Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam vừa thấp, vừa thiếu ổn định: tỷ suất sinh lời VLĐ giảm liên tiếp ba năm gần đây, trong khi kỳ luân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH - -
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Tài chính
Người huớng dẫn khoa học: PGS TS Bùi Văn Vần
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện,
họp tại Học viện Tài chính
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
Và Thư viện Học viện Tài chính
Trang 31
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thép là ngành kinh tế - kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều ngành nghề, hoạt động trong nền kinh tế, từ cơ khí chế tạo, xây dựng dân dụng và xây dựng công nghiệp, công nghiệp ô tô, xe máy, đóng tàu đến công nghiệp quốc phòng, công nghiệp hàng không - vũ trụ của một quốc gia Có thể khẳng định rằng: trình độ phát triển của ngành thép nói chung, sự phát triển của các DN ngành thép nói riêng, luôn gắn liền và tác động không nhỏ đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia
Do đặc điểm ngành nghề kinh doanh, VLĐ của các DN ngành thép thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của DN Vì vậy, hiệu quả sử dụng VLĐ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh và hiệu quả hoạt động của các DN ngành thép Ở Việt Nam, thép là một trong những ngành kinh tế trọng điểm, tổng giá trị sản phẩm của ngành thép năm 2016 chiếm khoảng 5% GDP cả nước Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam vừa thấp, vừa thiếu ổn định: tỷ suất sinh lời VLĐ giảm liên tiếp ba năm gần đây, trong khi kỳ luân chuyển tiền mặt có xu hướng tăng và luôn cao hơn mức trung bình của các DN Việt Nam Điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả hoạt động của các DN ngành thép Việt Nam Tình hình trên đã đòi hỏi cần có những nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép trong những năm qua Qua đó, chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân đã dẫn tới những hạn chế về hiệu quả sử dụng VLĐ, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép trong thời gian tới Đó chính
là lý do NCS đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
lưu động của các doanh nghiệp ngành thép Việt Nam” cho bản Luận án Tiến
sĩ kinh tế của mình
Trang 42
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Mẫu nghiên cứu gồm 26 DN Việt Nam hoạt động trong
lĩnh vực SXKD các sản phẩm thép
+ Về thời gian: 2009 - 2018
4 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về VLĐ, quản trị VLĐ, và hiệu quả sử dụng VLĐ Theo đó, các học giả trên thế giới
nghiên cứu VLĐ trên hai khía cạnh chính: (1) Nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả sử dụng VLĐ với khả năng sinh lời của DN (2) Nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ của DN
Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đi theo hai hướng, trong đó hướng thứ nhất giống với các học giả trên thế giới, đó là nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả sử dụng VLĐ với khả năng sinh lời của các DN Việt Nam Còn hướng thứ hai đó là nghiên cứu giải pháp tăng cường quản trị VLĐ tại các DN của một
số ngành hoặc tại một DN cụ thể
5 Khoảng trống nghiên cứu
Thứ nhất, phần lớn tập trung nghiên cứu về mối quan hệ giữa hiệu quả sử
dụng VLĐ với khả năng sinh lời của DN thông qua các chỉ tiêu Kỳ luân chuyển tiền mặt, Kỳ luân chuyển HTK, Kỳ thu tiền bình quân, Kỳ trả tiền bình quân mà các kết quả nghiên cứu và nhiều đánh giá, nhận định lại không hoàn toàn ăn khớp, thậm chí còn trái ngược nhau;
Trang 53
Thứ hai, hoặc tiến hành nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
sử dụng VLĐ của DN trên phạm vi các quốc gia, ngành nghề khác nhau; Hoặc nghiên cứu về các giải pháp tăng cường quản trị VLĐ nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng VLĐ của các DN tại một ngành, hoặc nhóm ngành cụ thể, trong một giai đoạn cụ thể
Thứ ba, các nghiên cứu đã qua thường dựa trên mẫu đại diện cho tất cả các
