1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những quan điểm triết học của socrates trong triết học hy lạp cổ đại

19 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 153 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU Hy Lạp cổ đại có một nền triết học rất rực rỡ. Trước Socrates, nền triết học này bao gồm hai khuynh hướng chính: một, những người phát biểu về thế giới tự nhiên; và hai, các nhà tư biện về thần thánh. Các triết gia trước Socrates chưa có một nghiên cứu cụ thể nào liên quan đến con người và coi con người là đối tượng của Triết học. Socrates là một trong những tư tưởng gia Hy Lạp cổ đại đầu tiên kêu gọi giới học giả và các nhà lãnh đạo quốc gia đương thời, những người quá chú tâm đến các công trình nghiên cứu thế giới tự nhiên, nên quan tâm nhiều hơn đến bản chất của con người. Ông xem con người là một con vật có lý trí, xã hội tính, có xác và hồn là một tổng thể thống nhất, ông tin có thượng đế là thần minh thấu suốt những điều tốt điều xấu và vì thế ông là người đầu tiên đề ra chuẩn mực đạo đức cho triết học về con người. Đối với Socratess, con người là đối tượng đáng được quan tâm hơn cả và bất cứ điều gì ảnh hưởng đến con người đều có tầm quan trọng quyết định. Tri thức về thế giới tự nhiên bên ngoài, nếu không có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống con người, chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Mọi tri thức có liên quan đến bản chất và cuộc sống của con người đều đáng được sở hữu và cần phải được tích luỹ. Hơn nữa, theo cách nói của Socratess, “cuộc sống vô minh thì không đáng để sống.” Những quan điểm triết học của Socrates rất sâu sắc và thấm đẫm tính nhân văn; Trong triết học của ông về vấn đề con người, đạo đức con người có nhiều điểm tương đồng với Triết học nhân sinh quan của Phật giáo. Đó là điểm thú vị chứng tỏ sự sao lưu tư tưởng giữa hai nền văn hóa Đông – Tây, đồng thời nó cũng chứng tỏ vấn đề con người, bản chất con người là một trong những vấn đề trọng tâm hàng đầu, là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Triết học.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Hy Lạp cổ đại có một nền triết học rất rực rỡ Trước Socrates, nền triết học này bao gồm hai khuynh hướng chính: một, những người phát biểu về thế giới

tự nhiên; và hai, các nhà tư biện về thần thánh

Các triết gia trước Socrates chưa có một nghiên cứu cụ thể nào liên quan đến con người và coi con người là đối tượng của Triết học Socrates là một trong những tư tưởng gia Hy Lạp cổ đại đầu tiên kêu gọi giới học giả và các nhà lãnh đạo quốc gia đương thời, những người quá chú tâm đến các công trình nghiên cứu thế giới tự nhiên, nên quan tâm nhiều hơn đến bản chất của con người Ông xem con người là một con vật có lý trí, xã hội tính, có xác và hồn là một tổng thể thống nhất, ông tin có thượng đế là thần minh thấu suốt những điều tốt điều xấu

và vì thế ông là người đầu tiên đề ra chuẩn mực đạo đức cho triết học về con người

Đối với Socratess, con người là đối tượng đáng được quan tâm hơn cả và bất cứ điều gì ảnh hưởng đến con người đều có tầm quan trọng quyết định Tri thức về thế giới tự nhiên bên ngoài, nếu không có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống con người, chỉ có tầm quan trọng thứ yếu Mọi tri thức có liên quan đến bản chất và cuộc sống của con người đều đáng được sở hữu và cần phải được tích luỹ Hơn nữa, theo cách nói của Socratess, “cuộc sống vô minh thì không đáng để sống.”

Những quan điểm triết học của Socrates rất sâu sắc và thấm đẫm tính nhân văn; Trong triết học của ông về vấn đề con người, đạo đức con người có nhiều điểm tương đồng với Triết học nhân sinh quan của Phật giáo Đó là điểm thú vị chứng tỏ sự sao lưu tư tưởng giữa hai nền văn hóa Đông – Tây, đồng thời nó cũng chứng tỏ vấn đề con người, bản chất con người là một trong những vấn đề trọng tâm hàng đầu, là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Triết học

