Trong bộ môn Tiếng Việt 5 phân môn Luyện từ và câu lớp 5 có nhiệm vụ cung cấp kiến thức về từ và câu, làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em.. Nhậ
Trang 11 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài:
Ngày nay giá trị con người ngày càng được nhận thức đúng đắn và đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc thì công tác dạy học càng mang một ý nghĩa nhân văn cụ thể, càng trở thành một đạo lý của thế giới văn minh Để thực hiện được điều này thì việc giáo dục học sinh phát triển toàn diện là điều mà được toàn xã hội quan tâm
Môn Tiếng Việt ở các cấp học nói chung, ở tiểu học nói riêng (đặc biệt là đối với học sinh dân tộc) phân môn Luyện từ và câu giúp cho học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt Môn Tiếng Việt tập trung thể hiện ở bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết) Đây là những kỹ năng quan trọng để học sinh học tập
và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Đồng thời là cơ sở để học sinh tiếp thu và học tốt các môn học khác ở các lớp trên Thông qua việc dạy và học, tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy Trong môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ góp phần cung cấp cho học sinh những kiến thức
sơ giản về tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu (nói – viết), bên cạnh đó còn cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài Ngoài ra phân môn Luyện
từ và câu còn giúp học sinh bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt và góp phần giúp học sinh hình thành nhân cách và nếp sống văn hoá của con người Việt Nam
Các môn học ở tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn diện học sinh phải kể đến Luyện từ và câu, một phân môn chiếm thời lượng khá lớn trong môn Tiếng Việt ở tiểu học Nó tách thành một phân môn độc lập, có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn… song song tồn tại với các môn học khác Điều
đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần thiết và nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ sở hình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trong các môn học khác Trong bộ môn Tiếng Việt 5 phân môn Luyện từ và câu lớp 5 có nhiệm vụ cung cấp kiến thức về từ và câu, làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em Cụ thể là:
- Mở rộng hệ thống hoá vốn từ, trang bị cho học sinh một số hiểu biết về từ và câu
- Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu, một số phép nối, cách thay thế và liên kết câu
- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng tiếng Việt trong học tập và trong giao tiếp
Được phân công dạy lớp 5, qua một thời gian giảng dạy tôi thấy học sinh của mình rất cố gắng học tập tất cả các môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt Nhưng trong
Trang 2thực tế, khi học sinh thực hành thì nhiều em còn lúng túng Nhận thức rõ được tầm quan trọng của phân môn, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “làm thế nào để học sinh dân tộc nắm chắc kiến thức phân môn luyện từ và câu và tự tin trong học
tập?”.Chính vì thế mà tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 dân tộc Bru - Vân Kiều học tốt phân môn Luyện từ và câu” để viết sáng kiến kinh nghiệm.
1.2 Điểm mới của đề tài
Việc giúp học sinh lớp 5 học tốt phân môn Luyện từ và câu không phải là một vấn đề gì mới mẻ Đặc biệt trong những năm gần đây, nó đã được rất nhiều người công tác trong lĩnh vực giáo dục nghiên cứu và quan tâm Tuy nhiên, điểm mới và khác biệt đề tài này là tìm hiểu những ưu điểm và hạn chế của học sinh Bru-Vân Kiều khi tham gia học phân môn Luyện từ và câu Từ đó đúc rút kinh nghiệm, đề xuất một
số ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 5 tại trường
Nội dung của đề tài đánh giá được một số mặt tác động tới việc học phân môn Luyện từ và câu của học sinh lớp 5; đề xuất được cách tiếp cận mới trong giảng dạy, giáo dục theo hướng khai thác nội dung môn học và sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tích cực, khai thác nội dụng giáo dục của bài học… nhằm phát triển năng lực cho học sinh giúp các em vận dụng tốt trong học tập và cuộc sống
Đề tài nêu rõ từng giải pháp cụ thể nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ, kỹ năng phù hợp Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức góp phần tạo một nền tảng vững chắc cho các em trong cuộc sống về sau này
1.3 Phạm vi áp dụng:
Đề tài này được áp dụng trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 ở trường Tiểu học
Nghiên cứu các vấn đề có liên quan và các giải pháp nhằm giúp học sinh lớp 5 Bru- Vân Kiều ở trường Tiểu học học tốt phân môn Luyện từ và câu Đồng thời những giải pháp này có thể làm tài liệu tham khảo cho các trường tiểu học trong việc nâng cao chất lượng dạy học Luyện từ và câu nói riêng, dạy học môn tiếng Việt nói chung
2 PHẦN NỘI DUNG 2.1 Thực trạng của việc dạy phân môn Luyện từ và câu tại trường
2.1.1 Thuận lợi
* Đối với giáo viên:
- Phần lớn giáo viên được phân công phụ trách khối lớp 5 có kinh nghiệm công tác nhiều năm và có vốn hiểu biết nhất định về kiến thức Hiểu được đặc điểm tâm
sinh lý của học sinh dân tộc
Trang 3- Giáo viên nhiệt tình trong công tác, tận tụy với học sinh; luôn tích cực tự học
và sáng tạo trong giảng dạy
- Điều kiện giảng dạy của giáo viên đảm bảo tốt, các tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy Luyện từ và câu cũng như tranh ảnh, và các đồ dùng dạy học khác đầy
đủ
* Đối với học sinh:
- Hầu hết các em học sinh lớp 5 đã có những kiến thức sơ giản về ngữ âm và
ngữ pháp đã được làm quen ở các lớp dưới
- Một số em đã có ý thức tự học và tự rèn luyện
2.1.2 Khó khăn
* Đối với giáo viên:
- Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, năng lực tổ chức giờ học theo hướng đổi mới còn hạn chế Chưa quan tâm đến tất cả học sinh trong lớp, giáo viên chỉ chú trọng vào các em học sinh hoàn thành tốt và coi đây là chất lượng chung của lớp
- Trình độ giáo viên chưa đồng đều đôi lúc còn giảng dạy theo phương pháp cũ, chưa chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khai thác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, còn lệ thuộc vào đáp án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này Tâm lí giáo viên sợ hết giờ nên sử dụng phương pháp rèn theo mẫu cho nhanh, học sinh chưa phát huy được tính tích cực
- Bên cạnh đó, hình thức tổ chức dạy học của một số giáo viên còn đơn điệu, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh Một số giáo viên chưa hiểu rõ đặc điểm tâm lý của học sinh dân tộc nên cũng khó khăn trong việc nâng cao chất lượng
* Đối với học sinh:
- 100% là học sinh dân tộc Bru - Vân Kiều nên vốn từ ngữ còn hạn chế, tư duy
chậm, còn rụt rè, thiếu mạnh dạn trong học tập
- Khi học các em còn có thói quen chờ thầy cô làm rồi chép bài, khả năng nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập còn yếu Học sinh còn học vẹt, nhớ máy móc khi học phân môn này