DN của một quốc gia; hoặc nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN thuộc các ngành khác ở Việt Nam Đến nay chưa hề có nghiên cứu nào chuyên sâu về tác động của các nhân tố đối với hiệu quả sử dụng VLĐ, cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành Thép Việt Nam Vì vậy, đề tài mà NCS lựa chọn đảm bảo tính độc lập, không hề trùng lắp với bất kỳ các đề tài luận án, hoặc công trình nghiên cứu nào đã thực hiện và công
bố mà NCS được biết
6 Những điểm mới và đóng góp của luận án
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về VLĐ và hiệu quả
sử dụng VLĐ Trong đó, hiệu quả sử dụng VLĐ được tiếp cận dưới hai góc độ: (1) Hiệu quả tổng hợp sử dụng VLĐ; và (2) Hiệu quả sử dụng VLĐ trong từng
khâu
Thứ hai, tổng hợp những kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của
các DN trên thế giới, đứng từ nhiều góc độ khác nhau: chính phủ, DN Hoa Kỳ, Hàn Quốc, và từ các hãng tư vấn tài chính quốc tế Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho các DN Việt Nam
Thứ ba, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép
Việt Nam trong khoảng thời gian 10 năm từ 2009 - 2018, qua đó chỉ ra những hạn chế cơ bản gồm: (1) Ngoại trừ nhóm DN quy mô lớn, hiệu quả sử dụng VLĐ
ở các nhóm DN còn lại trong ngành thép Việt Nam có dấu hiệu giảm sút; (2) Hiệu quả sử dụng vốn tồn kho dự trữ của nhóm DN Thép không gỉ và Tôn mạ - Ống
Trang 64
thép chưa được cải thiện; (3) Hiệu quả sử dụng vốn về nợ phải thu xuất hiện những vấn đề đáng lưu ý; (4) Hiệu quả sử dụng vốn bằng tiền diễn biến tiêu cực
ở hầu hết các nhóm DN ngành thép Việt Nam
Thứ tư, bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, luận án đã xác định các
nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng VLĐ của DN ngành thép Việt Nam, đó là: tăng trưởng kinh tế, quy mô doanh nghiêp, khả năng sinh lời, tỷ trọng tài sản cố định hữu hình, và đặc thù ngành nghề kinh doanh
Thứ năm, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam trong bối cảnh kinh tế xã hội 2020 - 2030, tầm nhìn 2035
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp định tính: Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp diễn
giải, quy nạp, phân tích, tổng hợp, so sánh để mô tả số liệu thống kê về hiệu quả
sử dụng VLĐ của các DN trong ngành thép Việt nam
7.2 Phương pháp định lượng: Luận án sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng
để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng với hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành
thép Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2018
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu thành ba chương như sau:
- Chương 1: Lý luận về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động
của doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các doanh
nghiệp ngành thép Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các
doanh nghiệp ngành thép Việt Nam
Trang 75
CHƯƠNG 1: CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI QUÁT VỀ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Vốn lưu động và vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chu chuyển của vốn lưu động
Vốn lưu động của DN là số vốn ứng trước để hình thành nên TSLĐ, đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN diễn ra một cách thường xuyên, liên tục
Đặc điểm chu chuyển chủ yếu của VLĐ như sau:
(1) VLĐ tham gia vào một chu kỳ SXKD, và luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các giai đoạn trong quá trình SXKD, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu trở thành vật tư, hàng hoá dự trữ sản xuất, tiếp đến trở thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm và cuối cùng lại trở về hình thái vốn bằng tiền;
(2) Kết thúc mỗi chu kỳ kinh doanh, giá trị của VLĐ được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm hàng hoá, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại khi DN thu được tiền bán sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
(3) Vòng quay VLĐ gắn liền với việc DN kết thúc một chu kỳ kinh doanh Quá trình trên diễn ra thường xuyên, liên tục, được lặp đi lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh, tạo thành vòng tuần hoàn của VLĐ
