1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận hệ tư tưởng hình tượng của người phụ nữ truyền thống nho giáo trong xã hội mới

30 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 92,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do, tính cấp thiết và mục đích nghiên cứu của đề tài: Vào những thế kỉ đầu trước công nguyên, Nho giáo bắt đầu du nhập vào nước ta như là một hệ tư tưởng và dần được suy tôn làm quốc giáo. Trải qua một quãng thời gian dài, dần dần Nho giáo ảnh hưởng đến đời sống của con người Việt Nam hình thành nên những tín ngưỡng, những tập tục mà đến bây giờ vẫn còn tồn tại trong đời sống cũng như trong tiềm thức của không ít người. Là một học thuyết chính trị đạo đức, lấy con người làm trung tâm, Nho giáo không khó khăn gì đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền và đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến Việt Nam trong nhiều thế kỉ. Với vị trí đó, dần dần Nho giáo đã len lỏi vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội, từ tư tưởng chính trị đến đạo đức, từ kinh tế cho đến văn hóa, giáo dục và điều đó được biểu hiện ở việc tập trung phần nhiều trong nhân cách con người. Điều đó khiến Nho giáo được cả xã hội ngầm thừa nhận là bộ phận của truyền thống, thậm chí được coi là một trong những cốt lõi truyền thống của dân tộc ta . Cho đến ngày nay, những tư tưởng chúng ta được giáo dục từ Nho giáo vẫn còn có ảnh hưởng sâu rộng như tư tưởng về kẻ sỹ, về bậc đại trượng phu, về người quân tử hay về người phụ nữ. Tuy nhiên, một số tư tưởng không mấy tích cực cũng theo đó song song mà tồn tại đến giờ như mệnh trời, quỷ thần hay đặc biệt là một số quan niệm về hình mẫu người phụ nữ trong xã hội. Trong cuốn “Nho giáo” của tác giả Trần Trọng Kim có nói Nho giáo trước đây quan niệm về phụ nữ thường đi liền với “Tam tòng, tứ đức”. Và cho đến ngày nay thì tư tưởng đó vẫn được thể hiện một cách rõ ràng trong từng hành động, suy nghĩ của không ít người đang sống ở thời đại này. Sự tồn tại của nó không hẳn là xấu bởi nó hình thành nên được những nét đẹp truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa của người con gái Việt Nam. Tuy nhiên, cái gì cũng cần phải nhìn được tính chất hai mặt của nó, bên cạnh những nột đẹp thuần phong mỹ tục là vô số những nét bất cập về tư tưởng cổ hủ về người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũ mà trong nghiên cứu của nhiều nhà xã hội học, nhiều nhà sử học thậm chí nhiều nhà nghiên cứu khoa học cũng đã chỉ ra. Nếu như trong xã hội cũ, khi văn minh cũng như nhân quyền còn chưa có, chưa được phát huy thì không nói. Nhưng cho đến bây giờ, khi xã hội đã phát triển, nền kinh tế đa thành phần, chế độ chính trị dân chủ cùng vô vàn những lối sống mới mẻ tích cực, vậy mà những ảnh hưởng, cũng như hình mẫu lí tưởng của Nho giáo vẫn còn có nhiều người xem như là những nét sống, quy tắc sống mà phụ nữ một mực phải tuân theo. Chúng ta đều biết xã hội đã trải qua nhiều hình thái xã hội, từ cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản rồi xã hội chủ nghĩa. Mọi thứ đều biến đổi và vận động như quy luật vốn có của tự nhiên, thế nhưng những ảnh hưởng tiêu cực mà Nho giáo để lại trong quan niệm về hình tượng người phụ nữ vẫn không được dẹp bỏ, trái lại nó còn như con mối ăn mòn từng trang văn minh của cuốn sách nhân loại mà cả thế giới đang chung tay viết lên. Có lẽ bởi, Việt Nam đã chịu sự ảnh hưởng quá lâu từ khi Nho giáo du nhập vào, con người Việt Nam còn có tư tưởng thuần nông, nên dường như những tư tưởng đấy không hề mất đi mà còn có tính xã hội hóa cao trong đời sống xã hội hiện đại. Sống là phải vận động, có một điều chúng ta không thể chối cãi khi nhìn vào thực tế đó là xã hội đang từng bước phát triển. Xã hội ngày càng phát triển, giá trị con người ngày càng được đề cao, điều đó khiến việc sử dụng và kích thích tính sáng tạo của con người là vô cùng quan trọng và cần thiết. Khả năng của con người chính là mỏ tài nguyên quý giá và có giá trị nhất trong nhân loại. Thế nhưng, trong hệ tư tưởng của học thuyết Nho giáo trước đây, vấn đề giá trị của con người đặc biệt là vai trò của người phụ nữ lại không hề được đề cao và trọng dụng. Điều đó khiến người phụ nữ không thể phát huy được năng lực của mình, bị gò bó trong khuôn khổ gia đình và ngày càng trở nên thụ động. Dần dần nó hình thành nên thói quen, thành truyền thống, tác động đến tư tưởng, suy nghĩ của nhiều người và nghiêm trọng hơn là hạn chế sự phát triển về kinh tế xã hội, làm chậm quá trình hiện đại hóa xã hội. Mặc dù cho đến nay nhiều công trình nghiên cứu đã ra đời, chỉ rõ được những ảnh hưởng tiêu cực trong tư tưởng cổ hủ về người phụ nữ trong học thuyết Nho giáo ngày xưa, đưa ra nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng đó. Tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó nó vẫn chưa thành công trong việc xóa bỏ và triệt tiêu tận gốc những tư tưởng tiêu cực. Thay vì bắt đầu đưa ra những giải pháp mang tính xã hội, cần sự phối hợp của toàn xã hội thì tiểu luận này lại hướng đến việc làm mới tư tưởng cho những con người sẽ là đầu nguồn cho việc đổi mới tư tưởng cho xã hội sau này. Đó là lí do tại sao khách thể nghiên cứu của tiểu luận này là bộ phận sinh viên nữ của khoa Tuyên truyền, học viện Báo chí và Tuyên truyền những nữ sinh sau này sẽ làm công tác tuyên truyền cho Đảng, cho Nhà nước, thay mặt cho những cuốn sách hàng nghìn trang đã và đang tách con người khỏi những nếp sống không còn phù hợp, xây dựng tư tưởng tiến bộ hơn và thúc đẩy xã hội hóa nhanh hơn. Học viện Báo chí và Tuyên truyền được thành lập ngày 16011962 theo Nghị quyết số 36 NQTW của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, trên cơ sở hợp nhất 3 trường. Trường Nguyễn ái Quốc II, Trường Tuyên huấn và Trường Đại học Nhân dân. Trong 55 năm Xây dựng và trưởng thành, tuy mang những tên gọi khác nhau cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn cách mạng, song Học viện luôn là mái trường của Đảng. Từ năm 1990 đến nay vừa là trường đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân vừa là bộ phận hữu cơ cấu thành Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Là một trường của Đảng với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo ở Trung ương và địa phương từ trình độ sơ cấp trở lên về lý luận và nghiệp vụ, đến nay Học viện trở thành một trung tâm quốc gia lớn về đào tạo giảng viên lý luận Mác Lê Nin , tư tưởng Hồ Chí Minh, phóng viên, biên tập viên, cán bộ tuyên truyền, đội ngũ những người làm công tác tư tưởng văn hóa của đất nước. Chính vì thế nó đòi hỏi mỗi sinh viên của học viện phải luôn cần cù, năng động, sáng tạo trong học tập và rèn luyện, đặc biệt là những sinh viên khối lí luận trong đó có khoa Tuyên truyền. Học viên, sinh viên khoa Tuyên truyền tốt nghiệp ngành Quản lý hoạt động tư tưởngvăn hóa, Quản lý văn hóa, giáo dục và khoa học và Văn hóa phát triển sau này có khả năng sẽ trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ tuyên giáo các cấp; cán bộ tuyên huấn, chính trị của lực lượng vũ trang; trợ lý tuyền thông cho các chính khách. Điều đó khiến các bạn không những cần phải có kiến thức lí luận chuyên môn sâu sắc, được đào tạo bài bản, kỹ càng mà mỗi sinh viên đều phải biết tạo ra cho mình thói quen quan sát và định hướng xã hội. Điều đó đồng nghĩa với việc phải nhận ra được những hạn chế học thuyết Nho giáo để lại, biến đổi nó và vận dụng nó một cách linh hoạt trong học tập và rèn luyện như “Hình tượng của người phụ nữ truyền thống Nho giáo trong xã hội mới”. Đáng nói hơn, đa phần khoa Tuyên truyền lại là khoa có số lượng lớn là nữ sinh viên, nên việc phát huy và tận dụng được điểm mạnh của số lượng lớn nữ sinh viên là rất quan trọng và cần thiết để củng cố khoa và phát triển học viện. Tuy nhiên cho đến bây giờ, bên cạnh một số lượng nữ sinh năng động, sáng tạo trong học tập và rèn luyện thì một số khác lại vẫn còn khá e dè, sợ hãi và không dám khẳng định mình. Như đã nói, tiểu luận này được nghiên cứu với mục đích chỉ ra được những tư tưởng xấu về người phụ nữ mà Nho giáo để lại nhằm đặt ra những giải pháp để phát huy vai trò của nữ sinh viên trong khoa Tuyên truyền, học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Trang 1