- Các từ cần giải nghĩa đa số là các từ Hán Việt (không phải là tiếng mẹ đẻ của học sinh Bru-Vân Kiều) nên học sinh khó hiểu, khó giải thích Diễn đạt thì lủng củng, tâm lí sợ sai, không mạnh dạn
- Các em ít sử dụng từ điển nên vốn từ còn hạn chế
Bên cạnh đó một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập bộ môn
* Với năm học này, bản thân tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 5B với 20 học sinh, đây là lớp "lỏi" của trường Theo sự phản ánh của giáo viên cũ thì trình độ tiếp thu của học sinh không đồng đều, vẫn còn một số học sinh tiếp thu chậm; một bộ phận học sinh rụt rè, giao tiếp chậm, kỹ năng diễn đạt hạn chế
Trang 4Qua khảo sát chất lượng đầu năm để nắm bắt thông tin, với đề ra thiết kế theo dạng nắm kiến thức và vận dụng, kết quả như sau:
BẢNG KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
VÀO ĐẦU NĂM HỌC (Khảo sát trên 20 học sinh lớp 5)
Sau khi kiểm tra khảo sát, tôi nhận thấy bài làm của học sinh còn mắc nhiều lỗi, việc nắm từ của các em chưa chắc, phần vận dụng viết một đoạn văn còn thiếu mạch lạc
Cụ thể: HS còn có một vài hạn chế trong phân môn Luyện từ và câu:
- Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn, còn đơn điệu về phong cách và có tình trạng hiểu sai về sắc thái ngữ nghĩa của từ
- Khả năng hiểu nghĩa từ của học sinh còn chậm Có trường hợp học sinh hiểu nghĩa gốc của từ nhưng kĩ năng sử dụng trong văn cảnh còn kém
- Kiến thức Tiếng Việt còn hạn chế
- Khả năng vận dụng trong giao tiếp nói và viết: Học sinh dân tộc găp nhiều hạn chế về môi trường sử dụng tiếng Việt: những người xung quanh các em giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ là chủ yếu Tiếp xúc với việc đọc, viết, học sinh tiếp cận với một phong cách ngôn ngữ mới – phong cách ngôn ngữ viết với những đặc điểm riêng và yêu cầu riêng; cách bắt đầu tham gia vào phạm vi giao tiếp mới có tính xã hội khác với giao tiếp gia đình Do vậy, các em thường mắc lỗi trong sử dụng lời nói và viết
2.1.3 Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém
- Phải nói rằng phân môn Luyện từ và câu là môn học khô khan nếu chúng ta không biết tổ chức, thiết kế các hoạt động thích hợp để tạo hứng thú học tập cho học sinh
- Một bộ phận giáo viên nhận thức còn hạn chế, chưa hiểu hết được ý đồ của sách giáo khoa nên chỉ giải quyết các bài tập một cách đơn thuần, không giúp học sinh hiểu sâu vấn đề Cũng không ít giáo viên dạy Luyện từ và câu mà không hướng các em ứng dụng nó vào việc nói, viết, giao tiếp hằng ngày
- 100% là học sinh dân tộc nên chưa mạnh dạn trong các hoạt động và chưa chịu học hỏi, tìm tòi
- Bên cạnh đó, tư duy ở lứa tuổi các em chưa bền vững, khả năng tập trung chưa cao, hay nóng vội, khả năng ngôn ngữ còn thấp cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng môn học
Trang 5- Một bộ phận học sinh do bị hỏng kiến thức từ lớp dưới, khả năng tiếp thu bài hạn chế, nên không thể hoàn thành hệ thống bài tập trên lớp
- Địa phương là một vùng miền núi, có thu nhập thấp nên bố mẹ các em phải lo chạy vạy cuộc sống Chính vì thế, phụ huynh ít thời gian kèm cặp, tiếp cận việc học của con, chưa điều chỉnh được hành vi, ngôn ngữ cho con em kịp thời
2.2 Một số giải pháp giúp học sinh lớp 5 dân tộc Bru - Vân Kiều học tốt phân môn Luyện từ và câu
Để giúp các đối tượng học sinh khắc phục và hoàn thiện những thực trạng nêu trên là một vấn đề không đơn giản Với thực tiễn đặt ra hiện nay, đòi hỏi ngành giáo dục nói chung, mỗi thầy cô giáo chúng ta nói riêng, cần phải giúp học sinh học tập tốt hơn phân môn luyện từ và câu Để làm được điều đó tôi đề ra cho mình những giải pháp sau:
Giải pháp 1: Giáo viên cần nghiên cứu kĩ cấu trúc, nội dung chương trình
phân môn Luyện từ và câu ở lớp 5
Với mạch kiến thức được sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm tuỳ theo ở mỗi lớp
mà có những yêu cầu khác nhau Tuy nhiên nếu các em nắm chắc những kiến thức ở lớp dưới thì lớp 5 các em sẽ nắm kiến thức dễ dàng hơn
Mạch kiến thức của phân môn Luyện từ và câu trong chương trình lớp 5 gồm:
- Các lớp từ: Từ đồng nghĩa; Từ trái nghĩa; Từ đồng âm; Từ nhiều nghĩa
- Từ loại: Đại từ; Đại từ xưng hô; Quan hệ từ
- Kiểu câu: Ôn tập về câu; Câu ghép; Cách nối các vế câu ghép
- Liên kết câu: Liên kết các câu trong bài bằng phép lặp từ ngữ; Liên kết các câu trong bài bằng phép thay thế từ ngữ; Liên kết bằng phép nối
- Dấu câu: Ôn tập về dấu câu
* Về nghĩa của từ (từ đồng âm, từ nhiều nghĩa)
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 5, nội dung nghĩa của từ được tập trung biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu Trong quá trình dạy học, tôi thường
nhận thấy các em học sinh sau khi học hai bài “Từ trái nghĩa”, “Từ đồng nghĩa” thì
các em dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từ đồng nghĩa cũng không
mấy khó khăn Song sau khi học hai bài “Từ đồng âm”, “Từ nhiều nghĩa” thì các em
bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả năng phân biệt từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cũng không được như mong đợi của giáo viên, kể cả học sinh HTT đôi khi cũng còn thiếu chính xác Vì vậy sau khi mở rộng cho học sinh một số khái niệm cơ bản cần thiết về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm tôi đã hướng dẫn học sinh
so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa chúng
* Mở rộng vốn từ
Đối với dạng bài mở rộng và hệ thống hóa vốn từ giáo viên nên vận dụng vốn sống của học sinh và chủ động dẫn dắt, gợi ý, giải nghĩa từ ngữ bằng nhiều hình thức khác nhau để bổ sung vốn tiếng Việt, giúp các em dễ thực hiện yêu cầu của bài tập
Trang 6Trong quá trình dạy luyện từ và câu: mở rộng vốn từ giáo viên phải thể hiện đầy
đủ về quan hệ biện chứng với nhau giữa các nội dung sau:
- Gia tăng vốn từ có hệ thống
- Hiểu nghĩa của từ
- Biết cách sử dụng từ ngữ
Có thể tuần tự hoặc đan xen lồng ghép lẫn nhau giữa ba nội dung trên Phát triển vốn từ trước hết phải chú ý về số lượng càng nhiều từ ngữ càng tốt Nhưng để vốn từ
đó tồn tại và đảm bảo chất lượng cần phải cho học sinh hiểu nghĩa của từ và biết cách
sử dụng
Từ những yêu cầu trên khi dạy mở rộng vốn từ cần thưc hiện theo 3 bước sau:
- Giúp HS nắm vững khái niệm chủ đề
- Lựa chọn sơ đồ để mở rộng vốn từ, kết hợp giải nghĩa từ
- Giúp HS vận dụng từ ngữ vừa học trong việc luyện tập thực hành
* Quan hệ từ – Nối câu ghép bằng quan hệ từ
Để dạy tốt quan hệ từ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 5 thì người giáo viên phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của quan hệ từ đó là giúp các em học tốt hơn bộ môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác và còn giúp cho các em biết cách giao tiếp, cư xử với mọi người trong cuộc sống hàng ngày lịch sự nhã nhặn hơn Giáo viên cần nhận thức được quan hệ từ như là “chất keo dính” nối kết các từ ngữ, câu văn, đoạn văn lại với nhau một cách chặt chẽ hơn có ý nghĩa hơn Khi dạy quan
