tả chưa đúng đắn ở chỗ còn có nhiều học sinh cho rằng chỉ cần họcnhững kiến thức GV dạy trên lớp,có 16 HS chiếm 36,36% Tiêu chí thứ 2, học trên lớpkết hợp với việc làm thêm bài tập ở nhà, có 44/44 HS chiếm 100% chọn ở mức độ rấtđồng ý

Bảng 1.8: Trong giờ học Chính tả em có tích cực phát biểu xây dựng bài không?STT Tiêu chí lựa chọn

Mức độRất đồng ý

%

Đồng ý

%

Rất khôngđồng ý %

00%

00%

0%

1534,09%

00%

00%

0%

715,91%

00%

00%

0%

920,46%

00%

00% Bảng 1.8 cho thấy, số HS đồng ý với mức độ không phát biểu và ít phát biểu trongtiết học Chính tả còn chiếm tỉ lệ cao, không phát biểu có 13/44 HS chiếm 29,54%, ítphát biểu có 15 HS chiếm 34,09% Tỉ lệ HS có phát biểu và phát biểu nhiều chiếm tỉ lệthấp, chỉ có 7 HS đồng ý ở mức có phát biểu chiếm 15,91% và số HS phát biểu nhiềuchỉ có 9/44 chiếm 20,46%

Bảng 1.9: Trong một tiết học Chính tả em thường gặp khó khăn ở phần nào?

Trang 33

STT Tiêu chí lựa chọn

Mức độRất đồng ý

%

Đồng ý

%

Rất khôngđồng ý

%

Không đồngý

%

1 Phần hướng dẫn

viết chính tả

00%

1125%

00%

00%

2 Phần đọc, viết

chính tả

00%

1125%

00%

00%

0%

2250%

00%

00%Nhìn vào bảng 1.9 thấy được, HS gặp khó khăn trong học chính tả vẫn còn nhiều.Trong đó, số HS cho rằng khó khăn trong phần hướng dẫn viết chính tả là 11 HS chiếm25%, khó khăn trong phần đọc viết chính tả là 11 HS chiếm 25%, khó khăn trong phầnlàm bài tập là 22 HS chiếm 50% So sánh kết quả ta thấy, số HS gặp khó khăn trongphần vận dụng lí thuyết vào làm bài tập chiếm tỉ lệ cao nhất

Như vậy, qua kết quả tổng hợp lấy ý kiến của học sinh từ câu hỏi khảo sát chothấy nhiều học sinh không hứng thú với việc học chính tả Điều đáng quan tâm ở đây là

số học sinh thích học môn này còn ít Các em cho rằng học phân môn này khó học

- Kết quả bài kiểm tra chính tả bài: Chiếc áo len.

Qua bài kiểm tra chính tả chúng tôi nhận thấy học sinh lớp 3 Trường Tiểu họcChiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La nhiều em còn viết sai chính tả Các lỗi còn tồn tạiđược nhóm đề tài thống kê trong bảng dưới đây

Bảng 1.10: Lỗi chính tả của học sinh

LỗiPhụ âm

đầu Âm chính Âm cuối

Trang 34

Bảng 1.10 cho thấy, số học sinh viết sai phụ âm đầu nhiều nhất các lỗi sai còn lại,gồm có 13 em Tiếp đến là học sinh viết sai âm chính và âm cuối với số lượng ít hơn, lỗi

âm chính có 9 em, lỗi âm cuối cũng là 12 em Còn lỗi viết hoa tự do và lỗi về dấu thanh

-Học sinh tiểu học thường hay nhầm lẫn khi viết phụ âm đầu, các em hay nhầmphụ âm đầu với âm cuối khi viết hoặc là dùng từ sai chính tả

Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu như sau: Âm đầu tr/ch:

“Trung đoàn” viết thành “Chung đoàn”, từ “trìu mến” viết thành “chìu mến” Âm đầur/d/gi: “gia đình” viết thành “da đình” hay “ra đình” Âm đầu ngh/ng: “nghỉ ngơi” viếtthành “ngỉ ngơi”, “nghe” viết thành “nge” Âm đầu s/x: “chim sẻ” viết thành “chim xẻ”,

“sẽ” viết thành “xẽ”

+ Về âm chính

Âm chính là âm đứng ở vị trí thứ ba trong âm tiết (nếu âm trong âm tiết có âmđệm) và đứng ở vị trí thứ hai nếu trong âm tiết không có âm đệm, tức ở vị trí thứ haitrong vần Âm chính là hạt nhân của âm tiết, là âm mang “đường nét” cơ bản của thanhđiệu Trong cấu tạo từ tiếng Việt, âm đầu có thể khuyết nhưng âm chính không bao giờkhuyết Nếu không có âm chính thì từ không mang nghĩa Khi viết chính tả HSTH hayviết sai âm chính, hay nhầm lẫn khi viết các nguyên âm đôi