Trang 2

B NỘI DUNG 1- Điều kiện ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại

1.1 Về tự nhiên

Hy Lạp cổ đại chính là cái nôi của nền triết học phương Tây Đây là quốc gia rộng lớn có khí hậu ôn hòa Bao gồm miền Nam bán đảo Ban Căng (Balcans), miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở miền Egee Hy Lạp được chia làm ba khu vực Bắc , Nam và Trung bộ

Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trù phú, có thành phố lớn như Athen Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng bằng rộng lớn phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt Vùng bờ biển phía Đông của bán đảo Ban Căng khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển Các đảo trên biển Êgiê (Egée) là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán giữa Hy Lạp với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi Vùng ven biển Tiểu Á là đầu mối giao thương giữa Hy Lạp và các nước phương Đông Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nên Hy Lạp cổ đại sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng Nơi có nhiều triết gia mà triết lý của họ trở nên bất hủ

1.2 Về kinh tế

Hy Lạp cổ đại nằm ở một vị trí vô cùng thuận lợi về khí hậu, đất đai, biển

cả và lòng nhiệt thành của con người là những tài vật, tài lực vô giá để cho tư duy bay bổng, mở rộng các mối bang giao và phát triển kinh tế

Thế kỷ VIII – VI TCN, đây là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp

cổ đại là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Lúc bấy giờ đồ sắt được dùng phổ biến, năng xuất lao động tăng nhánh, sản phẩm dồi dào, chế độ sở hữu tư nhân được cũng cố Sự phát triển này đã kéo theo phân công lao động trong nông nghiệp, giữa nghành trồng trọt và ngành chăn nuôi

Xu hướng chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ đã thể hiện ngày càng rõ nét Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, thủ công nghiệp từ cuối thế kỷ VIII BC là

Trang 3

lực đẩy quan trọng cho trao đổi, buôn bán, giao lưu với các vùng lân cận Engels

đã nhận xét: “Phải có những khả năng của chế độ nô lệ mới xây dựng được một quy mô phân công lao động lớn lao hơn trong công nghiệp và nông nghiệp, mới xây dựng được đất nước Hy Lạp giàu có Nếu không có chế độ nô lệ thì cũng không có quốc gia Hy Lạp, không có khoa học và công nghiệp Hy Lạp”.

1.3 Về chính trị - xã hội

Từ điều kiện kinh tế đã dẫn đến sự hình thành chính trị - xã hội, xã hội phân hóa ra làm hai giai cấp xung đột nhau là chủ nô và nô lệ Lao động bị phân hóa thành lao động chân tay và lao động trí óc Đất nước bị chia phân thành nhiều nước nhỏ Mỗi nước lấy một thành phố làm trung tâm Trong đó, Sparte và Athen là hai thành phố cổ hùng mạnh nhất, nồng cốt cho lịch sử Hy Lạp cổ đại Thành bang Athen nằm ở vùng đồng bằng thuộc Trung bộ Hy Lạp, có điều kiện địa lý thuận lợi nên đã trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa của Hy Lạp

cổ đại, và là cái nôi của triết học Châu Âu Tương ứng với sự phát triển kinh tế, văn hóa là thiết chế nhà nước chủ nô dân chủ Athen

Thành Sparte nằm ở vùng bình nguyên, đất đai rất thích hợp với sự phát triển nông nghiệp Chủ nô quý tộc thực hiện theo lối cha truyền con nối Chính

vì thế Sparte đã xây dựng một thiết chế nhà nước quân chủ, thực hiện sự áp bức rất tàn khốc đối với nô lệ

Do sự tránh giành quyền bá chủ Hy Lạp, nên hai thành phố trên tiến hành cuộc chiến tránh khốc liệt kéo dài hàng chục năm và cuối cùng dẫn đến sự thất bại của thành Athen Cuộc chiến tàn khốc đã lưu lại sự suy yếu nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và quân sự của đất nước Hy Lạp Chiến tránh, nghèo đói đã nảy sinh các cuộc nỗi dậy của tầng lớp nô lệ Nhưng lại thất bại vì họ xuất phát từ nhiều bộ lạc khác nhau, không có ngôn ngữ chung, không có quyền hạn, không được tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị Chớp lấy thời cơ, Vua Philíp

ở phía Bắc Hy Lạp đã đem quân xâm chiếm toàn bộ bán đảo Hy Lạp thế kỷ thứ

II BC, Hy Lạp một lần nữa bị rơi vào tay của đế quốc La Mã Tuy đế quốc La

Mã chinh phục được Hy Lạp, nhưng lại bị Hy Lạp chinh phục về văn hóa

Trang 4

Engels đã nhận xét “không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được” Vì điều kiện kinh tế, nhu cầu buôn bán, trao

