Ngoài hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú đã được hình thành từ tỉnh đến huyện chủ yếu là đào tạo học sinh tốt nghiệp trung học sơ sở và trung học phổ thông ở các huyện, tỉnh có đồ
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vùng miền núi của Việt Nam luôn gắn với đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số Nói đến giáo dục miền núi chính là nói đến giáo dục học sinh dân tộc Trước cách mạng đồng bào không có trường lớp, không được học hành vì chính sách ngu dân của thực dân Pháp Sau cách mạng, trường lớp được mở rộng đến tận từng thôn bản xa xôi nên đồng bào ai ai cũng được học hành
Ngoài hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú đã được hình thành từ tỉnh đến huyện (chủ yếu là đào tạo học sinh tốt nghiệp trung học sơ sở và trung học phổ thông) ở các huyện, tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số vào những năm 80 của thế kỷ XX, thì những năm đầu của thế kỷ XXI, ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nhiều tỉnh trong cả nước, một hình thức tổ chức trường lớp đặc biệt là trường phổ thông có học sinh bán trú dân nuôi đã ra đời Nó xuất phát
từ thực tế địa hình đi lại khó khăn, hiểm trở và để đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số Mới đầu tức là phụ huynh tự làm nhà nội trú bằng tranh tre nứa lá cho học sinh ở xa trường về ở lại suốt tuần học, cử phụ huynh luân phiên đến nấu ăn cho học sinh hàng tuần hoặc hàng ngày Kinh phí
hỗ trợ bữa ăn cho học sinh một phần từ hỗ trợ của nhà nước, một phần từ phụ huynh đóng góp Nhìn nhận thấy mô hình trường bán trú cần được đầu tư và phát huy để đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào cũng như đào tạo cán
bộ cho vùng núi, vùng có đồng bào dân tộc, một mô hình trường học mới đã được Nhà nước thành lập: Trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) theo quy định tại Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14/6/2005 Để phát huy hiệu quả hoạt động của trường PTDTBT, ngày 02 tháng 8 năm 2010, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trường phổ thông dân tộc bán trú Ngày 11/12/2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 30/2015/TT-BGDĐT quy định sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTBT ban hành kèm theo Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT Như
vậy, “Trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) là trường chuyên biệt, được Nhà nước thành lập cho con em các dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này Trường PTDTBT có số lượng học sinh bán trú theo quy định”
Hiện nay, hệ thống trường PTDTBT đã, đang hình thành và phát triển ở tất
cả những vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn trên phạm vị toàn quốc Trường PTDTBT nằm trong hệ thống các trường chuyên biệt với ba đặc
Trang 2điểm và nhiệm vụ cơ bản là: Phổ thông, Dân tộc và Bán trú Thành lập và phát triển trường phổ thông dân tộc bán trú nhằm tăng tỷ lệ huy động học sinh trong
độ tuổi ra lớp, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở các vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần đào tạo nguồn cán bộ cho các vùng này Đồng thời tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương, góp phần xây dựng thành công chương trình xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đổi mới đất nước
Trường PTDTBT là một mô hình mới, vừa có tính chất phổ thông, vừa có tính chất dân tộc và bán trú Học sinh bán trú được Nhà nước hỗ trợ tiền ăn, hỗ trợ nhà ở Trường PTDTBT được hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị như: giường nằm, nhà bếp, phòng ăn, nhà tắm, công trình vệ sinh và các thiết bị kèm theo, hàng năm được mua sắm, bổ sung dụng cụ để phục vụ sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao
Như vậy, ngoài nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh được quy định tại Điều lệ trường phổ thông thì nhà trường còn tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc học sinh, tổ chức các hoạt động ngoài giờ, các hoạt động giáo dục đặc thù cho học sinh bán trú phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng đơn vị để hoàn thành các mục tiêu của một trường PTDTBT
Hiện nay, mô hình trường PTDTBT đã được mở rộng khắp các xã vùng núi, vùng có học sinh dân tộc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số học tập Hiệu quả về huy động số lượng cũng như chất lượng dạy học của mô hình trường PTDTBT đã thực sự rõ nét Tuy nhiên, trong công tác huy động và duy trì số lượng học sinh nhằm giải quyết dứt điểm vấn nạn học sinh bỏ học giữa chừng tại các vùng này vẫn còn một số khó khăn nhất định mà không phải ngày một ngày hai là giải quyết được Xuất phát từ nhận thức trên, bản thân là một cán bộ quản lý của một trường PTDTBT được thành lập và đưa vào hoạt động sau gần mười năm học, tôi đã có nhiều trăn trở đưa ra các giải pháp để thực hiện tốt việc huy động và duy trì số lượng học sinh nhằm
ổn định số lượng của nhà trường, tăng tỷ lệ chuyên cần của học sinh trên lớp, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường PTDTBT, hoàn thành các mục tiêu của từng năm học Đó là lý do tôi viết sáng kiến kinh
nghiệm “Một số giải pháp để làm tốt công tác huy động và duy trì số lượng học sinh ở trường phổ thông dân tộc bán trú”.