1.1.1.2 Vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp
Thứ nhất, VLĐ là điều kiện vật chất tiên quyết của quá trình SXKD Thứ hai, thông qua phân tích đánh giá sự vận động của VLĐ trong các
khâu giúp nhà quản trị DN có thể kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh doanh của
DN
1.1.2 Phân loại vốn lưu động
Theo hình thái biểu hiện, VLĐ có thể chia thành: vốn bằng tiền, nợ phải
Trang 86
thu và vốn tồn kho dự trữ
Theo vai trò của VLĐ trong quá trình SXKD, VLĐ chia thành các loại chủ yếu sau: VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất; VLĐ trong khâu sản xuất; VLĐ trong
khâu lưu thông
1.1.3 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu VLĐ của doanh nghiệp
- Nhân tố về mặt cung ứng vật tư:
- Nhân tố về mặt sản xuất:
- Nhân tố về mặt lưu thông:
1.1.4 Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Để hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên và liên tục,
DN luôn cần một lượng VLĐ nhất định Lượng VLĐ này được gọi là nhu cầu VLĐ của DN Dựa theo tính chất (hoặc thời hạn phát sinh) có thể chia nhu cầu VLĐ của DN ra thành 2 loại: nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết của DN và nhu cầu VLĐ cần thiết không thường xuyên (nhu cầu ngắn hạn, nhu cầu tạm thời) Trong phạm vi luận án, tác giả tập trung vào nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết của DN, do vậy, thuật ngữ Nhu cầu VLĐ được hiểu là Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết của DN
Trang 97
1.1.5 Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp
VLĐ của DN là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động của DN nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của DN thực hiện được thường xuyên liên tục Để có đủ VLĐ đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh các DN phải khai thác từ nhiều nguồn khác nhau Mỗi loại hình DN khác nhau ở từng thời điểm khác nhau thì nguồn hình thành VLĐ cũng khác nhau Có thể phân loại
nguồn VLĐ của DN theo nhiều phương pháp, nhưng chủ yếu là phân loại căn cứ
theo thời gian huy động và sử dụng vốn Cụ thể: VLĐ được đảm bảo từ hai nguồn:
nguồn VLĐ thường xuyên và nguồn VLĐ tạm thời
1.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.2.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng VLĐ của DN là một phạm trù kinh tế phản ánh khả năng tối ưu hóa lượng VLĐ sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra được lượng lợi nhuận tối đa Hiệu quả sử dụng VLĐ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của một DN và đặc biệt nó ảnh hưởng quyết định đến khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của DN
1.2.2 Quản lý sử dụng VLĐ và hiệu quả sử dụng VLĐ
1.2.2.1 Vốn tồn kho dự trữ và hiệu quả sử dụng vốn tồn kho dự trữ
* Vốn tồn kho dự trữ và công tác quản lý sử dụng vốn tồn kho dự trữ
Trong DN sản xuất, vốn tồn kho dự trữ (còn gọi là vốn vật tư - hàng hóa, vốn về HTK) là giá trị các loại nguyên, nhiên, vật liệu, công cụ - dụng cụ (gọi chung là vật tư dự trữ sản xuất); giá trị các sản phẩm dở dang và bán thành phẩm
tự chế (gọi chung là sản phẩm dở dang) và giá trị các loại hàng hóa, thành phẩm chờ bán Trong các DN SXKD, vốn tồn kho dự trữ là bộ phận thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số VLĐ Do vậy, tình hình quản lý và sử dụng vốn tồn kho dự trữ nói chung, hiệu quả sử dụng vốn tồn kho dự trữ nói riêng có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sử dụng VLĐ của DN
Trang 108
* Hiệu quả sử dụng vốn tồn kho dự trữ
Hiệu quả sử dụng vốn tồn kho dự trữ có thể được nhìn nhận thông qua hai chỉ tiêu là Số vòng quay HTK và Kỳ luân chuyển HTK Cụ thể:
Số HTK bình quân trong kỳ
Số vòng quay HTK
1.2.2.2 Nợ phải thu và hiệu quả sử dụng vốn về nợ phải thu
* Nợ phải thu và quản lý sử dụng vốn về nợ phải thu
