1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam tài chính và ngân hàng

114 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 347,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

của BIDV, tận dụng những cơ hội, phân tích những khó khăn, thách thức đểđưa ra những định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn củamình trong quá trình hội nhập kinh tế.Nhận th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

Hà Nội – 2014

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ MINH TÂM

Hà Nội - 2014

Trang 4

MỤC LỤC

Danh mục chữ viết tắt i

Danh mục bảng biểu ii

Danh mục sơ đồ, biểu đồ iii

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1 Hoạt động huy động vốn của NHTM 7

1.1.1 Khái niệm huy động vốn của NHTM 7

1.1.2 Mục tiêu trong công tác huy động vốn của NHTM 9

1.2 Các hình thức huy động vốn của NHTM 11

1.2.1 Huy động vốn từ hoạt động tiền gửi 11

1.2.2 Huy động vốn thông qua thị trường tiền tệ 16

1.2.3 Huy động vốn thông qua hoạt động đi vay……… 17

1.3 Hiệu quả huy động vốn của NHTM 20

1.3.1 Quan niệm về hiệu quả huy động vốn 20

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM 21

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của NHTM 27

1.4.1 Nhân tố khách quan 27

1.4.2 Nhân tố chủ quan 29

Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2013 34

2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 34

Trang 5

2.1.1 Lịch sử hình thành ngân hàng 34

2.1.2 Cơ cấu tổ chức hoạt dộng của ngân hàng 35

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu giai đoạn 2011 – 2013 38

2.2 Phân tích thực trạng hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2011 - 2013 48

2.2.1 Qui mô, cơ cấu nguồn vốn huy động 48

2.2.2 Chi phí vốn huy động………52

2.2.3 Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn 55

2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 61

2.3.1 Những kết quả đạt được 61

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 64

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 74

3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam đến năm 2015 74

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 76

3.2.1 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, hình thành cơ cấu nguồn vốn huy động hợp lý 76

3.2.2 Mở rộng mạng lưới kênh phân phối và các phòng giao dịch phục vụ cho công tác huy động vốn 81

3.2.3 Hoàn thiện chính sách lãi suất linh hoạt đối với các nguồn vốn huy động 82

Trang 6

3.2.4 Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh và thương hiệu

của ngân hàng 84

3.2.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên 86

3.2.6 Đổi mới công nghệ 88

3.3 Kiến nghị 89

3.3.1 Đối với chính phủ 89

3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 90

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 9

ii

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Đối với các ngân hàng thương mại – loại hình doanh nghiệp chuyênkinh doanh tiền tệ thì nguồn vốn có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại vàphát triển của bản thân ngân hàng Trong hoạt động ngân hàng thì huy độngvốn là hoạt động chủ yếu nhằm tăng quy mô nguồn vốn phục vụ cho các hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng Huy động vốn là một nghiệp vụ truyềnthống của ngân hàng Từ khi các ngân hàng ra đời thì nghiệp vụ huy độngvốn đã gắn liền với các hoạt động của nó, trải qua quá trình phát triển của hệthống ngân hàng thì nghiệp vụ huy động vốn cũng được đổi mới cho phù hợpvới sự phát triển của xã hội Hiệu quả huy động vốn được các ngân hàngquan tâm không chỉ vì nó là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng màcòn vì nó là một trong những hoạt động chủ yếu và mang lại nhiều lợi nhuậncho ngân hàng Do đó trong mọi giai đoạn, nâng cao hiệu quả huy động vốnluôn là vấn đề được các NHTM chú trọng hàng đầu

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là NHTM lâu đời nhấtViệt Nam và đã khẳng định được vị thế trên thị trường Trong xu thế hội nhập,ngân hàng cũng đã có những đổi mới không chỉ về vốn, quy mô mà cả vềphương châm hoạt động, mô hình quản lý Tuy nhiên, đứng trước xu thế hộinhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ và sự gia nhập vào tổ chức kinh tế thếgiới WTO (tháng 1 năm 2007), BIDV không tránh khỏi sự cạnh tranh khốc liệtcủa các ngân hàng trong nước và các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới đangxuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường vốn tại Việt Nam Thêm vào đó, cácngân hàng thương mại cổ phần cũng đang phải đối diện với sự khan hiếm vềvốn trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn hiện nay Do đó, vấn đề đặt

ra là phải đánh giá đúng thực trạng hiệu quả huy động vốn

Trang 12

của BIDV, tận dụng những cơ hội, phân tích những khó khăn, thách thức đểđưa ra những định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn củamình trong quá trình hội nhập kinh tế.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả huy động vốnđối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong thời gian vừa qua tại BIDV,hiệu quả huy động vốn đã được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, bên cạnh những kếtquả đã đạt được thì hiệu quả huy động vốn tại BIDV vẫn còn nhiều bất cập, nhất

là trong điều kiện thị trường tài chính tiền tệ trong và ngoài nước diễn biếnphức tạp như: lạm phát cao, giá xăng dầu tăng, thị trường vàng chao đảo, thịtrường bất động sản đóng băng, Ngân hàng Nhà nước áp dụng chính sách trầnlãi suất huy động…cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng Vì thế, để

có thể giữ vững và phát triển hơn nữa, BIDV phải có những chính sách điềuchỉnh thích hợp trong việc nâng cao hiệu quả huy động vốn của mình Xuất phát

từ lý do trên, đề tài “Hiệu quả huy động vốn

tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” được tôi chọn làm đề

tài luận văn nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Hoạt động huy động vốn được coi là hoạt động tiền đề trong hoạt độngkinh doanh của ngân hàng Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiêncứu về vấn đề huy động vốn của các ngân hàng, từ các công trình tập trungnghiên cứu thực trạng huy động vốn tại một chi nhánh ngân hàng tới các côngtrình thực sự đi sâu vào nghiên cứu hiệu quả công tác huy động vốn của cảmột hệ thống ngân hàng Có thể kể đến một vài công trình nghiên cứu về huyđộng vốn của các tác giả đi trước như:

Trong luận văn: “Nâng cao hiệu quả huy động vốn từ khách hàng cá

nhân tại Ngân hàng Công Thương – Chi nhánh Hai Bà Trưng” viết năm 2000

của thạc sỹ Phạm Thanh Thanh tác giả đã nêu lên được thực trạng huy động

Trang 13

vốn từ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Hai BàTrưng, đưa ra được các giải pháp toàn diện để góp phần nâng cao hiệu quảhuy động vốn từ khách hàng cá nhân tại các ngân hàng nói chung và Ngânhàng Công Thương – Chi nhánh Hai Bà Trưng nói riêng Tuy nhiên, vì luậnvăn chỉ nghiên cứu trên khía cạnh nhỏ là hiệu quả huy động vốn từ kháchhàng cá nhân nên chưa đề cập được một cách toàn diện về hiệu quả huy độngvốn của các NHTM.

Trong luận văn nghiên cứu của thạc sỹ Nguyễn Tuấn Khanh với đề tài:

“Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn Việt Nam” viết năm 2000, đã phân tích được các

nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của các NHTM nói chung,đánh giá được vai trò của việc tăng cường hoạt động huy động vốn đối với

sự phát triển của một ngân hàng, đưa ra được các giải pháp toàn diện để gópphần tăng cường công tác huy động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn Việt Nam Tuy nhiên, vì luận văn được nghiên cứu năm 2000 khinền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu hội nhập vào kinh tế quốc tế và công nghệngân hàng thì chưa phát triển mạnh nên luận văn mất đi phần nào tính thựctiễn của nó

Phát triển thêm các ý tưởng góp phần hoàn thiện và nâng cao hoạt độnghuy động vốn trong các NHTM, thạc sỹ Nguyễn Thị Thủy đã đi sâu nghiên

cứu đề tài “ Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh Tây Hồ” viết năm 2011 Với đề tài

này tác giả đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động tạiNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh Tây

Hồ, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tạiNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nói riêng và hệthống NHTM trên thị trường nói chung Tuy nhiên, luận văn vẫn còn nhiều

Trang 14

hạn chế, phân tích về hiệu quả huy động vốn còn mờ nhạt, các chỉ tiêu đánhgiá hiệu quả chưa rõ.

