BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGUYỄN THỊ THU HUYỀN TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG
Mã số: 9 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Lương Ngọc Vĩnh
2 PGS, TS Đoàn Thị Minh Oanh
HÀ NỘI - 2020
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảđược nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳcông trình của ai khác.
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thu Huyền
Trang 3MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
A Các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác tư tưởng và công tác tuyên truyền 6
B Các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ nghĩa cá nhân và chống chủ nghĩa cá nhân 13
C Các công trình nghiên cứu liên quan đến tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh 22
D Kết quả và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu liên quan đến tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh .26 Chương 1: TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 29
1.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên 29
1.2 Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh – khái niệm và các yếu tố cấu thành 48
1.3 Những yếu tố tác động đến tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay 61
Chương 2: TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 69
2.1 Khái quát thực trạng chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay 69
2.2 Thực trạng tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay 78
2.3 Những vấn đề đặt ra đối với tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh 123
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 130
3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam thời gian tới 130 3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam thời gian tới 137
KẾT LUẬN 170
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 172
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 173
PHỤ LỤC……… …… 186
Trang 4Biểu đồ 2.1 Đánh giá thái độ đối với CNCN của cán bộ, đảng viên 97 Biểu đồ 2.2 Đánh giá của cán bộ, đảng viên về sự gương mẫu trong tư tưởng,
đạo đức, lối sống của cán bộ tuyên truyền 105 Biểu đồ 2.3 Đánh giá tính bổ ích của nội dung tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí
Minh về chống chủ nghĩa cá nhân 107Biểu đồ 2.4 Mức độ sử dụng các phương pháp tuyên truyền chống CNCN trong
cán bộ, đảng viên 110Biểu đồ 2.5 Đánh giá của đội ngũ làm tuyên truyền về thực trạng trang thiết bị
và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động tuyên truyền hiện nay 114 Biểu đồ 2.6 Đánh giá mức độ quan tâm của cán bộ, đảng viên đối với nội dung
tuyên truyền 115 Biểu đồ 2.7 Khảo sát thái độ của cán bộ, đảng viên khi tham gia các hoạt động
tuyên truyền chống CNCN 116 Biểu đồ 2.8 Khảo sát xu hướng hành động của cán bộ, đảng viên khi chứng kiến
những biểu hiện CNCN của đồng nghiệp, bạn bè mình 118
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệtquan tâm đến vấn đề xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành tổ chức cáchmạng chân chính, đại biểu cho lợi ích giai cấp, nhân dân và dân tộc Và cũng chính
Hồ Chí Minh, từ rất sớm, đã chỉ ra chủ nghĩa cá nhân (CNCN) - kẻ địch “nội xâm”của những người cộng sản, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng
Người chỉ rõ: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là
vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọingười yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủnghĩa cá nhân” [57, tr.672] Hiện nay, CNCN đang biểu hiện trong một bộ phậnkhông nhỏ đội ngũ cán bộ, đảng viên và trở thành vấn nạn đối với Đảng Nghịquyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăngcường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ rõ: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó
có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiệnquan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở Nhiều tổ chức đảng,đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trongnhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấutranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổchức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén vàhiệu quả chưa cao Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rấtngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lựcxấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dântộc Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo củaĐảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối vớiĐảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ” [28,tr.12] Đây cũng chính là những biểu hiện tập trung nhất của “căn bệnh” CNCNtrong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, một trong những nguy cơ đe dọa sựtồn vong của Đảng, của chế độ Do đó, CNCN chính là kẻ địch “nội xâm” của
Trang 6những người cộng sản, “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi ngườichúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt” [56, tr.469]
Để cuộc đấu tranh chống CNCN giành thắng lợi thì trước hết mỗi cán bộ,đảng viên phải nắm vững và hiểu rõ nguồn gốc, bản chất, tác hại của CNCN …điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo dụccủa Đảng Do đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta, đứng đầu là Chủtịch Hồ Chí Minh, luôn coi công tác tuyên truyền là một trong những bộ phậntrọng yếu của công tác tư tưởng, là nhân tố cấu thành quan trọng hàng đầu trong
sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội
Tuy nhiên, hiện nay, hoạt động tuyên truyền của Đảng nói chung và tuyêntruyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên nói riêng vẫn được tiến hành thườngxuyên nhưng chất lượng, hiệu quả tuyên truyền chưa đáp ứng mục đích yêu cầubởi hoạt động tuyên truyền còn tồn tại hạn chế chưa được khắc phục Ở nhiều địaphương, bộ ngành, công tác tuyên truyền chưa được chỉ đạo thường xuyên, liêntục, thiếu trọng tâm, trọng điểm Nhận thức về công tác tuyên truyền chốngCNCN của lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị còn bị coi nhẹ, chỉ là nhiệm vụ củangành tuyên giáo; các biện pháp tuyên truyền chưa thật sự đa dạng, phong phú;kinh phí phục vụ cho công tác tuyên truyền chống CNCN còn hạn hẹp; chế độ,chính sách cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên còn hạn chế nên chưakhuyến khích để các tuyên truyền viên phát huy khả năng, tâm huyết trong côngtác tuyên truyền chống CNCN… do đó, làm cho kết quả và chất lượng tuyêntruyền chưa đạt được như mục đích đã đề ra
Vì vậy, làm thế nào để nâng cao chất lượng tuyên truyền chống CNCN trongcán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay là một đòi hỏimang tính cấp thiết, có ý nghĩa thiết thực, quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Do
đó, tác giả đã chọn vấn đề: Tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên
cứu cho luận án tiến sĩ
Trang 72 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng tuyên truyềnchống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất phươnghướng và giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ,đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về các nội dung có liên quan đến đề tài;nhận xét khái quát về kết quả đã nghiên cứu và chỉ ra hướng nghiên cứu tiếp theo;
- Xây dựng khung lý thuyết về tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ,đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Phân tích thực trạng truyên truyền chống CNCN và chỉ rõ những vấn
đề đặt ra đối với việc truyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo
tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyêntruyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở ViệtNam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ ChíMinh ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận án không đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng HồChí Minh về CNCN, mà tiếp cận chống CNCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh như
là một nội dung của hoạt động tuyên truyền
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tuyên truyền chống CNCN trong cán
bộ, đảng viên của Đảng ở Việt Nam Trong đó, tác giả chọn khảo sát bằng bảng hỏitại 10 tỉnh, bao gồm: 04 tỉnh miền Bắc, 03 tỉnh miền Trung và 03 tỉnh miền Nam
Trang 8- Phạm vi về thời gian khảo sát thực trạng: Từ năm 2011 đến năm 2019(gắn với việc ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa XI).
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng về công tác tuyên truyền
và tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoahọc, bao gồm:
Phương pháp điều tra xã hội học: làm đơn giản hóa các khái niệm để xâydựng thành các tiêu chí đánh giá, từ đó hình thành bảng hỏi và chọn mẫu mang tínhđại diện để điều tra; sử dụng phần mềm SPSS 2.0 để xử lý phiếu điều tra xã hội họcnhằm thu thập thông tin, dữ liệu sơ cấp, phục vụ cho mục đích nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiến hành nghiên cứu các công trình khoahọc, tài liệu, sách, báo, tạp chí, sách chuyên khảo có nội dung liên quan đến vấn đềtuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng HồChí Minh để tìm hiểu, kế thừa các tri thức phục vụ cho mực đích nghiên cứu
Phương pháp lịch sử và lôgic: phương pháp này dùng để tìm ra được mốiliên hệ bản chất, tính tất yếu, tính quy luật và trình tự thời gian của các vấn đề cóliên quan đến nội dung đề tài
Phương pháp phân tích, tổng hợp: được luận án sử dụng để nghiên cứu cáctác phẩm, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn kiện của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước; các báo cáo của ban tuyên giáo các cấp; các công trình khoahọc trong nước và nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án
Trang 95 Những đóng góp của luận án
Luận án góp phần làm rõ hơn nội dung về tư tưởng Hồ Chí Minh vềCNCN và chống CNCN; xây dựng được cơ sở lý luận về tuyên truyền chốngCNCN và chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Luận án đã chỉ ra được những biểu hiện mới của CNCN trong bối cảnhhiện nay Phát hiện những khó khăn, những vấn đề đặt ra trong quá trình tuyêntruyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh gắn vớibối cảnh hiện nay
Từ góc độ khoa học công tác tư tưởng, luận án đề xuất được các phươnghướng và giải pháp nâng cao chất lượng, kết quả tuyên truyền chống CNCN phùhợp với đối tượng cán bộ, đảng viên hiện nay
6 Ý nghĩa của luận án
Các phương hướng, những giải pháp được đề ra trong luận án có thể ápdụng vào thực tiễn tuyên truyền, giáo dục đấu tranh chống những nguy cơ vàbiểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức cách mạng trong đội ngũcán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay
Kết quả của luận án sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tácnghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng vào thực tiễn để tuyên truyền, giáodục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy cho lĩnhvực Hồ Chí Minh học, lĩnh vực công tác tư tưởng cũng như các ngành, lĩnh vực khoahọc xã hội có liên quan về phương pháp tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; bồidưỡng tư tưởng, tình cảm, ý thức chính trị cán bộ, đảng viên và nhân dân
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài,kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 10TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
A Các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác tư tưởng và công tác tuyên truyền
Công tác tuyên truyền là một khâu, một bộ phận cấu thành quan trọngcủa công tác tư tưởng Do đó, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng có đề cập đến công tác tuyêntruyền Trong đó, một số công trình nghiên cứu liên quan đến công tác tưtưởng và công tác tuyên truyền ở nước ngoài có:
Bài nghiên cứu của John Martin (1971), “Effectiveness of International Propaganda (Hiệu quả của tuyên truyền quốc tế) [152] Trong bài nghiên cứu
này, tác giả đã đưa ra được định nghĩa tuyên truyền và phân tích về bản chấtcủa tuyên truyền Tác giả cho rằng, tuyên truyền về bản chất chính là một hoạtđộng truyền thông có tính chất là thuyết phục
Công trình của các tác giả Everette E Dennis và John C Merrill (1991),
“Media Debates Issues in Mass Communication” (Vấn đề tranh luận trên
truyền thông về truyền thông đại chúng) [139] Ở công trình này, các tác giả đãđưa ra khái niệm về tuyên truyền trong đó đã nhấn mạnh đến bản chất củatuyên truyền với tư cách là một quá trình truyền thông với những kỹ thuật, thủthuật nhất định; mục đích của tuyên truyền là làm cho đối tượng làm, đi hoặcủng hộ niềm tin và ý tưởng của chủ thể
Cục Cán bộ, Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
(2005), “Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới”, do Trần Khang và Lê
Cự Lộc dịch [136] Cuốn sách bao gồm 9 chương với những nội dung cơ bản về:công tác tuyên truyền tư tưởng; công tác truyền thông báo chí; công tác chính trị tưtưởng… Trong đó, cũng chỉ rõ vai trò đặc biệt quan trọng của công tác tuyêntruyền: “Trên các mặt trận lãnh đạo của Đảng thì tuyên truyền tư tưởng là mặt trậnhết sức quan trọng Trong các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng thì cơ quan làmcông tác tuyên truyền tư tưởng là cơ quan hết sức quan trọng” [136, tr.8] Đặc biệt,
ở chương 9, cuốn sách đã trình bày về vấn đề xây dựng đội ngũ những người làmcông tác tuyên truyền tư tưởng, tầm quan trọng của việc xây dựng lực lượng làm
Trang 11công tác tuyên truyền và đưa ra những yêu cầu, tố chất, phẩm chất của cán bộ làmcông tác tuyên truyền tư tưởng: “trong hàng ngũ cán bộ của Đảng thì những ngườilàm công tác tuyên truyền tư tưởng là lực lượng hết sức quan trọng” [136, tr.8].