MỤC LỤC

Mở đầu 2

Chơng 1 kháI quát về sự ra đời của học thuyết nho giáo và hình tợng ngời phụ nữ trong học thuyết nho giáo 7

1.1 Khái quát về sự ra đời và hình thành của học thuyết Nho giáo 7

1.2 Khái quát về hình tợng ngời phụ nữ trong học thuyết Nho giáo 9

1.3 Khái quát Nho giáo ở Việt Nam: 13

1.4 Hình tợng ngời phụ nữ ở xã hội phong kiến Việt Nam 18

CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT NHO GIÁO ĐẾN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI NGÀY NAY VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC KHẮC PHỤC NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIấU CỰC 19

2.1 ảnh hởng của học thuyết Nho giáo về ngời phụ nữ trong xã hội ngày nay 19

2.2 Lợi ích của việc khắc phục những t tởng tiêu cực của Nho giáo để lại về hình tợng ngời phụ nữ 22

CHƯƠNG 3 TẦM QUAN TRỌNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TRONG VIỆC PHÁT HUY VAI TRề HỌC TẬP, RẩN LUYỆN CỦA NỮ SINH VIấN KHOA TUYấN TRUYỀN, HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYấN TRUYỀN 27

3.1 Tầm quan trọng của việc phát huy vài trò của nữ sinh viên khoa Tuyên truyền, học viện Báo chí và Tuyên truyền 27

3.2 Những giải pháp nhằm phát huy vai trò của nữ sinh viên khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong học tập và rèn luyện 28

KẾT LUẬN 33

DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO 35

Mở đầu

1 Lý do, tính cấp thiết và mục đích nghiên cứu của đề tài:

Trang 2

Vào những thế kỉ đầu trớc công nguyên, Nho giáo bắt đầu du nhập vàonớc ta nh là một hệ t tởng và dần đợc suy tôn làm quốc giáo Trải qua mộtquãng thời gian dài, dần dần Nho giáo ảnh hởng đến đời sống của con ngờiViệt Nam hình thành nên những tín ngỡng, những tập tục mà đến bây giờ vẫncòn tồn tại trong đời sống cũng nh trong tiềm thức của không ít ngời Là mộthọc thuyết chính trị - đạo đức, lấy con ngời làm trung tâm, Nho giáo khôngkhó khăn gì đã đáp ứng đợc nhu cầu xây dựng nhà nớc phong kiến trung ơngtập quyền và đã trở thành hệ t tởng của giai cấp phong kiến Việt Nam trongnhiều thế kỉ Với vị trí đó, dần dần Nho giáo đã len lỏi vào mọi lĩnh vực đờisống xã hội, từ t tởng chính trị đến đạo đức, từ kinh tế cho đến văn hóa, giáodục và điều đó đợc biểu hiện ở việc tập trung phần nhiều trong nhân cách conngời Điều đó khiến Nho giáo đợc cả xã hội ngầm thừa nhận là bộ phận củatruyền thống, thậm chí đợc coi là một trong những cốt lõi truyền thống củadân tộc ta Cho đến ngày nay, những t tởng chúng ta đợc giáo dục từ Nhogiáo vẫn còn có ảnh hởng sâu rộng nh t tởng về kẻ sỹ, về bậc đại trợng phu, vềngời quân tử hay về ngời phụ nữ Tuy nhiên, một số t tởng không mấy tích cựccũng theo đó song song mà tồn tại đến giờ nh mệnh trời, quỷ thần hay đặc biệt

là một số quan niệm về hình mẫu ngời phụ nữ trong xã hội Trong cuốn “Nhogiáo” của tác giả Trần Trọng Kim có nói Nho giáo trớc đây quan niệm về phụnữ thờng đi liền với “Tam tòng, tứ đức” Và cho đến ngày nay thì t tởng đóvẫn đợc thể hiện một cách rõ ràng trong từng hành động, suy nghĩ của không

ít ngời đang sống ở thời đại này Sự tồn tại của nó không hẳn là xấu bởi nóhình thành nên đợc những nét đẹp truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa củangời con gái Việt Nam Tuy nhiên, cái gì cũng cần phải nhìn đợc tính chất haimặt của nó, bên cạnh những nột đẹp thuần phong mỹ tục là vô số những nétbất cập về t tởng cổ hủ về ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến cũ mà trongnghiên cứu của nhiều nhà xã hội học, nhiều nhà sử học thậm chí nhiều nhànghiên cứu khoa học cũng đã chỉ ra Nếu nh trong xã hội cũ, khi văn minhcũng nh nhân quyền còn cha có, cha đợc phát huy thì không nói Nhng cho