Các công trình nói trên nhìn chung đã đi sâu phân tích và đưa ra được

hệ thống các hoạt động huy động vốn; các giải pháp nhằm củng cố và nângcao hiệu quả huy động vốn của NHTM Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn khácnhau thì hiệu quả huy động vốn của mỗi ngân hàng cũng khác nhau Sự biếnđộng trên thị trường luôn là tác nhân làm cho tình hình kinh doanh cũng nhưtâm lý của các đối tượng tham gia các hoạt động trong nền kinh tế thay đổi,đặc biệt là các đối tượng hoạt động kinh doanh trên thị trường tiền tệ Chính

vì vậy, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước, căn cứvào thực tại sự biến động của hoạt động kinh doanh ngân hàng trong thời gian

gần đây mà tôi lựa chọn đề tài “Hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP

Đầu tư và Phát triển Việt Nam” để có thể làm rõ hơn sự tác động của các

nhân tố trên thị trường tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu

tư và Phát triển Việt Nam, từ đó đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả huyđộng vốn tạo nguồn cung cho hoạt động tín dụng của ngân hàng

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Khái quát về thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân

hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Từ đó, đề ra những giải phápnâng cao hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triểnViệt Nam

Nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn của NHTM

- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCPĐầu tư và Phát triển Việt Nam để chỉ ra được những kết quả đạt được cùngnhững hạn chế và nguyên nhân gây ra

Trang 15

- Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ năm 2011 – 2013

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đi sâu nghiên cứu hiệu quả huy động vốn bằng cách kết hợp một

số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp,

so sánh, nghiên cứu tài liệu để giải những quyết vấn đề đặt ra trong luận văn

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu,thông tin nội bộ, báo cáo thường niên, trung tâm công nghệ thông tin, báocáo tài chính phòng Tài chính - Kế toán Ngân hàng TMCP Đầu tư và Pháttriển Việt Nam

6 Những đóng góp của luận văn

Đã có rất nhiều luận văn, luận án đi sâu nghiên cứu vấn đề hiệu quảhuy động vốn trong các ngân hàng thương mại, kế thừa những luận văn đó vànhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả huy động vốncùng với quá trình làm việc thực tế của bản thân, tác giả lựa chọn đề tàinghiên cứu này nhằm làm rõ hơn vai trò của việc nâng cao hiệu quả huy độngvốn đối sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại Luận văn đãchỉ ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả huy động vốn, các yếu tốảnh hưởng tới hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Pháttriển Việt Nam Thông qua đó phân tích thực trạng hiệu quả huy động vốn củangân hàng, đề xuất được các giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng caohiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Namnói riêng và hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần nói chung

Trang 16

7 Kết cấu của luận văn

Với vấn đề nghiên cứu trên, ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu củaluận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả huy động vốn của Ngân

hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP

Đầu tư và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2011 – 2013

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng

TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Hoạt động huy động vốn của NHTM

1.1.1 Khái niệm huy động vốn của NHTM

Hoạt động huy động vốn là một trong những nghiệp vụ xuất hiện sớmnhất trong hoạt động của các NHTM Trong giai đoạn sơ khai của hoạt độngngân hàng, những nghiệp vụ này chỉ đơn thuần là hoạt động cất giữ các tài sản

có giá nhằm mục đích đảm bảo an toàn, và lúc này, người phải trả phí làngười gửi tiền chứ không phải là các ngân hàng, các khoản tiền chỉ được xemđơn thuần là vật được kí gửi chứ hoàn toàn không đóng vai trò là nguồn vốnđối với các ngân hàng thương mại Tiền lúc này không được xem là tiền tệtheo đúng nghĩa của nó, vì không có khả năng luân chuyển, không sinh rađược lợi nhuận Khi nhu cầu tín dụng gia tăng, nghiệp vụ ngân hàng pháttriển, vị thế đó bị đảo ngược: ngân hàng là người phải trả phí (lãi suất), vànguồn tiền được kí gửi thay đổi vai trò của nó, trở thành nguồn vốn khả dụng

và lớn nhất của các NHTM hiện nay Chính vì vậy, trái ngược với quá khứ ngân hàng là người phải đi nài nỉ khách hàng gửi tiền và là người bị độngtrong quan hệ này thì hiện nay hầu hết tất cả các ngân hàng đều có các chínhsách, phương thức để lôi kéo nguồn tiền gửi này và chính vì vậy các phươngthức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng, phong phú và đa dạng hơn

-Có thể nói, hiện nay, hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt độnghết sức quan trọng và liên quan đến sự sống còn của các NHTM

Xuất hiện khá lâu đời và không ngừng phát triển, thay đổi cùng sự pháttriển của các NHTM, nội hàm của khái niệm huy động vốn có những thay đổiđáng kể, kể cả về quy mô và các hình thức thể hiện Hơn nữa gần như không

Trang 18

tìm được một định nghĩa hoàn thiện về hoạt động này cũng như không có sự

thống nhất giữa các quan điểm Có quan điểm cho rằng: “Hoạt động huy

động vốn có thể hiểu là hoạt động mà ngân hàng thông qua uy tín và các hoạt động kinh doanh của mình tiến hành huy động các nguồn vốn nhàn rỗi

từ các thành phần kinh tế trong xã hội, tạo ra nguồn vốn kinh doanh của mình, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát…” Hay trong ngôn ngữ thường nhật của báo chí và xã hội, khái

niệm này được dùng chủ yếu đề cập đến một hoạt động đặc trưng nhất của

các NHTM: nhận tiền gửi Điều 4 - Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 giảithích hoạt động của NHTM là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên mộthay một số các nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch

vụ thanh toán qua tài khoản Trong đó nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiềncủa tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳhạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu vàcác hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gửi,

lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận Như vậy, có thể định nghĩa: “ Huy

động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức

và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích kinh doanh và đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó theo đúng các quy định pháp luật”.

Bản chất của huy động vốn đó là vốn huy động là tài sản thuộc các chủ

sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sởhữu và phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn Vốn huy động đóng vai trò rấtquan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, chiếm tỷ trọng lớntrong tổng nguồn vốn Do vốn huy động luôn biến động nên ngân hàng khôngthể sử dụng hết số vốn đó để kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý

để đảm bảo khả năng chi trả

Trang 19

1.1.2 Mục tiêu trong công tác huy động vốn của NHTM

Mục tiêu trong công tác huy động vốn là cơ sở cho việc đề ra kế hoạch

và chiến lược về nguồn vốn của ngân hàng Nguồn vốn của ngân hàng khá đadạng, bao gồm nhiều thành phần Một số thành phần không ổn định nhưng cókhả năng giao dịch cao và lãi suất thấp Ngược lại một số thành phần hạn chếkhả năng phát hành Séc, có tính ổn định cao nhưng lãi suất cao Do đó chi phívốn, cơ cấu vốn, tính chất ổn định, thời hạn của nguồn vốn là nhân tố quantrọng đánh giá chất lượng nguồn vốn và là mục tiêu mà các ngân hàng đềuhướng tới Đây là những yếu tố quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu vừa

an toàn vừa có lợi nhuận cao của ngân hàng

Mục tiêu trong công tác huy động vốn bao gồm:

Thứ nhất, tìm kiếm nguồn vốn giá rẻ.