Các tác giả Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi (2008), “Xây dựng cơ chế phản hồi nhanh dư luận, tạo ra kênh thông tin thông suốt cho quyết sách của Đảng và Chính phủ” [138] Cuốn sách đã đi sâu làm rõ những vấn đề về quan
niệm và hiệu quả công tác tuyên truyền; tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả, trình
độ hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước; ý thức, niềm tin cộng sản chủ nghĩa và tính tích cực xã hội (tiêuchuẩn quyết định công tác tuyên truyền) Các tác giả cũng phân tích nhữngđiều kiện khách quan và chủ quan để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền.Trong đó, những điều kiệu khách quan là lối sống xã hội chế độ dân chủ vàmội trường xã hội; nhân tố chủ quan bao gồm trình độ lãnh đạo của Đảng đốivới công tác tuyên truyền, năng lực của cán bộ tuyên truyền, thường xuyên cảitiến và đổi mới các hình thức, phương pháp; phát huy vai trò của các cơ quantuyên truyền và các tổ chức xã hội trong công tác tuyên truyền
Tác giả B Mozias (2009), “Cơ sở tư tưởng hệ của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc”, đăng trên Tạp chí Kinh tế thế giới và các quan hệ quốc
tế [153] Bài viết đã đặt ra những yêu cầu đối với công tác tuyên truyền, nhấn
mạnh những yêu cầu công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc,trong đó, bộ máy tuyên truyền Đảng Cộng sản phải t ừng bước “cấy” nhữnggiá trị thị trường mới vào khuôn khổ hệ tư tưởng hiện thời, làm cho chúng trởnên dễ hiểu và dễ chấp nhận đối với quần chúng nhân dân
Các tác giả G.S Jowett và V.O’ Donnell (2012), “Propaganda and Persuasion (Tuyên truyền và Thuyết phục) [143] Nội dung cuốn sách đã nêu lên và
giải nghĩa thuật ngữ tuyên truyền, trong đó nhấn mạnh đến tính mục đích của tuyêntruyền là nhằm hình thành nhận thức, tác động đến hiểu biết và hướng dẫn hành vicủa đối tượng để đạt được phản hồi theo mong muốn của người tuyên truyền
Những công trình nghiên cứu liên quan đến công tác tư tưởng và côngtác tuyên truyền ở Việt Nam có:
Trang 12Lương Khắc Hiếu (1996), “Tư tưởng, phong cách tuyên truyền Hồ Chí Minh và một số suy nghĩ về công tác tuyên truyền hiện nay”, kỷ yếu đề tài khoa học
cấp bộ, mã số 95-98-03/ĐT [36] Nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng, phongcách tuyên truyền Chủ tịch Hồ Chí Minh Nghiên cứu hệ thống quan điểm của Chủtịch Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền Nội dung, đặc điểm phong cách tuyêntruyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện qua các hình thức tuyên truyền và tậptrung làm rõ phong cách sử dụng ngôn ngữ văn bản trong khi nói, viết của Hồ ChíMinh và nêu lên một số giải pháp nhằm đổi mới công tác tuyên truyền
Cuốn sách “Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng - văn hóa” (2000), [63].
Cuốn sách đã tập hợp, tuyển chọn các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minhtrên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa, trong đó bao gồm cả công tác tuyên truyền từnăm 1920 đến năm 1969 Các bài viết đã thể hiện rõ việc giáo dục chủ nghĩa Mác -Lênin, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
Hoàng Quốc Bảo (2004), “Phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh – những đặc trưng và sự vận dụng để đổi mới phương pháp tuyên truyền của cán bộ tư tưởng cấp tỉnh và huyện của Đảng hiện nay”, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [3], Luận án trình bày nguồn gốc và những đặc trưng
cơ bản của phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh; thực trạng áp dụng các phươngpháp tuyên truyền của đội ngũ cán bộ tuyên truyền cấp tỉnh, cấp huyện và việc vậndụng phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh; đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằmđổi mới phương pháp tuyên truyền của cán bộ tư tưởng cấp tỉnh, cấp huyện của Đảng
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay như: (1) Đẩy mạnh việc nghiên cứu, học tậpphương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh của cán bộ tư tưởng của Đảng ở cấp tỉnh,huyện; (2) Quán triệt sâu sắc sự thống nhất giữa lời nói với việc làm trong phươngpháp tuyên truyền Hồ Chí Minh để đổi mới phương pháp tuyên truyền cho cán bộ tưtưởng cấp tỉnh, huyện; (3) Nâng cao năng lực trình độ, tạo điều kiện cho cán bộ tưtưởng cấp tỉnh, huyện vận dụng sáng tạo phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh đểđổi mới phương pháp tuyên truyền hiện nay; (4) Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủyđối với việc vận dụng phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh để đổi mới phươngpháp tuyên truyền của cán bộ tư tưởng cấp tỉnh, huyện hiện nay
Trang 13Hồng Vinh và Đào Duy Quát (đồng chủ biên) (2006), “Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng” [116] Cuốn sách đã đi sâu vào các vấn đề sự phát triển về lý
luận công tác tư tưởng của Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh với quá trình tư tưởngcách mạng Việt Nam; Hồ Chí Minh với các lĩnh vực của công tác tư tưởng:nghiên cứu, giáo dục lý luận, tuyên truyền, cổ động; Hồ Chí Minh với báo chí; HồChí Minh với công tác tư tưởng trong các tầng lớp xã hội khác nhau, phươngpháp và nghệ thuật làm công tác tư tưởng của Hồ Chí Minh và cuối cùng nhómtác giả đã đề cập đến một số vấn đề thiết thực phát huy di sản tư tưởng Hồ ChíMinh vào công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay
Hoàng Quốc Bảo (chủ biên) (2006), “Học tập phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh” [4] Thông qua nội dung cuốn sách, tác giả muốn đóng
góp thêm ý kiến của mình vào việc tìm hiểu nguồn gốc và nêu lên những đặctrưng cơ bản của phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh; nghiên cứu thực trạngphương pháp tuyên truyền của đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng,đặc biệt là trong công tác tuyên truyền của Đảng Trên cơ sở đó, tác giả đưa ramột số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao, đổi mới phương pháp tuyên truyền củađội ngũ cán bộ tư tưởng theo phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh
Phạm Tất Thắng (chủ biên) (2010), Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới [85] Cuốn sách đề cập khá sâu về công tác tư tưởng, lý luận
của Đảng, trong đó đưa ra những biện pháp đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung,phương pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận của Đảngnhằm phát huy sức mạnh của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, của đại đoàn kết toàndân tộc, phấn đấu thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế Vềtuyên truyền, cuốn sách viết: “Đổi mới cách viết, tuyên truyền gương người tốt,việc tốt, các phong trào thi đua yêu nước theo hướng thiết thực, không hình thức,không phô trương, lãng phí, phù hợp với điều kiện xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa” [85, tr.296]
Lê Hồng Anh (2014), “Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả, chất lượng
công tác tuyên giáo”, Tạp chí Tuyên giáo, số 2-2014 [2], chỉ ra những nhược
điểm, hạn chế của công tác tuyên giáo nói chung và tuyên truyền nói riêng:
“Công tác tuyên giáo năm 2013 vẫn còn một số nhược điểm hạn chế: chậm đổi
Trang 14mới phương thực hoạt động để phù hợp với tình hình mới và đáp ứng yêu cầungày càng cao của sự nghiệp đổi mới đất nước” [2, tr.4].
Hoàng Quốc Bảo (2014), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp nâng
cao hiệu quả tuyên truyền”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số 5-2014
[5] Qua nghiên cứu toàn bộ di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh với tư cách là mộtnhà tuyên truyền, tác giả đã khái quát thành những luận điểm cơ bản về phươngpháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền của Người như sau: (1) Nghiên cứu, phânloại và nắm chắc đặc điểm của đối tượng tuyên truyền; (2) Tuyên truyền phải phùhợp với trình độ nhận thức của đối tượng; (3) Chuẩn bị nội dung tuyên truyền thậtcông phu, chu đáo; (4) Phải học cách tuyên truyền của quần chúng nhân dân
Vũ Hoài Phương (2014), “Quan điểm của Hồ Chí Minh về tuyên truyền
miệng”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số 7-2014 [75] Trong bài viết,
tác giả đã bước đầu góp phần khái quát một số quan điểm, quan niệm của Hồ ChíMinh về các yếu tố cấu thành công tác tuyên truyền Bài viết tác giả chia thành 7quan điểm: (1) Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ thể tuyên truyền; (2) Quanđiểm của Hồ Chí Minh về đối tượng tuyên truyền; (3) Quan điểm của Hồ Chí Minh
về mục đích, nhiệm vụ tuyên truyền; (4) Quan điểm của Hồ Chí Minh về nội dungtuyên truyền; (5) Quan điểm của Hồ Chí Minh về phương pháp tuyên truyền; (6)Quan điểm của Hồ Chí Minh về phương tiện tuyên truyền; (7) Quan điểm của HồChí Minh về hiệu quả tuyên truyền Đây là một trong những bài viết được tác giả
đề cập khá đầy đủ về các yếu tố cấu thành của hoạt động tuyên truyền
Phan Xuân Thủy (2015), “Đổi mới phương thức, nội dung tuyên truyền ở
khu vực Tây Nguyên”, Tạp chí Tuyên giáo, số 3-2015 [87] Nội dung bài viết đã đề
cập đến một số giải pháp để đổi mới phương thức và nội dung tuyên truyền ở khuvực Tây Nguyên như: (1) Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng,chính quyền và các cấp, các ngành về tầm quan trọng của công tác tuyên truyền ởTây Nguyên; (2) Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng phải bám sátthực tiễn; (3) Công tác tuyên truyền phải tăng cường đấu tranh, vạch rõ âm mưu,thủ đoạn của các thế lực thù địch; (4) Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháptuyên truyền, vận động đồng bào bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, “dắt taychỉ việc”; (5) Quan tâm về mặt cơ chế, chính sách, tăng cường cơ sở vật chất, kỹ
Trang 15thuật phục vụ công tác tuyên truyền; (6) Kiện toàn bộ máy làm công tác tuyên giáophù hợp với đặc điểm địa bàn Tây Nguyên; (7) Phát huy sức mạnh của hệ thốngchính trị, các “binh chủng” tham gia công tác tuyên truyền.