đến bây giờ, khi xã hội đã phát triển, nền kinh tế đa thành phần, chế độ chínhtrị dân chủ cùng vô vàn những lối sống mới mẻ tích cực, vậy mà những ảnh h-ởng, cũng nh hình mẫu lí tởng của Nho giáo vẫn còn có nhiều ngời xem như

là những nét sống, quy tắc sống mà phụ nữ một mực phải tuân theo Chúng ta

đều biết xã hội đã trải qua nhiều hình thái xã hội, từ cộng sản nguyên thủy,chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản rồi xã hội chủ nghĩa Mọi thứ đều biến đổi

và vận động nh quy luật vốn có của tự nhiên, thế nhng những ảnh hởng tiêu

Trang 3

cực mà Nho giáo để lại trong quan niệm về hình tợng ngời phụ nữ vẫn không

đợc dẹp bỏ, trái lại nó còn nh con mối ăn mòn từng trang văn minh của cuốnsách nhân loại mà cả thế giới đang chung tay viết lên Có lẽ bởi, Việt Nam đãchịu sự ảnh hởng quá lâu từ khi Nho giáo du nhập vào, con ngời Việt Nam còn

có t tởng thuần nông, nên dờng nh những t tởng đấy không hề mất đi mà còn

có tính xã hội hóa cao trong đời sống xã hội hiện đại

Sống là phải vận động, có một điều chúng ta không thể chối cãi khinhìn vào thực tế đó là xã hội đang từng bớc phát triển Xã hội ngày càng pháttriển, giá trị con ngời ngày càng đợc đề cao, điều đó khiến việc sử dụng vàkích thích tính sáng tạo của con ngời là vô cùng quan trọng và cần thiết Khảnăng của con ngời chính là mỏ tài nguyên quý giá và có giá trị nhất trongnhân loại Thế nhng, trong hệ t tởng của học thuyết Nho giáo trớc đây, vấn đềgiá trị của con ngời đặc biệt là vai trò của ngời phụ nữ lại không hề đợc đề cao

và trọng dụng Điều đó khiến ngời phụ nữ không thể phát huy đợc năng lựccủa mình, bị gò bó trong khuôn khổ gia đình và ngày càng trở nên thụ động.Dần dần nó hình thành nên thói quen, thành truyền thống, tác động đến t tởng,suy nghĩ của nhiều ngời và nghiêm trọng hơn là hạn chế sự phát triển về kinh

tế - xã hội, làm chậm quá trình hiện đại hóa xã hội Mặc dù cho đến nay nhiềucông trình nghiên cứu đã ra đời, chỉ rõ đợc những ảnh hởng tiêu cực trong t t-ởng cổ hủ về ngời phụ nữ trong học thuyết Nho giáo ngày xa, đa ra nhiều giảipháp để khắc phục tình trạng đó Tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó nó vẫncha thành công trong việc xóa bỏ và triệt tiêu tận gốc những t tởng tiêu cực.Thay vì bắt đầu đa ra những giải pháp mang tính xã hội, cần sự phối hợp củatoàn xã hội thì tiểu luận này lại hớng đến việc làm mới t tởng cho những conngời sẽ là đầu nguồn cho việc đổi mới t tởng cho xã hội sau này Đó là lí dotại sao khách thể nghiên cứu của tiểu luận này là bộ phận sinh viên nữ củakhoa Tuyên truyền, học viện Báo chí và Tuyên truyền - những nữ sinh sau này

sẽ làm công tác tuyên truyền cho Đảng, cho Nhà nớc, thay mặt cho nhữngcuốn sách hàng nghìn trang đã và đang tách con ngời khỏi những nếp sốngkhông còn phù hợp, xây dựng t tởng tiến bộ hơn và thúc đẩy xã hội hóa nhanhhơn

Học viện Báo chí và Tuyên truyền đợc thành lập ngày 16-01-1962 theoNghị quyết số 36 NQ/TW của Ban Bí th Trung ơng Đảng Cộng sản Việt Namkhóa III, trên cơ sở hợp nhất 3 trờng Trờng Nguyễn ái Quốc II, Trờng Tuyênhuấn và Trờng Đại học Nhân dân Trong 55 năm Xây dựng và trởng thành, tuymang những tên gọi khác nhau cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của

Trang 4

từng giai đoạn cách mạng, song Học viện luôn là mái trờng của Đảng Từ năm

1990 đến nay vừa là trờng đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân vừa là bộphận hữu cơ cấu thành Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ ChíMinh Là một trờng của Đảng với nhiệm vụ đào tạo, bồi dỡng cán bộ tuyêngiáo ở Trung ơng và địa phơng từ trình độ sơ cấp trở lên về lý luận và nghiệp

vụ, đến nay Học viện trở thành một trung tâm quốc gia lớn về đào tạo giảngviên lý luận Mác Lê Nin , t tởng Hồ Chí Minh, phóng viên, biên tập viên, cán

bộ tuyên truyền, đội ngũ những ngời làm công tác t tởng văn hóa của đất nớc.Chính vì thế nó đòi hỏi mỗi sinh viên của học viện phải luôn cần cù, năng

động, sáng tạo trong học tập và rèn luyện, đặc biệt là những sinh viên khối líluận trong đó có khoa Tuyên truyền Học viên, sinh viên khoa Tuyên truyềntốt nghiệp ngành Quản lý hoạt động t tởng-văn hóa, Quản lý văn hóa, giáo dục

và khoa học và Văn hóa phát triển sau này có khả năng sẽ trở thành cán bộlãnh đạo, quản lý; cán bộ tuyên giáo các cấp; cán bộ tuyên huấn, chính trị củalực lợng vũ trang; trợ lý tuyền thông cho các chính khách Điều đó khiến cácbạn không những cần phải có kiến thức lí luận chuyên môn sâu sắc, đợc đàotạo bài bản, kỹ càng mà mỗi sinh viên đều phải biết tạo ra cho mình thói quenquan sát và định hớng xã hội Điều đó đồng nghĩa với việc phải nhận ra đợcnhững hạn chế học thuyết Nho giáo để lại, biến đổi nó và vận dụng nó mộtcách linh hoạt trong học tập và rèn luyện nh “Hình tợng của ngời phụ nữtruyền thống Nho giáo trong xã hội mới” Đáng nói hơn, đa phần khoa Tuyêntruyền lại là khoa có số lợng lớn là nữ sinh viên, nên việc phát huy và tận dụng

đợc điểm mạnh của số lợng lớn nữ sinh viên là rất quan trọng và cần thiết đểcủng cố khoa và phát triển học viện Tuy nhiên cho đến bây giờ, bên cạnh một

số lợng nữ sinh năng động, sáng tạo trong học tập và rèn luyện thì một sốkhác lại vẫn còn khá e dè, sợ hãi và không dám khẳng định mình Nh đã nói,tiểu luận này đợc nghiên cứu với mục đích chỉ ra đợc những t tởng xấu về ngờiphụ nữ mà Nho giáo để lại nhằm đặt ra những giải pháp để phát huy vai tròcủa nữ sinh viên trong khoa Tuyên truyền, học viện Báo chí và Tuyên truyền

2 Mục đích nghiên cứu:

Bằng cơ sở lý luận và thực tiễn làm rõ và khái quát đợc lịch sử nhogiáo, những ảnh hởng tiêu cực của t tởng Nho giáo để lại về hình tợng ngờiphụ nữ trong xã hội phong kiến cũ Từ đó đề xuất những giải pháp tích cựcnhằm khắc phục và phát huy đợc tính sáng tạo, năng động trong công tác họctập và rèn luyện đối với nữ sinh viên khoa Tuyên truyền, học viện Báo chí vàTuyên truyền