Chi phí trả lãi được coi là chi phí lớn nhất trong các chi phí của ngânhàng Trong đó lớn nhất là chi phí trả lãi đầu vào cho tiền gửi có kỳ hạn và trảlãi trái phiếu, kỳ phiếu Định kỳ ngân hàng lập biểu về số dư và lãi suấttương ứng để xác định vốn huy động bình quân và tính toán chi phí trả lãi.Thông thường có ba cách trả lãi: Trả lãi trước, trả lãi khi đến hạn và trả lãinhiều lần theo định kỳ Mỗi cách trả lãi khác nhau sẽ ảnh hưởng đến chi phíkhác nhau Quản lý chi phí trả lãi là hoạt động thường xuyên và quan trọngcủa các ngân hàng Mỗi sự thay đổi về lãi suất hay cơ cấu nguồn vốn đều cóthể làm thay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng.Việc tính chi phí của từng nguồn vốn cụ thể cho phép các nhà quản lý xácđịnh nguồn vốn nào rẻ hơn, có nên thay đổi lãi suất hay không, thu nhập từ tàisản tăng thêm có đủ bù đắp chi phí của nguồn vốn tăng thêm hay không Vềnguyên tắc, những nguồn vốn có thời hạn càng ngắn và tính ổn định thấp thìchi phí nguồn vốn cũng phải thấp tương ứng Tuy nhiên nguồn rẻ thì lại đồngnghĩa với giảm tính cạnh tranh của ngân hàng Tính chi phí một cách chính

Trang 20

xác cho phép ngân hàng chủ động lựa chọn những nguồn vốn khác nhau vàđảm bảo doanh thu đủ bù đắp chi phí và đem lại tỷ lệ thu nhập mong đợi.

Thứ hai, tạo ra nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp.

Cơ cấu vốn cần đa dạng thể hiện ở việc duy trì một tỷ lệ giữa vốn huyđộng ngắn hạn và dài hạn, giữa vốn nội tệ và ngoại tệ Một ngân hàng có chấtlượng huy động vốn cao sẽ có nguồn vốn dồi dào và cơ cấu vốn cân đối, tránhcho ngân hàng rơi vào tình trạng căng thẳng về tài chính trong điều kiện môitrường kinh doanh thường xuyên thay đổi

Hơn nữa ngân hàng phải dự đoán xu hướng biến đổi cơ cấu nguồn vốnhuy động Yếu tố này cũng rất quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch sửdụng vốn của ngân hàng Mỗi loại nguồn vốn có điểm mạnh, điểm yếu riêngbiệt trong việc huy động và khai thác Do đó sự biến động về cơ cấu vốn sẽkéo theo sự biến đổi trong cơ cấu cho vay, đầu tư, bảo lãnh… và kéo theo sựthay đổi lợi nhuận, rủi ro trong hoạt động ngân hàng Sự biến đổi cơ cấu vốnhuy động phụ thuộc một phần vào kế hoạch điều chỉnh của ngân hàng vànhững nhân tố bên ngoài ngân hàng, đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyênnghiên cứu và tiếp cận thị trường

Thứ ba, xây dựng quy mô và sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định.

Quy mô vốn huy động có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động củangân hàng Ngân hàng muốn mở rộng hoạt động cần có quy mô vốn tương đốilớn, trong đó vốn huy động là một bộ phận quan trọng Khối lượng vốn phải đạttới quy mô nhất định theo kế hoạch huy động của ngân hàng Để thực hiện tốtvấn đề này cần kết hợp hài hoà các yếu tố khác như lãi suất, các hình thức huyđộng vốn, uy tín của khách hàng…Tuy nhiên không phải cứ có nguồn vốn lớn đã

là tốt, nó cần phải phù hợp với quy mô hoạt động của ngân hàng, mức vốn tự có,khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng… Hơn nữa việc mở rộng hoạt độngchỉ thực sự an toàn khi nguồn vốn huy động luôn có tốc

Trang 21

độ tăng trưởng ổn định Nếu quy mô vốn hiện tại lớn nhưng ngân hàng khôngkiểm soát, không dự đoán được xu hướng của các dòng tiền gửi vào và rút ratrong giai đoạn tiếp theo thì sẽ rất khó khăn trong việc cho vay, đầu tư và mất

đi sự chủ động của mình

Thứ tư, điều hành tốt nguồn vốn phục vụ kinh doanh.

Trong hoạt động ngân hàng thường xuyên xảy ra tình trạng không cânđối về vốn giữa các chi nhánh trong cùng hệ thống, giữa các ngân hàng Nếu

có công tác quản lý huy động vốn hợp lý thì ngân hàng sẽ linh hoạt hơn trongviệc giải quyết tình trạng thừa thiếu tạm thời này Một số biện pháp thường sửdụng như điều chuyển vốn giữa các chi nhánh (trong trường hợp mất cân đốinội bộ), vay các ngân hàng khác, vay ngân hàng trung ương…Chất lượnghuy động ở đây thể hiện ở việc đưa ra quyết định lựa chọn đúng đắn, có lợinhất đối với ngân hàng, đảm bảo sự chủ động trong kinh doanh

1.2 Các hình thức huy động vốn của NHTM

Bởi vốn huy động có ý nghĩa quyết định đến khả năng hoạt động củamỗi ngân hàng nên nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng củaNHTM Các hình thức huy động vốn ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng vốnhuy động được vì vậy việc đưa ra các hình thức huy động phù hợp, linh hoạt

là hết sức cần thiết đối với ngân hàng bởi như vậy họ mới khai thác được hếtcác nguồn vốn từ các doanh nghiệp và cá nhân mọi thành phần kinh tế Nguồntiền của ngân hàng được hình thành qua nhiều kênh khác nhau:

1.2.1 Huy động vốn từ hoạt động tiền gửi

Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất củaNHTM, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền ngân hàng Để gia tănglượng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh, các NHTM đã triển khai nhiềuhình thức huy động tiền gửi khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp và tổchức

Trang 22

Các dịch vụ nhận tiền gửi mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng gửi tiền bao gồm:

* Tiền gửi không kỳ hạn:

Là loại tiền gửi mà khách hàng - người gửi tiền có thể gửi vào và rút rabất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng Chính

vì tính không ổn định của tiền gửi không kỳ hạn nên với loại tiền gửi này,khách hàng không được trả lãi hoặc lãi suất rất thấp Tiền gửi không kỳ hạngồm 2 loại:

- Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): là các khoản tiền gửi không

kỳ hạn trước hết được sử dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạtđộng hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh của người gửi tiềnmột cách thường xuyên, an toàn và thuận tiện

Đây là loại tiền gửi chủ yếu của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế.Với loại tiền gửi này khách hàng được sử dụng các phương tiện thanh toánkhông dùng tiền mặt như: séc, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán

Tiền gửi thanh toán thường được bảo quản tại ngân hàng trên hai loạitài khoản: tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai Đối với tàikhoản tiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thườngđược thực hiện bằng séc hay chuyển khoản Khách hàng mở tài khoản nàynhằm mục đích “đảm bảo thế năng” và sử dụng dễ dàng thuận tiện đồng vốnkhi cần Tài khoản vãng lai là tài khoản có lúc dư nợ, có lúc dư có Với tàikhoản này, chủ tài khoản còn có thể được ngân hàng đáp ứng nhu cầu vayvốn trong một khoảng thời gian nhất định Đứng trên góc độ NHTM tiền gửikhông kỳ hạn là một khoản nợ mà ngân hàng luôn phải chủ động trả chokhách hàng vào bất kỳ lúc nào Tuy nhiên, trong mỗi ngân hàng do có sựkhông khớp nhịp giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản hay giữa các tài khoảnlàm cho xuất lớn hơn nhập (số tiền gửi vào lớn hơn số tiền rút ra) tạo nên tồnkhoản mà NHTM được phép sử dụng một phần làm vốn kinh doanh