Hà Thị Mỹ Hạnh và Yên Ngọc Trung (đồng tác giả) (2016), “Thực hiệnquan điểm “Lời nói đi đôi với việc làm” của Hồ Chí Minh trong rèn luyện cán
bộ, đảng viên hiện nay”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2-2016 [34] Bài viết đã làm
sáng tỏ một trong những phương pháp tuyên truyền hiệu quả nhất của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, đó là lời nói đi đôi với việc làm Trong đó, các tác giả đã nêu lên
sự cần thiết phải thống nhất tư tưởng với hành động của mỗi cán bộ, đảng viêncủa Đảng; tầm quan trọng của việc nói đi đôi với làm Từ quan điểm của Hồ ChíMinh về thực hiện nói đi đôi với làm, tác giả cũng lưu ý mội số nội dung quantrọng để góp phần giúp cán bộ, đảng viên rèn luyện, hình thành tác phong làmviệc lời nói đi đôi với hành động: (1) Nói đi đôi với làm, lý luận gắn liền vớithực tiễn là trách nhiệm, vai trò của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền cáccấp; (2) Làm gương và nêu gương là một tiêu chí để đánh giá cán bộ, đảng viên;(3) Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện lời nói, lời hứa, hànhđộng, việc làm của cán bộ, đảng viên
Doãn Thị Chín (2016), “Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc tiến
hành công tác tư tưởng của Đảng”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số
4-2016 [16] Tác giả nhận định, công tác tư tưởng là một trong ba bộ phận cấu thànhquan trọng của công tác xây dựng Đảng và được xác định ở vị trí hàng đầu nhằmtạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân vàtoàn quân Chính vì thế, trong quá trình giáo dục và rèn luyện, Đảng ta đã quán triệtcác quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc tiến hành công tác tư tưởng củamình, bao gồm: nguyên tắc giữ vững tính đảng, nguyên tắc đảm bảo tính khoa học,nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và nguyên tắc kết hợp công tác tư tưởng vớicông tác tổ chức Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, trước những biến đổi nhanhchóng và phức tạp của tình hình trong nước và thế giới, việc kế thừa và phát huyquan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc trong công tác tư tưởng củaĐảng lại cần phải quán triệt hơn bao giờ hết
Trang 16Nguyễn Thị Hồng Mai (2016), “Tìm hiểu phương pháp nêu gương của Chủ
tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12-2016 [46] Nội dung bài viết, tác
giả đã đi sâu phân tích phương pháp nêu gương – một trong những phương pháptuyên truyền, giáo dục hiệu quả được Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên sửdụng Trong đó, tác giả đã làm sáng tỏ sự thể hiện phương pháp nêu gương của HồChí Minh chủ yếu thông qua khen ngợi; nêu gương kết hợp với phát động thi đua,khuyến khích và khen thưởng; nêu gương kết hợp với giáo dục và tự rèn luyện, tựphê bình; nêu gương bằng lời nói và việc làm Cuối cùng, tác giả khẳng định, chínhChủ tịch Hồ Chí Minh cũng là một tấm gương sống có sức lan tỏa, sức lôi kéomạnh mẽ và mãi mãi là di sản tinh thần to lớn của dân tộc mà toàn Đảng, toàn dân,toàn quân tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo
Lương Khắc Hiếu và Lê Ngọc Tuấn (đồng tác giả) (2017), “Phát triển lực
lượng công tác tư tưởng ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số 6-2017 [37] Trong bài viết, các tác giả đã làm rõ, lực lượng công tác tư
tưởng ở nước ta xét theo cơ cấu, rất đa dạng, là bộ phận hợp thành bởi: lực lượnglãnh đạo và quản lý; lực lượng tham mưu, lực lượng tác chiến… Để làm tốt việcxây dựng, phát triển lược lượng công tác tư tưởng ở nước ta hiện nay, tác giả đãxác định các định hướng, các giải pháp phát triển như: kiện toàn bộ máy các cơquan làm công tác tư tưởng; Tăng cường đào tạo, đảm bảo đủ số lượng, cân đối về
cơ cấu và chất lượng cao của đội ngũ cán bộ tư tưởng; Xây dựng lực lượng côngtác tư tưởng không chuyên; Tạo lập động lực để cán bộ tư tưởng nâng cao trình độ
và thu hút cán bộ chuyển sang; Hiện đại hóa đồng bộ hóa cơ sở vật chất - kỹ thuật
Năm 2019, liên quan đến công tác tư tưởng và công tác tuyên truyền, tác giảLương Ngọc Vĩnh có các công trình: “Cần nhận thức đúng về công tác tuyên giáo
của Đảng”, Tạp chí Tuyên giáo, số 5-2019 [117] và “Ngăn chặn sự tha hóa của công tác tư tưởng trong điều kiện hiện nay”, Tạp chí Tuyên giáo, số 8-2019 [118].
Các bài viết đều được tác giả khẳng định vai trò quan trọng của công tác tuyêntruyền, đồng thời tác giả cũng đề cập đến nhiệm vụ của công tác tuyên truyền, đólà: “giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, cương lĩnh, đường lối của Đảng cho cán bộ,đảng viên và quần chúng để tạo sự thống nhất về tư tưởng trong nội bộ Đảng; đồngthời, giác ngộ, tập hợp nhân dân dưới ngọn cờ của Đảng” [117, tr.68] Theo tác giả,
Trang 17bước sang một thời kỳ mới, công tác tư tưởng nói chung và công tác tuyên truyềnnói riêng dễ đối mặt với nguy cơ tha hóa về: mục tiêu và hiệu quả, mối quan hệgiữa chủ thể và đối tượng, về nội dung, phương thức tiến hành công tác tư tưởng.
Do đó, tác giả đã đề xuất năm giải pháp cơ bản để ngăn chặn sự tha hóa này
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đến công tác tuyên truyềndưới các góc độ khác nhau Có công trình bàn về mục đích, yêu cầu của công táctuyên truyền đối với từng nhiệm vụ cụ thể Có công trình bàn về một số nộidung, phương thức đổi mới công tác tuyên truyền trước yêu cầu, nhiệm vụ mới.Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, sâu sắc, khoa học và
có hệ thống về các yếu tố cấu thành của hoạt động tuyên truyền dưới góc độkhoa học công tác tư tưởng
B Các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ nghĩa cá nhân và chống chủ nghĩa cá nhân
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân
Có nhiều công trình đã nghiên cứu về CNCN nói chung và tư tưởng Hồ ChíMinh về CNCN nói riêng Trong đó có một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài như:
Tác giả Hạ Vỹ Đông, Lý Dĩnh, Dương Tông Nguyên (2006), “Trào lưu chủ nghĩa cá nhân” (论个人主义思潮) [140] Cuốn sách được chia thành ba phần:Phần đầu tiên phác thảo ngắn gọn về lịch sử phát triển của CNCN ở Trung Quốc vàphương Tây, cho thấy nội hàm bản chất của CNCN; Phần thứ hai chọn ra bốn giaiđoạn lịch sử đại diện, quy nạp khái quát các biểu hiện cụ thể, đặc điểm cơ bản và nộihàm bản chất của CNCN ở các giai đoạn lịch sử khác nhau trong bối cảnh văn hóaTrung Quốc; Phần thứ ba bắt đầu khảo sát với trường phái triết học của Hy Lạp cổđại và mở rộng tranh luận về một số vấn đề quan trọng của chủ nghĩa cộng đồng vàCNCN ở xã hội phương Tây đầu thế kỷ này
Tác giả Peter L Callero (2013), “Huyền thoại của chủ nghĩa cá nhân: Các lực lượng xã hội định hình cuộc sống của chúng ta như thế nào”, (The Myth of
Individualism: How Social Forces Shape Our Lives [135] Huyền thoại của CNCNđược xem như là một lời giới thiệu hay, ngắn gọn về xã hội học và tư duy xã hộihọc, cho độc giả thấy các lực lượng xã hội định hình cuộc sống của chúng ta và thế
Trang 18giới như thế nào Tác phẩm này thách thức niềm tin phổ biến rằng hành vi của conngười là kết quả của sự lựa chọn tự do của các tác nhân tự trị, nó cho thấy nhữngphương thức mà con người là thực thể tự nhiên - xã hội, phụ thuộc lẫn nhau vàđược định hình bởi các lực lượng xã hội Với những nghiên cứu sâu sắc, Huyềnthoại của CNCN đã gợi mở về trí tưởng tượng xã hội học Bằng cách thừa nhậngiới hạn của nỗ lực và kiểm soát cá nhân, chúng ta có được cái nhìn sâu sắc vềcuộc sống của chính mình và cuộc sống của những người khác.