Trang 5

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để hoàn thiện đợc tiểu luận, một số nhiệm vụ đợc đặt ra bắt buộc tiểuluận phải đạt đợc đó là:

- Khái quát đợc lịch sử hình thành của Nho giáo

- Khái quát về hình tợng ngời phụ nữ trong học thuyết Nho giáo ngàyxa

- Phân tích đánh giá tầm ảnh hởng của học thuyết Nho giáo đến ngờiphụ nữ ngày nay và những ảnh hởng tiêu cực trong t tởng về ngời phụ nữ màhọc thuyết Nho giáo để lại

- Tìm ra giải pháp khắc phục những hạn chế trong học thuyết Nho giáonhằm phát huy vai trò của nữ sinh viên khoa Tuyên truyền, học viện Báo chí

và Tuyên truyền

4 Phơng pháp nghiên cứu của đề tài:

Để hoàn thiện đợc một cách trọn vẹn, tiểu luận này đợc xây dựng vànghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh vềhọc thuyết tôn giáo nói chung và về Nho giáo nói riêng; các tác phẩm kinh

điển về Nho học; các văn kiện của Đảng; những chính sách, chiến lợc xâydựng con ngời mới của Nhà nớc

Luận văn cũng sử dụng tổng hợp các phơng pháp nghiên cứu nh: Phântích, tổng hợp, lôgíc, lịch sử, so sánh, thống kê, điều tra

5 Kết cấu nội dung của tiểu luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận

đợc kết cấu thành 3 chơng và….tiết

Trang 6

Chơng 1 kháI quát về sự ra đời của học thuyết nho giáo và hình tợng ngời phụ nữ trong học thuyết nho giáo

1.1 Khái quát về sự ra đời và hình thành của học thuyết Nho giáo.

Trung Quốc là trung tâm văn hoá lớn của nhân loại trong thời kỳ cổtrung đại trải qua gần bốn mơi thế kỷ phát triển liên tục, lịch sử triết họcTrung Quốc bao hàm nội dung vô cùng phong phú với những hệ thống triếthọc đồ sộ và sâu sắc Trong đó Nho giáo là một trong những trờng phái triếthọc chính của Trung Quốc thời cổ đại Đó là những t tởng triết lý, luân lý đạo

đức, thể chế cai trị vốn đã có cơ sở ở Trung Quốc từ thời Tây Chu, đến cuốithời Xuân Thu (TKXI-TKV TCN) thì đợc Khổng Tử (551-479TCN) và cácmôn đệ của Ông là Mạnh Tử (372-289 TCN) và Tuân Tử ( 313 -238 TCN) hệthống hóa ổn định lại trong hai bộ kinh điển là Tứ Th và Ngũ Kinh Trong đó

Tứ Th bao gồm : Luận ngữ, Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử, bộ sách này docác học trò của Khổng Tử đã tập hợp những lời dạy của thầy mà soạn ra VàNgũ Kinh gồm có: Kinh Thi, Kinh Th, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu.Nói về nội dung bộ sách này thì phần lớn có từ trớc và đợc Khổng Tử gia côngsan định, hiệu đính và giải thích Vì Khổng Tử có công đầu trong việc pháttriển t tởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và truyền bá nên ông đợc xem nh

là ngời khởi xớng hay cũng chính là ngời sáng lập Nho giáo Nho giáo từKhổng Tử đến Mạnh Tử đợc coi là giai đoạn hình thành, giai đoạn này đợc coi

là Nho giáo nguyên thuỷ Năm 221 TCN Tần Thuỷ Hoàng thống nhất TrungQuốc và áp dụng chính sách cai trị bằng pháp luật độc đoán khắt nghiệt đãdùng bạo lực tiêu diệt Nho giáo Khi Hán Vũ Đế lên ngôi (140-87 TCN), đãthực hiện những chính sách quan trọng, thực hiện theo lời khuyên của ĐổngTrọng Th, khôi phục Nho giáo và đa Nho giáo lên địa vị Quốc giáo Mãi cho

đến Nho giáo đời Hán (Hán Nho) thì mới đợc cải tạo, biến đổi, nhằm mục

đích phục vụ vơng triều Chính bởi vậy từ đời Hán, Nho giáo đã trở thành hệ ttởng chính thống chi phối văn hoá Trung Quốc và làm nền tảng cho việc xâydựng và bảo vệ chế độ phong kiến Trung Quốc suốt hai ngàn năm lịch sử

Trong Nho giáo có ba cơng lĩnh cơ bản nói về mỗi quan hệ trong xãhội mà chúng ta hay đợc nghe đến với cụm từ “Tam cơng” đó là: Đạo vua tôi(quân thần), Đạo cha con (phụ tử), Đạo vợ chồng (phu phụ) Bên cạnh đó còn

có năm phép ứng xử luân lý và đạo đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín hay còn gọi

Trang 7

là “Ngũ thờng” Tuy nhiên hạt nhân t tởng của triết học Nho giáo vẫn là Nhân

và Lễ

Nho giáo coi chữ Nhân là đạo đức hoàn thiện nhất “Nhân dã, Nhângiả” nghĩa là kẻ có nhân ấy, ấy là con ngời vậy, “nhân giả ái nhân” nghĩa làngời có nhân thì yêu con ngời Mà để đạt chữ nhân, Khổng Tử chủ trơng dùng

lễ nhà Chu “Nhất nhật Khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên” có nghĩa mộtngày biết nén mình theo lễ thì thiên hạ quy về nhân vậy Nhà Nho đã từ haichữ nhân và lễ mà suy diễn ra cả một hệ thống triết học chính trị, triết học đạo

đức và triết học lịch sử Trên cơ sở những t tởng triết học ấy đã hình thànhmẫu ngời của Nho giáo là ngời quân tử mà lý tởng sống đợc thể hiện tập trungtrong một hệ thống quan niệm về tu thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ Mặc

dù giữa Khổng Tử và các học trò của Ông có nhiều quan điểm khác nhau,thậm chí mâu thuẫn với nhau nh “Quan điểm về thế giới” nhng tóm lại nhìnchung đều có sự thống nhất Sự thống nhất đó thể hiện ở hệ thống quan điểm

về đạo đức luân lý, chính trị - xã hội, trong đó có sự thống nhất về các giá trị

đạo đức, các mối quan hệ con ngời (ngũ luân), trật tự đẳng cấp xã hội (chủ

tr-ơng chính sách), sự tất yếu của chính quyền

Trong triết học của Nho giáo với nội dung đạo đức, luân lý phong phú,thống nhất với nhau và thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đây

có lẽ là thành quả rực rỡ nhất trong triết lý nhân sinh và có nhiều đóng góphữu ích vào việc hoàn thiện và làm phong phú kho tàng lý luận giáo dục đạo