Trang 23

- Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý (tiền gửi không kỳ hạn phi giao

dịch): là khoản tiền được ký gửi với mục đích an toàn tài sản, không mangtính chất phục vụ thanh toán Khi cần khách hàng có thể đến ngân hàng rúttiền để chi tiêu Cũng như trường hợp trên, ngân hàng phải thoả mãn yêu cầurút tiền của khách hàng bất cứ khi nào và chỉ được sử dụng tồn khoản khiđảm bảo khả năng thanh toán chi trả

Tại một số nước có công nghệ ngân hàng phát triển cao, việc rút tiền từtài khoản này phần lớn được thực hiện bằng điện thoại hoặc cũng có thể rúttiền một cách dễ dàng qua các máy rút tiền tự động bằng việc sử dụng các thẻATM Loại tiền gửi này được mệnh danh là tiền gửi theo yêu cầu, không đemlại lãi suất cụ thể

Tại Việt Nam, tiền gửi thuộc loại này được thể hiện dưới các hình thứcnhư: tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế và tài khoản tiềngửi cá nhân Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn quáthấp, để khuyến khích việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng, các NHTM ởViệt Nam đã tiến hành trả lãi cho loại tiền gửi này Ở các nước phát triển loạitiền gửi này chiếm một vị trí quan trọng trong kết cấu nguồn vốn của NHTM (ở

Mỹ, chiếm 30% tổng tiền gửi) Vì lẽ đó, để tạo nguồn tiền gửi trên tài khoảnthanh toán, việc thu hút và giữ khách hàng được các ngân hàng rất coi trọng

Tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn biến động thường xuyên, giảipháp để tăng cường nguồn vốn này không phải là yếu tố lãi suất mà là sự antoàn, thuận tiện cũng như chất lượng các dịch vụ, điển hình là dịch vụ thanhtoán phi tiền mặt

Trang 24

chỉ được rút tiền ra khi đến hạn, nhưng trên thực tế, do áp lực cạnh tranh giữacác ngân hàng nên các ngân hàng thường cho phép khách hàng rút ra trướchạn nếu họ có nhu cầu Trong trường hợp này khách hàng sẽ được hưởngmột mức lãi suất thấp hơn lãi suất ban đầu đã thoả thuận (thường là lãi suấttiền gửi không kỳ hạn).

Các NHTM nhận 2 loại tiền gửi có kỳ hạn: tiền gửi có kỳ hạn và tiềngửi báo rút (khi muốn rút ra phải báo trước) Về cơ bản, các khoản tiền gửinày không được sử dụng để tiến hành thanh toán như các khoản chi trả bằngvốn trên tài khoản vãng lai Thông thường, tiền gửi có kỳ hạn có thời hạn dài

và có lãi suất cao

Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiềngửi tiết kiệm (TGTK) Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể

sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh Vì vậy, các NHTM luôn tìm mọicách đa dạng hoá loại tiền gửi này bằng việc áp dụng nhiều kỳ hạn với cácmức lãi suất khác nhau

Ở các nước phát triển, tiền gửi có kỳ hạn khá phổ biến và thường đượcthể hiện chủ yếu bằng chứng chỉ tiền gửi (CDs) và được ghi rõ hạn định vàgiá trị thanh toán Việc rút tiền trước hạn sẽ bị phạt và có thể vượt quá tiền lãi

mà khách hàng được hưởng Ở Đức, để khắc phục việc rút vốn trước hạn,NHTM thường cấp cho khách hàng một khoản tín dụng mà coi khoản tiền gửi

có kỳ hạn là tài sản đảm bảo cho khoản vay

* Tiền gửi tiết kiệm (tiền gửi chủ yếu của dân cư)

Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân người lao độngchưa sử dụng cho tiêu dùng TGTK là một dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệtrong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân

Từ lâu, TGTK được coi là công cụ huy động vốn truyền thống của cácNHTM Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng

Trang 25

đáng kể trong tiền gửi ngân hàng (ở Mỹ chiếm khoảng 25% tổng tiền gửingân hàng) Trên thực tế, trong nền kinh tế thị trường, TGTK được phát triểndưới hai loại hình tiết kiệm sau:

- TGTK không kỳ hạn: là khoản tiền gửi khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc

nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác.

Thực chất đây là khoản TGTK thông thường Đối với khoản tiền gửi này,chủ tài khoản có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không phải báo trước Tuy nhiên,

số dư tài khoản này thường không lớn, nhưng có ưu điểm hơn so với các tàikhoản tiền gửi giao dịch ở chỗ: số dư này ít biến động Chính vì vậy, đối với loạitiền gửi này, các NHTM thường trả lãi suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán

Đó là điều kiện để các NHTM có thể dễ dàng huy động số vốn này

- TGTK có kỳ hạn: là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời hạn rút

tiền, có mức lãi suất cao hơn so với TGTK không kỳ hạn

Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam Các NHTM ở ViệtNam thường huy động tiết kiệm với kỳ hạn từ ba tháng đến một năm Nhưng

do áp lực cạnh tranh và do nhu cầu về vốn ngày càng tăng nên các NHTMtăng dần lãi suất TGTK và cũng đa dạng hoá thời hạn gửi tiền (tháng, tuần vàthậm chí theo ngày ) với các mức lãi suất khác nhau

Hơn nữa, về nguyên tắc một khi khách hàng gửi tiền vào tài khoản này, họ

sẽ không được rút ra (cả gốc và lãi) trừ khi hết hạn gửi tiền Để tăng sức cạnhtranh trong thu hút tiền gửi, các NHTM vẫn cho phép khách hàng rút tiền trướchạn Tuy nhiên, nhằm tránh việc khách hàng rút tiền trước hạn, một phần trongtiền lãi mà khách hàng được hưởng bị khấu trừ (có thể ngân hàng không chấpnhận trả lãi cho một vài tháng hoặc cũng có thể khách hàng chỉ được hưởng mộtmức lãi suất TGTK không kỳ hạn cho khoảng thời gian gửi tiền)

Tiết kiệm dài hạn: loại tiết kiệm này rất phổ biến ở một số nước công

nghiệp, nhằm thu hút số tiền nhàn rỗi trong thời hạn dài So với các loại hình

Trang 26

tiết kiệm khác, đối với loại tiết kiệm này, bất kỳ lúc nào chủ tài khoản cũng cóthể gửi tiền vào tài khoản với số lượng không hạn chế, nhưng chỉ được rút rakhi đến hạn Đây là loại hình tiết kiệm mà ngân hàng cần tận dụng nhằm tạo

ra các nguồn vốn có tính ổn định cao phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng dàihạn của mình

Vậy, TGTK là nguồn vốn tương đối ổn định và lâu dài vì vậy NHTMcần có giải pháp tăng cường huy động nguồn vốn này (đặc biệt là về lãi suất)

để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình

1.2.2 Huy động vốn thông qua thị trường tiền tệ

Các giấy tờ có giá của ngân hàng là các công cụ nợ do ngân hàng pháthành để huy động vốn trên thị trường Nguồn vốn này tương đối ổn định để

sử dụng cho một mục đích nào đó của ngân hàng Lãi suất của giấy tờ có giáphụ thuộc vào sự cấp thiết của huy động vốn nên thường cao hơn lãi suất tiềngửi có kỳ hạn thông thường

Các giấy tờ có giá do NHTM phát hành gồm:

* Chứng chỉ tiền gửi (CDs):