Học sinh hay sai nhất khi viết âm chính trong các vần sau đây: vần ay/ây: “mây”viết thành “may”, “thấy” viết thành “tháy”, vần uôn/uân: “mong muốn” viết thành

“mong muấn”,

+ Về âm cuối

Âm cuối là âm đúng ở vị trí cuối vần và cũng là vị trí cuối âm tiết Đó là âm kếtthúc âm tiết Âm vị đảm nhiệm vị trí này là bán âm cuối hoặc phụ âm cuối Vị trí âm

Trang 35

cuối có thể khuyết âm vị Khi viết học sinh hay thường nhầm âm cuối với âm đầu, bịthiếu âm cuối hoặc sai âm cuối.

Học sinh thường viết lẫn lộn các âm cuối như sau: âm cuối ng/nh: “chúng mình”viết thành “chúnh mình”, “nhanh nhẹn” viết thành “nhang nhẹn”; âm cuối t/c: “chiếcáo” viết thành “chiết áo”; âm cuối m/n: “thiếu thốn” viết thành “ thiếu thốm ”

+ Lỗi viết hoa tự do

Lỗi viết hoa tự do là những lỗi mà HS viết hoặc không viết hoa đúng theo yêuquy tắc chính tả tiếng Việt

Học sinh hay viết hoa tự do ở những câu từ không yêu cầu phải viết hoa như viếthoa giữa câu, cuối câu mặc dù những từ ngữ đó không phải tên riêng, tên địa danh hay

cơ quan, tổ chức nào cả Ví dụ: trong bài chính tả có câu “Trung đoàn trưởng bước vàolán, nhìn cả một lượt” có em viết “Trung đoàn Trưởng bước vào lán, nhìn cả một lượt”.Như vậy trong câu này HS này đã viết hoa từ “Trưởng”, đó là không đúng vì ta khôngcần phải hoa vì đây không phải là tên riêng và càng không phải đứng đầu câu trong bàiviết

Học sinh hay quên viết hoa đầu câu, tên riêng và tên các cơ quan tổ chức Ngaysau dấu chấm để khởi đầu một câu thì ta phải viết hoa nhưng vẫn còn tồn tại một số emhay quên điều này Cùng với đó, lại có một số em không viết hoa tên người, tên cơquan, địa danh, Ví dụ: Võ Nguyên Giáp có em lại viết là Võ nguyên Giáp, Hà Nội có

em viết là hà nội,

+ Về thanh điệu

Trong một âm tiết, âm chính và thanh điệu không bao giờ vắng mặt Trong tiếngViệt có 6 thanh, thể hiện trên chữ viết bằng 5 dấu thanh (có một thanh là thanh khôngdấu), đó là các thanh: thanh ngang (thanh không), thanh huyền, thanh ngã, thanh hỏi,thanh sắc và thanh nặng Khi viết học sinh hay nhầm lẫn giữa các thanh với nhau, nhất

là với HS dân tộc thiểu số rất hay nhầm thanh ngã với thanh sắc, thanh hỏi với thanhngã, Bên cạnh đó còn có những trường hợp HS viết thiếu dấu thanh, mờ dấu thanhhoặc vị trí dấu thanh đặt chưa đúng chỗ dẫn đến sai nghĩa của từ

Học sinh hay viết thừa, thiếu hoặc sai dấu thanh khá nhiều Còn viết nhầm lẫn

giữa thanh ngã (~) và thanh sắc (′), thanh huyền (`) và thanh sắc (′) Ví dụ: “cũng” viếtthành “cúng”, “suy nghĩ” viết thành “suy nghí”, “Trung đoàn” viết là “Trung đoán”,

Trang 36

Vị trí của các dấu thanh đặt chưa đúng chỗ quy định và sử dụng nhầm dấu thanh.