đức của nhân loại Do hạn chế về mặt lịch sử, triết học Khổng Tử chứa đựngcác mâu thuẫn giằng co, đan xen giữa những yếu tố duy vật, vô thần vớinhững yếu tố duy tâm, giữa những t tởng tiến bộ với những quan điểm bảothủ, phản ánh tâm trạng giằng xé của Ông trớc biến chuyển của thời cuộc.Tính không nhất quán ấy là cơ sở để các thế hệ sau khai thác, bóp méo theokhuynh hớng duy tâm, tôn giáo thần bí Về mặt chính trị xã hội, Ông dừng lạitrong lĩnh vực đạo đức, luân lý, không chú ý đến lĩnh vực sản xuất kinh tế vànhu cầu của con ngời là cơ sở để phát triển của xã hội Trong khi đó, T tởngMạnh Tử tuy còn nhiều yếu tố duy tâm thần bí, nhng với t tởng dân quyền,

“nhân chính”, “bảo dân”… có ý nghĩa tiến bộ, phù hợp với yêu cầu và xu thếphát triển của lịch sử xã hội đơng thời

Trong tác phẩm “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, ông đã khái quát quátrình lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo và các quan điểm cơ bản quacác thời kỳ Ông đã phân tích khá sâu học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” tronglịch sử phát triển của Nho giáo: Nho giáo thời Xuân Thu; Nho giáo thời Lỡng

Trang 8

Hán; Nho giáo thời Tam Quốc; Nho giáo đời Thanh và đặc biệt là Nho giáo ởViệt Nam Chỉ dựa trên một số thông tin nêu trên thôi ta cũng có thể thấy Nhogiáo chiếm giữ một vị thế quan trọng trong lịch sử hình thành nớc ta Hiện t-ợng lập bia tiến sỹ ở văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội càng xác định thêm vịtrí chi phối của t tởng Nho giáo không những trong thời Lê Sơ mà cả về mãisau này ở Việt Nam.

1.2 Khái quát về hình tợng ngời phụ nữ trong học thuyết Nho giáo.

Nếu nghiên cứu về lịch sử văn hóa Việt Nam, ta không lạ gì mà nhận

ra đợc rằng nét độc đáo của văn hoá Việt Nam đó là khi tiếp thu cái ngoại lai,

nó tiếp nhận từng yếu tố riêng lẻ và Việt Nam hoá để rồi cấu tạo lại theo cáchcủa mình chứ không hề sao chép hay nh vẽ lại một bức họa Bởi thế văn hóaViệt Nam mới nh một bức sơn dầu đầy màu sắc, có nét nhấn, nét đa, đôi khimảnh mai, thanh thoát nhng lắm khi lại mạnh mẽ, kiên trờng Nhà nớc phongkiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo chính là để khai thác những yếu

tố là thế mạnh của Nho giáo, thích hợp cho việc tổ chức và quản lý đất nớchay điều hóa và phân bố các mối quan hệ trong xã hội xa Tuy nhiên quan hệcủa con ngời trong Tam cơng có tính phiến diện Mặc dù Nho giáo có nói đếnnghĩa vụ và cách đối xử của hai bên, nhng thực tế ở một khía cạnh nào đó thì

nó lại chỉ trói buộc và có định kiến với một số vai trò trong xã hội, điển hình

nh ngời vợ và thực tế đó là mối quan hệ độc đoán một chiều Hơn nữa, quytoàn bộ quan hệ xã hội của con ngời vào Tam cơng, Ngũ thờng là không đủ,

đặc biệt là khi Nho giáo rất mực coi thờng ngời phụ nữ Trong hệ t tởng củaNho giáo trớc đây quy định trói buộc ngời phụ nữ vào ngời đàn ông, có t duy

“Trọng nam khinh nữ” rõ rệt không gì có thể thay đổi đợc Mà nếu có thay đổithì mọi tội lỗi đều đổ lên đầu ngời phụ nữ mà không cần biết bất cứ một lý dogì Nhìn vào học thuyết Nho giáo mà nói, đối với ngời phụ nữ, nội dung giáodục đạo đức của Nho giáo thể hiện rõ thông qua thuyết “Tam tòng, tứ đức”.Trong các nội dung đạo đức của Nho giáo thì thuyết tam tòng, tứ đức là nhữngquy phạm giáo dục đạo đức cơ bản đối với ngời phụ nữ Để hiểu đợc quanniệm về ngời phụ nữ thời xa trong học thuyết Nho giáo nh thế thì ta hãy đi tìmhiểu sơ qua về thuyết “Tam tòng, tứ đức”

Tam tòng có nguồn gốc từ Nghi lễ, Tang phục, trớc có có ghi: Phụnhân hữu tam tòng chi nghĩa, vô chuyên dụng chi đạo, cố vị giá tòng phụ, kýgiá tòng phu, phu tử tòng tử Nó có nghĩ là ngời đàn bà có cái nghĩa phải theo

ba điều, mà không có cái lễ làm theo ý mình, cho nên, khi cha lấy chồng thìtheo cha, khi đã lấy chồng thì theo chồng, khi chồng chết thì phải theo con

Trang 9

Cũng vì xem đây là triết lý nhân sinh nên sau này các nhà Nho vận dụngthuyết tam tòng, tứ đức vào việc giáo hóa ngời phụ nữ Vì vậy, theo Nho giáo,phụ nữ có ba điều cần phải tuân theo và tất nhiên không có quyền tự định đoạttheo ý mình Nghiên cứu về thuyết “Tam tòng tứ đức” thì nó có nghĩa: ngờiphụ nữ khi còn sống ở nhà từ bé đến lúc trởng thành, khi cha lấy chồng thìtheo cha Ngời cha quyết định mọi việc của con gái, từ công việc, cuộc sốngcho đến hạnh phúc còn ngời mẹ chỉ giữ vai trò thứ yếu vì bản thân cũng là ng-

ời phụ nữ phụ thuộc vào ngời chồng Ngời con gái không có quyền quyết địnhhôn nhân, hạnh phúc của mình Trớc đây Mạnh Tử đã cho rằng: “Nếu chẳng

đợi lệnh cha mẹ, chẳng chờ lời mai mối, mà lén dùi lỗ để nhìn nhau, vợt tờng

để theo nhau, thì cha mẹ và ngời trong xứ đều khinh rẻ mình” Quy định tamtòng khiến ngời phụ nữ khi xuất giá lấy chồng thì hoàn cảnh tốt hay xấu thếnào cũng đã trở thành ngời nhà chồng, chứ không đợc nơng nhờ ai Khi lấychồng thì phải theo chồng dù sớng hay khổ vẫn phải chấp nhận, nếu chồngqua đời phải theo con trai không đợc đi bớc nữa phải ở vậy suốt đời “tòng”con, không đợc tái giá

Còn tứ đức có nguồn gốc từ Chu lễ -sách ghi những quy định về lễnghĩa thời nhà Chu, thiên Quan trủng tể có ghi: Cửu tần chởng phụ học chipháp, dĩ cửu giáo ngự: phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công Nghĩa là: Cáiphép học của ngời vợ cả là lấy chín điều - tập trung trong bốn đức: công,dung, ngôn, hạnh Sau này, các nhà Nho vận dụng vào việc giáo hóa sự tu d-ỡng phẩm chất đạo đức của ngời phụ nữ Theo Nho giáo, với ngời phụ nữ, tứ