CDs là công cụ vay nợ do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốntrên thị trường với bản chất tương tự như một khoản tiền gửi có kỳ hạn.Người sở hữu CDs được hưởng lãi định kỳ và được hoàn trả mệnh giá khiđến hạn

Thời hạn của CDs thường là ngắn hạn từ 1-3 tháng, hoặc 6 tháng…

Sự khác biệt chủ yếu của CDs với các khoản tiền gửi có kỳ hạn là chúng cóthể chuyển nhượng và mệnh giá được thống nhất theo một mức giá chuẩn Vìvậy nó trở nên hấp dẫn hơn CDs giúp ngân hàng có thể huy động vốn mộtcách chủ động mà không phải phụ thuộc vào tiền gửi của khách hàng

Kỳ phiếu ngân hàng: là giấy nhận nợ của ngân hàng với cam kết trả

gốc và lãi sau một thời gian nhất định

Trang 27

Kỳ phiếu ngân hàng được phát hành thường xuyên, có thời hạn khálinh hoạt và phong phú: 3 tháng, 6 tháng…Do vậy, kỳ phiếu có tính ổn địnhrất cao, tính tập trung cao và có lãi suất cao hơn so với tiền gửi cùng kỳ hạn,lại có thể chuyển nhượng nên thu hút được khối lượng vốn tương đối lớn.

Trái phiếu ngân hàng: là một công cụ nợ dài hạn của ngân hàng, với

cam kết thanh toán gốc vào ngày đáo hạn và thanh toán lãi vào những thờigian xác định

Trái phiếu dùng để huy động vốn trung và dài hạn phục vụ cho những kếhoạch phát triển kinh doanh có quy mô lớn và dài hạn với sự ổn định cao về thờihạn và lãi suất Trong khi kỳ phiếu được phát hành ở từng chi nhánh với khunglãi suất, thời gian phát hành riêng biệt, trái phiếu được phát hành với quy môlớn, đồng loạt trong hệ thống mỗi ngân hàng Trái phiếu gồm nhiều loại: tráiphiếu ghi danh, trái phiếu không ghi danh, trả lãi trước, trả lãi sau, có thể chuyểnnhượng…các loại trái phiếu có đặc trưng là mệnh giá được xác định trước đó( ghi trên trái phiếu), ngày đáo hạn được công bố khi phát hành

Như vậy, trái phiếu và kỳ phiếu ngân hàng là những hình thức huyđộng rất tiện lợi, tùy theo tính cân đối nguồn vốn và cho vay từng thời kỳ vớimức lãi suất hấp dẫn của NHTM Không những chủ động thu gom một lượngvốn cần thiết đủ để đáp ứng nhu cầu vốn trong một thời gian ngắn mà còn cóthể kiềm chế lạm phát, góp phần phát triển thị trường vốn, thị trường chứngkhoán một cách hiệu quả

1.2.3 Huy động vốn thông qua hoạt động đi vay

Nguồn vốn đi vay nhằm làm tăng thêm khả năng thanh toán cho ngân hàng, nguồn vốn vay được hình thành bởi:

 Vay NHTW:

- Vốn vay ngắn hạn bổ sung: Là hình thức các NHTM vay vốn bổ sung

vốn ngắn hạn của mình Trong hình thức vay này, các NHTM chỉ được vaykhi còn hạn mức tín dụng đã thỏa thuận

Trang 28

- Vốn vay để thanh toán: Các NHTM vay NHTW để thực hiện công tác

thanh toán giữa các ngân hàng nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanhtoán ( thời hạn vay thường ngắn)

- Tái cấp vốn: NHTW cho NHTM vay trên cơ sở chứng từ có giá Các

chứng từ này phải là các chứng từ có chất lượng, tức phải thỏa mãn những điềukiện: hợp pháp, hợp lệ, đảm bảo an toàn Tái cấp vốn bao gồm 2 hình thức:

Cho vay có chiết khấu: NHTW nhận các chứng từ có giá mà cácNHTM đó chiết khấu trước đây để thực hiện các nghiệp vụ giống như cácNHTM đó làm Tuy nhiên, việc cho vay tái chiết khấu đối với các NHTM đóđược giới hạn trong mức cho phép ( hạn mức tái chiết khấu) để thực hiệnchính sách tiền tệ của Nhà nước

Cho vay có bảo đảm: là hình thức các NHTM đem các chứng từ có giáđến NHTW để làm đảm bảo xin vay vốn Căn cứ trên tổng mệnh giá cácchứng từ có giá làm đảm bảo, NHTW sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tùy theo

sự quản lý của Nhà nước

Trong số đó hình thức thường gặp là vay chiết khấu Với vai trò làngười cho vay cuối cùng, NHTW luôn cho các NHTM vay với một mức giánhất định: đó là lãi suất tái chiết khấu Lãi suất tái chiết khấu được NHTW sửdụng như một công cụ điều tiết vĩ mô, tùy vào yêu cầu điều tiết của nền kinh

tế mà lãi suất này được nâng cao hoặc hạ thấp Để hạn chế tình trạng cácNHTM ồ ạt vay vốn, NHTW sử dụng các công cụ như hạn mức tái chiết khấuhay lãi suất tái chiết khấu Song dù sao, đây cũng là sân sau của hoạt độnghuy động vốn nhằm làm gia tăng vốn khả dụng trong kinh doanh của cácNHTM

Vay từ các tổ chức tín dụng khác:

Đó là các khoản vay thông thường mà các NHTM vay lẫn nhau trên thịtrường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ

Trang 29

Các NHTM thường sử dụng giải pháp đi vay trong các trường hợp sau:+ Thứ nhất: các NHTM thường chỉ vay NHTW khi không còn giải pháp nàokhác nhằm tránh việc sử dụng tối đa hạn mức tái chiết khấu, mà qua đấy cóthể gây sự chú ý của NHTW.

+ Thứ hai: để tránh việc để mất đi khách hàng tốt trong khi ngân hàng đang

có khó khăn về vốn

Các hình thức huy động vốn khác:

- Các NHTM có thể thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các hoạt động ủy thác

về dịch vụ xã hội như: câu lạc bộ giáng sinh, nghỉ hè và các kế hoạch khácđược mệnh danh là “ câu lạc bộ tiết kiệm” Các kế hoạch này được tạo ra đểkhuyến khích những người gửi tiền tiết kiệm ký thác mỗi tuần một số tiền đủlớn để người giữ tiền trang trải các chi phí cho các dịch vụ trên Để mở rộngnguồn vốn này, các NHTM phải không ngừng nâng cao uy tín, phát triển cácdịch vụ ngân hàng…

- Vốn trong thanh toán: là nguồn vốn phát sinh trong quá trình thanh toáncủa NHTM do có sự chênh lệch về thời điểm hạch toán trên tài khoản của khách hàng

Thực tế vốn tiền tệ nhàn rỗi được tạo ra thông qua:

+ Do chênh lệch giữa thời điểm trích tài khoản người trả tiền và thời điểmnhập số tiền đó vào tài khoản người thụ hưởng đó tạo ra một lượng tiền nhànrỗi trong một thời gian nhất định Loại vốn này được tạo ra trong quá trìnhthanh toán không dùng tiền mặt giữa các khách hàng có tài khoản tiền gửithanh toán tại các NHTM

+ Do trong một số hình thức thanh toán: séc bảo chi, thẻ thanh toán, thẻ tín

dụng…khách hàng phải lưu ký một lượng tiền nhất định để đảm bảo việc thanh toán với người thụ hưởng, bởi vậy tiền đó trả nhưng thực tế chưa được

Trang 30

thanh toán cho người thụ hưởng nên đã tạo ra một lượng vốn nhàn rỗi nhấtđịnh có thể sử dụng làm vốn kinh doanh cho ngân hàng.