Phạm vi nghiên cứu:
Trang 3- Sáng kiến kinh nghiệm đề cập đến các giải pháp để thực hiện tốt công tác huy động và duy trì số lượng học sinh ở trường PTDTBT trong điều kiện của một xã vùng cao biên giới với 98% là đồng bào dân tộc Bru-Vân Kiều
- Đề tài áp dụng đối với trường PTDTBT và các trường có học sinh bán trú nhưng chưa đủ điều kiện để được chuyển đổi sang mô hình PTDTBT
2 Điểm mới của đề tài
- Điểm mới của đề tài là đề cập đến biện pháp nhằm huy động và duy trì số lượng học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường PTDTBT và chất lượng phổ cập giáo dục ở các xã vùng đặc biệt khó khăn Qua đó khẳng định tính
ưu việt của mô hình trường PTDTBT đối với giáo dục ở vùng đặc biệt khó khăn với đối tượng là học sinh dân tộc Bru-Vân Kiều
II PHẦN NỘI DUNG
1 Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu
Mục tiêu của trường PTDTBT là nhằm tăng tỷ lệ huy động học sinh trong
độ tuổi ra lớp, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hoàn thành mục tiêu phổ cập tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này Đồng thời đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương trong thời kỳ đất nước đổi mới Do đó, công tác huy động
và duy trì số lượng học sinh là yêu cầu cơ bản của trường PTDTBT
Thực tiễn tại địa bàn vùng cao biên giới, với đối tượng là con em vùng đồng bào dân tộc Bru-Vân kiều nơi tôi đang công tác, cho thấy công tác duy trì
số lượng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với học sinh cấp THCS ở những bản có trình độ dân trí, văn hóa thấp Hàng năm vẫn còn có từ 1- 2 học sinh bỏ học, tỷ lệ chuyên cần trên lớp đạt thấp do học sinh nghỉ học nhiều đặc biệt là vào mùa mưa Việc học sinh bỏ học, tỷ lệ chuyên cần thấp ở cấp THCS
đã trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng phổ cập giáo dục trên địa bàn, đặc biệt phổ cấp giáo dục THCS mức độ 3 theo Kế hoạch 983/KH-UBND ngày 11/5/2018 của UBND huyện Lệ Thủy
Mô hình trường PTDTBT với chế độ kèm theo cho học sinh đủ điều kiện được hưởng chế độ bán trú đã tạo cơ hội để các em học sinh nói chung và học sinh dân tộc nói riêng ở xa trường học thuộc vùng đặc biệt khó khăn có cơ hội để học tập, giảm bớt gánh nặng khó khăn cho phụ huynh trong điều kiện hầu hết là
Trang 4đối tượng thuộc diện hộ nghèo Tuy vậy, khi thực hiện việc huy động số lượng học sinh cũng gặp không ít khó khăn cần phải giải quyết thấu tình đạt lý từ tâm
lý và nhận thức của người dân đồng bào ít người là “Học không học thì thôi Học rồi cũng ở nhà làm rẫy Trời sinh voi trời sinh cỏ” Mặt khác với địa hình
núi cao, sông suối cách trở, giao thông đi lại còn hạn chế, dân cư phân bố rải rác thì việc duy trì sĩ số hàng ngày cũng là vấn đề khó khăn Nhà trường cần có giải pháp để tạo sự đồng thuận trong phụ huynh đưa đón con em đến trường, về nhà hàng ngày, hàng tuần mới duy trì được số lượng trong dạy học
Bên cạnh đó, việc huy động số lượng còn gặp khó khăn nữa là những học sinh ở các bản gần trường không thuộc diện học sinh bán trú mặc dù các em vẫn
ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, con em người dân tộc, gia đình nghèo Những năm đầu nhà trường mới chuyển sang hoạt động theo mô hình trường