đức gồm phụ công, phụ dung, phụ ngôn và phụ hạnh Trong đó: Công cónghĩa là: nữ công, gia chánh phải khéo léo Tuy nhiên các nghề với phụ nữngày xa chủ yếu chỉ là may, vá, thêu, dệt, bếp núc, buôn bán, với ngời phụ nữgiỏi thì có thêm cầm kỳ thi hoạ Dung nghĩa là : Dáng ngời đàn bà phải hòanhã, gọn gàng, biết tôn trọng hình thức bản thân Ngôn là ngời phụ nữ phải cólời ăn tiếng nói khoan thai, dịu dàng, mềm mỏng Và hạnh nghĩa là ngời congái phải làm sao để tính nết hiền thảo, trong nhà thì nết na, kính trên nhờng d-

ới, chiều chồng thơng con, ăn ở tốt với anh em họ nhà chồng Ra ngoài thì nhumì chín chắn, không hợm hĩnh, cay nghiệt

Có thể thấy, điểm chung giữa thuyết tam tòng, tứ đức là những quy tắc,

lễ nghĩa, chuẩn mực bắt buộc đối với ngời phụ nữ Cả hai cùng đợc giai cấpthống trị phong kiến sử dụng ngày một triệt để nh một công cụ đắc lực để giáohóa ngời phụ nữ với mục đích ổn định xã hội, bảo vệ quyền lợi của giai cấpthống trị và vai trò của nam giới Tuy nhiên điểm khác biệt giữa thuyết tam

Trang 10

tòng, tứ đức thể hiện ở phạm vi, đối tợng đề cập Tam tòng chỉ mối quan hệgiữa phụ nữ với nam giới trong gia đình và ngoài xã hội, đó là: cha, chồng,con trai - đề cao sự phục tùng một chiều, sự thuỷ chung tuyệt đối của phụ nữ

đối với nam giới Còn tứ đức lại chú trọng vào sự tu dỡng phẩm chất đạo đứccá nhân của chính bản thân ngời phụ nữ một cách toàn diện, đẹp về cả hìnhthức và nhân phẩm Tu dỡng công - dung - ngôn - hạnh để đạt đợc tam tòng

Tứ đức là điều kiện để thực hiện tốt đạo tòng cha, tòng chồng, tòng con Ngợclại, tam tòng chứng minh cho tứ đức, chứng minh cho phẩm hạnh cao quý củangời phụ nữ

ở Việt Nam, thuyết tam tòng, tứ đức đợc pháp luật phong kiến ViệtNam thừa nhận và đề cao Giai cấp phong kiến đã sử dụng quyền chuyênchính để đe dọa và trừng trị những ngời phụ nữ muốn thoát ra khỏi vòng tróibuộc của chế độ tông pháp và lễ giáo Nho giáo Họ không chỉ chịu sự đàmtiếu của d luận mà còn phải chịu những hình phạt hà khắc nh đánh bằng gậy,thích vào mặt, lu đày, tử hình Điều đó, thể hiện rõ trong các Bộ Luật nh: Bộluật Gia Long, Quốc triều hình luật Chẳng hạn, Điều 34 của Quốc triều Hìnhluật có ghi: “Ngời nào đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng mà lại lấy chồnghoặc cới vợ thì xử tội đồ, ngời khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử biếm ba t và

đôi vợ chồng mới cới phải chia lìa Điều 37: Tang chồng đã hết mà ngời vợmuốn thủ tiết, nếu ai không phải là ông bà cha mẹ mà ép gả cho ngời khác, thì

xử biếm ba t và bắt phải ly dị; ngời đàn bà phải trả về nhà chồng cũ; ngời đàn

ông lấy ngời đàn bà ấy thì không phải tội” Bên cạnh đó, thuyết tam tòng, tứ

đức đợc xây dựng theo xu hớng Nho giáo hóa và thể hiện dới hình thức giahuấn ca, hơng ớc làng xã Việt Nam và văn học dân gian tiêu biểu là ca dao,tục ngữ, dân ca nhằm giáo dục đạo đức cho ngời phụ nữ

Có thể thấy trong hệ t tởng của học thuyết Nho giáo, ngời phụ nữ giờng

nh vừa mới lọt lòng đã đợc định sẵn vị trí, trách nhiệm, bổn phận của mình

Họ không có quyền và không dám tự khẳng định mình trong hôn nhân, tronghạnh phúc hay khổ đau; họ phó thác cuộc đời cho xã hội, chấp nhận chịu đàmtiếu chứ không dám lên tiếng bảo vệ cho quyền lợi, cũng nh những mongmuốn của mình Đây cũng là một trong số những ảnh hởng không tích cực doNho giáo để lại mà xã hội bây giờ cần phải loại bỏ và triệt tiêu nó hoàn toàn

1.3 Khái quát Nho giáo ở Việt Nam:

Có tài liệu cho răng vào thời Bắc thuộc, có một số bằng chứng cho thấyNho giáo đợc truyền vào thế kỷ 1 TCN khi ở Trung Quốc nhà Tây Hán đã

đánh bại tập đoàn phong kiến họ Triệu và giành lấy quyền thống trị và cho lập

Trang 11

3 quận tại Bắc Bộ, tuy nhiên tầm ảnh hởng Nho giáo còn rất hạn chế Việc phổbiến Nho giáo đợc nhà Tây Hán xem là hành động giáo hóa, khai minh chocác bộ tộc man rợ bị chinh phục Nho giáo đợc du nhập vào Việt Nam songsong với chữ Hán dần Hán hóa ngôn ngữ của ngời Việt làm nền tảng cho việctiếp thu những tri thức về xã hội và tự nhiên, văn học, sử học, triết học, thiênvăn học và y học từ ngời Trung Hoa cổ đại Đến thế kỷ 9, sau chiến thắngBạch Đằng của Ngô Quyền, khi ngời Việt bớc sang kỷ nguyên độc lập, tự chủ

và bắt đầu xây dựng nền văn minh Đại Việt trong khuôn khổ của một nhà nớcquân chủ tập quyền, thì xã hội Việt Nam lúc này mới đặt ra những yêu cầu đốivới sự tồn tại và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam, đầu tiên phải kể đến làmuốn xây dựng nhà nớc quân chủ tập quyền thì phải truyền bá Nho giáo đếnngời dân, nhằm củng cố quyền lực trung ơng, duy trì trật tự xã hội Tuy nhiên,

ở các triều đại quân chủ đầu tiên sau khi Việt Nam giành độc lập, Nho giáovẫn cha có vai trò đáng kể trong đời sống chính trị, tinh thần của xã hội ViệtNam Theo ghi chép năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu Năm 1075

mở khoa thi Nho học đầu tiên với tên gọi “Thi minh kinh bác học” và “Nhohọc tam trờng”, chính thức khai sinh cho lịch sử thi cử Nho giáo lâu dài ở ViệtNam Năm 1076, nhà Lý cho lập Quốc tử giám ngay giữa kinh thành và “chọnquan viên văn chức, ngời nào biết chữ cho vào Quốc tử giám” Từ đây, con emquý tộc họ Lý chính thức đợc đào tạo chủ yếu theo Nho giáo Cũng từ đây,nền đại học Việt Nam đợc khai sinh Năm 1156, nhà Lý cho lập miếu riêngthờ Khổng Tử (trớc đó, Văn Miếu thờ chung cả Chu Công và Khổng Tử) Điều