đổi hàng hóa mà các chuyến vượt biển đến với các nước phương Đông trở nên thường xuyên Chính vì thế tầm nhìn của họ cũng được mở rộng, những thành tựu văn hóa của Ai Cập, Babilon đã làm cho người Hy Lạp ngạc nhiên Tất cả các lĩnh vực, những yếu tố của nước bạn đều được người Hy Lạp đón nhận,

“Những người Hy Lạp mãi mãi là đứa trẻ nếu không hiểu biết gì về Ai Cập”.

Trong thời đại này Hy Lạp đã xây dựng được một nền văn minh vô cùng xán lạn với những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau Chúng là cơ

sở hình thành nên nền văn minh phương Tây hiện đại

Về văn học, người Hy Lạp đã để lại một kho tàng văn học thần thoại rất phong phú, những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫn, phản ánh cuộc sống sôi động, lao động bền bỉ, cuộc đấu tránh kiên cường chống lại những lực lượng tự nhiên, xã hội của người Hy Lạp cổ đại

Về nghệ thuật, đã để lại các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa có giá trị

Về luật pháp, đã sớm xây dựng một nền pháp luật và được thực hiện khá nghiêm tại thành bang Athen

Về khoa học tự nhiên, những thành tựu toán học, thiên văn, vật lý… được các nhà khoa học tên tuổi như Thalés, Pythago, Heraclite sớm phát hiện ra Và đặc biệt, người Hy Lạp cổ đại đã để lại một di sản triết học vô cùng đồ sộ và sâu sắc

2 Đặc trưng cơ bản của triết học cổ Hy Lạp

Đỉnh cao của nền văn minh cổ đại đó chính là triết học Hy Lạp cổ đại, và cũng là điểm xuất phát của lịch sử thế giới Nhìn chung triết học Hy Lạp có những đặc trưng sau:

-Thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị

Trang 5

- Có sự phân chia và các sự đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái, duy vật - duy tâm, biện chứng - siêu hình, vô thần - hữu thần

- Gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng một bức tránh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó

- Đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác, ngây thơ

- Coi trọng vấn đề về con người

Triết học cổ Hy Lạp mang tính duy vật tự phát và biện chứng sơ khai Tách

ra khỏi yếu tố thần linh thống trị con người từ xưa, đỉnh cao của triết học cổ Hy Lạp là triết gia Socrates Ông đã đề cập đến thân phận con người Đa phần các triết gia có xu hướng hướng ngoại thì Socrates quay về hướng nội, ông đã đề cập đến đạo đức con người

3 Triết học của Socrates (469 – 399)

3.1-Tiểu sử của Socrates

Socrates xuất thân trong một gia đình khá giả ở Athen Cha làm nghề điêu khắc, mẹ là nữ hộ sinh Ông hướng về chính thể chủ nô quý tộc chống lại chủ nô dân chủ Năm 399 TCN, ông bị chủ nô dân chủ kết án tử hình về tội “coi thường luật pháp, chống lại chế độ bầu cử dân chủ” Đối với ông chỉ có văn nói sống động, và văn viết đã bị khô cứng Vì vậy cuộc đời ông không để lại một tác phẩm nào Chỉ biết được ông qua đệ tử của ông

3.2- Khái quát về triết học của Socrates.

Triết học của ông khác với các nhà triết học trước đó Các nhà triết học trước nghiên cứu về giới tự nhiên Nhưng ông dành phần lớn vào việc nghiên cứu về con người, về đạo đức, về nhân sinh quan Triết học không

gì khác hơn là sự nhận thức của con người về chính mình, “con người hãy nhận thức chính mình” Bắt đầu từ ông, đề tài con người trở thành một trong những chủ đề trong tâm của triết học phương Tây Vì vậy, quan điểm triết học của ông bàn đến vấn đề con người trong đời sống xã hội mà trước hết là hành vi đạo đức

Trang 6

Xuất phát từ “đạo đức học duy lý”, ông cho rằng, “Hiểu biết là cơ sở của điều thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác, và chỉ có cái thiện phổ biến mới là

cơ sở của đạo đức, mới là cơ sở của đức hạnh Ai tuân theo cái thiện phổ biến thì người đó mới có đạo đức Và muốn theo cái thiện phổ biến thì phải hiểu được nó, muốn hiểu được nó phải thông qua các cuộc tránh luận, tọa đàm, luận chiến tìm ra chân lý theo cách thức mà về sau được gọi là “phương pháp Socrates” Trở nên thấp kém hơn bản thân mình không phải là cái gì khác hơn ngoài sự ngu dốt, trở nên cao cả hơn bản thân mình không phải cái gì khác ngoài sự thông thái”

Phương pháp của Socrates trải qua 4 giai đoạn :

Một là “mỉa mai”, tức là nêu ra những câu hỏi mẹo, mang tính châm biếm, mỉa mai nhằm làm cho đối phương sa vào mâu thuẫn

Hai là “đỡ đẻ tinh thần”, giúp cho đối phương thấy được con đường để tự mình khám phá ra chân lý

Ba là “qui nạp”, tức là xuất phát từ cái riêng lẻ khái quát thành những cái phổ biến, từ những hành vi đạo đức riêng lẻ tìm ra cái thiện phổ biến của mọi hành vi đạo đức

Phương pháp cuối cùng là “định nghĩa”, là chỉ ra hành vi thế nào đạo đức, quan hệ thế nào là đúng mực Phương pháp này đối với ông chỉ có những người

có tri thức như giai cấp quý tộc và các triết gia mới là những người có đạo đức Bốn bước này quan hệ chặt chẽ với nhau trên bước đường tìm kiếm tri thức chân thật, bản chất giúp con người sống đúng với tư cách và phận sự, của nó trong đời sống xã hội

Sự đóng góp của ông thay đổi từ nguyên lý vũ trụ sang nguyên lý nhân minh đã làm nên một bước chuyển mới trong nền triết học Cho nên, triết học

Hy Lạp mới lấy ông làm tiêu chí để phân kỳ, nó là thẩm định những giá trị của

tư tưởng Socrates đối với sự phát triển trong lịch sử

Ông là một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng thời cổ đại, ông không để lại cho đời một tác phẩm nào, vì ông chỉ thường xuyên đàm luận mà không viết

Trang 7

Ngày nay chúng ta sở dĩ biết được được về Socrates là do các học trò của ông và những tư tưởng khác

Năm 399 trước Công nguyên ông bị kết án tử hình vì tội hoạt động chống chế độ dân chủ, chủ trương thay tôn giáo đương thời bằng một tôn giáo mới làm giảm hiệu lực của nước nha, là hư hỏng thánh niên Ông đã từ chối việc cứu ông

ra nước ngoài và đã uống thuốc độc tự tử trong tù

3.3 Triết học nhân bản của Socrates

Socrates dành phần lớn công sức nghiên cứu triết học về nhân bản, về con người và về đạo đức, ông đã nói với các học trò rằng không nên đặt vấn đề nghiên cứu tự nhiên, vì giới tự nhiên đã được thần thánh an bài cả rồi, nếu cố công phá khám phá giới tự nhiên là xúc phạm đến thần thánh, thần thánh ở khắp mọi nơi, có sức mạnh kỳ diệu, sáng tạo ra thế giới, có thể nhìn thấy tất cả, nhưng không thích con người phát hiện ra mình

Do vậy Socrates cho rằng triết học không có gì khác hơn là sự nhận thức

của con người về chính bản thân mình “con người hãy nhận thức chính mình”, từ đây con người trở thành một trong những chủ đề trọng tâm nghiên

cứu về triết học

* Quan niệm “hãy tự nhận thức chính mình” của Socrates

Nếu một người tự nhận thức được chính mình thì đó chính là động cơ, là bước đệm, là tiền để để từ đó con người có thể nhận thức được giới tự nhiên Là động lực chủ yếu và trực tiếp để con người có thể tự hoàn thiện chính mình, hướng đến một đức hạnh cao quý Ngược lại, con người không biết rõ mình, không hiểu mình là nguyên nhân của sự ngu dốt, những dục vọng gây nên những lỗi lầm không đáng có Những tên tội phạm hay những kẻ tội đồ, những người mông muội hay ngu dốt đề do xuất phát điểm không hiểu được chính bản thân mình Không hiểu được mình thì sẽ không thể làm gì khác hơn

Một người tự ý thức được phải hiểu chính mình, từ đó hiểu được bản thân mình một cách tự giác tích cực thì sẽ đạt được tri thức, hạnh phúc và mọi thành công trong cuộc sống Ngược lại, thì người đó chỉ liên tục phạm hết sai lầm này

Trang 8

đến sai lầm khác, tội lỗi này đến tội lỗi khác, và cuộc sống của người đó sẽ hoàn toàn bị chính anh ta hủy hoại Hầu hết mọi người đều cho rằng tự biết rõ chính mình, rằng “không ai gần gũi ta hơn chính bản thân bản thân ta.” Tuy nhiên, tự tin không có nghĩa là tự biết mình Socratess đã đặt ra câu hỏi: “ Phải chăng bạn cho rằng bạn tự biết mình, đơn giản chỉ vì bạn sở hữu cái tên của mình?” Ông cũng chỉ ra rằng, nếu chỉ muốn biết về con ngựa, chúng ta phải nắm được tuổi đời , sức vóc và tình trạng sức khoẻ của nó, từ đó mới có thể xác định được mức

độ nhanh nhẹn và khả năng làm việc của nó Nguyên lý này cũng áp dụng đúng với con người để hiểu chính mình, con người trên cõi đời Quá trình tìm hiểu bản thân đòi hỏi không ít nỗ lực Nói cho cùng, tự biết mình là mọt lẽ thiện trong đời

Trong đền thờ thần Apollon ở Delphes đã có câu châm ngôn: “Ngươi tự biết ngươi” Socrates đã lấy câu châm ngôn ấy mà triển khai sâu rộng về mọi mặt,

mọi hoạt động trong cuộc đời của Socrates, đối với bản thân, cũng như đối với người khác chỉ có một điều duy nhất, nhìn và dẫn cho người ta thấy, làm cho người ta thấy chính bản thân của mỗi người Hướng về cái nhìn chính ta, nhìn về con người của ta Con người do ngu muội, giả dối, thù hận, dục vọng mà mà quên mất chính mình Sự quên lãng đó Socrates cho rằng; người ta chỉ làm chỉ nghĩ theo bên ngoài, tức là theo dư luận, thành kiến, tình cảm nhất thời, theo ham muốn, tiền tài giàu sang quyền lực … người lười suy nghĩ không thật sự suy nghĩ, người chỉ chăm chú những thứ bên ngoài bản thân, chỉ nhìn thoáng qua chính bản thân mình Bởi vì theo thường tình người ta còn cạnh tránh giết hại, giành giựt các thứ bên ngoài Nếu con người nhìn trở về bản thân mình, biết suy nghĩ sâu xa, suy nghĩ độc lập, không bị dục vọng tình cảm yêu ghét tác động

sẽ thấy được ánh sáng ngời chiếu bên trong con người mình Ánh sáng Socrates nói đây là ánh sáng chí thiện, là cái “lý trí trong sáng” là tình yêu thương Ánh sáng bên trong con người là ánh sáng nội tại, tạo hóa sinh ra, ai cũng có ánh sáng nội tại vẫn hằng hữu trong con người, nhưng người ta bị những thứ phù phiếm bên ngoài thu hút, lao tâm khổ trí để chạy theo cái xung quánh

Trang 9

Ánh sáng nội tại là ánh sáng từ chính bản thân con người, nó soi rõ nội tâm con người, thấu hiểu được bản chất của chính con người Khi con người bỏ quên ánh sáng nội tại, chưa tìm được ánh sáng nội tại, thì người ta chưa đích thực sống với chính và người đó không bao giờ có đạo đức, có phẩm hạnh cao quý

Socrates đã nói rằng: “Ánh sáng nội tại trong con người ví như ánh sáng mặt trời, có thể toả khắp nơi Không một thứ nào bên ngoài con người như tiền tài dánh vọng, nhà cao cửa rộng lại tỏa rạng hơn nó” Chính vì những quan điểm

đó mà Socrates đã trọn đời đi lang thang truyền dạy, và cũng chính vì nó mà Socrates sẵn lòng hy sinh mạng sống của mình

Socrates cho rằng con người bỏ đi ánh sáng tâm linh thì thế nhân chỉ là con rối giữa cuộc đời mà không còn là con người đích thực của họ Họ không còn là chính mình mà chỉ là con rối Các hoạt động của họ là những hoạt động vô thức, làm mà không biết mình làm gì, nói mà không biết mình nói gì, tất cả mọi thứ đều trở nên vô nghĩa một các khủng khiếp và đáng thương Con người dù là kẻ giàu hay người nghèo cũng trở thành những nô lệ, không ai còn là mình, không

có thứ gì liên quan đến đạo đức, nhân phẩm tồn tại trong xã hội ấy

Sự hướng thiện, yêu mến cái thiện là đức tính tự nhiên của con người được tạo hóa ban tặng Ngoài ra, tạo hóa còn ban tặng con người ý chí hành thiện, ban cho con người lý trí thẳng ngay để phân biệt điều tốt điều xấu, đấy là “lý trí trong sáng” Đi kèm với “lý trí trong sáng” trong mỗi người là lòng yêu thương, đấy là tình yêu thương Ba điều trên là ánh sáng nội tại, ai cũng có Người sống trên đời tốt đẹp và hoàn thiện là do ánh sáng ấy mà nên Con người lúc nào cũng

có mơ ước được sống trong một thế giới giàu tình yêu thương và thái bình ấm

no, nhưng chỉ khi nào con người tìm được thứ “ánh sáng nội tại” thì thế giới con người mơ ước mới tồn tại thật sự Đó mới thực sự là xã hội mà con người cần sống và đáng sống, ở đó thứ “ánh sáng nội tại” bao trùm và chiếu sáng tất cả Con người trở về với điều thiện, với đức hạnh Ở đó mối quan hệ giữa con người với nhau được xây dựng dựa trên cơ sở đạo đức loài người, dựa trên những tri thức, những hiểu biết về chính mình của con người

Trang 10

Ánh sáng nội tại chính là luân lý đạo đức và tinh thần sáng suốt Cho nên Socrates kêu gọi con người trở về sống với nội tại, tức là trở về đạo đức, luân

lý Xã hội thái bình theo Socrates cũng là một xã hội đạo đức luân lý ngự trị điều hành

Con người trở về sống áng sáng tâm linh nội tại đó là khi một người tự biết

về mình, một người đạo đức, nhân cách thánh cao, nói những lời đúng đắn Người ta biết rõ rằng đạo đức thì chân thật bền lâu, hòa bình an ninh, đem lại hạnh phúc, còn những thứ vật chất phù hoa chỉ là tạm bợ, nay còn mai mất, nó nguyên nhân dẫn đến tội ác, đem đến khổ đau Nếu có “lý trí trong sáng” trở về mình, tự hiểu mình sống có đạo đức thì xã hội ngày càng tốt đẹp Đó là kết quả của suy nghĩ, tư duy Với “lý trí trong sáng” đưa ta tới tư tưởng thích nghi, hoà hợp với chí thiện, đây là luận đề hoà hợp trong triết lý của Socrates

“Lý trí trong sáng” không bao gồm những tư tưởng ích kỷ, hại người, những

ý nghĩ ám muội, những âm mưu gian xảo Đó là phần lý trí rối rắm của những tâm hồn tà gian ác độc, rời bỏ chí thiện và tình yêu thương Trong xã hội đời thường của Hy Lạp trên 2500 năm trước - thời Socrates, và thực tại thế giới ngày nay ta thấy đại đa số người ta lười tư duy sáng tạo Con người hay suy nghĩ theo lý trí rối rắm, những khiếm khuyết tệ hại đó làm cho thế giới loạn lạc, loài người suy đồi Do vậy muốn bỏ đi lý trí rối rắm đó để xây dựng một con người đích thực thì phải qua ba việc:

a Tự mình thánh tẩy mình

Khi Socrates đặt câu hỏi với người đối thoại, ông luôn khơi gợi cho con người ấy trở về quán xét mình Người ấy thấy mọi điểm tựa, mọi điều ham thích

mà họ lao tâm tìm kiếm… đều hoàn toàn sụp đổ, khiến người ta sững sờ Bây giờ người ấy đột nhiên đứng trước một con người mới cũng lại là chính họ Do

họ mới khám phá ra điều này vô cùng lợi ích xây dựng con người tự do, đích thực là chính mình Tình trang ấy là tự thánh tẩy mình

b Sự tự định đoạt độc lập tự chủ

Sau khi con người tự thánh tẩy, thì con người có một tinh thần và trí thông minh mới mẻ, nhờ nhìn và nhận định sự việc không hoặc ít sai lầm, nhận thức

Ngày đăng: 14/10/2020, 00:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w