PTDTBT, đã có một số phụ huynh trao đổi: Cũng là con em người dân tộc sao
có em được hưởng chế độ bán trú mà có em lại không được ? Khoảng cách để bình xét diện học sinh bán trú là do các em ở gần trường nên không thuộc diện bán trú nhưng nhà các em có khi còn nghèo hơn những em ở xa trường Đề nghị có chính sách hỗ trợ cho những học sinh ở gần trường Những bức xúc
đó làm ảnh hưởng đến công tác huy động số lượng của nhà trường trong từng năm học
Một khía cạnh khác nữa đó là trên địa bàn vẫn còn hiện tượng tảo hôn, hôn nhân không tuân thủ pháp luật như không đăng kí; hộ khẩu bản này những chỗ ở bản khác; vợ chồng li dị, li thân kéo theo con cái bị thả lỏng, lúc ở với ông bà, lúc ở với chú bác, lúc theo mẹ, lúc theo bố rồi di cư các bản ở các xã, huyện khác xa xôi nên rất khó để làm công tác huy động số lượng đối với những học sinh thuộc các gia đình này
Một khó khăn nữa đó là người đồng bào dân tộc là việc quản lí con cái bị buông lỏng Con ăn ở đâu, ngủ nhà nào cũng được Con cái đến tuổi dậy thì thì
tự do đi chơi, đi sim (tìm tình yêu) mà không bị cha mẹ ngăn cấm Vì thế một số học sinh THCS đang đến tuổi dậy thì lơ đãng trong học tập Khi gia đình ít quan tâm, thầy cô ít theo sát để nhắc nhở, phân tích, động viên thì các em dễ bị sa ngã dẫn đến bỏ học và mang theo hệ lụy lớn cho cộng đồng đó là nạn tảo hôn
Từ thực trạng đó đòi hỏi nhà trường phải khôn khéo, linh hoạt trong công tác tham mưu với lãnh đạo địa phương cũng như phối hợp với phụ huynh trong việc đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước cũng như huy động số lượng học sinh đến trường đạt hiệu quả cao nhất, tạo được sự đồng thuận trong phụ huynh nhằm tạo điều kiện cho học sinh đến trường
Trang 52 Các giải pháp
Để làm tốt công tác huy động và duy trì số lượng học sinh ở trường PTDTBT, nhà trường đã tập trung thực hiện những giải pháp sau đây:
2.1 Giải pháp 1: Làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật có liên quan đến công tác xét duyệt học sinh thuộc diện bán trú và các văn bản liên quan đến chế độ của học sinh con em đồng bào dân tộc trong phụ huynh trên địa bàn.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung và tuyên truyền phổ biến pháp luật có liên quan đến công tác giáo dục miền núi, giáo dục dân tộc cho phụ huynh và học sinh có một tầm quan trọng đặc biệt, bỡi lẽ:
- Góp phần chuyển tải đến phụ huynh và học sinh về các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước hỗ trợ cho học sinh, giúp cho phụ huynh nắm và hiểu cặn
kẽ về chế độ chính sách mà con em mình được hưởng và hưởng như thế nào
- Phụ huynh và nhân dân trên địa bàn thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, từ đó cố gắng để cho con em đến trường Đặc biệt là giúp cho nhân dân thấy được tính ưu việt mà chế độ ta mang lại cho bà con đồng bào, từ đó củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
- Việc phổ biến các chế độ chính sách có liên quan đến những học sinh được hưởng chế độ bán trú cũng chính là công tác tuyên truyền cho nhân dân hiểu chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục đối với con em người dân tộc, khuyến khích động viên, tạo điều kiện cho những học sinh ở xa trường được