hệ từ tôi bám vào chuẩn kiến thức kĩ năng, mục tiêu của tiết học mà chủ động trong việc lựa chọn ví dụ, lựa chọn nội dung các bài tập, phương pháp, hình thức tổ chức sao cho phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình, giúp các em dễ tiếp thu kiến thức của bài học Phân ra từng dạng quan hệ từ để dạy và giúp học sinh biết tác dụng của từng loại quan hệ từ
* Liên kết câu
Câu văn là một bộ phận của đoạn văn Trong một đoạn văn, các câu văn phải liên kết chặt chẽ với nhau cả về nội dung và hình thức Ngoài sự liên kết về nội dung, giữa các câu trong đoạn phải được liên kết bằng những dấu hiệu hình thức nhất định
Về hình thức, người ta thường liên kết các câu bằng các phép liên kết Vì thế để giúp học sinh diễn đạt câu văn mạch lạc trôi chảy tôi củng cố hệ thống lại các phép liên kết
đã học để học sinh dễ dàng ghi nhớ và vận dụng
* Dấu câu
Trong chương trình tiểu học đang hiện hành, nội dung về dấu câu được học từ lớp 2 Có 10 dấu câu thường dùng và được học ở tiểu học là: dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu gạch ngang, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu chấm phẩy và dấu ba chấm Dấu câu là kí hiệu chữ viết để biểu thị ngữ điệu khác nhau Những ngữ điệu này lại biểu thị những quan hệ ngữ pháp khác nhau và những mục đích nói khác nhau Nếu sử dụng dấu câu sai dẫn đến việc người
Trang 7đọc, người nghe hiểu sai nội dung diễn đạt Vì thế, dạy cho học sinh sử dụng đúng các loại dấu là yêu cầu quan trọng của giáo viên tiểu học
Giải pháp 2: Coi trọng việc mở rộng vốn từ và chính xác hóa vốn từ cho học sinh
Đây là nhiệm vụ cơ bản của phân môn Luyện từ và câu Khi có vốn từ phong phú, học sinh rất thuận lợi trong giao tiếp và tư duy
Ở lớp 5, loại bài tập mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ được sử dụng khá nhiều dưới các dạng khác nhau: Tìm từ ngữ cùng chủ đề, tìm từ có tiếng cho trước, tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa, tìm từ có cùng yếu tố cấu tạo
Có thể mở rộng vốn từ bằng nhiều cách:
+ Cách ghép từ: Xuất phát từ từ gốc, bằng phương pháp ghép từ sẽ cho ra các từ
mới
* Ví dụ: Bài tập 3 - Tiết 3 (SGK - TV5 tập 1) yêu cầu học sinh tìm một số từ có
tiếng “đồng” (theo nghĩa là cùng).
Để học sinh có được vốn từ khá phong phú, tôi đã cho học sinh thi tìm từ điền vào bài thơ sau:
.tiến bước trước sau nhịp nhàng (đồng hành)
.tay nắm chặt tay (đồng chí)
.sum họp bốn phương một nhà (đồng bào)
.quần áo quả là đẹp thay (đồng phục)
.hội tụ một nơi (đồng qui)
.cộng khổ ngọt bùi sẻ chia (đồng cam)
.cộng tác cùng nghề (đồng nghiệp)
.thống nhất xin mời giờ tay (đồng ý)
*Ví dụ: tìm một số từ có tiếng “cổ” (xưa, cũ).
Giáo viên nói: Người ta coi đồ cổ là vật quí, nhưng nhiều thứ cổ khác lại quí hơn nhiều Em đọc bài thơ sau và hãy tìm từ thích hợp điền vào chỗ trống để thấm thía hơn về giá trị của những thứ “cổ” ấy
Đầu xuân vui tết (cổ truyền).
Hội làng: vật võ, đu tiên, chọi gà
Ngôi chùa _làng ta (cổ kính).
Mùa hè gió mát là đà bóng cây
Quê mình đẹp nhất nơi đây
Cây đa hồ đầy nước trong (cổ thụ)
Câu chuyện đêm đông (cổ tích).
Bà em đã kể đầy tình yêu thương
_răn dạy bao lời (cổ nhân)
Chơi nhạc hai ba chục người (cổ điển)
Lâu đài vắng người (cổ kính)
Trang 8Có cây giữa trời mà reo (cổ thụ).
+ Phương pháp liên tưởng: Từ 1 từ cho trước sẽ cho ra 1 từ mới cùng nghĩa, gần
nghĩa, trái nghĩa với từ cho sẵn
Loại bài tập này bao gồm một số dạng sau:
Dạng 1: Điền từ vào chỗ trống.
Sạch sẽ là không
là không lộn xộn
.là không luộm thuộm
Dạng 2: Tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa được nêu trực tiếp.