đó thể hiện “khuynh hớng muốn dựng Nho giáo thành một giáo lý độc tôn,

đem Khổng Tử từ bậc tử (thầy) nh các Ch Tử lên bậc Thánh Khổng vậy” Vớiviệc tổ chức khoa cử, nhà Lý đã mở đầu cho lịch sử khoa cử Việt Nam kéo dàihơn 800 năm, qua đây tuyển chọn những nhân tài cho bộ máy nhà nớc, nêucao vị trí Nho học, thúc đẩy việc truyền bá và phát triển Nho học Tuy vậy, ởthời Lý, việc học tập và thi cử cha đợc tổ chức thờng xuyên và cha có quy chế

rõ ràng Kể từ thời Lý trở đi, sự phát triển tri thức khoa học và sáng tạo nghệthuật của ngời Việt đã có một bớc tiến rõ rệt, biểu hiện trên các lĩnh vực lýluận chính trị và pháp quyền, văn học và sử học Nho giáo với t cách một họcthuyết chính trị - đạo đức từng bớc thâm nhập vào lĩnh vực t tởng văn hóatrong đời sống xã hội, tạo ra những tiền đề cần thiết để tiếp tục phát triểnmạnh mẽ dới thời Trần và các đời vua sau Các văn bản còn lu giữ đợc từ thờinày cho thấy các bậc vua quan và nho sĩ dới thời Lý sử dụng các điển tích vàkhuôn mẫu theo quan niệm của Nho giáo, coi đó nh là những bài học kinh

Trang 12

nghiệm, những mực thớc trong việc trị nớc, yên dân để xây dựng một xã hộithái bình, thịnh trị Các phạm trù đạo đức của Nho giáo, nh trung, hiếu, nhân,nghĩa đã đợc vận dụng vào lĩnh vực chính trị và ngày càng trở thành chuẩnmực đạo đức cho hành vi của con ngời trong xã hội Đến thời Trần, do yêu cầucai trị quốc gia, yêu cầu tuyển lựa nhân tài để bổ dụng cho bộ máy nhà nớc,giáo dục Nho học đợc đẩy mạnh, số ngời tiến thân bằng con đờng cử nghiệpngày càng nhiều hơn, giới Nho sĩ đông đảo hơn trớc Từ giữa thế kỷ XIII, kếtcấu giai cấp lãnh đạo trong xã hội đã có sự thay đổi Nếu trớc đây tầng lớpquản lý nhà nớc bao gồm quý tộc, công thần, quan liêu, cao tăng thì từ đây,kết cấu tầng lớp quản lý nhà nớc bao gồm hai bộ phận rõ rệt: thành phần quýtộc nắm giữ những chức vụ cao nhất trong triều và thành phần Nho sĩ đông

đảo không phải là quý tộc đóng vai trò thừa hành trong bộ máy quản lý nhà

n-ớc Thời Trần, Phật giáo phát triển khá thịnh, đợc nhà nớc suy tôn, chọn làmquốc giáo nhng Phật giáo không phải là học thuyết chính trị Dới thời Trần,Phật giáo mang tính nhập thế, tích cực, nhng toàn bộ hệ thống giáo lý của nókhông có sự giải đáp thích đáng nào về các vấn đề có liên quan đến việc cai trịquốc gia và duy trì trật tự xã hội Vì quyền lực của nhà nớc lúc đó nằm trongtay nhà vua, nên chữ "trung" của Nho giáo cần đợc tiếp thu để củng cố quyềnlực của nhà vua Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức chủ trơng xâydựng mối quan hệ hài hòa giữa ngời cai trị và dân chúng Đồng thời, nó còn đa

ra những chuẩn mực đạo đức cho hành vi ứng xử của con ngời, những yêu cầu

đối với các mối quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, đối với việc tuthân, có tác dụng to lớn trong việc giúp các triều đại củng cố nền cai trị, tậptrung quyền lực vào chính quyền trung ơng, ổn định trật tự xã hội mà Phậtgiáo và Đạo giáo không thể sánh kịp Chính vì thế, dới thời Trần, nhà cầmquyền tuy theo Phật giáo, nhng Nho giáo cũng ngày càng đợc trọng dụng và

có điều kiện để mở rộng tầm ảnh hởng Càng về sau, Phật giáo mất dần ảnh ởng còn Nho giáo, với u thế trong việc củng cố nhà nớc quân chủ tập quyền vàtrật tự của xã hội phong kiến đã dần vơn lên, phát triển khá mạnh mẽ Sự pháttriển đó tuy chậm chạp, nhng chắc chắn vì cùng với yêu cầu về tổ chức quản

h-lý xã hội và tổ chức bộ máy hành chính nhà nớc, sự phát triển của Nho giáocòn gắn liền với nhu cầu phát triển văn hoá, giáo dục Một năm sau khi nắmchính quyền, tức năm 1227, nhà Trần mở khoa thi Tam giáo Từ đó, các khoathi đợc tổ chức đều đặn và thờng xuyên hơn Năm 1232, nhà Trần mở khoa thiThái học sinh (sau đổi thành Tiến sĩ) Từ năm 1246 về sau, tổ chức thi cử quy

củ, cứ 7 năm một kỳ Năm 1304, thi kẻ sĩ trong nớc, có tất cả 44 ngời đỗ Thái

Trang 13

học sinh và lần đầu tiên, triều đình tôn vinh cả về mặt học vấn lẫn danh dự chonhững thí sinh trúng tuyển bằng việc cho "dẫn ba ngời đỗ đầu ra cửa LongMôn của Phợng Thành đi du ngoạn đờng phố ba ngày" Các loại trờng nàyngày càng mở rộng và thu hút đợc nhiều đối tợng từ các nơi đến học Năm

1236, nhà Trần đặt chức Thợng th tri Quốc tử viện, đa con em văn thần vàtụng thần tức chức quan t pháp lúc bấy giờ vào học Đến 1397, việc nhà vuaxuống chiếu đặt học quan, tổ chức việc học tập ở cấp châu huyện để hàng nămtiến cử những ngời u tú cho triều đình cho thấy sự phát triển về quy mô đàotạo của nền giáo dục Nho học thời Trần Tuy vào đầu Trần, ảnh hởng của Phậtgiáo vẫn chi phối mọi mặt sinh hoạt của xã hội, trong đó có giáo dục, thi cử,nhng càng về cuối Trần, Nho giáo càng nâng cao vị thế của mình thông quacon đờng học tập, khoa cử Nhà Trần còn cho lập Quốc học viện, đắp tợngKhổng Tử, Chu Công và Mạnh Tử, vẽ tranh 72 ngời hiền để thờ, và còn

"xuống chiếu vời nho sĩ trong nớc đến Quốc tử viện giảng tứ th lục kinh” năm

1253, hay việc vua Trần Thánh Tông "xuống chiếu tìm ngời tài giỏi, đạo đức,thông hiểu kinh sách làm t nghiệp Quốc tử giám, tìm ngời có thể giảng bàn ýnghĩa của Tứ th ngũ kinh sung vào hầu nơi vua đọc sách” vào năm 1272 Cuốithời Trần, khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền bính, đã chú trọng phát triển giáodục Nho học Ông đã sửa đổi về thi cử cho phù hợp yêu cầu thực tế, nh đamôn tính và viết vào thi Hơng, khuyến khích việc dùng chữ Nôm, cho dịchkinh Th ra chữ Nôm để dễ học tập Có thể thấy, đến thời Trần, Nho học đãthực sự phát triển, chi phối giáo dục, khoa cử, tạo nên đội ngũ trí thức Nho sĩ