đi học, còn những học sinh ở gần trường không được hưởng chế độ bán trú thì cũng được hưởng các chế độ của học sinh diện hộ nghèo, được UBND huyện hỗ trợ chi phí học tập từng năm học, được các cấp quan tâm hỗ trợ vật chất, sách vở
để các em đến trường Làm tốt công tác tuyên truyền vận động ngay từ đầu năm học sẽ góp phần làm tốt công tác huy động số lượng học sinh trong suốt cả năm học ở trường PTDTBT
- Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật liên quan đến quyền lợi và nghĩa
vụ của học sinh góp phần làm tốt công tác công khai và dân chủ hóa trường học Tạo sự đồng thuận cao trong phụ huynh học sinh và nhân đân, từ đó nâng cao ý thức và trách nhiệm trong công tác xây dựng môi trường xã hội hóa giáo dục trên địa bàn
Như vậy, nếu làm không tốt công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật thì dẫn đến người dân sẽ không hiểu hết, hiểu không đến nơi đến chốn, hoặc hiểu nhầm nhà trường làm sai dẫn đến có sự thắc mắc khiếu kiện Vì họ thường nghĩ
Trang 6rằng cùng là con em đồng bào dân tộc nhưng học sinh bản này thì được hưởng chế độ bán trú mà học sinh bản kia thì không được hưởng Nó sẽ tạo ra sự mất
ổn định cho nhà trường và gây sự khó khăn trong công tác huy động và duy trì
số lượng học sinh xuyên suốt cả năm học
*Các NĐ, QĐ, TT liên quan cần được phổ biến:
Đầu mỗi năm học, nhà trường đã tích cực phổ biến đến phụ huynh học sinh
và CB-GV-NV của trường các Nghị định, Quyết định và Thông tư có liên quan như sau:
+ Phổ biến Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ Quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn
+ Thông tư số 24/2010/ TT-BGDĐT ngày 02 thàng 8 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú Thông tư số 30/2015/TT-BGDĐT quy định sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTBT ban hành kèm theo Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT Đối với văn bản này, khi họp với đối tượng là phụ huynh cần phổ biến kỹ hơn các nội dung của Điều 5 “Cơ
sở vật chất và thiết bị của trường phổ thông dân tộc bán trú”, Điều 6 “Chính sách đối với trường phổ thông dân tộc bán trú”, Điều 13 “Đối tượng xét duyệt” được hưởng chế độ bán trú”
+ Nghị quyết số 48/2018/NQ-HĐND ngày 08/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình quy định khoảng cách và địa bàn học sinh không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày; mức khoán kinh phí phục vụ nấu ăn theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
+ Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ về Quy định
cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học
2015-2016 đến năm học 2020-2021 Với NĐ 86/2015/NĐ-CP, cần giải thích rõ việc miễn học phí, hỗ trợ chi phí học tập là sự hỗ trợ của Nhà nước đối với tất cả học sinh thuộc diện các xã đặc biệt khó khăn để các em có điều kiện được đến trường
*Hình thức tổ chức tuyên truyền chế độ chính sách đến phụ huynh học sinh:
- Để làm tốt công tác tuyên truyền chế độ chính sách của học sinh bán trú đến với đồng bào dân tộc trước hết cần tích cực tham mưu cho cấp ủy Đảng và