Tác giả Robert Villegas (2015), “Chủ nghĩa cá nhân” (Individualism), nhà
xuất bản CreateSpace Independent Publishing Platform [156] Trong cuốn sách, tácgiả nêu quan điểm, ngày nay, văn hóa của con người luôn tràn ngập màu sắc củachủ nghĩa tập thể, cho rằng con người thuộc về nhóm và phải tuân theo các tuyênngôn đạo đức của nhóm, luôn cho rằng, mỗi người đều thuộc về gia đình, cộngđồng, nhà thờ, chủng tộc, dân tộc, Họ cho rằng chỉ có tập thể là quan trọng và sự
hy sinh cho tập thể là hành động đạo đức duy nhất Tuy nhiên, cuốn sách này lạitìm kiếm và đưa ra một sự khác biệt về quan điểm, góc nhìn, rằng cá nhân là vôcùng quan trọng và là mục đích cuối cùng của mỗi người, điều vốn không được cácnhà lãnh đạo tập thể sử dụng vì mục đích “chung” CNCN cho rằng, bản chất củacuộc sống con người là cá thể đơn lẻ và cá nhân đó là một thực thể tự lập với mụctiêu là trải nghiệm, tình yêu, niềm vui và thành tựu Con người, CNCN, là một thựcthể của linh hồn tự lập, một thực thể mà suy nghĩ, cảm xúc và đạo đức của họ xuấtphát từ tâm trí, suy nghĩ độc lập của chính mình
Tác giả Vỹ Đông (2015), “So sánh và cạnh tranh: Lý thuyết, vấn đề và thực tiễn của chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa cá nhân” (比较与争锋: 集体主义与个人主义的理论、问题与实践) [158] Cuốn sách dựa trên ý thức vấn đề,
đi sâu khảo sát về những khác biệt bản chất trong nguồn gốc, sự ra đời, pháttriển và nội hàm của chủ nghĩa tập thể và CNCN, so sánh bối cảnh khác nhaucủa hai vấn đề này ở phương Tây Cuốn sách này phân tích và trả lời nhiều vấn
đề của chủ nghĩa tập thể và CNCN, gồm những thách thức mà chủ nghĩa tập thểphải đối mặt và sự gia tăng mạnh mẽ của CNCN, với mục đích là để củng cố,phát triển và cải thiện tốt hơn chủ nghĩa tập thể và hình thành một màu sắc đạođức tốt đẹp trong xã hội
Trang 19Tác giả F.A Hayek (2016), “Chủ nghĩa cá nhân và trật tự kinh tế” (Individualism and Economic Order), do Đinh Tuấn Minh, Phạm Nguyên Trường,
Nguyễn Vi Yên và Nguyễn Công Minh dịch [141] Cuốn sách đã đề cập đến 10 nộidung, trong đó, nội dung đầu tiên, tác giả đã đề cập đến vấn đề “Chủ nghĩa cá nhân:Thật và Giả”, tác giả đã đánh giá cao vai trò của CNCN với tư cách là tự do cánhân “Chủ nghĩa cá nhân: Thật và Giả” được xem như là một bản tuyên ngôn vềchủ nghĩa tự do cá nhân và tác giả gọi đó là “chủ nghĩa cá nhân chân chính”, tại đó,ông xác lập các nguyên lý chung nhất mà một xã hội thực sự vì sự phát triển củacon người cần phải tựa vào Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày sơ lược về dònglịch sử trí tuệ của CNCN; giải thích thuật ngữ CNCN chân chính; các đặc điểmthen chốt của CNCN chân chính; sự khác biệt giữa CNCN chân chính và “chủnghĩa cá nhân” (giả)
Tác giả Cung Kính Tài (2016), “Nghiên cứu triết học của chủ nghĩa cá nhân kinh tế” (经济个人主义的哲学研究 [137] Cuốn sách tiến hành nhữngnghiên cứu triết học có hệ thống về CNCN kinh tế, có giá trị lý luận và có ýnghĩa thực tiễn quan trọng Trước hết, tác phẩm không chỉ khảo chứng diễn tiếncủa CNCN từ ba cấp độ xã hội, tư tưởng và khái niệm, mà còn chứng minh rằng,CNCN là cốt lõi của các giá trị kinh tế chính thống ở phương Tây từ logic nội tạicủa hiện thực và tư duy Thứ hai, trên cơ sở đó, từ quan điểm triết học đi sâutrình bày sáu khía cạnh quan trọng của CNCN kinh tế: cạnh tranh tự do là hiệnthân của CNCN kinh tế, hiệu quả là tiêu chuẩn đánh giá của CNCN kinh tế; “bàntay vô hình” là ẩn dụ triết học của CNCN kinh tế; “con người kinh tế” là biểuhiện phổ biến của CNCN kinh tế; doanh nhân là cá nhân hóa CNCN kinh tế; tiếnhóa sinh học của Darwin là nguồn gốc khoa học của CNCN kinh tế
Tác giả Kevin MacDonald (2019), “Chủ nghĩa cá nhân và truyền thống tự do phương Tây: Nguồn gốc diễn trình, lịch sử và triển vọng cho tương lai”
(Individualism and the Western Liberal Tradition: Evolutionary Origins, History,and Prospects for the Future) [148] Trong công trình này, tác giả đã cho rằng ảnhhưởng dân tộc là nhân tố rất quan trọng để hiểu phương Tây Cuộc xâm lược thờitiền sử của người Ấn-Âu gây ra những biến đổi ở Tây Âu, tạo nên một thời kỳ kéodài gắn với“chủ nghĩa cá nhân quý tộc” dẫn đến các biến thể của di truyền và ảnh
Trang 20hưởng văn hóa Ấn-Âu Tuy nhiên, bắt đầu từ thế kỷ XVII, một nền văn hóa mớiđược gắn mác “chủ nghĩa cá nhân bình đẳng” dần trở nên thống trị, chịu ảnh hưởngcủa khuynh hướng bình đẳng từ trước của người Tây Bắc Âu Chủ nghĩa cá nhânbình đẳng mở ra thế giới hiện đại nhưng cũng có thể mang hạt giống hủy diệt củachính nó.
Bên cạnh đó cũng có không ít các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cóliên quan như:
Phạm Huy Kỳ (2001), Quan hệ cá nhân – xã hội trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội [43] Luận án trình bày quan hệ cá nhân – xã hội và giải quyết mối quan hệ cánhân – xã hội trong đạo đức; quan hệ cá nhân – xã hội trong tư tưởng đạo đức HồChí Minh; vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về quan hệ cá nhân – xã hội đểgiáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay Đặcbiệt, tác giả đã dành một tiết trong chương 2 để nói về chống CNCN và xây dựngchủ nghĩa tập thể Trong đó, tác giả đã chỉ ra những đặc điểm và biểu hiện củaCNCN, nhất là những biểu hiện của CNCN trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội ở nước ta hiện nay gồm: CNCN núp dưới vỏ bọc tôn trọng quyền tự do cánhân, nó tuyệt đối hóa cái “tôi”, lấy bản thân mình làm trung tâm, đối lập cá nhânvới cộng đồng xã hội; chủ nghĩa cá nhân coi lợi ích cá nhân là mục đích cơ bản củahoạt động và là tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá, xem xét mọi hiện tượng xungquanh; CNCN là chỉ thấy quyền lợi, đòi hỏi quyền lợi từ phía xã hội mà không ýthức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với xã hội Bên cạnh đó, tác giảcũng phân tích những nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chống CNCN: về
sự cần thiết phải chống CNCN; xác định chống CNCN là một cuộc đấu tranh lâudài và phức tạp; chống CNCN dưới mọi hình thức biến tướng của nó; chốngCNCN không phải là chống lại lợi ích chính đáng của cá nhân và khẳng định rằng,chống CNCN phải đi đôi với trau dồi chủ nghĩa tập thể
Tác giả Bùi Kim Hồng (2009), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tổ chức, cán bộ [40] đã sưu tầm một số lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng những bài
viết của tác giả về vấn đề cán bộ, những mẩu chuyện, bài học rút ra từ tư tưởng của
Trang 21Người về công tác tổ chức và cán bộ Theo Hồ Chí Minh, trong điều kiện Đảngcầm quyền, mọi thắng lợi hay sai lầm đều không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng,tách rời phẩm chất, năng lực của người đảng viên Do đó, Người luôn kiên trì giáodục đạo đức, đề lên hàng đầu “tư cách người cách mệnh”, coi đạo đức là cái gốccủa người cán bộ, nêu cao đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn,giản dị, luôn nhắc nhở người cách mạng phải “ít lòng tham muốn về vật chất”.Người chỉ rõ, người cán bộ cách mạng phải thường xuyên chống tham ô, lãng phí,quan liêu, những căn bệnh bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ, đó là những thứ
“giặc nội xâm” có thể làm đổ vỡ sự nghiệp cách mạng
Trần Viết Hoàn (2010), Đạo đức Bác Hồ - tấm gương soi cho muôn đời
[38] Nội dung cuốn sách gồm nhiều bài viết ngắn gọn, mộc mạc, chân thực vềcuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh cũng như những sinh hoạt đờithường của Người, những lời dạy thiết thực về đạo đức cách mạng là vũ khí để đấutranh chống lại các hiện tượng tha hóa về đạo đức trong đời sống xã hội, trong đó
có CNCN Người cho rằng, mọi thói hư, tật xấu của cán bộ, đảng viên đều xuấtphát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình Người cho đó là CNCN
vô cùng nguy hiểm, nó sinh ra hàng trăm thứ bệnh trong đó có bệnh: quan liêu,tham nhũng, bè phái, xu nịnh, hiếu danh, kiêu ngạo Vì vậy, giải pháp hiệu quả làphải kiên quyết quét sạch CNCN, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tính tậpthể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật
Cuốn sách Tư cách người cách mạng (2012) [69], đã giới thiệu nội dung sáu
tác phẩm quan trọng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về đạo đức cách mạnggồm: tư cách một người cách mệnh; sửa đổi lối làm việc; cần kiệm liêm chính; thựchành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu; đạo đức cách mạng
và nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân Đây là những tácphẩm vô giá về đạo đức cách mang mà Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta.Trong các tác phẩm, Người đã nêu lên: sự cần thiết phải chống CNCN, bản chất,biểu hiện, tác hại, biện pháp để chống CNCN, trong đó, chữa bằng thang thuốc haynhất là thiết thực phê bình và tự phê bình
Tác giả Hứa Khánh Vy (2017), “Cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
nguy cơ của đảng cầm quyền”, Tạp chí Cộng sản, số 891 (1-2017) [119] Trong
Trang 22bài viết, tác giả đã đề cập đến một trong những nguy cơ của đảng cầm quyền làgiặc “nội xâm” – CNCN lũng đoạn Tác giả phân tích biểu hiện, tác hại củaCNCN đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng Đồng thời, tác giả cũng liên hệvới những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã kêu gọi Đảng phải kiên quyết
“quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”
Tác giả Nguyễn Hữu Khiển và Nguyễn Thị Mai Anh (2017), “Nhậndiện, ngăn ngừa và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân - lực cản trên con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội”, Tạp chí Cộng sản, số 893 (3-2017) [42] Nội dung
bài viết đã phân tích sâu sắc những biểu hiện, tác hại của CNCN đối với conngười, đối với công việc CNCN là một biểu hiện tiêu cực trong xã hội, đingược lại sự phát triển, làm tha hóa con người, là một trong những lực cản thựchiện các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, ổn định xã hội và con đườngxây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay Do đó, việc hạn chế, ngăn chặn
sự lây lan và hậu quả mà CNCN gây ra sẽ giúp giảm thiểu những lực cản đốivới tiến trình phát triển của đất nước
Nguyễn Trọng Phúc (2017), “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội,
thực dụng nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”, Tạp chí Lịch sử Đảng,
số 7-2017 [73] Tác giả khẳng định, thứ giặc “nội xâm” nguy hiểm nhất hiện naytrong Đảng chính là CNCN Tác giả cũng nêu lên những quan điểm của Hồ ChíMinh về tác hại của CNCN: do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ; do cá nhânchủ nghĩa mà mất đoàn kết; do cá nhân chủ nghĩa mà làm hại đến lợi ích củacách mạng, của nhân dân… Đồng thời, tác giả cũng cho rằng, nguyên nhân củaviệc CNCN chưa thể bị quét sạch mà còn biểu hiện tinh vi, phức tạp như hiệnnay là do: (1) Lý tưởng cách mạng, tư tưởng xã hội chủ nghĩa chưa được thấmnhuần sâu sắc trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; (2) Không ít người gia nhậpĐảng, tham gia vào công việc chung với động cơ không trong sáng; (3) Do mặttrái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tác động tiêu cực làm nảy sinh lốisống thực dụng, tham muốn vật chất… đã làm cho CNCN có cơ hội phát triển
Mạch Quang Thắng (2017), “Nhận diện để ngăn chặn, quét sạch chủ nghĩa
cá nhân, xây dựng Đảng trong sạch”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10-2017 [83].