đông đảo, thúc đẩy sự phát triển của học vấn nớc nhà, tạo ra nền văn hóamang dấu ấn Nho giáo

Cuối thế kỷ XIV, Nho giáo càng phát triển mạnh, chiếm u thế trongcung đình và đi sâu vào sinh hoạt tinh thần của Đại Việt trên nhiều mặt Giáodục Nho học giữ vị trí chủ đạo trong nền giáo dục đất nớc Tầng lớp Nho sĩ trởnên đông đảo và tích cực tham gia các công việc chính trị của đất nớc, phấn

đấu cho lý tởng của Nho giáo, phát triển những quan điểm về các mặt chínhtrị, xã hội, đạo đức, làm cho sinh hoạt t tởng và văn hóa nớc nhà khá náonhiệt Bên cạnh đó, vào cuối đời Trần, xã hội Việt Nam bớc vào khủng hoảng,

sự phát triển quá mức của đạo Phật đã gây ra những hậu quả xã hội nặng nề,

nh tầng lớp quý tộc lợi dụng danh nghĩa tôn giáo ra sức xây chùa, đúc tợng;nhà chùa chiếm hữu nhiều ruộng đất, tiêu phí nhiều tiền của, tăng ni ngày một

đông đến mức chiếm quá nửa dân số Khi đó đã xuất hiện khuynh hớng côngkích Phật giáo từ phía các Nho sĩ và ngày một trở nên mạnh mẽ, rầm rộ, phản

Trang 14

ánh những mâu thuẫn vốn có trong xã hội giữa một bên là giới quý tộc (thântộc của nhà vua) có thế lực, có sản nghiệp, có khuynh hớng ủng hộ Phật giáovới một bên là ngoại tộc đi lên bằng tài năng trí tuệ Từ đây, Phật giáo khôngcòn giữ vị trí quan trọng trong lĩnh vực chính trị, t tởng nh trớc nữa, mà Nhogiáo dần tiến đến nắm giữ vị trí chủ đạo trong sinh hoạt t tởng tại Việt Nam.Mãi cho đến năm 1945 trở về sau, đề cơng văn hoá Việt Nam năm 1943 của

Đảng Cộng sản Đông Dơng do Trờng Chinh khởi thảo chủ trơng đập tannhững quan niệm cũ kỹ của Nho giáo gây ảnh hởng tai hại ở Việt Nam làmcho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng Cách mạng ThángTám năm 1945 đã làm cho Nho giáo ở Việt Nam suy sụp hoàn toàn cùng với

sự sụp đổ của chế độ quân chủ Từ đây, Nho giáo không còn là hệ t tởng chínhthống của tầng lớp lãnh đạo xã hội Nho giáo không còn tồn tại nữa nhng nóvẫn ảnh hởng lâu dài trong các mối quan hệ xã hội, trong ứng xử giữa ngời vàngời, trong phong tục tập quán và cả trong những nghi thức thờ cúng, tín ng-ỡng cổ truyền của ngời Việt

Từ cuối thế kỷ 20, việc Việt Nam chuyển đổi sang kinh tế thị trờng vàhội nhập thế giới đã làm nảy sinh những nguy cơ lớn đối với Văn hóa ViệtNam Nguy cơ bên trong là sự xói mòn và băng hoại giá trị văn hoá truyềnthống Nguy cơ bên ngoài là việc văn hoá, lối sống phơng Tây xâm lấn vănhoá bản địa, tạo ra sự tiêu diệt bản sắc văn hoá dân tộc Nếu dân tộc Việt Nam

bị "hoà tan" bởi văn hóa ngoại lai, đó sẽ là một thảm hoạ lớn và cũng là mộtloại diệt vong, ghê gớm không kém gì họa mất nớc Trớc nguy cơ đó, nhiềungời Việt Nam tìm cách hớng về bảo lu các giá trị truyền thống, tạo ra nhữngcơ hội cho Nho giáo tái sinh Nho giáo là thành phần quan trọng hàng đầu đãkiến tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam, do đó bảo vệ truyền thống văn hóaViệt Nam sẽ là điều không thể thực hiện đợc nếu gạt bỏ những gì thuộc vềNho giáo

Tại Việt Nam, Nho giáo đã bản địa hoá, cung cấp các giá trị làm nềntảng cho nền văn hoá Việt Nam để tạo nên một truyền thống tốt đẹp về t tởng,

đạo đức và nếp sống Đó là ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm đạo đứccủa mỗi ngời đối với cộng đồng; là sự hiếu học, coi trọng nhân tài, coi trọngngời có học vấn và tôn s trọng đạo; là sự tích cực nhập thế, tích cực dấn thânvào các hoạt động xã hội; là việc coi trọng gia đình, trọng tình nghĩa Câuchâm ngôn "Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn" phổ biến ở các trờng học tại ViệtNam hiện nay chính là quan niệm giáo dục của Nho giáo

Trang 15

1.4 Hình tợng ngời phụ nữ ở xã hội phong kiến Việt Nam

Cũng nh ta đã nói ở phía trên, hình tợng ngời phụ nữ ở xã hội phongkiến Việt Nam cũng lấy thuyết “Tam tòng tứ đức” để làm thớc đo chuẩn mực.Ngời con gái hay ngời phụ nữ đều phải sống đúng nh Nho giáo dạy, tách khỏiNho giáo là xem nh khép vào tội nghiêm trọng Những quy định này đợc giaicấp thống trị phong kiến sử dụng để giáo hóa ngời phụ nữ với mục đích ổn

định xã hội, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị và vai trò của nam giới.Bởi thế giáo s Vũ Khiêu mới cho rằng: “Phải chăng ở đây cái “ngu trung” lại

đợc vận dụng vào việc giữ gìn tiết hạnh của ngời phụ nữ, hay là ngợc lại, cáigiữ gìn tiết hạnh của ngời phụ nữ lại trở thành tấm gơng soi cho các bậc trungthần” Có thể thấy Nho giáo quan niệm về hình tợng ngời phụ nữ nh thế nàothì ở Việt Nam hình mẫu đó đợc xem nh là khuôn đúc của mọi ngời con gái.Không chỉ trong xã hội phong kiến trớc đây, mà cho đến bây giờ những t tởng,

ảnh hởng của Nho giáo vẫn không tách rời xã hội hiện đại mà vẫn tồn tại nhmột bộ phận của truyền thống Ta không phủ nhận giá trị và những tinh hoa

mà học thuyết Nho giáo đem lại, tuy nhiên nếu nhìn về một khía cạnh nào đóthì một số t tởng của Nho học không còn phù hợp để tồn tại trong xã hội nàynữa và chúng ta cần phải cải tiến nó lên một trình độ văn minh cao hơn

Ngày đăng: 14/10/2020, 01:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w