Trang 7chính quyền địa phương để được sự đồng tình nhất trí và hỗ trợ tích cực trong công tác vận động, tuyên truyền Đặc biệt trong thành phần tham gia các cuộc họp của phụ huynh cần có sự tham gia của đại diện lãnh đạo địa phương, các già làng, trưởng bản Trong những năm qua, nhờ làm tốt công tác tham mưu mà trong các buổi họp phụ huynh để phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nói chung; chế độ chính sách đối với trường bán trú, học sinh bán trú nói riêng đã có nhiều thuận lợi, tạo sự đồng thuận cao trong phụ huynh và đồng bào dân tộc
- Để công tác tuyên truyền đến phụ huynh và người dân đạt hiệu quả cao cần lựa chọn và đa dạng các hình thức tuyên truyền, nội dung phổ biến cho phù hợp với đối tượng là đồng bào dân tộc Cụ thể: Hình thức chủ yếu là tổ chức họp phụ huynh để phổ biến trực tiếp (thông thường mỗi năm có 3 lần họp phụ huynh) để vừa trao đổi tình hình học tập rèn luyện của học sinh vừa kết hợp để tuyên truyền phổ biến và công khai chế độ của học sinh cho bà con, vừa lắng nghe ý kiến của phụ huynh Ngoài hình thức trên thì nhà trường còn gửi văn bản đến trưởng bản và bí thư chi bộ để nhờ các tổ chức này phổ biến trong buổi họp dân bản và họp chi bộ; dán thông báo ở bảng tin, đăng Website của trường các Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư có liên quan đến chế độ của học sinh, CB-GV-NV để cán bộ, giáo viên, phụ huynh và học sinh đọc, nắm bắt Với đặc điểm phụ huynh hầu hết là đồng bào dân tộc Bru-Vân Kiều, trình độ dân trí thấp, khả năng tự tìm hiểu và hiểu biết pháp luật còn có hạn chế thì việc lựa chọn nội dung khi phổ biến và cách phổ biến sao cho cô động, dễ hiểu là một yêu cầu bắt buộc đối với người phổ biến Điểm khó khăn nhất là làm cho phụ huynh hiểu và chia xẻ với những học sinh đi học xa phải ở lại là sự thiệt thòi so với các bạn cùng trang lứa ở gần trường, nên sự hỗ trợ của Nhà nước đối với những học sinh ở xa cũng chỉ mang tính động viên để khuyến khích học sinh và phụ huynh khắc phục khó khăn để các em được đến trường Mặt khác, củng làm cho phụ huynh thấy được mọi học sinh con em đồng bào ở vùng khó khăn đều được Nhà nước hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định 86 Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích thấu đáo cho phụ huynh mà từ khi trường chuyển sang hoạt động theo mô hình trường PTDTBT cho đến nay việc thực hiện chi trả chế
độ cho học sinh được hưởng chế độ bán trú theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP tại trường của chúng tôi đúng chế độ, đúng đối tượng, không có tình trạng thắc mắc,
khiếu nại rồi cho học sinh nghỉ học vì “con họ có tiền thì họ đi học, con tôi không có tiền thì nghỉ học” như một số đơn vị bạn đã có xảy ra Thực tế cho
thấy, công tác tuyên truyền phổ biến chế độ của học sinh đến phụ huynh của nhà trường đã góp phần tích cực vào việc ổn định số lượng học sinh của nhà trường
Trang 8trong những năm qua, góp phần đạt kết quả phổ cập THCS mức 3 vào tháng 11/2019, trước lộ trình của UBND huyện 01 năm
2.2 Giải pháp 2: Thành lập Ban vận động học sinh có nguy cơ bỏ học
trở lại trường; chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn bám sát từng đối tượng học sinh trong công tác dạy học và vận động số lượng.