Trong bài viết, tác giả cho rằng, nhận diện CNCN và những nguy hại của nó để
Trang 23đấu tranh đẩy lùi và quét sạch CNCN là yêu cầu cấp thiết của công tác xây dựngĐảng Do đó, tác giả đã chỉ ra 5 biểu hiện để nhận dạng CNCN: (1) Tách rời lợiích của cá nhân mình với lợi ích của Đảng; (2) Chỉ vun vén cho lợi ích của cánhân mình; (3) Coi cái tôi cao hơn tất thảy, bất chấp đường lối, chủ trương, điều
lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước; (4) Quan liêu, tham nhũng, lãng phí; (5) Phảnbội Đảng, phản bội chế độ chính trị
Qua các công trình nghiên cứu trên đây có thể thấy, tư tưởng Hồ ChíMinh về CNCN là một vấn đề được đông đảo các nhà khoa học quan tâm Hầuhết các công trình đều cho thấy được những quan điểm của Chủ tịch Hồ ChíMinh về sự cần thiết phải nhận diện CNCN, những biểu hiện và tác hại củaCNCN đối với con người, đối với công việc
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến chống chủ nghĩa cá nhân và
tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1959), Chống chủ nghĩa cá nhân [79].
Trong tác phẩm, Đại tướng chỉ rõ nguồn gốc và hoàn cảnh phát sinh CNCNtrong Đảng và trong quân đội Biểu hiện của CNCN Từ đó, Đại tướng đã đề ranhững phương hướng, biện pháp chống CNCN là phải học tập lý luận, sửa chữatác phong, rèn luyện đức tính, đặc biệt phải thực hiện nghiêm chỉnh, đúng đắnphê bình và tự phê bình và phải nâng cao trách nhiệm của mình trước Đảng,trước nhân dân
Nguyễn Khánh Bật (2006), Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, một số vấn đề lý luận và thực tiễn [13] Nội dung cuốn sách gồm ba phần, phần
một tập trung nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách mạng, về CNCN và về nâng caođạo đức cách mạng, chống CNCN ; phần hai cuốn sách tập trung phân tích thực trạngđạo đức cách mạng và CNCN trong cán bộ, đảng viên hiện nay; phần ba cuốn sáchnói về vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, chống CNCN trong cán bộ, đảng viênthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong đó, tác giả đã đề xuất một sốgiải pháp chủ yếu để chống CNCN như: đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ; tăngcường và đổi mới giáo dục đạo đức cách mạng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình;
Trang 24đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng; hoàn chỉnh cơ chế, chính sách, hệ thống phápluật.
Nguyễn Thị Hoài Phương (2014), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh "Nângcao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân" trong giáo dục đạo đức cán bộ,
đảng viên hiện nay”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11/2014 [74] Trong bài viết, tác giả
đã nêu lên sự cần thiết phải rèn luyện và nâng cao đạo đức cách mạng và việc họctập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chống CNCN Đồng thời, tác giảcũng đưa ra một số nội dung cơ bản cần phải thực hiện nhằm nâng cao đạo đức cáchmạng, quét sạch CNCN trong mỗi cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay Yêu cầumỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập và tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh; nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, thựchiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng; đồng thời, coi trọngxây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổchức, tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện
Nguyễn Thế Trung (2016), “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay”,
Tạp chí Cộng sản, số 879 (1-2016) [106] Nội dung bài viết đã chỉ rõ nguyên nhân vì
sao trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại cho công bố tác phẩm “Nâng cao đạođức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Bởi đây là thời kỳ đầy cam go, thửthách, khi cả nước đang huy động mọi lực lượng cho sự nghiệp giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước, đòi hỏi một tinh thần hy sinh cao cả, mọi quyền lợi, ích
kỷ cá nhân phải được đẩy lùi Hồ Chí Minh đã kêu gọi phải quét sạch CNCN, trướchết là từ trong mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng Đồng thời, tác giả cũng đã nhận diệnCNCN trong bối cảnh hiện nay và đề xuất một số giải pháp khắc phục CNCN: (1)Tăng cường công tác giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên,nhất là những người lãnh đạo quản lý; (2) Đảng, Nhà nước có cơ chế để cấp ủy cáccấp, các ngành và nhân dân lựa chọn, bố trí được những người đứng đầu thật sự cótrí tuệ, có kỷ cương và gương mẫu; (3) Sớm xây dựng, cụ thể hóa tiêu chí đánh giácán bộ; (4) Khẩn trương nghiên cứu xây dựng hoặc bổ sung, sửa đổi cơ chế, chínhsách pháp luật thích ứng với quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa; (5) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩylùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên
Trang 25Đinh Nguyễn An (2017), “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân
trong cán bộ, đảng viên hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 893 (3-2017) [1] Tác giả
đã đề cập đến sự cần thiết và tính cấp bách phải đấu tranh, ngăn chặn CNCN trongcán bộ, đảng viên hiện nay Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp gópphần ngăn chặn và đẩy lùi CNCN trong cán bộ, đảng viên, đó là: Các cấp ủy cầntăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm về đấu tranh chốngCNCN cho cán bộ, đảng viên; Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình củacác cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên; Mỗi cán bộ, đảng viên phảithực sự nêu gương trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi CNCN; Phát huy tinh thầnđoàn kết, xây dựng bầu không khí dân chủ, giữ vững đoàn kết, kỷ luật trong từng tổchức đảng và chính quyền; Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIIgắn với thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩymạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”
Tác giả Nguyễn Xuân Tú và Đào Xuân Dũng (2017), “Tư cách một ngườicách mệnh” trong tác phẩm Đường Cách mệnh của Hồ Chí Minh soi sáng công
tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6-2017
[108] Bài viết đã làm rõ về tư cách của một người cách mạng theo tư tưởng HồChí Minh là như thế nào; đề cập đến thực trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức,lối sống, tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta hiệnnay; đồng thời, tác giả đã nêu lên một số vấn đề cần chú trọng thực hiện để rènluyện tư cách người cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh Đáng chú ý, tác giả
đã đề xuất giải pháp cần phải đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh chống CNCN,cuộc đấu tranh này có hiệu quả cao hay thấp, phụ thuộc rất nhiều vào việc tự phêbình và phê bình trong Đảng, đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng
để ngăn chặn và đẩy lùi CNCN trong cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay
Mạch Quang Thắng (2017), “Nhận diện để ngăn chặn, quét sạch chủ nghĩa
cá nhân xây dựng Đảng trong sạch”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10-2017 [83].