Loại bài tập này giúp học sinh thu thập thêm những từ đồng nghĩa, trái nghĩa mà trước nay bản thân chưa biết hoặc chưa nhận ra, đồng thời tạo cho học sinh một sự nhạy cảm, để đến khi có nhu cầu giáo tiếp ngôn từ thì có thể dễ dàng huy động các từ đồng nghĩa, trái nghĩa có như vậy vốn từ của học sinh mới ngày càng phong phú, mới
đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong hoạt động nói - viết của học sinh.
+ Phương pháp láy: Tìm ra từ mới bằng cách lặp lại một bộ phận của từ, hoặc
láy lại từ đã cho
*Ví dụ: Từ từ gốc “vàng” láy từ sẽ cho ra các từ:
Vàng vọt, vàng vàng
Từ từ gốc “xinh” láy từ sẽ cho ra các từ:
Xinh xẻo, xinh xinh, xinh xắn
Giải pháp 3: Đổi mới phương pháp và hình thức dạy học nâng cao hiệu
quả phân môn Luyện từ và câu
Đổi mới phương pháp dạy học là phải phát huy tính tích cực của học sinh giáo viên cần chú ý đối với mọi đối tượng học sinh phân ra nhiều mức độ để có phương pháp dạy thích hợp Muốn phát huy được tính tích cực của học sinh người giáo viên phải có hệ thống câu hỏi trong mỗi bài thật cụ thể phù hợp với mọi đối tượng học sinh Giáo viên vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm, dạy học
cá nhân,… Thường xuyên thay đổi các hình thức học tập cho học có thể tổ chức dạy học dưới hình thức trò chơi để kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, nhằm đạt kết quả cao trong giờ học mà các em không nhàm chán
Việc đổi mới phương pháp dạy học có thành công, hiệu quả hay không là một phần phải có hình thức tổ chức học tập phong phú và đa dạng Hình thức phải xây dựng phù hợp với nội dung và đối tượng học sinh nhằm tạo nên tiết học sinh động, đạt hiệu quả cao và phát huy được tính cực tự học, chủ động và tự sáng tạo của học sinh
Bên cạnh đó việc dạy học theo mô hình VNEN thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, học tập mang tính tương tác và phù hợp với từng cá nhân học sinh Lớp học do học sinh tự quản và được tổ chức theo các hình thức như: Làm việc theo cặp, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm,
Trang 9trong đó hình thức học theo nhóm là chủ yếu Học sinh được học trong môi trường học tập thân thiện, thoải mái, không bị gò bó, luôn được gần gũi với bạn bè, với thầy
cô, được sự giúp đỡ của bạn học trong lớp, trong nhóm và thầy cô, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em Vào mỗi giờ học, học sinh được trao đổi chia sẻ các kiến thức của môn học được mở rộng vốn từ tăng khả năng giao tiếp Học sinh thường được phát huy hơn, tự thể hiện, tự khẳng định khả năng của mình nhiều hơn Tạo được không khí nhẹ nhàng, thoải mái; các em có điều kiện trao đổi với bạn, với GV những điều mà mình chưa biết, chưa hiểu…điều đó có tác dụng khơi dậy niềm ham thích, say mê tìm tòi khám phá lĩnh vực kiến thức của tiếng Việt Với phương pháp tổ chức này học sinh nắm kiến thức một cách sâu sắc có cơ sở, được đối chứng qua nhận xét của bạn, của giáo viên
Trong năm học này lớp tôi cũng đã áp dụng hình thức học theo nhóm và theo tôi quan sát trong tiết luyện từ và câu các em tự tin trao đổi bài với nhau Đây là hình ảnh các em học tập theo nhóm Các em học sinh đều rất hào hứng được chia sẻ bài với bạn
Ví dụ: Khi dạy tiết Luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ : Nam và nữ
Ở bài 1 các em được tự bày tỏ phẩm chất mà mình thích ở một bạn nam và ở một bạn nữ Và tôi thấy một học sinh rất nhút nhát ở lớp tôi mà em cũng đã chia sẻ với các bạn: “Mình thích phẩm chất dũng cảm ở bạn nam, phẩm chất đó thể hiện một bạn nam can đảm, không sợ nguy hiểm” Mặc dù trả lời còn nhỏ chưa mạnh dạn lắm nhưng các bạn trong nhóm đã thưởng cho em một tràng pháo tay lớn để động viên bạn cố gắng hơn nữa