Đồng bào dân tộc vẫn còn tồn tại nếp sống tự do, ít theo quy tắc, nề nếp, khuôn khổ Con cái tự do sinh hoạt, đi lại nên việc quản lý con em trong công tác học tập cũng rất dễ dãi Nếu học sinh không thích đi học thì phụ huynh cũng thường buông xuôi theo ý định của con cái Vì thế công tác vận động học sinh cũng như gia đình đóng vai trò vô cũng quan trọng trong việc huy động và duy trì số lượng Những năm qua để thực hiện tốt công tác này, đơn vị chúng tôi đã thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Đầu mỗi năm học, chúng tôi thành lập ban vận động học sinh có nguy cơ
bỏ học trở lại trường với thành phần gồm 01 đồng chí phó hiệu trưởng có am hiểu kĩ về văn hóa người dân tộc, tiếng dân tộc làm trưởng ban; 01 thành viên trong ban thường trực hội cha mẹ học sinh làm phó trưởng ban; các ban viên là giáo viên chủ nhiệm các lớp của trường Phân công cụ thể vào bảng phân công phần hành của trường từ đầu năm học và khi có thay đổi phần hành trong năm học
- Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm khi có học sinh nghỉ học 1-2 ngày phải báo cáo kịp thời với Ban giám hiệu Ban giám hiệu sẽ chỉ đạo Ban vận động sẽ cùng GVCN, một số học sinh là bạn thân với học sinh nghỉ học đó tiến hành đến nhà học sinh vận động Thông thường phụ huynh đi làm rẫy suốt ngày nên rất khó gặp gỡ để trao đổi, chúng tôi thường phải đến nhà học sinh vào cuối ngày hoặc buổi tối mới gặp được phụ huynh và học sinh Chúng tôi tìm hiểu nguyên nhân
vì sao em nghỉ học, trao đổi chân tình với phụ huynh những khó khăn khi em đến trường; phân tích hậu quả, tác hại của việc con em nghỉ học giữa chừng; tạo điều kiện cho học sinh đó trình bày suy nghĩ của mình trước bố mẹ, thầy cô và bạn bè Sau đó nhà trường hứa sẽ giúp đỡ phụ huynh cũng như học sinh trong điều kiện có thể để em tiếp tục đến lớp Nếu vẫn chưa đạt kết quả, chúng tôi tiếp tục vận động lần 2 Chúng tôi báo cáo với UBND xã để chỉ đạo các đoàn thể, bí thư chi bộ, trưởng bản, già làng, đồn biên phòng đến vận động Thông thường tiếng nói của già làng và bộ đội biên phòng rất có hiệu quả đối với phụ huynh trong bản Vì thế khi có sự hiện diện của các bậc cao niên, bí thư chi bộ, trưởng bản và bộ đội biên phòng thì các em sẽ có sự chuyển biến tâm lí rõ hơn, biết e sợ hơn nếu mình tiếp tục nghỉ học từ đó các em sẽ trở lại trường
Trang 9- Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn thường xuyên gần gũi với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, có nguy cơ bỏ học Giáo viên chủ nhiệm thường chia xẻ tình cảm, công việc với các em mỗi ngày đến trường Bên cạnh
đó thường xuyên liên lạc với phụ huynh để quan tâm đến các em hơn Động viên các bạn trong lớp gần gũi, chia xẻ cùng các em, giúp đỡ các em trong học tập, sinh hoạt Từ những hoạt động đó, các em dần hòa đồng hơn với bạn bè, tập thể, yêu lớp, yêu trường hơn
2.3 Giải pháp 3: Tổ chức các hoạt động tập thể trong trường phổ thông dân tộc bán trú để thu hút học sinh đến trường.
Tại đơn vị tôi, hàng năm có khoảng từ 55% đến 70% học sinh thuộc diện được hưởng chế độ bán trú theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP, và có từ 45%-50% học sinh bán trú ở lại tập thể nội trú sinh hoạt và học tập suốt cả tuần học Các
em được thầy cô hướng dẫn sinh hoạt và học tập theo thời gian biểu quy định của Ban quản lý khu nội trú Để môi trườngcuộc sống tập thể nội trú an toàn lành mạnh, mang đậm văn hóa trường học và mang đậm bản sắc văn hóa của trường PTDTBT, chúng tôi thường tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao cho học sinh Cụ thể:
- Buổi sáng những ngày trời khô ráo, ban nội trú đánh kẻng cho học sinh dậy tập thể dục buổi sáng vào lúc 05h45 Hai giáo viên dạy thể dục của nhà trường sẽ tập bài thể dục buổi sáng cho học sinh để các em cảm thấy thoải mái hơn đón chào ngày mới