1.3 Hiệu quả huy động vốn của NHTM

1.3.1 Quan niệm về hiệu quả huy động vốn

Ngày nay, ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác ngoài việcđối mặt với cuộc cạnh tranh giành thị phần thì còn phải đối mặt với nhữngbiến động khó lường của nền kinh tế trong nước cũng như trên thế giới Bất

kỳ biến động nào dù nhỏ hay lớn đều có thể ảnh hưởng tới hoạt động kinhdoanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng Vì vậyhiệu quả trong hoạt động huy động vốn không chỉ đánh giá chính xác, đúngđắn hoạt động huy động vốn mà còn phản ánh khả năng thích nghi và chỗđứng trên thị trường của ngân hàng

Trong từ điển Tiếng Việt, “ Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối

quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí

mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định” Để đánh giá

xem hoạt động huy động vốn của mình có hiệu quả hay không, các NHTMkhông chỉ quan tâm đến khối lượng vốn đã được huy động mà còn phải đánhgiá nhiều vấn đề khác như: tính hợp lý của cơ cấu nguồn vốn, tính ổn địnhcủa nguồn vốn, chi phí huy động vốn so với các năm trước và so với mặtbằng chung của các ngân hàng khác, việc huy động vốn có phù hợp với kếhoạch kinh doanh và đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuận đã đề ra hay không? Vì vậy,

“ Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại được nhìn nhận như là kết quả đích thực thu được từ hoạt động huy động vốn của ngân hàng” Hiệu

quả huy động vốn là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí

bỏ ra Như vậy, để đánh giá hiệu quả huy động vốn của các NHTM thì phảixem xét các khía cạnh sau:

Trang 31

- Quy mô, cơ cấu nguồn vốn đủ lớn để tài trợ cho các danh mục tài sản và không ngừng tăng trưởng ổn định

- Nguồn vốn có chi phí hợp lý

- Huy động vốn phù hợp với sử dụng vốn

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM

1.3.2.1 Quy mô, cơ cấu nguồn vốn huy động

 Về quy mô nguồn vốn huy động:

Nguồn vốn huy động phải có sự tăng trưởng ổn định về mặt số lượng

để thỏa mãn nhu cầu tín dụng cũng như các hoạt động khác của ngân hàng.Nếu quy mô nguồn huy động gia tăng sẽ đáp ứng cho hoạt động tài trợ củangân hàng không ngừng tăng trưởng, tạo điều kiện để ngân hàng mở rộnghoạt động, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn

Tốc độ tăng nguồn vốn huy động phản ánh sự tăng trưởng nguồn vốnhuy động về quy mô, việc so sánh quy mô vốn huy động năm nay với nămtrước (thời kỳ này với thời kỳ khác) sẽ đánh giá sự tăng trưởng và ổn địnhcủa nguồn huy động

Tốc độ tăng NVHĐ

 Về cơ cấu nguồn vốn huy động:

Mỗi loại tiền gửi có các yêu cầu khác nhau về chi phí, thanh khoản,thời hạn… Do đó, việc xác định rõ cơ cấu vốn huy động sẽ giúp cho ngânhàng hạn chế rủi ro có thể gặp phải và tối thiểu hóa chi phí đầu vào Cơ cấunguồn vốn ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và quyết định chi phí của ngân hàng,đây là vấn đề mà các ngân hàng đều quan tâm Để có được chi phí đầu vàohợp lý, có lợi cho ngân hàng thì các ngân hàng phải xem xét khoản mục nào

có tỷ trọng lớn nhất Trong thực tế, các khoản huy động từ doanh nghiệp, tổ

21

Trang 32

chức kinh tế có tính ổn định tương đối cao, chi phí vừa phải rất có lợi chohoạt động kinh doanh của ngân hàng Cho nên để đẩy mạnh hiệu quả công táchuy động vốn thì các ngân hàng cần nâng cao tỷ trọng của nhóm này lên hơnnữa trong cơ cấu vốn huy động của mình Bên cạnh đó, các khoản vốn huyđộng từ khu vực dân cư rất tiềm tàng giúp ngân hàng mở rộng kinh doanh tíndụng tiêu dùng, thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phílưu thông cho nền kinh tế Cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng có thể rấtkhác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm của khách hàng, chiến lược kinh doanh vàhoạt động Marketing của ngân hàng.

Chỉ tiêu Tỷ trọng từng nguồn vốn huy động phản ánh cơ cấu nguồn vốnhuy động, trong đó số dư từng loại nguồn vốn huy động được tính phụ thuộcvào cách phân loại nguồn vốn của các NHTM Qua đây ngân hàng có thể điềuchỉnh cơ cấu huy động vốn sao cho hợp lý với từng thời kỳ kinh doanh

Vốn của NHTM được chia làm hai loại: vốn chủ sở hữu và nợ Vốnchủ sở hữu chiếm một tỷ trọng nhỏ nhưng có thể sử dụng lâu dài, hình thànhnên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng và đặc biệt là được dùng để đảmbảo khả năng thanh toán của ngân hàng Nợ chiếm phần lớn trong nguồn vốncủa NHTM, nó là nguồn vốn hoạt động chính với mỗi ngân hàng cho nên hầuhết các khoản nợ của NHTM đều liên quan đến chi phí huy động vốn Chi phíhuy động vốn của ngân hàng bao gồm chi phí trả lãi và chi phí phi trả lãi,trong đó chi phí trả lãi là chủ yếu Ngoài ra còn có các chi phí khác như chibảo hiểm tiền gửi, chi phí dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán, chi phí quảngcáo, chi phí quản lý…

Chi phí trả lãi mà ngân hàng trả cho khách hàng là chi phí trả lãi dựa

Trang 33

trên lãi suất danh nghĩa, lãi suất ngân hàng công bố cho khách hàng Chi phínày phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố nhƣ kỳ hạn, loại tiền gửi, mục tiêu gửitiền của khách hàng, chiến lƣợc kinh doanh của ngân hàng từng thời kỳ, tiệních kèm theo… Tuy nhiên, lãi suất thực tế của từng nguồn vốn huy động đốivới ngân hàng là cao hơn bởi ngoài chi phí trả lãi, ngân hàng còn phải bỏ ranhiều loại chi phí khác nữa là chi phí phi trả lãi.

Nhƣ vậy, chỉ tiêu này đƣợc chia ra làm hai chỉ tiêu nhỏ:

(1) Chi phí trả lãi/Tổng vốn huy động: cho thấy để huy động 1 đồng vốn thì ngân hàng phải chi trả bao nhiêu tiền dựa trên lãi suất công bố cho khách hàng

(2) Chi phí phi trả lãi/Tổng vốn huy động: cho thấy 1 đồng vốn huy động đƣợc

ngân hàng phải bỏ ra chi phí là bao nhiêu cho việc quản lý, cất giữ, bảo quản…

Tóm lại, chỉ tiêu chi phí huy động vốn/tổng vốn huy động đƣợc dùng

để đánh giá xem một đồng vốn ngân hàng huy động đƣợc cần phải bỏ ra baonhiêu chi phí Khi xem xét hiệu quả huy động vốn, chi phí cho một đồng vốnphải hợp lý, đảm bảo các khoản thu nhập có thể bù đắp đƣợc chi phí này và

có lợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này càng thấp thì huy động vốn càng cóhiệu quả Biện pháp giảm chi phí huy động vốn là giảm lãi suất huy động vàđảm bảo các chi phí quản lý, bảo quản, dự trữ vốn một cách hợp lý nhất Việcđƣa ra một lãi suất huy động hợp lý là rất quan trọng, lãi suất không quá cao– đảm bảo lợi ích của ngân hàng, cũng không quá thấp – thu hút đƣợc kháchhàng gửi tiền

1.3.2.3 Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn

Huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ mật thiết với nhau NHTMkhông chỉ huy động thật nhiều vốn với lãi suất thích hợp mà còn phải tìm kiếmnơi để cho vay và đầu tƣ có hiệu quả Nếu ngân hàng chỉ chú trọng đến huyđộng vốn mà không cho vay và đầu tƣ thì vốn sẽ bị ứ đọng, làm giảm lợi nhuận.Ngƣợc lại, nếu ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay và

Trang 34

đầu tư, ngân hàng sẽ bị mất đi cơ hội mở rộng khách hàng, làm giảm uy tín của mình trên thị trường.

 Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (còn gọi là hệ số Q) Trước đây, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động đối với ngânhàng không được vượt quá 80%, đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàngkhông được vượt quá 85% Cấp tín dụng bao gồm các hình thức cho vay, chothuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá và công cụchuyển nhượng Nguồn vốn huy động bao gồm:

- Tiền gửi của cá nhân dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có

kỳ hạn

- Tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức, bao gồm cả tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức tín dụng khác và chi nhánh ngân hàng nước ngoài

- 25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng)

- Tiền vay của tổ chức trong nước, tiền vay của tổ chức tín dụng khác có kỳhạn từ 3 tháng trở lên (trừ tiền vay của tổ chức tín dụng khác trong nước để

bù đắp thiếu hụt tạm thời đối với các tỷ lệ về khả năng chi trả) và tiền vay của

tổ chức tín dụng nước ngoài

- Vốn huy động từ tổ chức, cá nhân dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá

Sau đó, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động đã bị loại bỏhoàn toàn Mặc dù vậy, hiện nay một số ngân hàng vẫn áp dụng tỷ lệ này như

là một tỷ lệ quan trọng nhằm tránh việc mất thanh khoản khi sử dụng vốn quámức, nhất là việc sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn để cho vay và đầu tư dàihạn Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng

Dư nợ tín dụng

Q = x 100% Tổng nguồn vốn huy động

 Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn

Thông thường các ngân hàng vẫn sử dụng một phần nguồn vốn có thời

Trang 35

hạn ngắn để đầu tư vào các tài sản có thời hạn dài hơn nhưng chỉ ở một tỷ lệnhất định vì nếu lớn hơn nữa thì các ngân hàng đến một thời điểm nào đó phảichịu sức ép về khả năng thanh toán vì dư nợ cho vay là một tài sản kém lỏng màcho vay dài hạn là một loại tài sản kém lỏng nhất Ngược lại, nếu ngân hàng sửdụng nguồn vốn dài hạn để cho vay ngắn hạn thì sẽ khó đảm bảo chênh lệch lãisuất và không hiệu quả vì nguồn vốn dài hạn có chi phí huy động cao hơn trongkhi lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay trung-dài hạn.

Tại Việt Nam, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn đã từng bịkhống chế , tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vaytrung hạn và dài hạn là 40% với NHTM Sau đó tỷ lệ này đã được điều chỉnhxuống còn 30% cho đến năm 2010 đã không còn khống chế tỷ lệ này nữa.Nhiều ngân hàng cho rằng quy định về tỷ lệ này là cần thiết và vẫn duy trìmột cách linh hoạt, hợp lý nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh,đặc biệt là giảm thiểu rủi ro thanh khoản Sử dụng vốn an toàn sẽ góp phầnnâng cao hiệu quả huy động vốn của chính ngân hàng

Tỷ lệ của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn vàdài hạn tính theo công thức sau đây:

[(A-B)/C] x 100%

Trong đó:

+ A là tổng dư nợ cho vay trung hạn, dài hạn

+ B là tổng nguồn vốn trung hạn và dài hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn sau khi trừ đi các khoản phải trừ

+ C là tổng nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn

 Chênh lệch lãi suất bình quân

Với tư cách là giá vốn, lãi suất có tác động điều tiết trực tiếp đến hoạtđộng cho vay và huy động vốn của ngân hàng, tác động đến lợi nhuận khixem xét kết quả kinh doanh, tính toán lãi suất chênh lệch đầu ra đầu vào Khi

Trang 36

lãi suất thay đổi theo diễn biến quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tiền

tệ, phản ánh đúng tín hiệu của thị trường, điều đó khiến ngân hàng phải tìmkiếm, hoạch định mức lãi suất phù hợp cho mình Trong trường hợp lãi suấtbiến động do tác động của các yếu tố phi vật chất (yếu tố tâm lí, yếu tố cạnhtranh không lành mạnh ) sẽ có tác động bất lợi đối với hoạt động tín dụngcủa ngân hàng Đây là khó khăn đối với các ngân hàng thương mại có quy môhoạt động nhỏ, vốn tự có và khả năng tài chính thấp Trong trường hợp đó làviệc tăng lãi suất huy động, tác động hiệu ứng đối với toàn bộ hệ thống, buộccác ngân hàng khác cũng phải tăng lãi suất để giữ khách hàng gửi tiền trongkhi đó có thể không thực sự có khó khăn về nguồn vốn Trong nền kinh tế thịtrường, các hiện tượng kinh tế thường có diễn biến, thay đổi nhanh Lãi suấtcũng là yếu tố nhạy cảm và thường xuyên thay đổi, gắn liền với sự thay đổicủa quan hệ cung cầu về vốn Vì vậy, NHTM trong quá trình hoạt động cần có

sự theo dõi sát sao sự biến động đó để có những giải pháp ứng phó kịp thờinhằm ổn định tình hình kinh doanh của mình

Chênh lệch lãi suất bình quân là một chỉ tiêu thể hiện mối quan hệ cung

- cầu vốn ngân hàng có đảm bảo được lợi nhuận cho ngân hàng với một mứclãi suất phù hợp với cả người gửi tiền lẫn người vay vốn, được tính theo công thức sau:

Chênh lệch lãi suất bình quân = Lãi suất bình quân đầu ra - Lãi suất bình

quân đầu vào

Để tính được lãi suất bình quân đầu vào, ta lấy chi phí trả lãi tiền gửitrong kỳ chia cho tổng nguồn số dư huy động vốn bình quân Tương tự, lãisuất bình quân đầu ra là thương số giữa thu từ lãi vay và tổng dư nợ cho vaybình quân

Trang 37

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của NHTM

1.4.1 Nhân tố khách quan

1.4.1.1 Yếu tố pháp luật và chính trị

Mọi hoạt động kinh doanh trong đó có hoạt động ngân hàng đều phảichịu sự điều chỉnh của luật pháp Với hoạt động ngân hàng đó là Luật các tổchức tín dụng, hệ thống các quy định cụ thể trong từng thời kỳ về lãi suất, dựtrữ, hạn mức…Trong sự ràng buộc về luật pháp, các yếu tố của nghiệp vụ huyđộng vốn thay đổi làm ảnh hưởng tới quy mô, hiệu quả và chính sách huyđộng vốn của ngân hàng

Các chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quảhuy động vốn như các chính sách về tỷ giá, chính sách về thuế, chính sáchxuất nhập khẩu…đều có tác động hai mặt đến quá trình huy động vốn trongdân cư Hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh, đầu tưhoặc thu hút vốn, hoặc gây cản trở đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung

và quá trình hoạt động ngân hàng nói riêng

1.4.1.2 Yếu tố kinh tế

Hoạt động của hệ thống NHTM bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăngtrưởng của nền kinh tế, thu nhập quốc dân, tốc độ chu chuyển vốn, tỷ lệ lạmphát…tác động trực tiếp Khi nền kinh tế trong thời kỳ hưng thịnh, có tốc độphát triển nhanh, thu nhập quốc dân cao thì dân cư và các đơn vị kinh tế sẽ cónguồn tiền dồi dào vào ngân hàng và cơ hội đầu tư cũng được mở rộng.Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, tình hình sản xuấtkinh doanh của các thành phần kinh tế trở nên khó khăn hoặc bị ngừng trệ,thu nhập dân cư thấp và bất ổn, tỷ lệ lạm phát cao, thất nghiệp gia tăng thìviệc huy động vốn của ngân hàng cũng như các hoạt động khác của ngânhàng đều gặp khó khăn

Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa quốc gia cũng

Trang 38

ảnh hưởng tới việc tạo vốn của ngân hàng Nếu mở rộng tiền tệ thì sẽ huyđộng vốn dễ, nếu thắt chặt tiền tệ sẽ huy động vốn khó Khi chính sách tàikhóa thu hẹp cũng như tăng thuế, giảm chi tiêu chính phủ cũng dẫn đến tăngthất nghiệp nên khó huy động vốn Mặt khác, lãi suất giảm sẽ không hấp dẫnđược nguồn tiết kiệm vì người có tiền sẽ chỉ quan tâm tới lãi suất dương, vậynên không ai muốn gửi tiết kiệm.

1.4.1.3 Yếu tố môi trường xã hội

Môi trường xã hội cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt độngcủa ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng Đời sống, thunhập của người dân là yếu tố trực tiếp quyết định lượng tiền gửi vào ngânhàng Thu nhập của người lao động càng cao thì nguồn vốn được huy độngvào ngân hàng càng lớn vì người dân có thu nhập cao ngoài việc thỏa mãnnhu cầu trong cuộc sống thì họ còn giành một phần để tích lũy

Tâm lý và thói quen tiêu dùng của người dân cũng ảnh hưởng đến việchuy động vốn của ngân hàng Ở các nước phát triển, nhu cầu thanh toán khôngdùng tiền mặt qua ngân hàng rất phát triển Ngược lại, ở các nước chậm pháttriển, tâm lý ưa dùng tiền mặt và tích lũy tiền không gửi vào ngân hàng là kháphổ biến Tâm lý và thói quen tiêu dùng còn rất khác nhau giữa các dân tộc, cácvùng miền ở nước ta Vì vậy, phát triển nhanh các hình thức không dùng tiềnmặt có ý nghĩa quan trọng trong việc huy động vốn của ngân hàng

1.4.1.4 Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng

Trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay, các NHTM đangphải hoạt động kinh doanh trong một môi trường cạnh tranh vô cùng khốcliệt, với sự ra đời của rất nhiều các NHTM Do đó, để có thể tồn tại và pháttriển ngân hàng phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh hiệu quả.Việc thu hút được nhiều nguồn vốn huy động là một phần trong chiến lượckinh doanh của ngân hàng Vì thế, để nâng cao hiệu quả huy động vốn của

Trang 39

ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng phải nhạy bén trong việc đưa ra được mứclãi suất huy động hợp lý để có thể thu hút được lượng vốn lớn với chi phíthấp nhất Trên cơ sở đó, ngân hàng sẽ chủ động trong xác định thị trườngmục tiêu, phát huy lợi thế cạnh tranh, đồng thời cũng phải không ngừng nângcao chất lượng dịch vụ.

1.4.2 Nhân tố chủ quan

1.4.2.1 Chính sách lãi suất của ngân hàng

Cạnh tranh bằng lãi suất được hiểu theo hai khía cạnh đó là lãi suất huyđộng và lãi suất cho vay Để thu hút được lượng vốn lớn, các ngân hàng phảiđẩy mạnh lãi suất huy động tăng cao nhưng đồng thời để cho vay được nhiềuhơn thì các ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay Chính sách lãi suất củangân hàng phải có sự linh hoạt, hấp dẫn và cạnh tranh được với các ngânhàng khác, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo bù đắp được chi phí và đem lại lợinhuận cho ngân hàng Để đạt được điều đó thì lãi suất huy động và lãi suấtcho vay phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bên cạnh những ưu điểm củachính sách lãi suất thì chính sách này cũng được ví như con dao hai lưỡi, màmặt hại lại nhiều hơn mặt lợi Bởi lẽ cạnh tranh bằng lãi suất có mức độ rủi rocao, thu nhập thấp, làm giảm sức mạnh tài chính của ngân hàng

Tóm lại, các ngân hàng cần thận trọng trong cạnh tranh bằng lãi suấtbởi vì nó không phải bao giờ cũng đem lại tác dụng mong muốn Hơn nữa,trong giai đoạn nền kinh tế hiện nay lạm phát đang tăng cao và NHNN có sựgiới hạn về lãi suất trần huy động nên để sử dụng công cụ này, các ngân hàngcần có biện pháp cụ thể và xác đáng

1.4.2.2 Các dịch vụ cung ứng của ngân hàng

Đời sống của người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu củangười dân ngày càng phong phú, đa dạng và đặc biệt là các nhu cầu về cácsản phẩm dịch vụ tài chính ngày càng phải nhanh chóng, chính xác và tiện lợicho người dân.Việc đưa ra nhiều loại sản phẩm dịch vụ để thỏa mãn được

Trang 40

ngày càng nhiều nhu cầu đó là vô cùng cần thiết nhằm nâng cao khả năngcạnh tranh trong huy động vốn của các NHTM Các NHTM hiện nay khôngchỉ cung cấp các loại hình dịch vụ mang tính chất truyền thống mà còn khôngngừng triển khai, cung cấp các sản phẩm dịch vụ mang tính chất hiện đại nhưtiền gửi linh hoạt với nhiều kỳ hạn, kỳ phiếu, trái phiếu đa mệnh giá, sựphong phú trong các hình thức thanh toán như thanh toán qua thẻ visa, thẻmaster, thẻ ATM, … Đặc biệt việc phát triển các sản phẩm dịch vụ mới đangđược các ngân hàng ngày nay rất coi trọng và được xem như một chiến lượccạnh tranh giữa các ngân hàng Các sản phẩm mới này hướng khách hàng tớimột phong cách tiêu dùng mới theo xu hướng hiện đại, giảm việc sử dụngthanh toán bằng tiền mặt thông qua các hình thức thẻ thanh toán Ngược lại,nếu những ngân hàng nào có chính sách về sản phẩm, dịch vụ không đáp ứngkịp được với xu hướng tiêu dùng mới của người dân, ngân hàng đó sẽ mất đilợi thế cạnh tranh và sẽ dần bị lãng quên.

1.4.2.3 Tính an toàn của tiền gửi

Nền kinh tế ở giai đoạn tăng trưởng phát triển cao, nhu cầu về vốn đầu

tư sản xuất, kinh doanh lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngành ngân hàngphát triển Nhu cầu về vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh càng cao thì nhu cầuvay vốn từ ngân hàng càng cao và do đó dẫn tới nhu cầu huy động vốn củangân hàng cũng tăng cao Đồng thời khi nền kinh tế phát triển thì khả năngtích lũy của người dân cũng tăng mạnh Đây chính là nguồn tài nguyên lớncho công tác huy động vốn của NHTM, và ngược lại Sự ổn định của nềnkinh tế cũng ảnh hưởng đến lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thu nhập, chu kỳ chitiêu của người dân Các yếu tố này đều có tác động không nhỏ đến khả nănghuy động vốn của NHTM

Khi đó, khách hàng luôn có xu hướng tìm đến những ngân hàng uy tín,

có tính an toàn cao để đảm bảo cho nguồn tiền gửi của họ Chính vì vậy, ngân

Ngày đăng: 13/10/2020, 11:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w