Từ việc nhận diện chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, tác giả đã
đề xuất 3 giải pháp phòng, chống CNCN từ xây dựng nguồn nhân lực; giữ vững
và thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng và xây dựng tư cách ngườiđảng viên; làm trong sạch môi trường văn hóa, đạo đức vừa là điều kiện, vừa lànhiệm vụ trong tâm của chống CNCN
Trang 26Trần Đình Thắng (2017), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào phòng,
chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11-2017 [82] Bài viết của tác giả đã đề cập đến những “căn bệnh” mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã cảnh báo Đảng ta, trong đó có “căn bệnh”CNCN, đó là một trong những nguyên nhân, hệ quả, biểu hiện của sự suy thoái,
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta Do đó, tác giả đề nghị phảithực hiện có hiệu quả việc tự phê bình để phòng chống CNCN – một trong nhữngnội dung quan trọng trong phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyểnhóa” trong nội bộ hiện nay
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề xuất nhiều biện pháp CNCN dướinhiều phương diện, góc độ khác nhau Nhìn chung các giải pháp đều hướng đếngiải quyết các vấn đề thuộc về tổ chức Đảng; bản thân cán bộ, đảng viên và cácvấn đề thuộc về môi trường chính trị, văn hóa, xã hội Trong đó, nhấn mạnh vấn
đề tuyên truyền, học tập và làm theo tấm gương gương đạo đức Hồ Chí Minh làmột giải pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng phòng,chống CNCN có hiệu quả
C Các công trình nghiên cứu liên quan đến tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đào Duy Tùng (1999), Một số vấn đề về công tác tư tưởng [109] Trong cuốn sách có phần Kiên quyết khắc phục tư tưởng tiểu tư sản, chống mọi ảnh hưởng của tư tưởng tư sản và những tàn dư tư tưởng phong kiến Theo tác giả,
một trong những căn bệnh lớn nhất của tư tưởng tiểu tư sản chính là CNCN, chỉchú ý lợi ích cá nhân, xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của xã hội, của toàn dân…Theo tác giả, những tư tưởng này lan truyền trong xã hội một phần do yếu kém vềcông tác tuyên truyền của ta, đồng thời, các lực lượng thù địch, phản động ngàyđêm tuyên truyền qua “hàng chục đài phát thanh nói tiếng Việt ngày đêm tungbiết bao tin tức vào nước ta theo quan điểm tư sản” [109, tr.95]
Mạch Quang Thắng và Nguyễn Tùng Lâm (đồng tác giả) (2012), “Tưtưởng Hồ Chí Minh về phòng và chống chủ nghĩa cá nhân với vấn đề xây dựng,
chỉnh đốn Đảng hiện nay”, Tạp chí Lý Luận chính trị, số 7-2012 [84] Bài viết
đã phân tích sự cần thiết phải chống CNCN, tác hại và biểu hiện của CNCN.Trên cơ sở những quan điểm, giải pháp chống CNCN của Hồ Chí Minh, các tác
Trang 27giả đã đề xuất một số giải pháp cụ thể để phòng, chống CNCN trong điều kiệnhiện nay Trong đó, tuyên truyền rộng rãi trong toàn Đảng, toàn dân về tác hại
và những biểu hiện mới của CNCN được các tác giả nhấn mạnh là biện pháp đầutiên nhằm phòng, chống CNCN có hiệu quả
Trần Văn Phòng và Huỳnh Thị Thu Năm (đồng tác giả) (2013), “Chống chủ
nghĩa cá nhân trong phát triển con người Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, số
5-2013 [72] Bài viết chủ yếu nêu lên những giải pháp chống CNCN để nhằm pháttriển con người Trong đó, việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục tác hại củaCNCN, lối sống cá nhân chủ nghĩa cho mọi tầng lớp, lứa tuổi trong xã hội được cáctác giả xem như một trong những biện pháp quan trọng đầu tiên cần thực hiện đểchống CNCN có hiệu quả Các tác giả cho rằng, việc tuyên truyền, giáo dục, ngănngừa, chống CNCN đòi hỏi phải kiên trì, thường xuyên, liên tục, đồng bộ, có sựphối hợp giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội thông qua các phương tiện thôngtin đại chúng; cần tuyên dương những tấm gương người tốt việc tốt và nhân rộngnhững điển hình tốt, hình thành trong xã hội
Liên quan đến vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về chống CNCN , tác giả PhạmThị Thúy Vân có các công trình nghiên cứu như sau: năm 2014, “Đấu tranh phòng,chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên ở nước
ta hiện nay”, Tạp chí Giáo dục Lý luận, số 217/2014 [111]; năm 2015, Vận dụng quan hệ cá nhân - xã hội trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vào việc chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay, nhà xuất bản Đại học Sư
phạm, Hà Nội [112]; năm 2016 có 3 công trình, “Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vềchống chủ nghĩa cá nhân cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện nay”,
Tạp chí Giáo dục, số 3/2016 [113]; “Vấn đề chống chủ nghĩa cá nhân theo tinh thần Đại hội lần thứ XII của Đảng”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 10/2016 [114] và “Giải
pháp xây dựng lối sống liêm chính, chống chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng Hồ ChíMinh trong đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 trong
bối cảnh hiện nay”, Tạp chí Giáo dục, số 11/2016 [115] Các công trình khoa học
trên đã đề cập đến sự cần thiết phải đấu tranh phòng, chống sự suy thoái tư tưởngchính trị, đạo đức, lối sống, đặc biệt là cuộc đấu tranh chống CNCN trong cán bộ,đảng viên ở nước ta hiện nay, từ đó sẽ ảnh hưởng tới việc xây dựng và rèn luyện đạođức cách mạng cho thế hệ sinh viên nói chung và nhất là sinh viên ở Trường Đại học
Trang 28Sư phạm Hà Nội 2 nói riêng Đồng thời, tác giả cũng đề xuất những giải pháp cụ thể,thiết thực nhằm xây dựng lối sống liêm chính, chống CNCN theo tư tưởng Hồ ChíMinh như: (1) Về phía tổ chức Đảng phải tăng cường công tác tư tưởng, lý luậnchính trị, tăng cường quản lý đảng viên một cách toàn diện, tăng cường công táckiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; (2) Về phía cán bộ, đảng viên cần đổi mới công tác
tổ chức, cán bộ, phát huy vai trò chủ động, tự giác của đội ngũ cán bộ, đảng viêntrong công tác đấu tranh chống CNCN, phát huy dân chủ, tạo môi trường chính trị,văn hóa, xã hội thuận lợi; đánh giá đúng, tôn trọng và bảo vệ quyền của mỗi cán bộ,đảng viên; (3) Phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường công tácthanh tra Nhà nước; (4) Phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc,các đoàn thể chính trị - xã hội; (5) Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông
Đinh Nguyễn An (2017), “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá
nhân trong cán bộ, đảng viên hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 893 (3-2017) [1].
Trong bài viết, tác giả cho rằng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi CNCN trong cán
bộ, đảng viên hiện nay đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp Mỗi biệnpháp có vị trí, vai trò nhất định trong tổng thể thống nhất, có mối quan hệ biệnchứng với nhau Nhưng giải pháp cần tiến hành đầu tiên và trước hết là việctuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảngviên Phải tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc tác hại củaCNCN đối với cách mạng, đối với tổ chức và xã hội
Nguyễn Văn Chung (2017), “Chống “giặc nội xâm” theo tư tưởng Hồ
Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, số 899 (9-2017) [17] Nội dung bài viết tác giả
đã phân tích tính kiên quyết chiến đấu chống “giặc nội xâm”, trong đó cóCNCN của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tác giả cũng đề cập đến bản chất, nhữngbiểu hiện, nguyên nhân, tác hại của CNCN theo quan điểm Hồ Chí Minh Đồngthời, đề xuất các giải pháp hữu hiệu để vận dụng các quan điểm của Hồ ChíMinh về chống “giặc nội xâm” trong tình hình hiện nay như: (1) Tăng cườnggiáo dục đạo đức – tư tưởng, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; (2) Xây dựng,từng bước hoàn thiện cơ chế phòng, chống tham nhũng, kiểm soát quyền lực;(3) Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xãhội, của nhân dân và báo chí; (4) Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứngđầu cấp ủy, chính quyền
Trang 29Lê Thành Long (2018), “Chủ động tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán
bộ, đảng viên để góp phần xây dựng Đảng về đạo đức”, Tạp chí Cộng sản, số 904
(2-2018) [45] Bài viết nêu lên tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viênđang có biểu hiện suy thoái đạo đức, bệnh cơ hội, CNCN có chiều hướng gia tăng
Do đó, để Đảng ta mạnh từ bên trong và có đủ sức đề kháng trước các hiện tượngtiêu cực thì công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đảng viên là mộtnội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức Tác giả cũng đề xuấtmột số giải pháp chủ động tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đảng viênnhư: (1) Phát huy vai trò chủ động, tích cực và tự giác, gương mẫu của mỗi cán bộ,đảng viên; (2) Phát huy vai trò, trách nhiệm của từng tổ chức đảng và đảng viên; (3)làm tốt công tác thông tin pháp luật; (4) Tiếp tục đổi mới nội dung, đa dạng hóa cáchình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; (5) Gắn kết chặt chẽ giữa công tác phổ biến,giáo dục pháp luật cho cán bộ, đảng viên và nhân dân với công tác xây dựng, thihành, bảo vệ pháp luật và công tác dân vận của hệ thống chính trị
Đoàn Minh Huấn (2018), “Giáo dục, rèn luyện nghĩa vụ đạo đức cáchmạng cho đảng viên – Một nội dung quan trọng của xây dựng Đảng về đạo
đức”, Tạp chí Cộng sản, số 904 (2-2018) [41] Nội dung bài viết đã phân tích
các nghĩa vụ đạo đức cách mạng mà đảng viên cần có, trong đó có nghĩa vụ dám
hy sinh vì tập thể, vì lợi ích chung của cộng đồng, dân tộc, ít lòng ham muốn vềvật chất, vun vén lợi ích cá nhân – một trong những biểu hiện của CNCN Bêncạnh đó, tác giả cho rằng, xây dựng, giáo dục ý thức nghĩa vụ đạo đức cáchmạng trong đó bao gồm cả việc tuyên truyền, cổ vũ, biểu dương các tấm gươngđiển hình tiên tiến, cả tiến tiến về tư tưởng, tiên tiến về đạo đức, lối sống, tácphong và tiến tiến về cách làm; Đồng thời, phải đấu tranh trên địa hạt tư tưởng –
lý luận để bóc trần bản chất phản động của các lý luận cổ vũ cho CNCN, chủnghĩa vị kỷ, chủ nghĩa hưởng lạc,… chỉ đề cao dục vọng cá nhân con người màquên đi trách nhiệm, nghĩa vụ đối với cộng đồng
Nguyễn Chí Mỳ (2018), “Nhận diện suy thoái về đạo đức của cán bộ, đảng
viên – Những yếu tố tác động và giải pháp phòng ngừa”, Tạp chí Cộng sản, số 906
(4-2018) [59] Nội dung bài viết đề cập đến việc nhận diện những biểu hiện suythoái về đạo đức của cán bộ, đảng viên, trong đó có hàng chục căn bệnh củaCNCN Những căn bệnh này khó được đẩy lùi mà ngày càng có dấu hiệu lây lan,
Trang 30một trong những nguyên nhân là do công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức cáchmạng, tuyên truyền chống CNCN cho đảng viên chưa thường xuyên, liên tục, hiệuquả chưa cao, chưa đúng tầm với sự đòi hỏi phát triển của thực tiễn cuộc sống.
Các công trình nêu trên hầu hết đều đề cập đến việc tuyên truyền nâng caohiểu biết về biểu hiện và tác hại của CNCN như một biện pháp nhằm chốngCNCN có hiệu quả Tuy nhiên, chưa có công trình nào bàn đến việc tuyêntruyền chống CNCN dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng, chưa bàn đến cácyếu tố cấu thành của hoạt động tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ đảngviên
D Kết quả và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu liên quan đến tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
“bệnh”, nó là một trong những nguy cơ của đảng cầm quyền, là giặc “nội xâm”
Từ đó, đặt ra yêu cầu đối với mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng phải đềphòng và kiên quyết tiêu diệt CNCN, rèn luyện đạo đức cách mạng
- Các công trình đều khẳng định, nâng cao đạo đức cách mạng, chốngCNCN trong đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh là mộtnhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với một Đảng cách mạng, đặc biệt là đốivới một Đảng duy nhất cầm quyền Từ đó, đưa ra các giải pháp CNCN, trong
đó, nhấn mạnh vấn đề học tập và làm theo tấm gương gương đạo đức Hồ ChíMinh là một giải pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảngphòng, chống CNCN có hiệu quả Đây là một trong những định hướng quantrọng cho đề tài tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằmngăn chặn, đẩy lùi CNCN cũng như tuyên truyền chống CNCN trong đội ngũcán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay
Trang 31- Các công trình nghiên cứu đã luận bàn về những vấn đề cơ bản của côngtác tuyên truyền như sau:
+ Quan điểm Hồ Chí Minh về: chủ thể tuyên truyền, đối tượng tuyêntruyền, mục đích, nhiệm vụ tuyên truyền, nội dung tuyên truyền, phương pháptuyên truyền, phương tiện tuyên truyền, hiệu quả tuyên truyền
+ Nguồn gốc, nội dung, đặc điểm phong cách tuyên truyền, các phươngpháp tuyên truyền mà Hồ Chí Minh thường sử dụng như: lời nói đi đôi với việclàm, phương pháp nêu gương…
+ Một số công trình đã phân tích thực trạng phương pháp tuyên truyền củađội ngũ cán bộ tuyên truyền hiện nay, chỉ ra những nhược điểm, hạn chế củacông tác tuyên giáo nói chung và tuyên truyền nói riêng
+ Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới phương thức, nội dung
và phương pháp tuyên truyền của đội ngũ cán bộ tuyên truyền hiện nay, đó là: (1)Nghiên cứu, phân loại và nắm chắc đặc điểm của đối tượng tuyên truyền; (2)Tuyên truyền phải phù hợp với trình độ nhận thức của đối tượng; (3) Chuẩn bịnội dung tuyên truyền thật công phu, chu đáo; (4) Phải học cách tuyên truyềncủa quần chúng nhân dân
- Về tuyên truyền chống CNCN, hầu hết các công trình đều đưa ra đượngmột số nội dung như sau:
+ Đa số các công trình đều cho rằng, CNCN trong cán bộ, đảng viên hiệnnay khó được đẩy lùi mà ngày càng có dấu hiệu lây lan, một trong những nguyênnhân là do công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng, tuyên truyền chốngCNCN cho đảng viên chưa thường xuyên, liên tục, hiệu quả chưa cao, chưa đúngtầm với sự đòi hỏi phát triển của thực tiễn cuộc sống
+ Khẳng định, tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng; tuyên truyền vềnhững biểu hiện và tác hại của CNCN là một trong những biện pháp quan trọngđầu tiên cần thực hiện để chống CNCN có hiệu quả
+ Nêu lên yêu cầu của công tác tuyên truyền chống CNCN phải kiên trì,thường xuyên, liên tục, đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cá nhân, đơn
vị với nhau
Trang 32+ Hình thức tuyên truyền chống CNCN là thông qua phương tiện thôngtin đại chúng; thông qua tuyên dương những tấm gương người tốt việc tốt vànhân rộng những điển hình tốt, hình thành trong xã hội.