- Cuối mỗi buổi chiều, vào lúc 16h30 phút hàng ngày, ban nội trú phân công cán bộ giáo viên phụ trách tổ chức cho học sinh chơi thể thao Chúng tôi sử dụng kinh phí hỗ trợ dụng cụ thể dục thể thao từ Nghị định 116 để mua cầu, đá, cầu lông, bóng rổ, dây nhảy cho học sinh chơi Việc sinh hoạt thể thao tạo cho sân trường không khí vui nhộn, khỏe mạnh Một số học sinh cấp THCS học chính khóa buổi chiều đến 17h00 mới nghỉ nên các em sinh hoạt thể thao ít thời gian hơn, trừ những buổi chiều học 4 tiết Việc sinh hoạt thể dục thể thao cũng là
cơ hội để nhà trường tập luyện đội tuyển học sinh năng khiếu tham gia các giải thể thao cấp huyện, cấp tỉnh Qua hoạt động này chúng tôi phát hiện những học sinh có năng khiếu TDTT để đưa vào đội tuyển tập luyện các môn Giáo viên huấn luyện cho các em tập riêng để theo dõi và hỗ trợ
- Mỗi tuần, ban quản lí nội trú sắp xếp 01 buổi tối để học sinh nội trú tham gia sinh hoạt văn hóa văn nghệ từ 19h đến 20h 30 phút, sau đó cho các em vào học bài Chúng tôi sắp xếp đan xen theo tuần Có lúc chúng tôi chiếu phim tuyên truyền về các ngày lễ trọng đại của dân tộc, có hôm chúng tôi chiếu phim tuyên
Trang 10truyền phòng chống ma túy, phòng chống nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết, tuyên truyền bình đẳng giới Sau mỗi bộ phim chúng tôi đưa ra những câu hỏi liên hệ để các em hiểu rõ hơn hậu quả của các tệ nạn đó Có hôm chúng tôi chiếu phim tuyên truyền về chủ quyền biển đảo, chủ quyền an ninh biên giới để các em hiểu rõ hơn về chủ quyền thiêng liêng của đất nước và dân tộc Việt Nam Tuần
kế tiếp chúng tôi sẽ tổ chức cho các em sinh hoạt văn nghệ Chúng tôi tập các điệu nhảy sạp của đồng bào dân tộc Tây Bắc cho các em dễ sinh hoạt Hiện tại chúng tôi đang tập hát và nhảy theo điệu Còng chiêng của người dân tộc Bru Vân Kiều trên địa bàn Chúng tôi nhờ những cụ già có kinh nghiệm về hát và nhảy điệu Còng chiêng đến tập cho các em Chung tôi mua bộ còng chiêng đặt tại phòng truyền thống để sử dụng và mượn thêm một bộ của người trên địa bàn
để tập cho các em Công việc này được Đảng bộ, chính quyền địa phương và nhân dân hưởng ứng vì đây chính là nét văn hóa của người Bru Vân Kiều đang dần bị mai một và cần sớm được phục dựng,
- Với những hoạt động này, chúng tôi không chỉ tổ chức cho học sinh bán trú ở lại nội trú sinh hoạt mà động viên các em học sinh ở các bản gần trường đến cùng tham gia để tạo điều kiện cho các em tham gia những hoạt động văn hóa- thể thao lành mạnh từ đó thay đổi dần nếp nghĩ và những thói quen, lối sống lạc hậu
- Đời sống của đa số gia đình học sinh đều khó khăn nên gia đình ít quan tâm đến sách vở, quần áo của con em Chúng tôi thường kêu gọi các đoàn thiện nguyện, nhà hảo tâm hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần cho học sinh Hằng năm thường có 3-4 đợt các đoàn thiện nguyện đến tặng quà cho học sinh Chúng tôi cùng bàn bạc với đoàn dành một số học bổng để tặng cho những học sinh có hoàn cảnh khó khăn biết cố gắng trong học tập để động viên các em Chúng tôi cũng trao đổi với các đoàn giữ một số quà tặng là bánh kẹo để phát cho các em hàng tuần sinh hoạt văn hóa tập thể nội trú Các em được sinh hoạt văn hóa văn nghệ, được xem phim tuyên truyền, được nhảy sạp sau đó được phát bánh kẹo vì thế mỗi đợt sinh hoạt tập thể là các em thực sự hứng thú, tích cực tham gia Từ những hoạt động này nề nếp sinh hoạt tập thể của học sinh ngày càng quy cũ, tạo được nếp sống nội trú lành mạnh, vui khỏe; học sinh yêu trường yêu lớp hơn, hứng thú hơn với việc đi học và hạn chế được số lượng học sinh chán học, bỏ học
2.4 Giải pháp 4: Nhà trường tích cực tham mưu với chính quyền các cấp để không ngừng tăng trưởng CSVC phục vụ hoạt động dạy học và hoạt động bán trú.