Có dấu thì đặt quá gần, có dấu thì đặt quá sát hoặc mờ và thường nhầm lẫn giữa thanhngã với thanh sắc Những lỗi này nguyên nhân chủ yếu cũng do các em chưa nắm đượcquy tắc đặt dấu thanh Còn tồn tại một số học sinh chưa tập trung, nắn nót viết bài nênrất nhiều em có suy nghĩ viết cho xong bài chứ không quan tâm đến hiệu quả của bàinghe - viết

Không nắm vững cấu tạo của âm tiết: thanh, vần, âm đầu, âm đệm, âm chính, âmcuối dẫn đến việc sắp xếp thứ tự sai trong các tiếng

Việc viết hoa ở đầu dòng, viết hoa sau dấu chấm và viết hoa các danh từ riêngcòn chưa thực hiện đúng và đôi khi giáo viên cần phải nhắc hoặc gợi ý

Như vậy, có thể thấy được tình trạng viết sai chính tả của học sinh lớp 3 TrườngTiểu học Chiềng Pha vẫn còn tồn tại khá nhiều, đặc biệt là phụ âm đầu Vì vậy, nhữngbiện pháp khắc phục những lỗi sai mà các em hay gặp phải là rất cần thiết

Nhóm tác giả tiến hành xếp loại bài kiểm tra chính tả nghe - viết của học sinh vớimức đánh giá: giỏi, khá, trung bình, yếu Kết quả được thống kê trong bảng sau:

Trang 37

Bảng 1.11: Đánh giá kết quả bài kiểm tra chính tả

715,91%

49,09%

18,18%

1329,55%

1534,09%

818,18%

Từ bảng 1.11, đánh giá kết quả bài kiểm tra chính tả cho thấy, bài chính tả xếp loạitrung bình chiếm tỉ lệ nhiều nhất 8/44 HS chiếm 34,09%, tỉ lệ bài xếp loại khá - giỏichiếm tỉ lệ ít hơn, giỏi có 8/44 HS chiếm 18,18%, khá có 13/44 HS chiếm 29,55% Vẫncòn không ít bài kiểm tra chính tả xếp loại yếu, 8/44 HS chiếm 18,18% Vì vậy cần cónhững biện pháp nâng cao hiệu quả phân môn Chính tả cho học sinh, để tăng số bài viếtchính tả xếp loại khá giỏi lên cao hơn, số bài thuộc mức trung bình giảm xuống và khắcphục số bài viết yếu kém

c) Nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh

Qua khảo sát các lỗi của HS Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn

La, nhóm tác giả chúng tôi xác định được lỗi chính tả của các em, bao gồm lỗi sai vềphụ âm đầu, sai âm chính, sai âm cuối, lỗi viết hoa tự do và sai về dấu thanh Chúng tôixác định được những nguyên nhân tồn tại những lỗi sai đó như sau:

Trang 38

Nguyên nhân thứ nhất, do trình độ nhận thức của học sinh: để có được sự yêu

thích, sự hứng thú với môn học thì đầu tiên HS phải nhận thức được tầm quan trọng củamôn học Tuy nhiên, ở một số trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số thì khả năng nhậnthức của các em về các môn học và đặc biệt là phân môn Chính tả vẫn còn hạn chế Đốivới HS lớp 3 nói chung và HS lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha nói riêng thì trình độnhận thức của học sinh chưa cao Bởi đây là một trường hầu như là con em dân tộc thiểu

số Vì vậy khả năng tiếp nhận tri thức khoa học còn hạn chế, chưa kịp thời thích nghigiữa trình độ nhận thức với khối lượng kiến thúc mà GV đề ra Đối với những tri thứckhoa học, các quy tắc chính tả, Các em cũng chưa có khả năng ghi nhớ một cách bềnvững Viết các phụ âm đầu, vần khi nghe GV còn theo một sở thích, thói quen

Nguyên nhân thứ hai, nguyên nhân về tâm lí: Các em học sinh còn có tâm lí

không mạnh dạn, rụt rè, sợ, ngại ngùng Vì vậy nên giữa GV và học sinh còn có khoảngcách dẫn đến việc trao đổi bài giữa học sinh và GV còn ít Có nhiều em mặc dù chưahiểu bài, phân vân không biết dùng từ nào hay cụ thể hơn là bài tập chính tả muốn hỏithầy cô nhưng lại không dám Có những bộ phận học sinh không tự tin, can đảm đểtrình bày ý kiến của mình Trong một lớp học luôn có những bạn nổi và kém không đều,nhất là học theo chương trình VNEN hiện nay Còn có trường hợp không phải khôngbiết câu trả lời mà không dám trả lời, không bao giờ muốn trình bày ý kiến của mình tạothành thói quen xấu khiến lớp học bị trầm, thiếu sôi nổi

Thứ ba, do thời gian luyện viết chính tả còn hạn chế: đối với Chương trình học

VNEN thì học sinh tiểu học chỉ học trên lớp, tuy nhiên thời gian học Chính tả trên lớpkhông nhiều mà trình độ tiếp thu của các em còn chưa cao, vì vậy ảnh hưởng đến kĩnăng của học sinh Một tiết Chính tả trên lớp GV không thể chỉnh sửa lỗi cho tất cả các

em học sinh Có nhiều em chưa thực sự tự giác trong học tập, việc luyện viết và ý thức

tự học chưa cao dẫn đến kết quả học tập thấp.