Nợ phải thu, hay còn gọi là các khoản phải thu, là phần vốn DN đang bị các tổ chức, cá nhân trong hoặc ngoài DN sử dụng dưới dạng chiếm dụng hoặc được cung cấp tín dụng thương mại mà DN phải có trách nhiệm thu hồi về Các khoản nợ phải thu của DN bao gồm: Giá trị hàng hóa, dịch vụ DN đã cung cấp cho khách hàng nhưng khách hàng chưa trả; Tiền trả trước cho người bán để được cung cấp hàng hóa, dịch vụ; các khoản thuế được khấu trừ; các khoản tạm ứng cho cán bộ, công nhân viên và người lao động trong DN; nợ phải thu khác như tiền bồi thường thiệt hại của cá nhân, tập thể mà DN chưa thu được Trong đó, khoản phải thu của khách hàng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất Đồng thời, tại hầu hết các DN, khoản mục nợ phải thu chiếm tỷ trọng tương đối lớn trên tổng VLĐ
* Hiệu quả sử dụng vốn về nợ phải thu
Hiệu quả sử dụng vốn về nợ phải thu là một trong những chỉ tiêu hiệu quả thành phần sử dụng VLĐ của DN Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua tốc độ luân chuyển nợ phải thu, cụ thể qua 02 chỉ tiêu:
Số nợ phải thu bình quân trong kỳ
Số vòng quay nợ phải thu
Trang 119
1.2.2.3 Vốn bằng tiền và hiệu quả sử dụng vốn bằng tiền
* Vốn bằng tiền và quản lý sử dụng vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền là một bộ phận quan trọng hàng đầu và có tính thanh khoản cao nhất trong tài sản lưu động của DN, tác động trực tiếp tới khả năng thanh toán của DN và góp phần vào việc duy trì các hoạt động của DN được diễn ra thường xuyên và liên tục Vốn bằng tiền tồn tại trực tiếp dưới hình thức tiền tệ, bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại ngân hàng và các khoản tiền đang chuyển
* Hiệu quả sử dụng vốn bằng tiền
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn bằng tiền, cần xem xét chỉ tiêu Kỳ luân chuyển tiền mặt (Cash Conversion Cycle - CCC), cụ thể:
Kỳ luân chuyển tiền mặt
= Kỳ luân chuyển HTK + Kỳ thu tiền bình quân
− Kỳ trả tiền bình quânTrong đó, kỳ luân chuyển HTK và kỳ thu tiền bình quân đã được trình bày
ở phần 1.2.2.1 và 1.2.2.2, còn kỳ trả tiền bình quân được xác định như sau:
Số vòng quay các khoản phải trả
1.2.2.4 Hiệu quả tổng hợp sử dụng VLĐ
Căn cứ theo khái niệm hiệu quả sử dụng VLĐ đã trình bày tại mục 1.2.1,
hiệu quả sử dụng VLĐ sẽ được đánh giá thông qua chỉ tiêu tỷ suất sinh lời VLĐ (Return on Working capital - ROW) Cụ thể:
Tỷ suất sinh lời VLĐ = Lợi nhuận sau thuế
VLĐ bình quân Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời VLĐ phản ánh một đồng VLĐ bình quân tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế trong kỳ Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ
Trang 1210
hiệu quả sử dụng VLĐ càng lớn và ngược lại Mục tiêu của mỗi DN trong dài hạn
là tối đa hoá lợi nhuận, do đó, tỷ suất sinh lời VLĐ là chỉ tiêu đánh giá một cách
toàn diện hiệu quả sử dụng VLĐ của DN, hay còn gọi là chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả tổng hợp sử dụng VLĐ
Ngoài ra, hiệu quả sử dụng VLĐ còn được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu hiệu suất thể hiện tốc độ luân chuyển VLĐ VLĐ luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng vốn càng cao và ngược lại Tốc độ luân chuyển VLĐ thường được phản ánh qua các chỉ tiêu số vòng quay VLĐ và kỳ luân chuyển VLĐ
ra còn một số nhân tốt khách quan khác như: tỷ giá hối đoái, các chính sách vĩ
mô của nhà nươc, chính sách tín dụng của đối thủ cạnh tranh, tín dụng của nhà cung cấp, đánh giá của nhà đầu tư
Trang 1311
của công ty, tầm nhìn và chiến lược của DN, mối quan hệ của DN với khách hàng
và với nhà cung cấp, trình độ cán bộ công nhân viên trong DN, vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG VÀ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Với những kinh nghiệm đứng từ nhiều góc độ khác nhau, từ quản lý nhà nước tới cụ thể các DN của các quốc gia trên thế giới, các DN Việt Nam có thể học hỏi được nhiều bài học Cụ thể:
Thứ nhất, CFO là người chịu trách nhiệm chính trong quản trị VLĐ Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ cần nằm trong chiến lược dài hạn của DN
Thứ ba, DN cần chú trọng giảm tối đa kỳ luân chuyển tiền mặt
Thứ tư, cải tiến kỹ thuật và áp dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ
Thứ năm, ủy ban quản lý vốn nhà nước của chính phủ nên xây dựng cẩm nang hướng dẫn quản trị VLĐ cho các DN có vốn nhà nước