Mặc dù chưa bàn trực tiếp đến tuyên truyền chống CNCN nhưng kết quảnghiên cứu của các công trình nêu trên là cơ sở lý luận vững chắc để tác giả tiếptục đi sâu nghiên cứu cách thức, biện pháp tăng cường tuyên truyền chốngCNCN trong cán bộ, đảng viên hiện nay
- Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Phân tích các kết quả nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến tuyêntruyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên, tác giả luận án nhận thấy, trong phạm
vi luận án, cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ mộ số vấn đề như sau:
- Làm sáng tỏ những giá trị lý luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh về CNCN
và chống CNCN
- Từ góc độ khoa học công tác tư tưởng, làm rõ khái niệm tuyên truyền
và tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ ChíMinh; làm rõ các yếu tố cấu thành: chủ thể, nội dung, phương thức, phươngtiện và kết quả tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo tưtưởng Hồ Chí Minh
- Thực trạng ưu điểm và hạn chế về chủ thể, nội dung, phương thức,phương tiện và kết quả tuyên truyền chống CNCN trong cán bộ, đảng viên theo
tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay
- Những vấn đề đặt ra trong tuyên truyền chống CNCN theo tư tưởng HồChí Minh gắn với bối cảnh hiện nay
- Những phương hướng và giải pháp mới, đặc thù dưới góc độ khoa họccông tác tư tưởng để nâng cao chất lượng tuyên truyền chống CNCN trong cán
bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Với việc chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, có thể khẳngđịnh, việc lựa chọn đề tài luận án tuyên truyền chống chủ nghĩa cá nhân trongcán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay là mộtvấn đề mới, không trùng lặp với các công trình đã công bố từ trước đến nay
Trang 33Chương 1 TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1.1.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân
Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về CNCN Trongnhiều trường hợp, Hồ Chí Minh còn dùng cả thuật ngữ cá nhân chủ nghĩa, nhưngtrong các tác phẩm của Người, hầu như không có khác biệt về nội dung giữa haithuật ngữ này Tùy điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng, Người nêu những ý kiến cụthể, những so sánh phù hợp để mọi người dễ hiểu, dễ hình dung thế nào là CNCN
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng rất nhiều từ để gọi tên và lột tả hết bản chấtcủa CNCN Người gọi chủ CNCN là giặc nội xâm, thứ giặc ở trong lòng Giặcnội xâm là thứ giặc ở bên trong mỗi con người, mỗi cơ quan đoàn thể Giặc bênngoài dễ nhìn ra, dễ phát hiện; còn giặc ở bên trong, khó phát hiện, không dễ nhìnthấy Tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”,trong phần III về Tư cách và đạo đức cách mạng, lần đầu tiên Người đã chínhthức sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa cá nhân, Người ví: “Chủ nghĩa cá nhân là nhưmột thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm” [48,tr.295]
Hồ Chí Minh cho rằng: “Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình,của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc Đó là bệnhchính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác” [51, tr.156] Có khiNgười viết: “Cán bộ nào chỉ nghĩ bộ đội có huân chương mà mình không có làchủ nghĩa cá nhân Thấy người ta được huân chương không hỏi vì sao mà được
Trang 34mà chỉ hỏi sao người ta được mà mình không được” [53, tr.524]; “Chủ nghĩa cánhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác là
kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội” [55, tr.66] Trong mối quan hệ giữacác lợi ích, theo Người, CNCN chính là đặt lợi ích của bản thân lên trên lợi íchcủa cộng đồng Bản chất của CNCN là tuyệt đối hoá lợi ích cá nhân, tách rời, coi
thường và đối lập với lợi ích chung của tập thể, cộng đồng, xã hội Bản chất đó
thể hiện tập trung khuynh hướng cực đoan của CNCN, làm cho lợi ích cá nhânmâu thuẫn với lợi ích tập thể, cộng đồng, xã hội, nó trái ngược với những yêucầu chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng Suy đến cùng, đạo đức cách mạng
mà chúng ta xây dựng là đạo đức tập thể, mình vì mọi người, mọi người vìmình; còn cái phi đạo đức nguy hiểm nhất, chỉ biết lợi mình hại người, tự do vô
tổ chức, vô kỷ luật là CNCN – kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh việc chỉ ra và phê phán CNCN, Hồ Chí Minh cũngrất tôn trọng, quan tâm, chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng Người cho rằng
“Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân
và của gia đình mình Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích củatập thể thì không phải là xấu” [53, tr.610], đó là lợi ích chính đáng của mỗi cánhân Cần nhận thức rõ bản chất của CNCN, phân biệt CNCN với lợi ích cánhân chính đáng và quyền cơ bản của con người Bởi, đấu tranh chống CNCNkhông phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”
Hồ Chí Minh cũng giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của tập thể,lợi ích cách mạng với lợi ích cá nhân Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của HồChí Minh là phải đặt lợi ích của cách mạng, lợi ích của Tổ quốc lên trên lợi ích cánhân Điều này, được Người giải thích rất rõ trong “Bài nói tại buổi bế mạc lớpchỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan trung ương” như sau: “Mọi ngườinhận rõ lợi ích chung của dân tộc phát triển và củng cố thì lợi ích riêng của cá nhânmới có thể phát triển và củng cố Cho nên lợi ích cá nhân ắt phải phục tùng lợi íchcủa dân tộc, chứ quyết không thể đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích dân tộc” [51,tr.143] Vì “tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc” [52,
Trang 35tr.594] Sau này, trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Người khẳng định: “lợi ích
cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể Lợi íchchung của tập thể được bảo đảm thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện đểđược thoả mãn Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể Nếu lợi ích cánhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của
cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể” [53, tr.610]
Qua những phân tích nêu trên, có thể hiểu CNCN trong tư tưởng Hồ Chí
Minh như sau: Chủ nghĩa cá nhân là hệ thống các quan điểm, thái độ, hành vi của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi ích của chủ thể ấy trên cơ sở tuyệt đối hóa vai trò
và lợi ích cá nhân, tách rời và đối lập, làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, xã hội.
1.1.1.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân
Theo Hồ Chí Minh, nguồn gốc cơ bản sinh ra CNCN bao gồm: nguồn gốckinh tế - xã hội; những tàn dư tư tưởng văn hóa, vết tích xấu xa của xã hội cũ; sựthiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, vi phạm các chuẩn mực đạo đức cách mạngcủa chính đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng
- Nguồn gốc kinh tế - xã hội
Chủ nghĩa cá nhân không tự nhiên sinh ra và tồn tại ở mọi xã hội mà nó chỉnảy sinh và phát triển trong xã hội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Do
đó, chủ nghĩa cá nhân là sản phẩm của chế độ xã hội người bóc lột người Hồ ChíMinh khẳng đinh: “Vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa
cá nhân” [53, tr.602] Đó là chế độ phong kiến và chế độ thực dân Các chế độ đódựa trên nền tảng kinh tế là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, là kinh tế cá thể, tưnhân và một phần kinh tế tư bản Chế độ kinh tế đó hướng tới lợi ích vật chất của
cá nhân, gia đình hoặc một nhóm, tập đoàn nào đó vì vậy nó nuôi dưỡng và pháttriển lợi ích kinh tế của mỗi cá nhân và phát triển CNCN Về tư tưởng chính trị, cácchế độ xã hội đó đề cao cái tôi, vai trò cá nhân dẫn đến chuyên chế, không có dânchủ thật sự Với hệ tư tưởng và chế độ chính trị như thế tất yếu dẫn đến nhữngngười cầm quyền chỉ lo cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ và thực thi chínhsách bóc lột tàn bạo về kinh tế, không có dân chủ, thậm chí độc đoán, chuyên
Trang 36quyền về chính trị Từ việc lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ được coi trọng, đượckhuyến khích thì nguy cơ sa vào CNCN càng thể hiện
Ngày nay, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta với sự tồntại đan xen của nhiều quan hệ kinh tế - xã hội phức tạp Duy trì nhiều thànhphần kinh tế, nhiều quan hệ sản xuất, nhiều mâu thuẫn, nhiều quy luật, nhiều lợiích khác nhau Trong khi đó, cơ chế vận hành của nền kinh tế nhiều thành phần
là cơ chế thị trường, mọi thành phần kinh tế, mọi cá nhân, tập thể tham gia vàohoạt động kinh tế đều có cơ hội cạnh tranh ngang nhau vì lợi ích Trong nềnkinh tế thị trường, lợi ích cá nhân được coi trọng, được khuyến khích thì nguy
cơ sa vào chủ nghĩa cá nhân càng thể hiện Đồng thời, môi trường kinh tế - xãhội mới đồng nghĩa với việc xuất hiện nhiều tác động mới như mặt trái của kinh
tế thị trường, hội nhập quốc tế, “con dao hai lưỡi” của các phương tiện truyềnthông mới, cùng những sai lầm chủ quan trong giáo dục, thực hành đạo đức…
đã gây ra nhiều thách thức mới, tác động tiêu cực mà trong đó là sự khuyếnkhích lối sống thực dụng, hưởng thụ, đề cao đồng tiền
Từ sự thay đổi về các quan hệ kinh tế dẫn đến sự thay đổi cấu trúc xã hội
và tác động đến văn hóa, đạo đức, lối sống… mà trong thời kỳ quá độ của sựchuyển đổi nên có nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều bất cập, nhiều khó khăn đặt
ra Những tiêu cực, thoái hóa đạo đức, sự xuất hiện chủ nghĩa cá nhân trong độingũ cán bộ, đảng viên cũng từ đó nảy sinh
- Nguồn gốc từ những tàn dư tư tưởng văn hóa, vết tích xấu xa của xã hội cũ.