Thứ tư, do học sinh chưa thuộc quy tắc chính tả: để viết đúng chính tả thì yêu

cầu cần thiết nhất là HS phải nắm được quy tắc chính tả Tuy nhiên, khi nói đến quy tắcchính tả có rất nhiều em HS lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha còn chưa thực sự hiểu

và nhớ được những quy tắc cần thiết Ý thức học tập của các em học sinh còn kémkhông chịu để ý đến các quy tắc chính tả, các em thờ ơ với việc học các quy tắc này vàxem như đó là không cần thiết

Trang 39

Thứ năm, do học sinh chưa hiểu nội dung ngữ nghĩa của các từ: nghĩa của từ là

khái niệm về sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào trong ngônngữ, được ngôn ngữ hóa Từ trong tiếng Việt đều mang nghĩa, ít nhất trong câu văn cụthể Khi học sinh hiểu được nghĩa của từ thì các em sẽ hạn chế được những lỗi sai cơbản Do các em không hiểu được nghĩa của từ nên khi viết chính tả các em chỉ viết theocảm tính, không đúng quy tắc chính tả tiếng Việt và cũng dẫn đến nghĩa của từ sai Họcsinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha viết sai lỗi chính tả rất nhiều và một phầnnguyên nhân là không hiểu nghĩa của từ Từ những nguyên nhân về trình độ nhận thứccủa các em còn kém, khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt chưa nhiều và kiến thưc vềkhoa học, về cuộc sống xã hôi còn hạn chế vậy nên dẫn đến hiểu sai nghĩa của từ Vìvậy, trước tình trạng viết sai lỗi chính tả của HS ngoài những biện pháp khác thì nên cầncủng cố cho HS hiểu hơn về nghĩa của từ tiếng Việt

Thứ sáu, do các em nghe và nhận biết âm, vần sai dẫn đến viết sai chính tả: đọc

đúng là cơ sở của viết đúng Trong chính tả nghe viết, khi GV đọc đúng mà học sinh lạikhông có kĩ năng nghe và nhận biết được từ ngữ cần viết thì cũng sẽ dẫn đến viết saichính tả Trong bài Chính tả nghe – viết, khi GV đọc những âm khó, tiếng khó, từ khóhọc sinh hay bị nhầm lẫn Cùng với hệ thống tiếng Việt có nhiều âm, vần khó phân biệthay bị nhầm Ví Dụ: x/s , tr/ch , l/đ , d/r/gi , t/th , v/b, gh/g , i/y , vần iu/iêu , ưu/ươu, Mặt khác trong một số trường hợp chính tả tiếng Việt phải đặt vào trong văn cảnh, gắncho nó một ý nghĩa cụ thể thì mới có thể phân biệt rạch ròi được Ví dụ: “trung” trong từtrung thành, trung thực; “chung” trong chung thủy, chung tình

Thứ bảy, do học sinh chưa phân biệt được các dấu thanh và cấu tạo của các vần khó: lỗi viết sai thanh điệu do HS không phân biệt được hình dạng của các thanh Học

sinh ở đây còn hay nhầm giữa dấu ngã và dấu sắc, dấu thanh còn mờ, đặt dấu khôngđúng chỗ dẫn đến viết sai, bài chính tả không đạt yêu cầu Các em hay nhầm lẫn giữanguyên âm /e/ với /a Ví Dụ: Lèng -> Lành, kẻng -> cảnh

Thứ tám, do ảnh hưởng từ tiếng địa phương

Trong thực tế cuộc sống và nhất là trong nhà trường tiểu học ở những vùng cócon em dân tộc thiểu số, hiện trạng giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ là rất phổ biến Nó diễn

ra ở hằng ngày, hằng giờ trong các gia đình và cả ngoài xã hội Giáo sư Hoàng Tuệ đãtừng nhận xét: “Trong đời sống xã hội ở địa phương, tiếng địa phương, giọng địaphương là thân thương và luôn luôn quan trọng về kinh tế, văn hóa, nghệ thuật” (Hoàng

Trang 40

Tuệ - Vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ qua lịch sử ngôn ngữ học, GD 1993, trang 16) Vậy,

cái cần giải quyết là khắc phục những lỗi do phương ngữ tạo ra trên cơ sở nắm vữngnhững đặc điểm của nó chứ ta không thể bắt tất cả mọi người không được dùng tiếng

mẹ đẻ trong giao tiếp Học sinh Trường Tiểu học Chiềng Pha chủ yếu là dân tộc Thái,dân tộc Thái không có phụ âm đầu “đ” nên thường phát âm và phân biệt phụ âm đầu