Qua đây tôi thấy việc thay đổi hình thức dạy học đã góp một phần để giúp các
em tự tin học tập tốt hơn các môn học nói chung và phân môn luyện từ và câu nói riêng
Giải pháp 4: Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học trong tiết học
phân môn Luyện từ và câu
Để có thể học tốt phân môn luyện từ và câu, tôi cho rằng, ngay từ đầu tiết học
giáo viên phải khơi sự tò mò, hứng thú cho học sinh Khi hướng dẫn học sinh học giáo viên có thể sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp dạy học khác nhau (phương pháp trò chơi, phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề để tổ chức hoạt động, phương pháp thực hành giao tiếp…) phù hợp với từng loại bài để cuốn hút các em vào tiết học
Phân môn Luyện từ và câu lớp 5 gồm 2 dạng bài: dạng bài lý thuyết (hình thành
kiến thức mới) và dạng bài thực hành
* Hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức mới (dạy dạng bài lí thuyết)
Các bài học Luyện từ và câu thuộc loại hình thành kiến thức mới đều gồm có ba
phần: Nhận xét, Ghi nhớ và Luyện tập
Trang 10- Nhận xét là phần cung cấp ngữ liệu có liên quan đến nội dung bài học và nêu
câu hỏi, bài tập gợi ý cho học sinh phân tích nhằm để các em tự hình thành kiến thức Giáo viên tổ chức khai thác ngữ liệu ở phần nhận xét theo các hình thức:
+ Trao đổi chung cả lớp
+ Trao đổi theo từng nhóm
+ Tự làm bài cá nhân
Qua đó, học sinh tự rút ra kết luận theo các điểm cần ghi nhớ về kiến thức
- Ghi nhớ là phần chốt lại những điểm cốt lõi về kiến thức được rút ra qua việc
phân tích ngữ liệu Cần hướng dẫn học sinh ghi nhớ kiến thức như sau:
+ HS tự rút ra những điểm chính cần ghi nhớ qua phân tích ví dụ
+ Đọc lại phần ghi nhớ trong SGK
+ Nêu những điểm chính cần ghi nhớ (không nhìn SGK)
- Luyện tập là phần bài tập thực hành nhằm củng cố và vận dụng những kiến
thức đã học Giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài tập theo các hình thức cá nhân, cặp đôi, nhóm, trò chơi học tập,… Lưu ý hướng dẫn học sinh làm các bài tập theo các bước:
+ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ yêu cầu của bài tập
+ Chữa mẫu một bài hoặc một phần của bài tập
+ Hướng dẫn học sinh làm bài tập vào vở, bảng nhóm, giấy nháp, phiếu bài tập,
…
+ Hướng dẫn học sinhtự kiểm tra hoặc đổi bài cho bạn để tự kiểm tra
* Hướng dẫn học sinh làm bài tập (dạy dạng bài thực hành).
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập
- Hướng dẫn chữa một phần của bài tập để làm mẫu
- Hướng dẫn học sinh làm bài tập vào vở (vở nháp, vở bài tập,…) theo các hình
thức phù hợp: cá nhân, cặp đôi, nhóm, trò chơi,…
- Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm cần ghi
nhớ về tri thức
Khi đã nắm vững được cấu trúc của một bài trong phân môn Luyện từ và câu thì giáo viên có thể linh hoạt phối hợp các phương pháp dạy học khác nhau trong một tiết dạy sao cho phù hợp Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu, kĩ năng nói và viết cho học sinh Chính vì thế, trong quá trình dạy Luyện từ và câu việc
sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau sẽ giúp học sinh tích cực hóa hoạt động học tập, hình thành kiến thức và kĩ năng mình Tuy các phương pháp này không mới mẻ nhưng phần ít giáo viên sử dụng chưa đúng lúc, chưa đúng bài, chưa đúng hoạt động
Một số phương pháp dạy học tôi thường sử dụng:
* Phương pháp thực hành: