Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thông qua các kiểu sử dụng đất tại Hải DươngĐánh giá đất đai là một trong những nội dung nghiên cứu không thể thiếu được trong chương trình phát triển nông nghiệp bền vững vì đất đai là nguồn tài nguyên có hạn,và là tư liệu sản xuất cơ bản nhất của người nông dân. Đất đai đang đứng trước nguy cơ suy giảm về diện tích cũng như về chất lượng đất.Vì vậy, việc hình thành các phương pháp đánh giá đất là vô cùng cần thiết.Hiện nay trên thế giới có 3 phương pháp đánh giá đất chính: Đánh giá đất theo định tính: Chủ yếu dựa vào sự mô tả và xét đoán các tính chất đất đai, đưa vào sắp xếp trong hệ thống đánh giá. Đánh giá đất theo phương pháp thông số: Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các phần mềm máy tính để tìm hiểu mối tương quan giữa các yếu tố là các thông số để tổng hợp đánh giá. Đánh giá đất theo định lượng: Dựa trên mô hình, mô phỏng làm định hướng để xác định và đánh giá.2.1.2.1 Đánh giá đất ở MỹDựa trên hệ thống phân loại đất SoilTaxonomy, một hệ thống phân loại định lượng đối với các đặc tính đất trong các tầng chuẩn đoán đặc trưng và mang tính thực tiễn cao trong quản lí và sử dụng đấtNguyên tắc đánh giá đất: dựa vào đặc tính và tính chất hiện tại của đất để phân loại.
Trang 1Mở Đầu
1 Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người Đất đai là thành phần quan trọng của môi trường sống, nền tảng để con người định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt đối với ngành sản xuất nông nghiệp Đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra những lương thực thực phẩm nuôi sống con người.Ngày nay, với sự phát triển của đời sống kinh tế, sự gia tăng dân số cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật đã tạo rất nhiều áp lực lên việc
sử dụng đất đai, khiến cho quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp làm ảnhhưởng đến sản lượng lương thực, thực phẩm của cả nước, đồng thời làm suy giảm chất lượng của đất nông nghiệp Vì vậy việc sử dụng đất có hiệu quả vàbền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất cho hiện tại và tương lai
Xã Quang Minh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương là một xã thuộc vùng đồng bằng, nằm ở phía nam của huyện Gia Lộc, cách trung tâm huyện Gia Lộc 10km và cách thành phố Hải Dương 20km Trong những năm gần đây, thực hiện đường lối của Đảng và nhà nước, nền kinh tế của xã tăng trưởng mạnh
mẽ và liên tục đã góp phần quan trọng ổn định tình hình chính trị, kinh tế -
xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân Nông nghiệp
là ngành kinh tế chủ yếu đem lại việc làm và thu nhập cho người dân trong thôn, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, tạo cơ sở ổn định xã hội
Tuy nhiên những năm gần đây, xã đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng
Trang 2ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ Điều này đãlàm cho diện tích đất nông nghiệp của xã đang bị thu hẹp dần Do đó, cần phải đánh giá hiệu sử dụng đất nông nghiệp của xã nhằm tìm ra những loại hình sử dụng đất có hiệu quả, từ đó có những giải pháp sử dụng đất hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái, hướng tới nền sản xuất nông nghiệp bề vững.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự phân công của khoa Quản Lý ĐấtĐai - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, được sự đồng ý của UBND xã Quang Minh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, dưới sự hướng dẫn của Thạc
sĩ Luyện Hữu Cử e tiến hành thực hiện đề tài : " Đánh giá hiệu quả sử sụng đất nông nghiệp ở xã Quang Minh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương "
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá hiệu quả các kiểu sử dụng đất trên địa bàn xã Nghi Diên phục vụ cho sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững phù hợp với các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và điều kiện đất đai của xã
- Đề xuất các biện pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong xã
3 Yêu cầu của đề tài
- Quán triệt quy trình, nguyên tắc và phương pháp đánh giá đất theo FAO, ápdụng vào điều kiện thực tế của xã Quang Minh để đánh giá hiệu quả sử dụng của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của xã
- Nguồn số liệu, tài liệu điều tra thu thập được phải tin cậy, đảm bảo tính pháp lý và chính xác
- Đề xuất những giải pháp sử dụng đất mang tính khả thi nhằm phát triển bềnvững đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Quang Minh
Trang 3Chương 1.Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1 Tổng quan về đánh giá đất đai
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản trong đánh giá đất theo Fao
1.1.1.1 Khái niệm về đất đai
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận như một nhân
tố sinh thái ( FAO, 1976) Trên quan điểm nhìn nhận của FAO thì đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất địnhđến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Như vậy, đất được hiểu như một tổng thể của nhiều yếu tố bao gồm: (khí hậu, địa hình/địa mạo, đất, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do hoạt động của con người
“ Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt như: khí hậu,bề mặt, thổ nhưỡng,dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và
khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư cảu con người,những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại( san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá…)
“Đất đai là một vạt đất xác định về mặt địa lí, là một phần diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kì có thể
dự đoán được của môi trường bên trên, bên trong và bên dưới nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, động thực vật, những hoạt động tác động từ trước và hiện tại của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó của con người trong hiện tại và tương lai”
Trang 4Từ các định nghĩa trên, đất đai được hiểu là: Đất đai là một vùng đất có vị trí cụ thể,
có ranh giới và có những thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, địa chất/địa mạo, thủy văn, động thực vật vàcác hoạt động sản xuất của con người
2.1.1.2 Khái niệm về đánh giá đất đai
-Đánh giá đất đai là so sánh, đánh giá khả năng của đất theo từng khoanh đất vào độmàu mỡ và khả năng sản xuất của đất
-Theo Sôbôlev: đánh giá đất là học thuyết về sự đánh giá có tính chất so sánh chất lượng đất của các vùng đất khác nhau mà ở đó thực vật sinh trưởng và phát triển.-Đánh giá đất đai là sự phân chia có tính chất chuyên canh về hiệu suất của đất do những dấu hiệu khách quan (khí hậu thời tiết, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, hệ động vật tự nhiên…) và thuộc tính của chính đất đai tạo nên
-Đánh giá đất đai chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực một vùng có điều kiện tự nhiên (trừ yếu tố đất), điều kiện kinh tế xã hội như nhau
-Theo FAO (1976) đánh giá đất đai là quá trình so sánh đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu
Trong sản xuất nông nghiệp, việc đánh giá đất nông nghiệp được dựa theo các yếu
tố đánh giá đất với những mức độ khác nhau Mức độ khác nhau của các yếu tố đánh giá đất được tính toán dựa trên những cơ sở khách quan, phản ánh các thuộc tính của đất và mối tương quan giữa chúng với năng suất cây trồng trong nhiều năm Nói cách khác, đánh giá đất đai trong sản xuất nông nghiệp thường dựa vào chất lượng (độ phì tự nhiên và độ phì hữu hiệu) của đất và mức sản phẩm mà độ phìđất tạo nên
Trong đánh giá đất đai có hai khái niệm sau cụ thể như sau:
Trang 5- đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai: Là việc phân chia hay phân hạng đất đai thànhcác nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng độ dốc, độ dày tang đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, ngập úng, khô hạn, …Trên cơ sở đó có thể lựa chọn nững kiểu sử dụng đất phù hợp.
-đán giá mức độ phù hợp đất đai: là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai
2.1.1.3 Khái niệm về loại hình sử dụng đất ( LUA)
LUA là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định LUT là bức tranh ô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lí sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội và kĩ thuật xác định Trong sản xuất nông nghiệp, loại hình sử dụng đất được hiểu khái quát là hình thức sử dụng đất đai đai đển sản xuất hoặc phát triển một nhóm cây trồng, vật nuôi trong một chu kỳ hoặc chu kỳ nhiều năm Ngoài ra, LUT còn có nghĩa là kiểu sử dụng đất
2.1.2 các phương pháp đánh giá đất
Đánh giá đất đai là một trong những nội dung nghiên cứu không thể thiếuđược trong chương trình phát triển nông nghiệp bền vững vì đất đai là nguồn tàinguyên có hạn,và là tư liệu sản xuất cơ bản nhất của người nông dân Đất đai đangđứng trước nguy cơ suy giảm về diện tích cũng như về chất lượng đất
Vì vậy, việc hình thành các phương pháp đánh giá đất là vô cùng cần thiết.Hiện nay trên thế giới có 3 phương pháp đánh giá đất chính:
- Đánh giá đất theo định tính: Chủ yếu dựa vào sự mô tả và xét đoán các tínhchất đất đai, đưa vào sắp xếp trong hệ thống đánh giá
- Đánh giá đất theo phương pháp thông số: Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật, các phần mềm máy tính để tìm hiểu mối tương quan giữa các yếu tố là cácthông số để tổng hợp đánh giá
Trang 6- Đánh giá đất theo định lượng: Dựa trên mô hình, mô phỏng làm định hướng
để xác định và đánh giá
2.1.2.1 Đánh giá đất ở Mỹ
Dựa trên hệ thống phân loại đất Soil-Taxonomy, một hệ thống phân loại địnhlượng đối với các đặc tính đất trong các tầng chuẩn đoán đặc trưng và mang tínhthực tiễn cao trong quản lí và sử dụng đất
Nguyên tắc đánh giá đất: dựa vào đặc tính và tính chất hiện tại của đất đểphân loại
Phương pháp này được sử dụng thành công ở Mỹ và sau đó được vận dụng ởnhiều nước Cơ sở đánh giá tiềm năng sử dụng đất dựa vào các yếu tố hạn chế trong
sử dụng đất, các yếu tố này được phân thành 2 nhóm sau:
- Nhóm các yếu tố hạn chế vĩnh viễn bao gồm những hạn chế: Không dễdàng thay đổi và cải tạo được như độ dốc, độ dày tầng đất, lũ lụt và khí hậu khắcnghiệt
- Nhóm những yếu tố hạn chế tạm thời có khả năng khắc phục bằng các biệnpháp cải tạo trong quản lý đất đai như độ phì, thành phần dinh dưỡng và những trởngại về tưới tiêu
Hệ thống đánh giá đất của Mỹ chia thành 8 nhóm:
+ Từ nhóm I -IV: thích hợp cho sản xuất nông nghiệp
+ Từ nhóm V-VIII: không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, được dùngcho các mục đích khác
Phương pháp đánh giá khả năng sử dụng thích hợp (USDA) tuy không đi sâuvào từng loại cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế xã hội songrất quan tâm đến yếu tố hạn chế bất lợi của đất và việc xác định các biện pháp bảo
vệ đất, đây cũng chính là điểm mạnh của phương pháp đối với việc duy trì và sửdụng đất bền vững
2.1.2.2 Đánh giá đất ở Liên Xô (cũ):
Đánh giá đất dựa trên các đặc tính khí hậu, địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng,nước ngầm và thực vật Phương pháp đánh giá được hình thành vào những năm
Trang 71950 và sau đó đã được phát triển, hoàn thiện vào năm 1986 để tiến hành đánh giá
và thống kê chất lượng tài nguyên đất đai nhằm phục vụ cho mục đích xây dựngchiến lược quản lý và sử dụng cho các đơn vị hành chính và sản xuất trên lãnh thổthuộc liên bang Xô Viết (cũ) Nguyên tắc đánh giá mức độ sử dụng đất thích hợp làphân chia khả năng sử dụng đất đai trên toàn lãnh thổ theo các nhóm và các lớpthích hợp
Liên Xô (cũ) sử dụng phương pháp đánh giá đất định tính dựa theo họcthuyết phát sinh của V.V.Docuchaev (1846 – 1903) Việc đánh giá phân hạng đất đaiđược thực hiện theo 3 bước:
- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tựnhiên)
- Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp vớikhí hậu, địa hình, độ ẩm)
- Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai).Phương pháp đánh giá này có một số hạn chế như quá đề cao khả năng tựnhiên của đất đai như: khí hậu, địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, nước ngầm và thựcvật, mà chưa xem xét đầy đủ khía cạnh kinh tế- xã hội của việc sử dụng đất Mặtkhác, phương pháp này có tính linh động kém vì đánh giá đất đai ở các vùng câytrồng khác nhau do đó không thể chuyển đổi việc đánh giá đất giữa các vùng khácnhau (Nguyễn Văn Thân, 1995) Đánh giá đất được thực hiện theo 2 hướng: đánhgiá chung và đánh giá riêng theo hiệu suất của từng loại cây trồng, với các chỉ tiêu
để đánh giá là:
- Năng suất, giá thành sản phẩm
- Mức hoàn vốn
- Địa tô cấp sai (phần có lãi ròng)
Kết quả đánh giá mức độ sử dụng đất thích hợp đã chia thành các nhóm vàlớp thích hợp trong sử dụng đất như sau:
- Nhóm đất thích hợp được phân theo điều kiện vùng sinh thái đất đai tựnhiên, xác định trên phạm vi vùng lớn
Trang 8- Lớp đất thích hợp là những vùng được tách ra theo sự khác biệt về loại hìnhthổ nhưỡng như điều kiện địa hình, mẫu chất, thành phần cơ giới, chế độ nước.Trong cùng một lớp sẽ có sự tương đồng về điều kiện sản xuất, khả năng ứng dụng
kỹ thuật cũng như các biện pháp cải tạo và bảo vệ đất
Trên cơ sở áp dụng hệ thống đánh giá đất đã phân chia khả năng sử dụng đấtđai thành các nhóm và các lớp sau đây:
Nhóm 1: Đất thích hợp cho canh tác gồm có 14 lớp
Nhóm 2: Đất thích hợp cho đồng cỏ thâm canh gồm có 4 lớp
Nhóm 3: Đất đồng cỏ cải tạo sau có thể sử dụng vào mục đích sản xuất nôngnghiệp gồm có 7 lớp
Nhóm 4: Đất đòi hỏi phải được cải tạo cơ bản trước khi đưa vào mục đích sửdụng sản xuất gồm có 6 lớp
Nhóm 5: Đất ít thích hợp cho sản xuất nông nghiệp gồm có 2 lớp
Nhóm 6: Đất không thích hợp cho mục đích sản xuất nông nghiệp gồm có 2 lớp
2.1.2.3 Đánh giá đất đai ở một số các nước Châu Âu khác
Ở Bungari, việc phân hạng dựa trên cơ sở các yếu tố đất đai được chọn đểđánh giá là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến độ phì nhiêu và sự sinh trưởng vàphát triển của từng loại cây trồng như: Thành phần cơ giới, mức độ mùn, độ dàytầng đất, các tính chất lý hóa học của đất Qua đó hệ thống lại thành các nhóm vàchia thành các hạng đất, được phân chia rất chi tiết với 10 hạng (với mức chênh lệch
10 điểm) thuộc 5 nhóm: Rất tốt, tốt, trung bình, xấu, và không sử dụng được
Ở Anh có hai phương pháp đánh giá đất là dựa vào sức sản xuất tiềm năngcủa đất hoặc dựa vào sức sản xuất thực tế của đất
- Phương pháp đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất thực tế của đất:
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào năng suất bình quân nhiều năm so với năngsuất thực tế trên đất lấy làm chuẩn
- Phương pháp đánh giá đất đai dựa vào thống kê sức sản xuất tiềm tàng của đất: Phương pháp này chia ra làm các hạng, mô tả mỗi hạng trong quan hệ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố hạn chế của đất đối với việc sử dụng trong sản xuất nông nghiệp
Trang 92.1.2.4 Đánh giá đất theo FAO
Vào những năm 70 tình hình suy thoái đất đai diễn ra mạnh mẽ và ngày cànggia tăng, người ta đã thấy rõ được tầm quan trọng của công tác đánh giá, phân hạngđất đai là cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất Và nhận thức được tầm quan trọngxuất phát từ yêu cầu sử dụng đất nhằm hạn chế và ngăn chặn những tổn thất đối vớitài nguyên đất đai Các nhà khoa học về đánh giá đất đã nhận thấy cần có những nỗlực không chỉ đơn phương ở từng quốc gia riêng rẽ mà phải thống nhất các nguyêntắc, tiêu chuẩn đánh giá đất đai trên phạm vi toàn cầu Kết quả là Uỷ ban quốc tếnghiên cứu về đánh giá đất đã được thành lập tạp Rome (Italia), thuộc tổ chức FAO
và đã cho ra đời bản dự thảo đánh giá đất lần đầu tiên vào năm 1972, đến năm 1976
"Đề cương đánh giá đất đai" (FAO, 1976) đã được biên soạn
Đề cương đưa ra các nguyên tắc đánh giá đất sau:
- Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá, phân hạng cho các loại sử
dụng đất củ thể
- Việc đánh giá yêu cầu có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần
thiết trên các loại đất khác nhau
- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp.
- Việc đánh giá phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của
vùng
- Khả năng thích nghi phải đưa vào sử dụng dựa trên cơ sở bền vững.
- Đánh giá đất có liên quan tới so sánh với nhiều loại hình sử dụng đất khác
nhau, từ đó mới chọn ra được loại hình sử dụng đất tối ưu
Đề cương đánh giá đất của FAO cũng như các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất
cụ thể cho các đối tượng sản xuất nông– lâm nghiệp đều có 3 mức độ đánh giá: sơ lược, bán chi tiết và chi tiết Hai phương pháp đánh giá đất được sử dụng là phương pháp hai bước và phương pháp song song Tùy theo phạm vi nghiên cứu và điều kiện cụ thể của khu vực nghiên cứu mà vận dụng
Tài liệu này được nhiều nước trên thế giới quan tâm, thử nghiệm và vận dụng vào công tác đánh giá đất ở nước mình Đến năm 1983 và những năm tiếp
Trang 10theo, bản đề cương này được bổ sung, chỉnh sửa cùng với hàng loạt các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất chi tiết cho các vùng sản xuất khác nhau:
- 1983 - Đánh giá đất cho nông nghiệp nước trời
- 1984 - Đánh giá đất cho vùng đất rừng
- 1985 - Đánh giá đất cho nông nghiệp được tưới
- 1989 - Đánh giá đất cho đồng cỏ chăn thả
- 1990 - Đánh giá đất cho su nghiệp phát triển nông nghiệp
- 1992 - Đánh giá đất và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sửdụng đất
Đánh giá đất theo FAO là sự kết hợp giữa 2 trường phái đánh giá đất trên thếgiới đó là: trường phái đánh giá đất theo phát sinh (Liên Xô cũ) và trường phái đánhgiá đất theo định lượng (Mỹ - Soil Taxonomy) Đồng thời đưa ra những quan điểmmới trong đánh giá bền vững đất nông nghiệp Đánh giá được xem xét trên phạm virộng bao gồm cả yếu tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường Phương phápđánh giá đất theo FAO được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và được xem làphương tiện tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai
Phương pháp đánh giá đất của FAO chính là đánh giá độ thích hợp đất đai.Thực chất của phương pháp trên dựa trên sự so sánh đối chiếu mức độ thích hợpgiữa yêu cầu của một loại hình sử dụng đất nào đó hay một loại cây trồng nhất địnhvới đặc tính vốn có của đơn vị bản đồ đất đai, gắn với việc phân tích các khía cạnhkinh tế, xã hội và môi trường có liên quan đến hiệu quả sử dụng đất để lựa chọnphương án sử dụng tốt nhất Vì vậy, đánh giá hiện trạng kinh tế- xã hội và môitrường là một trong các bước chính của đánh giá đất theo FAO
Như vậy, phương pháp đánh giá đất thích hợp theo FAO đã đề cập đến các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường có liên quan đến khả năng sử dụng đất và khả năng sinh lợi nhuận của chúng Đây là những thông tin rất có ý nghĩa đối với việc xác định và lập kế hoạch sử dụng đất
2.1.2.5 Đánh giá đất ở Việt Nam
Trang 11Từ ngàn xưa, ông cha ta đã có cách phân hạng ruộng tốt, ruộng xấu Đánhgiá phân hạng ruộng đất là một đòi hỏi của thực tiễn sản xuất nông nghiệp Từ thờiphong kiến, các triều đại phong kiến nước ta đã sử dụng đo đạc, phân hạng theokinh nghiệm nhằm quản lý đất đai cả số lượng lẫn chất lượng Năm 1092, nhà lýtiến ành đo đạc ruộng đất lần đầu tiên và lập danh bạ để đánh thuế đất đai Đến nhàhậu lê ruộng đất đã phân chia làm các hạng: nhất đẳng điền, nhị đẳng điền nhằmphục việc quân điền và thu thuế ngoài ra trong thời gian này nhà lê cũng ban hànhchính sách quân điền (1429) và chính sách lộc điền (1477) những kiến thức về đấtđai liên quan đến cây trồng được tìm thấy trong (dư địa chí) của nguyễn trãi và một
số công trình nghiên cứu của lê hữu đôn, lê tắc, nguyễn nghiêm Sau khi lên nămquyền (1802), nhà nguyễn đã chỉ đạo xây dựng địa bàn thống nhất cho các xã, thôn.Ruộng đất lúc này đã phân thành 6 hạng (lục hạn thổ) đối với ruộng trồng màu vàthành 4 hạng (tứ đẳng điền) đối với ruộng trồng lúa làm cơ sở cho việc mua báncũng như chính sách ban hành ruộng đất
Thời kì pháp thuộc cách phân hạng đất được sử dụng với một số đồn điềnnhằm đánh thuế 1986, bavie và cộng sự đã tiến hành khảo sát đất vùng trung lào,trung bộ và đông nam bộ việt nam cuối cùng vào năm 1890 kết quả này được xem
là tài liệu nghiên cưau về đất đầu tiên của việt nam và cả đông dương Trong thờigian này có một số công trình nghiên cứu về đất như: báo cáo kết quả của phòngphân tích Nam Bộ P.Morange 1898-1901, Bei 1902 và một số nhận xét về thànhphần lý, hó học của đất Nam Bộ được công bố thực hiện
Năm 1954, đất nước ta chia làm hai miền: ở miền bắc cùng với công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội, việc đánh giá đất đai bắt đầu được nghiên cứu chủ yếu
là việc nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá đất của Liên Xô cũ theo trườngphái Đocutriv
ở thập kỉ 70 Nguyên Văn Thân ( viện thổ nhưỡng nông hóa) đã tiến hànhnghiên cứu phân hạng đất với một số cây trồng trên một số loại đất Sau đó những
Trang 12tiêu chuẩn xếp hạng ruộng đất được xây dựng và phát triển ở thái bình năm 1982
1980-Đầu những năm 1990, nước ta tiến hành nghiên cứu ứng dụng phương phápđánh giá đất đai của Fao trong dự án quy hoạch tổng thể DBSCL năm 1990 củaphân viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp
Từ năm 1992 đến nay phương pháp đánh giá đất đai của Fao bắt đầu đượcthực hiện nhiều ở nước ta Đánh giá đất đai theo Fao được triển khai rộng khắp ởnhiều mức độ chi tiết và tỉ lệ bản đồ khác nhau Từ việc đánh giá đất đai cho 9 vùngsinh thái Việt Nam của Phạm Dương Hưng, Công Phò, Bùi Thị Ngọc Duy ơ bản đồ
tỉ lệ 1: 250000, tới đánh giá đất cấp tỉnh trên bản đồ 1:100000, 1:50000, cấp huyện1:25000, và một số dự án nhỏ 1:1000
Đến nay nước ta đã phân chia toàn bộ đất đai thành 6 hạng từ hạng I đếnhạng VI, với 3 cấp độ thích nghi Rất thích hợp(S1), thích hợp (S2) và thích hợp( S3),không thích hợp (N) Trong đó chia ra đất không thích hợp hiên tại ( N1) vàđất không thích hợp vĩnh viễn (N2)
Nội dung và phương pháp đánh giá đất của FAO để được vận dụng có kếtquả ở Việt Nam, phục vụ hiệu quả cho chương trình quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế, xã hội trong giai đoạn mới cũng như cho các dự án quy hoạch sử dụng đất ởcác địa phương Các cơ quan nghiên cứu đất tại Việt Nam đang và sẽ tiếp tục nghiêncứu, vận dụng phương pháp đánh giá đất của FAO vào các vùng nông- lâm nghiệpkhác nhau phù hợp với các điều kiện sinh thái, cấp tỷ lệ bản đồ, đặc biệt với điềukiện kinh tế, xã hội để nhanh chóng hoàn thiện các quy trình đánh giá đất và phânhạng thích hợp đất đai ở Việt Nam
.2.2 Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.1 Khái quát về đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào các ngành của sản xuất nôngnghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc sử dụng để nghiên cứu
Trang 13thí điểm về nông nghiệp.Ngoài tên gọi đất nông nghiệp, đất sử dụng vào sản xuấtnông nghiệp còn được gọi là ruộng đất Đất trồng trọt là đất nông nghiệpđược sửdụng vào mục đích trồng trọt các loại cây trồng như cây lương thực, cây côngnghiệp hàng năm, cây công nghiệp lâu năm, …
- Khái niệm hiệu quả sử dụng đất:
Quan niệm hiệu quả sử dụng hợp lý đất nông nghiệp: phải nhận biết rõ những nhân
tố có lợi để khai thác phát huy, đồng thời nhận biết những yếu tố bất lợi để phòngtránh khắc phục
Sử dụng hiệu quả hợp lý đất trồng trọt tức là:
+ Đưa hết số lượng đất nông nghiệp, lâm nghiệp của đất nước vào mục đíchnông nghiệp, lâm nghiệp
+ Bố trí các loại cây trồng vật nuôi trên từng vùng phù hợp với các điều kiện đất
đai, thời tiết, khí hậu của vùng đó nhằm thu hồi được khối lượng sản phẩm lớn nhất trên mỗi ha đất đai
+ Bố trí các loại cây trồng vật nuôi trên từng vùng cho vừa đảm bảo được hiệuquả kinh tế cao, bảo vệ đất, chống xói mòn và rửa trôi đất bảo vệ được môitrường sinh thái của vùng
+ Có những biện pháp hợp lý trong việc cải tạođất(tưới, tiêu, thau chua, rửamặn, bón phân, luân canh, làm đất) nhằm nâng cao độ phì nhiêu của đất bảođảm cho sức sản xuất của đất không ngừng tăng lên
2.2.2 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để phát triển một nềnnông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu đối với các nước trên thế giới
Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việclàm mang lại
Kết quả, mà là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đíchcủa con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu do tích chất mâu thuẫn giữanguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét
Trang 14kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có đem lại kết quảhữu ích hay không? Chính vì vậy, khi đánh giá kết quả của hoạt động sản xuấtkhông chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng côngtác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó.
Trên phạm vi toàn xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chiphí lao động xã hội Vì thế, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả lao động xã hội
và được xác định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với lượnghao phí lao động xã hội Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hóa kết quả và tốithiểu hóa chi phí trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên hữu hạn
Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơcấu cây trồng là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trênthế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạchđịnh chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn củanông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp
Sử dụng đất đai có hiệu quả là các hệ thống, các biện pháp nhằm điều hòa mốiquan hệ người– đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường
2.2.2.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt độngkinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngàycàng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hộingày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan củamọi nền sản xuất xã hội
Hiệu quả kinh tế phải đạt được ba vấn đề sau (Vũ Thị Phương Thụy, 2000):
+ Một là: Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quy luật “tiết
kiệm thời gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiệnquyết định phát triển nền văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người quamọi thời đại
Trang 15+ Hai là: Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết hệ
thống Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là một hệthống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người vớicon người trong quá trình sản xuất Hệ thống là một tập hợp các phần tử cóquan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và luôn vận động Theonguyên lý đó, khi nhiều phần tử kết hợp thành một hệ thống sẽ phát sinh nhiềutính chất mới mà từng phần tử đều không có, tạo ra hiệu quả lớn hơn tổng hiệuquả các phần tử riêng lẻ Do vậy, việc vận dụng khai thác các điều kiện sẵn có,hay giải quyết các mối quan hệ phù hợp giữa các bộ phận của một hệ thống vớiyếu tố môi trường bên ngoài để đạt được khối lượng sản phẩm tối đa là mục tiêucủa từng hệ thống Đó chính là mục tiêu đặt ra đối với mỗi vùng kinh tế, mỗi chủthể sản xuất trong mọi xã hội
+ Ba là: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi íchcủa con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạtđược và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị củacác nguồn lực đầu vào Mối tương quan cần xét cả phần so sánh tuyệt đối và tươngđối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của phạm trù kinh tế sửdụng đất là: Với một diện tích nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chấtnhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứngnhu cầu ngày càng tăng vật chất về xã hội (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
2.2.2.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổngchi phí bỏ ra (Nguyễn Thị Vòng, 2001)
Trang 16Theo hội Khoa học đất Việt Nam (2000), hiệu quả xã hội được phân tích bởicác chỉ tiêu sau:
- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân.
- Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng.
- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân.
- Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng xuất khẩu.
Hiệu quả xã hội là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế
và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ tiêubiểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng cácchỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xóa đói giảmnghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân.Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác địnhbằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất sản xuất nông nghiệp Hiện nay,việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đềđang được nhiều nhà khoa học quan tâm
2.2.2.3Hiệu quả môi trường
Quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của conngười hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môitrường Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn sự thoái hóa đất, bảo vệ môi trường sinhthái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinhhọc biểu hiện qua thành phần loài (Nguyễn Văn Bộ và Bùi Huy Hiền, 2001)
Hiệu quả môi trường là hiệu quả đảm bảo tính bền vững cho môi trườngtrong sản xuất và xã hội Là vấn đề được nhân loại quan tâm, được phản ánh bằng cácchỉ tiêu kỹ thuật như: cải tạo đất, an ninh môi trường, tỷ lệ che phủ rừng,
Trang 17Hiệu quả môi trường được sản sinh do tác động của hóa học, sinh học, vật lýhọc, chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường, của các loại vật chấttrong môi trường Trong thực tế tác động của môi trường diễn ra rát phức tạp theochiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp vớitính chất và đặc tính của đất.
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả hóa học môi trường được đánh giáthông qua mức độ hóa học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón vàthuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng và chonăng suất cao mà không gây ô nhiễm môi trường đất
Hiệu quả sinh vật môi trường thể hiện qua mối tác động qua lại giữa câytrồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đấtnhằm giảm thiểu việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mụctiêu đặt ra
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tàinguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạtsản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
Tóm lại, trong sử dụng đất cần phải quan tâm kết hợp tới cả ba loại hiệu quả:kinh tế, xã hội và môi trường để xây dựng những hệ thống cây trồng, những loạihình sử dụng đất phù hợp với từng điều kiện sinh thái xã hội khác nhau làm sao đểđạt hiệu quả cao nhất mà vẫn bảo vệ được các nguồn tài nguyên, đảm bảo được tínhbền vững lâu dài trong sản xuất
2.2.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người
- đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vàoquy luât phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bềnvững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đấthợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tớihiệu quả sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt
Trang 18động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụngđất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đấtđai Với vai trò là nhân tố của sức sản xuất ,các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đấtđai được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian
2.2.4 các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất là hết sức cần thiết, nógiúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại đất, cùng đất để trên cơ sở
đó đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất,…vừa bị chi phối bởi các điềukiện và quy luật sinh thái tự nhiên, vừa bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinhtế- xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng chủyếu đến việc sử dụng đất là:
2.2.4.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có rất nhiều yếu tố như: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa,thủy văn, không khí,… có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Trong cácyếu tố đó khí hậu là nhân tố hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiệnđất đai chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng và các nhân tố khác Do vậy cần đánh giáđúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phùhợp và hướng đầu tư thâm canh đúng
Trang 19+ Điều kiện khí hậu: Đây là nhóm yếu tố ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đếnsản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều hay
ít, nhiệt độ cao hay thấp, sự sai khác về nhiệt đô về thời gian và không gian, biên độtối cao hay tối thấp giữa ngày và đêm,… trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinhtrưởng và phát triển của cây trồng Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh yếu có ýnghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và ẩm độ của đất, cũng như khả năng đảmbảo khả năng cung cấp nước cho các cây, con sinh trưởng, phát triển
Theo Mác, Điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I TheoN.Borlang- người đạt giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triểncho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng nhất hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thếgiới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phìnhiêu của đất (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
+ Điều kiện đất đai: Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mựcnước biển, độ dốc hướng dốc,…thường dẫn đến đất đai, khí hậu khác nhau, từ đóảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp Địa hình và
độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, là căn cứ cho việc lựachọn cơ cấu cây trồng, xây dựng đồng ruộng, thủy lợi canh tác và cơ giới hóa
Mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ,nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đếnkhả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy cần tuân theo các quy luật của
tự nhiên, tận dụng các lợi thế đó nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội
và môi trường
2.2.4.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác
Biện pháp kĩ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, câytrồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất
để hình thành, phân bố và tích lũy năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện
sự hiểu biết sâu sắc đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thểhiện những dự báo thông minh của người sản xuất (Đường Hồng Dật, 1994) Trên
cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của sinh vật lựa chọn các tác động kỹ thuật,lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt được các múc tiêu sử
Trang 20dụng đất đề ra Theo Frank Ellis và Douglass, ở các nước phát triển, khi có tác độngtích cực của kỹ thuật, giống mới, thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêucầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuấttiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Chođến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phầnđến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ýnghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
2.2.4.3 Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức
Nhóm này bao gồm:
+ Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Thực hiện phân vùng sinh thái nôngnghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhucầu của thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạtầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môitrường Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi và khai thác đất mộtcách đầy đủ, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiếnhành tập trung hóa, chuyên môn hóa, hiện đại hóa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngđất nông nghiệp
+ Hình thức tổ chức sản xuất: có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khaithác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì thế, cần phát huy thế mạnhcủa các lại hình sử dụng dất trong từng cơ sở sản xuất, thực hiện đa dạng hóa cáchình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp
và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó
+ Dịch vụ kỹ thuật: sản xuất hàng hóa của hộ nông dân không thể tách rờinhững tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và sảnxuất Vì vậy sản xuất nông nghiệp hàng hóa phát triển đòi hỏi phải không ngừngnâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm
2.2.4.4 Nhóm các yếu tố xã hội bao gồm:
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa cũng giống như ngànhsản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu chịu sự
Trang 21ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động,vốn sản xuất, thị trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất tiêu thụ nông sản(Vũ Thị Bình, 1993).
+ Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thịtrường nông sản (Nguyễn Duy Tính, 1995), 3 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệuquả sử dụng đất nông nghiệp là năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thịtrường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra
+ Hệ thống chính sách (đất đai, hỗ trợ, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, )
Sự ổn định chính trị- xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư của cácchủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư
2.2.5 Quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững và các tiêu chí đánh giá tính bền vững
Quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất nông nghiệp bền vững đồng nghĩa với việc phải xây dựng một
hệ thống nông nghiệp bền vững Nông nghiệp bền vững là mội hệ thống thiết kế đểtạo môi trường bền vũng cho cuộc sống con người Có rất nhiều quan điểm về hệthống nông nghiệp bền vững:
Conway (1987): Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống phải duy trìđược năng suất sinh khối (sinh khối/đơn vị diện tích/đơn vị thời gian) theo thời gian
từ thập kỷ đến thế kỷ
Okigbo (1991): Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống có sản lượngchấp nhận được hoặc tăng lên, thoả mãn nhu cầu của con người ngày một nâng cao;một hệ thống có năng suất tăng liên tục, đảm bảo có hiệu quả kinh tế cao và an toànsinh thái, thống qua quản lý các nguồn lợi thiên nhiên và đầu tư, với những tổn hại
ít nhất đến môi trường và ít nguy hiểm nhất đối với con người
FAO: Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống quản lý thành công cácnguồn lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp để thoả mãn những nhu cầu của con
Trang 22người, trong khi duy trì hoặc nâng cao chất lượng môi trường và bảo vệ các nguồnlợi thiên nhiên
Để duy trì được khả năng bền vững đối với đất đai Smyth A.J và JDumanski (1993) đã xã định năm nguyên tắc liên quan đến sử dụng đất sau:
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất
- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất
- Bảo vệ tài nguyên và ngăn chặn sự thoái hóa đất và nước
- Có hiệu quả lâu bền
- Được xã hội chấp nhận
Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất bền vững, nếu sử dụngđất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất đai được bảo vệ cho phát triển nôngnghiệp bền vững
Vận dụng các nguyên tắc đã nêu ở trên, ở Việt Nam một loại hình được coi làbền vững phải đạt được 3 yêu cầu:
+ Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho năng suất cao, chất lượng tốt, được thịtrường chấp nhận Chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương,trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu từng vùng
+ Bền vững về mặt xã hội: Nâng cao được đời sống nhân dân, thu hút đượclao động, phù hợp với phong tục tập quán của người dân Đáp ứng nhu cầu nông hộ
là điều cần quan tâm trước nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất,môi trường, ) Sản phẩm thu được phải thỏa mãn được cái ăn, cái mặc và nhu cầusống hằng ngày của người nông dân
+ Bền vững về môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu
mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất
Ba yêu cầu trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất ở thờiđiểm hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá theo các yêu cầu trên để cónhững định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng
Trang 23Để duy trì sự sống còn của con người, nhân loại đang phải đương đầu vớinhiều vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn, sự bùng nổ dân số và nạn ô nhiễm vàsuy thoái môi trường, mất cân bằng sinh thái, Nhiều nước trên thế giới đã xâydựng và phát triển nông nghiệp theo quan điểm nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng được nhu cầu hiện tại vừađảm bảo nhu cầu của các thế hệ tương lai (Phạm Vân Đình và cs., 1998) Một quanniệm khác cho rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sựthay đổi về tổ chức và kĩ thuật nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng củacon người cho hiện tại và cả tương lai (FAO, 1990) Để phát triển nông nghiệp bềnvững ta cần nắm vững mục tiêu về tác dụng lâu bền của từng mô hình để duy trì vàphát triển đa dạng sinh học
Tiêu chí đánh giá tính bền vững
Để đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất cần dựa vào 3 tiêu chí sau đây:
Bền vững về kinh tế
Ở đây cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bìnhquân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩmchính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả, và tàn dư để lại) Một hệ bềnvững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranhđược trong cơ chế thị trường
Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trongnước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất củahiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạnhay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơngười sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiềnvay vốn ngân hàng
Bền vững về xã hội
Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và phát triển xã hội
Trang 24Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâmđến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường, ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái
ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân
Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống sửdụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đãđược giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể
Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quánđịa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ
Bền vững về môi trường
Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thoáihoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểulượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép
Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng đấtbền vững
Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độccanh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm, )
Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đấthiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc địnhhướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái
2.3 Tình hình nghiên cứu về đánh giá đất và hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
Tỉnh Hải dương có diện tích đất tự nhiên là 165.598,54 ha.trong đó đất nông nghiệp
có tổng diện tích là: 104.648,95 ha, chiếm 63,19% so với tổng diện tích đất tự nhiêncủa tỉnh Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 84.415,94 ha, chiếm 80,66% đất nông nghiệp và50,98% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh.Đất lâm nghiệp:10.849,80 ha chiếm10,37% đất nông nghiệp và 6,55% so với tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh.Đất
Trang 25nuôi trồng thủy sản: 9.288,96 ha chiếm 8,87% diện tích đất nông nghiệp và 5,61%
so với tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh.Đất nông nghiệp khác: 94,25 ha chiếm0,09% diện tích đất nông nghiệp và 0,06% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
Đất phi nông nghiệp có tổng diện tích: 60.403,01 ha chiếm 36,48% tổngdiện tích tự nhiên của tỉnh
Đất chưa sử dụng với tổng diện tích: 546,58 ha chiếm 0,33% tổng diện tích
tự nhiên của tỉnh
Từ thực tế cho thấy việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cầnthiết nhằm phát triển nhanh hơn nền kinh tế nông nghiệp Vì vậy, huyện Gia Lộc nóichung cũng như xã Quang Minh nói riêng cần phải chú trọng nghiên cứu và triểnkhai có hiệu quả các giải pháp sử dụng đất phù hợp, thiết thực với điều kiện của xãQuang Minh, huyện Gia Lộc để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trướcmắt và lâu dài
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các kiểu sử dụng đất nông nghiệp ở xã Quang Minh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải
Dương
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: trong khoảng 271,32 ha đất nông nghiệp trên địa bàn xã QuangMinh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
- Thời gian: Từ ngày 20/01/2015 đến ngày 20/05/2015
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Quang Minh, huyện
Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Trang 263.2.2 Xác định các loại hình và các kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở xã
Quang Minh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
3.2.3 Đánh giá hiệu quả của các loại hình và các kiểu sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp ở xã Quang Minh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế
+ Đánh giá hiệu quả xã hội
+ Đánh giá hiệu quả môi trường
3.2.4 Xác định các loại hình sử dụng đất có hiệu quả ở xã Quang Minh, huyện
Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
3.2.5 Đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản
xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Quang Minh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp
Điều tra thu thập các tài liệu, số liệu và bản đồ phục vụ cho đề tài tại cácphòng Tài nguyên & Môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn,phòng Thống kê huyện Gia Lộc, Ủy ban nhân dân xã Quang Minh, mạng Internet,thư viện khoa Quản lý đất đai, thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Điều tra phỏng vấn nông hộ ở các thôn của xã để đánh giá về hiệu quả sửdụng đất sản xuất nông nghiệp của các loại hình và các kiểu sử dụng đất theo mẫuphiếu điều tra Phương pháp chọn hộ lấy mẫu điều tra là ngẫu nhiên Số phiếu điềutra 65 phiếu trên 5 thôn là các thôn : thôn Đỗ Xuyên, thôn Hậu Bổng, thôn MinhTân, thôn Đông Cầu, thôn Đông Hào có các loại hình sử dụng đất đại diện cho địabàn nghiên cứu
3.3.3 Phương pháp tính hiệu quả của các loại hình sử dụng đất
- Các chỉ tiêu dùng để dánh giá hiệu quả kinh tế:
Trang 27+ Tổng chi phí (C): Bao gồm tổng các loại chi phí phục vụ cho một LUT haymột hệ thống sản xuất
TCP = CPTG + DP+ LĐg
Trong đó:
TCP : Tổng chi phí (tính cả lao động gia đình)
CPTG: Chi phí trung gian (không tính lao động gia đình)
Dp: Khấu hao tài sản cố định
LĐg: Lao động gia đình
+ Chi phí trung gian: CPTG = VC + DVP + LĐt + LV
Trong đó:
VC: Chi phí vật chất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật)
DVP: Dịch vụ phí (làm đất, thủy lợi, bảo vệ thực vật, vận tải, khuyến nông )LĐt: Lao động thuê
LV: Lãi vay ngân hàng
+ Tổng thu nhập (giá trị sản xuất ): Được quy ra bằng tiền mặt, tính theo sản lượng thu được của LUT, so với giá sản phẩm tại thời điểm điều tra
TTN= SL*GB
Trong đó: TTN: Giá trị sản xuất
SL: Sản lượng thu được
TTN: Giá trị sản xuất (tổng thu nhập)
TCP: Tổng chi phí (tính cả lao động gia đình)
TNHH: Thu nhập hỗn hợp (tính cả lao động gia đình)
LĐg: Lao động gia đình
Trang 28+ Thu nhập hỗn hợp: Tổng thu nhập – Tổng chi phí trung gian và khấu hao tài sản cố định (không kể chi phí công lao động gia đình).
+ Giá trị ngày công lao động: Thu nhập hỗn hợp/Số công lao động gia đình.+ Tỷ suất lợi nhuận: Thu nhập thuần (TNT)/Tổng chi phí (TCP)
+ Hiệu suất đồng vốn = Thu nhập thuần/tổng chi phí
- Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội thông qua
+ Thu hút lao động nông nghiệp, giải quyết việc làm cho người nông dân
- Đánh giá hiệu quả môi trường
+ Đánh giá tình hình sử dụng phân bón
+ Đánh giá tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vậ
3.3.4 Phương pháp tính toán, tổng hợp và xử lý số liệu
Các số liệu điều tra được thống kê, xử lý bằng phần mềm Excell
PHẦN IV ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
Trang 294.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Quang Minh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Quang Minh nằm ở phía Nam huyện Gia Lộc, cách trung tâm Gia Lộc 10Km,cách trung tâm Thanh Miện 2km, tạo nên vị trí địa lý thuận lợi trong lĩnh vực sảnxuất nông nghiệp gắn với tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ, thuận tiệncho việc giao thương hàng hóa, địa giới hành chính giáp như sau:
- Phía Bắc giáp với xã Đồng Quang, huyện Gia Lộc
- Phía Đông giáp với xã Đức Xương,huyện Gia Lộc
- Phía Tây giáp với xã Nhật Tân huyện Gia Lộc và thị trấn Thanh
Miện huyện Thanh Miện
- Phía Nam giáp với xã Hùng Sơn, huyện Thanh Miện
Xã có Quốc lộ 38B dài hơn 2km và tỉnh lộ 392 dài 2km chạy qua tạo thành ngã
tư Trạm Bóng, họp chợ tại ngã tư họp đủ các ngày trong tháng, năm 1994 đượcUBND Tỉnh quyết định thành Thị tứ Trạm bóng, xã có 5 thôn gồm : thôn HậuBổng, Đông Hào, Đỗ Xuyên, Đông Cầu và Minh Tân
4.1.1.2 Khí hậu, thời tiết
Cũng giống như các xã khác trong huyện mang đặc điểm chung của vùng ĐôngBắc Bộ nhiệt đới gió mùa :
-Chế độ nhiệt : có 2 mùa rõ rệt, mùa khô hanh lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 nămsau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng
1 và tháng 2(khoảng 9-12 oC ); nhiệt độ trung bình khoảng 23,4oC, tháng cso nhiệt
độ cao nhất là tháng 6 và tháng 7 ( khoảng 37-39oC)
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hang năm là 1.561,9 mm Lượng mưa phân
bố không đồng đều, tập trung chủ yếu vào nửa cuối tháng 8 đến tháng 10 Lượngmưa thấp nhất từ tháng 1 đến tháng 4
Trang 30- Chế độ gió : hướng gió chủ đạo về mừa hè là Đông Nam, hướng gió chủ đạo vàomừa đông là Tây Bắc.
- Độ ẩm không khí bình quân là 84%
4.1.1.3 Địa hình, địa mạo
Là một xã thuộc vùng đồng bằng nên có địa hình tương đối đồng đều và bằngphẳng thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và sản xuất kinh tế
Nhìn chung xã Quang Minh có khí hậu thời tiết tương đối ổn định thuận lợi chophát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú Với khí hậu lạnh có thể trồngđược nhiều loại cây rau ngắn ngày cho giá trị kinh tế tương đối cao như dưa hấu,cải bắp trong năm có 5 đến 6 cơn bão và 4 đến 4 đợt áp thấp nhiệt đới, nhưng ítảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
4.1.1.4 tài nguyên nhân văn
- Trong những năm qua, Quang Minh luôn chú trọng tới công tác quy hoạch, năm
2011 đã triển khai quy hoạch sử dụng đất 2010- 2020 và xây dựng quy hoạch mạnglưới điểm daan cư của xã đến năm 2020 Năm 2011 lập quy hoạch xây dựng theochương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới
- Quang Minh đã quy hoạch được khu trung tâm của xã như trụ swor làm việc củaUBND xã, các trường học, trạm y tế, hội trường xã và sân vận động đến nay đãđược quy hoạch
- Riêng quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật kinh tế xã hội chưa được thống nhất
và còn nhiều thiếu đồng bộ như giao thong còn hẹp, thủy lợi chưa được KCH và cáccông trình công cộng nhà văn hóa xã, sân thể thao các thôn, khu nghĩa trang nhândân các thôn chưa có
- Vùng sản xuất còn thiếu chưa được quy vùng thành các vùng cấy lúa thuần, lúalai, vùng trồng trọt, khu chăn nuôi tập trung, khu tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,thương mại, khu giết mổ gia súc tập trung
Trang 314.1.2 Đánh gia điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a, Tăng trưởng kinh tế
Quang Minh là một xã thuần nông, có 1.460 hộ làm nông nghiệp ( 89,6%) diện tích canh tác bình quân 474 m2/khẩu, chủ yếu là trồng lúa, rau màu, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản chăn nuôi tuy phát triển khá nhưng chủ yếu vân là chăn gia đình quy
mô nhỏ, số gia trại chưa nhiều Ngành nghề nông thôn : mộc,nề,cơ khí,gia công may, cây cảnh, nhìn chung, ngành nghề nông thôn còn nhỏ lẻ,tỷ trọng thấp
Là xã có trình độ thâm canh nông nghiệp khá Năm 2011 năng suất đạt 128 tạ/ha, sản lượng lương thực đạt 2.788 tấn ( BQ lương thực 497 kg/ người), giá trị sản suất bình quân đất canh tác đạt 119 triệu/ha/năm Tổng đàn lợn là 2.763 con; đàn gia cầm là 53.895 con
- Cơ cấu kinh tế: giá trị sản xuất năm 2011 đạt 135.281 triệu đồng ( giá hiện hành) Trong đó:
+ Nông nghiệp : 33,5 %+ Công nghiệp- xây dựng: 35%
+ Thương mại,dịch vụ : 31,5%
- Thu nhập bình quân: 16,57 triệu đồng/người/năm bằng 66% thu nhập và gấp 1,5 lần bình quân của tỉnh
Trang 32Nông nghiệp Công nghiệp-xây dựng Thương mại dịch vụ
hình 1 Cơ cấu kinh tế xã hội xã Quang Minh năm 2013
Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Khu vực kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu cây trồng, mùa vụ được chuyển đổi có hiệu quả, đưa các loại giống cónăng suất cao vào sản xuất kết hợp với các biện pháp thâm canh, triển khai ứng dụngtiến bộ KHKT vào sản xuất, làm tốt công tác bảo vệ thực vật, cung ứng giống, vật
tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, nên năng suất nhiều loại cây trồng tăng lên Tiếptục mở rộng xây dựng những cánh đồng cho thu nhập cao .Chuyển dịch cơ cấu giốngcây trồng vật nuôi, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, năng suất, sản lượnglương thực tăng, đáp ứng nhu cầu về lương thực của người dân trên địa bàn và tạo
ra nguồn sản phẩm mang tính hàng hóa
* Ngành trồng trọt
Giữ vai trò khá quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, doảnh hưởng của quá trình đô thị hóa nên diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm dầnqua từng năm
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 224.62 ha.Đất trồng c©y hàng năm là219.83 ha.Đất trồng c©y l©u năm là 4.79 ha
* Ngành chăn nuôi-thủy sản