“đ” thành “l” , và hay viết “v” thành “b” Ví dụ: “đến” đọc là “lến”, “đũa” đọc là “lũa”,

“vở viết” viết thành “bở biết”,

Nguyên nhân cuối cùng, lỗi do nói ngọng, phát âm sai dẫn đến viết sai: nói

ngọng và phát âm sai là hiện tượng nó hoặc phát âm không đúng với cách phát âm tiếngViệt Khi phát âm sai sẽ dẫn đến ý nghĩa của câu, từ đó cũng sai Còn đối với viết chính

tả, khi phát âm sai thì phần lớn là sẽ viết sai quy tắc chính tả Hiện tượng nói ngọng củahọc sinh tồn tại rất nhiều Đây là một phần nguyên nhân dẫn đến các em viết sai chính

tả Ở nhà các em giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, ít giao tiếp bằng tiếng Việt, vì vậy nên rấtkhó để sửa lỗi nói ngọng, phát âm sai Bên cạnh đó còn có một số em mặc dù ở trêntrường nhưng vẫn nói chuyện, giao tiếp với nhau bằng tiếng dân tộc Nói ngọng, phát

âm sai và dẫn đến viết sai đó là một điều khó tránh khỏi

Từ những lí luận đã có chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn về dạyhọc chính tả ở Trường Tiểu học Chiềng Pha qua quá trình khảo sát Những thuận lợi cóđược và khó khăn còn gặp phải của thầy và trò Trường Tiểu học Chiềng Pha Chúng tôi

đã thống kê được những lỗi chính tả cụ thể của học sinh lớp 3, phát hiện và tìm hiểuđược những lỗi mà các em thường gặp phải và từ đó tìm đến nguyên nhân tồn tại các lỗisai đó

Ngày đăng: 14/10/2020, 08:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáodục Hà Nội
Năm: 2005
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo dự án phát triển giáo viên tiểu học (2006), Dạy học lớp 3 theo chương trình tiểu học mới, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học lớp 3theo chương trình tiểu học mới
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo dự án phát triển giáo viên tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
3. Trần Thị Thanh Hồng (2015), Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn học của sinh viên nghành Giáo dục Tiểu học ở trường Đại học Tây Bắc (Đề tài) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cảm thụvăn học của sinh viên nghành Giáo dục Tiểu học ở trường Đại học Tây
Tác giả: Trần Thị Thanh Hồng
Năm: 2015
4. Đặng Thị Lanh (chủ biên) (1996), Tiếng Việt, tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt
Tác giả: Đặng Thị Lanh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
5. Đào Ngọc (chủ biên) (1998), Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt
Tác giả: Đào Ngọc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
6. Phan Ngọc (1982), Chữa lỗi chính tả cho học sinh, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữa lỗi chính tả cho học sinh
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
7. Lê Phương Nga (chủ biên) (2011), Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học I, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học I
Tác giả: Lê Phương Nga (chủ biên)
Nhà XB: NXBĐại học sư phạm
Năm: 2011
8. Lê Phương Nga (2011), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại họcsư phạm
Năm: 2011
10. Nguyễn Quang Ninh (2008), Phương pháp dạy học Tiếng Việt Tiểu học theo chương trình SGK mới, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt Tiểu học theochương trình SGK mới
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2008
11. Đinh Thị Oanh (chủ biên) (2006), Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học - Tài liệu đào tạo GV, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ởTiểu học - Tài liệu đào tạo GV
Tác giả: Đinh Thị Oanh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2006
12. Nguyễn Kim Thản (1984), Từ điển chính tả thông dụng, NXB Đại học và THCN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chính tả thông dụng
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: NXB Đại học và THCN HàNội
Năm: 1984
13. Bùi Minh Toán (chủ biên) (1996), Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Bùi Minh Toán (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
14. Hoàng Văn Thung (2006), Bồi dưỡng và nâng cao tiếng Việt tiểu học lớp 3, 4 (tập 1 và 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng và nâng cao tiếng Việt tiểu học lớp 3, 4
Tác giả: Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
15. Hoàng Văn Thung (2003), Dạy học chính tả ở tiểu học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học chính tả ở tiểu học
Tác giả: Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2003
16. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2007), SGK Tiếng Việt 3 (tập 1, tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt 3
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáodục
Năm: 2007
17. Nguyễn Trí (2007), Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2007
18. Trần Trọng Thủy (chủ biên) (1998), Tâm lí học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Tác giả: Trần Trọng Thủy (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
9. Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w