Việt Nam chúng ta đã từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ làphổ biến, lại vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa nửa phong kiến tiến lên chủ nghĩa
xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, do đó, những tàn dư phong kiến cònnặng nề Những biểu hiện tiêu cực như: tư tưởng cá nhân, đầu óc địa vị giatrưởng, tư tưởng cục bộ địa phương, … dù lộ liễu hay trá hình, vẫn còn đang tồntại, nó đã và đang cản trở sự nghiệp xây dựng chế độ mới, con người mới Nó làmột trong những nguyên nhân làm suy thoái phẩm chất đạo đức của một bộ
Trang 37phận cán bộ đảng viên, làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước suy yếu, niềmtin của Nhân dân với Đảng, với chế độ bị xói mòn.
Chủ tịch Hồ Chính Minh đã nhận Thực tế cho thấy, trên nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội, các tàn dư tư tưởng phong kiến còn tồn tại phổ biến Bằng nhiềucon đường, cách thức khác nhau, thông qua văn học nghệ thuật, phong tục truyềnthống, nếp sống… chúng tác động tới cả thế giới quan, phương pháp tư duy lẫn đạođức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, nhân dân Đồng thời, khi xâmlược nước ta, chủ nghĩa đế quốc đã âm mưu xóa bỏ tất cả những gì tốt đẹp trongtâm hồn, văn hóa dân tộc Việt Nam, thay vào đó là giáo dục những quan điểm tưsản, tuyên truyền lối sống thực dụng, cá nhân, vị kỷ phương Tây vào nhận thức củathanh niên ở những vùng tạm bị địch chiếm Các loại sách, báo, phim, ảnh giữ vaitrò đặc biệt quan trọng trong việc đầu độc công chúng, nhất là đầu độc thanh thiếuniên Hàng trăm tờ báo và tạp chí, hệ thống phát thanh và truyền hình ngày đêmtruyền bá tư tưởng tư sản, văn hóa thực dân mới tác động vào tư tưởng, tình cảmcủa công chúng
định: “Số đông trí thức đã được đế quốc và phong kiến giáo dục, nuôi nấng.Cho nên cách sinh hoạt, thế giới quan, học thuật và tư tưởng chính trị của họ đều cómột hệ thống toàn diện Vì vậy, họ có ý thức và lý luận toàn diện của giai cấp tưsản Và nền tảng tư tưởng và hành động của họ là chủ nghĩa cá nhân” [53, tr.463].Bên cạnh đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đã thông qua rất nhiềuthủ đoạn nhằm tạo nên trong nhân dân ta, nhất là thanh niên một lối sống gấp, sốngkhông có ngày mai, sống để hưởng thụ, sống chỉ vì cá nhân mình… nhằm làmnhân dân ta giảm sút tinh thần yêu nước, xa rời đấu tranh cách mạng, không gắn bóvới sự nghiệp cách mạng của dân tộc
- Nguồn gốc từ sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lòng tham muốn danh lợi, địa vị
Ở những thời điểm và những nơi tạm thời có hoà bình, tư tưởng “cầu an,hưởng lạc”, “tự tư, tự lợi” bắt đầu xuất hiện, bị phê phán, dần dần quy về chủ nghĩa
cá nhân Tuy nhiên, tư tưởng này vẫn chưa phổ biến và xuất hiện như một loại “bệnh
Trang 38nan y” mà nó mới chỉ xuất hiện ở một bộ phận nhỏ trong thành phần cán bộ, đảngviên và các giai tầng khác trong xã hội Hồ Chí Minh nhận thấy: một số cán bộ, đảngviên “lầm tưởng rằng miền Bắc không còn thực dân và phong kiến nữa, thì tức làcách mạng thành công rồi Do đó mà họ để chủ nghĩa cá nhân chớm nở, họ yêu cầuhưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích của cá nhânmình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ” [53, tr.605].
Một số cán bộ, đảng viên đã lợi dụng, lạm quyền, lạm chức để cố vun véncho lợi ích cá nhân, xa rời con đường cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Có những người trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, không sợ nguyhiểm, không sợ cực khổ, không sợ quân địch, nghĩa là có công với cách mạng.Song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạmvào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội vớicách mạng” [50, tr.361] Đây là nguy cơ luôn hiện hữu đối với một đảng cầmquyền và cũng là nguồn gốc trực tiếp của CNCN
Mỗi một cá nhân tồn tại trong xã hội sẽ xác lập cho bản thân những tiêuchí, mục đích sống và cách thức để đạt mục đích khác nhau Bên cạnh nhữngngười luôn ngời sáng lý tưởng cao đẹp của sự cống hiến, hy sinh, chia sẻ, hếtmình vì lợi ích của cộng đồng, vẫn có những người không thể cưỡng lại sự cám
dỗ của danh lợi với quan điểm sống lệch lạc, cách hành xử mang nặng tính vunvén cho lợi ích cá nhân Mặc dù lợi ích là cái đích hướng tới, là nguyên nhân sâu
xa, là động lực kích thích con người hành động, phát huy sức mạnh cá nhân, gópphần vào sự nghiệp chung Nhưng trong nhiều trường hợp, nếu quá đề cao vấn
đề lợi ích cá nhân sẽ sa vào chủ nghĩa cá nhân Mà chủ nghĩa cá nhân sãn sàngxâm hại tới lợi ích của tập thể, của cộng đồng Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Chủnghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái,chủ quan, tham ô, lãng phí Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó,những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa
vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”[53, tr.611] Chủ nghĩa cá nhân xét đến cùng cũng là do xuất phát từ lòng ham
Trang 39muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, nhóm mình mà bỏ qua hoặc chà đạp lênlợi ích của nhân dân, của dân tộc Nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền, khi
số đông cán bộ, đảng viên là những người có chức, có quyền; gắn liền với chức,quyền là danh và lợi
1.1.1.3 Quan điểm Hồ Chí Minh về biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân
Quan điểm Hồ Chí Minh về những biểu hiện của CNCN được Người pháttriển qua từng thời kì, từng giai đoan Trong mỗi tác phẩm, mỗi bài nói, Ngườilại chỉ ra những biểu hiện khác nhau của CNCN, bởi những biểu hiện của CNCNrất đa dạng, luôn biến hóa “muôn hình vạn trạng” Tổng hợp các quan điểm của
Hồ Chí minh, có thể khái quát biểu hiện của CNCN bằng 10 “căn bệnh” sau đây:
(1) Bệnh quan liêu: trong công việc thì trọng hình thức mà không xem xéttoàn diện, không vào sâu vấn đề, không sát với công việc thực tế, không theo dõi
và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng Vì thế, mọi quyết định được đưa ra
từ bàn giấy, không có tính thực tiễn, dẫn đến sai lầm về đường lối, chủ trương,chính sách Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra trước đó là “Việc gì cũngkềnh càng, chậm rãi, làm cho qua chuyện Nói một đường làm một nẻo Chỉ biết locho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí” [49, tr.433]
(2) Bệnh tham lam: Những người mắc chủ nghĩa cá nhân thường nuôidưỡng tâm lý khao khát tham vọng địa vị, quyền lực, sùng bái tiền của, chỉ thíchlàm “thầy” không muốn làm “thợ”, thích học vị, chức quyền cao Hồ Chí Minh chỉrõ: “những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi,địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”[53, tr.611] Họ tham lam tiền tài, của cải, quyền lực… đã tham là “bất liêm”, đã
“bất liêm” thì không là đạo đức Chính vì lòng tham đó, trong những trường hợpnhất định, cá nhân thường sinh ra mù quáng về vật chất, tham ô, lãng phí, đây làmột thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”, là con đẻ của CNCN
(3) Bệnh lười biếng: Hồ Chí Minh cho lười biếng là “Không chịu khó họctập, nghiên cứu để nâng cao trình độ của mình về chính trị, văn hóa và nghiệp vụ
Do ít hiểu biết về tình hình trong nước và ngoài nước, ít nghiên cứu lý luận và kinh
Trang 40nghiệm thực tiễn cho nên gặp thuận lợi thì dễ lạc quan tếu, gặp khó khăn thì dễ daođộng, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suynghĩ và chủ động sáng tạo” [56, tr.29-30] Bệnh lười biếng còn là sự lười suy nghĩ,làm việc theo thói quen, kinh nghiệm, không tìm tòi, không đổi mới, thậm chí nhờngười khác suy nghĩ Hậu quả là không có sự đổi mới trong lãnh đạo, trong quản
lý, không thể đưa cách mạng tiến lên
(4) Bệnh kiêu ngạo: Sau khi giành được chính quyền, tức là sau khi đãlãnh đạo nhân dân giành được một số thắng lợi nhất định, một số cán bộ, đảngviên tỏ ra kiêu ngạo, cho rằng cái gì họ cũng biết, cũng làm được, dẫn đến coithường tổ chức, coi khinh quần chúng, coi thường những cán bộ ngoài Đảng,
“Họ tự cho mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏiquần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng” [53, tr.609]
(5) Bệnh hiếu danh: Hồ Chí Minh thường dùng thuật ngữ “bệnh hiếudanh” hoặc “bệnh ham danh vị” để chỉ những người ham địa vị, chức vụ, quyềnhành Theo Người, những người hiếu danh thường “tự cho mình là anh hùng, là
vĩ đại”, “Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống Chỉ chịu đượcsướng mà không chịu được khổ Chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chớkhông ham công tác thiết thực” [48, tr.295]
(6) Bệnh “hữu danh vô thực”: Loại bệnh này có biểu hiện là làm được ítnhưng báo cáo, khoe khoang thì nhiều Người nói: “Bệnh "hữu danh, vô thực" -Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên.Làm cho có chuyện, làm lấy rồi Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báocáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch” [48, tr.297]
(7) Bệnh cận thị: Loại bệnh này có biểu hiện là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụnvặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng, không trông xa, thấy rộng Hồ Chí Minhchỉ rõ, bệnh cận thị là “Không trông xa thấy rộng Những vấn đề to tát thì khôngnghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ… Những người như vậy, chỉ trôngthấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn” [48, tr.297-298]