1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp dạy tăng cường tiếng việt cho học sinh dân tộc bru vân kiều

18 65 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 249,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là tìm ra các giải pháp để tăng cường Tiếng Việt giúp các em có vốn Tiếng Việt đủ để chủ động tiếp thu kiến thức và có khả năng giao tiếp trong quá trình dạy và học, giáo viên v

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ TĂNG CƯỜNG DẠY NÓI TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH

DÂN TỘC BRU -VÂN KIỀU

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn chuyên đề

Chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở các trường vùng sâu, vùng xa của xã Kim Thủy còn rất thấp Là một người làm công tác giảng dạy ở vùng học sinh dân tộc thiểu số gần 20 năm, thấy được những khó khăn khi trình độ nhận thức của học sinh còn hạn chế, vốn Tiếng Việt của các em chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn đến chất lượng dạy và học ở đây còn rất thấp Tôi cùng với đồng nghiệp luôn trăn trở và tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc như xây dựng cơ sở vật chất, tự làm các đồ dùng phục vụ cho việc dạy

và học, vận động trẻ đến lớp, đổi mới phương pháp dạy học, Đặc biệt là tìm ra các giải pháp để tăng cường Tiếng Việt giúp các em có vốn Tiếng Việt đủ để chủ động tiếp thu kiến thức và có khả năng giao tiếp trong quá trình dạy và học, giáo viên và học sinh giảm bớt đi những khó khăn, rào cản về ngôn ngữ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và duy trì phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi Sau nhiều năm nghiên cứu và áp dụng vào dạy học nên đã thực hiện được một số giải pháp cụ thể về Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc Bru Vân Kiều ở Trường PTDT bán trú TH & THCS số 1 Kim Thủy, do đó chất lượng giáo dục ở đây đã được nâng lên

Khi các em có được vốn Tiếng Việt đủ để nghe, hiểu thì việc giao tiếp hàng ngày của các em có sự tự tin, mạnh dạn trước tập thể, đặc biệt là quá trình tiếp thu bài của các em sẽ trở nên dễ dàng hơn

Thực tế cho thấy, những em học sinh người dân tộc Bru Vân Kiều có được vốn Tiếng Việt cơ bản khi đến lớp thì lực học của các em này không kém nhiều so với những em học sinh người Kinh thậm chí học lực ngang bằng hoặc hơn Với tầm quan trọng và cần thiết của việc Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc Bru Vân Kiều giúp nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc nói chung và học sinh dân tộc ở Trường PTDT bán trú TH & THCS số 1 Kim Thủy nói riêng nên tôi

Trang 2

đó quan tõm đến đề tài "Giải phỏp dạy Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dõn tộc Bru Võn Kiều" từ nhiều năm nay

2 Mục tiờu, nhiệm vụ của chuyờn đề

Chuyờn đề này đỳc kết những kinh nghiệm trong quỏ trỡnh giảng dạy và chỉ đạo trong tổ thực hiện những giải phỏp nhằm nõng cao chất lượng giỏo dục học sinh dõn tộc Bru Võn Kiều ở Trường PTDT bỏn trỳ TH & THCS số 1 Kim Thủy, trong

đú chủ yếu đề cập đến những giải phỏp dạy Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh

dõn tộc Bru Võn Kiều là một việc làm rất thiết thực và cần thiết Bằng cách thông

qua các buổi trao đổi, thảo luận, đúc rút kinh nghiệm qua dự giờ đồng nghiệp ( nhất

là phân môn Tập nói Tiếng Việt cho h c sinh dõn t c) nhằm:ọc sinh dõn tộc) nhằm: ộc) nhằm:

- Xác định đúng đối tợng của các em Bru Vân Kiều về khả năng sử dụng Tiếng Việt để từ đó các giáo viên xác định một cách đúng đắn trong việc tăng cờng những nội dung nào mà học sinh còn thiếu, còn yếu ở các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết nhằm áp dụng vào giảng dạy cho học sinh Bru Vân Kiều có hiệu quả

- Tìm ra đợc những hình thức, phơng pháp dạy học phù hợp, thủ thuật linh hoạt với mọi đối tợng của học sinh ở mỗi khối lớp để tăng cờng về các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh nhằm năng cao chất lợng và đạt hiệu quả của việc dạy và học môn Tiếng Việt và các môn học khác ở Trường PTDT bỏn trỳ TH & THCS số

1 Kim Thủy

Thống kờ, tổng hợp những số liệu về thực trạng trỡnh độ dõn trớ, tỡnh hỡnh học sinh, cơ sở vật chất, chất lượng giỏo dục, những khú khăn, thuận lợi và trỡnh độ Tiếng Việt của học sinh dõn tộc Bru Võn Kiều ở Trường PTDT bỏn trỳ TH & THCS số 1 Kim Thủy, tỡm ra giải phỏp để khắc phục những nhược điểm và đề xuất một số giải phỏp tăng cường, nõng cao Tiếng Việt cho học sinh dõn tộc trong quỏ trỡnh giảng dạy trờn lớp nhằm nõng cao chất lượng giỏo dục

3 Đối tượng nghiờn cứu

Nghiờn cứu những giải phỏp dạy Tăng cường núi Tiếng Việt cho học sinh dõn tộc Bru Võn Kiều bản thõn đó thực hiện trong quỏ trỡnh giảng dạy những năm học vừa qua cú liờn quan đến việc dạy Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dõn tộc Bru Võn Kiều

4 Giới hạn phạm vi nghiờn cứu

Trang 3

Nghiên cứu các phương pháp dạy và học, những thành tựu trong việc đổi mới phương pháp dạy học đối với học sinh dân tộc Bru Vân Kiều, đặc biệt là kết quả của việc thực hiện để dạy Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số của lớp đang phụ trách

5 Phương pháp nghiên cứu

- Tổng hợp số liệu về thực trạng tiếng Việt của học sinh dân tộc Bru Vân Kiều ở Trường PTDT bán trú TH & THCS số 1 Kim Thủy

- Phân tích, so sánh chất lượng, hiệu quả đào tạo trước khi chưa thực hiện giải pháp và sau khi áp dụng những giải pháp

B PHẦN NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tiếng Việt là một môn học hết sức quan trọng đối với tất cả các bậc học của nước ta hiện nay Với học sinh là người dân tộc thiểu số, việc tăng cường tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc là một trong những vấn

đề đang được các cấp, các ngành, các trường học đặc biệt quan tâm Nghị quyết 40/2002/NQ-QH của Quốc Hội khóa IX về đổi mới giáo dục phổ thông đã khẳng định: tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông được đưa vào dạy học thống nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân Tiếng Việt trong nhà trường tồn tại với hai tư cách: vừa

là một môn học vừa là công cụ giao tiếp, học tập của học sinh Do đó, trình độ tiếng Việt (vốn từ, kiến thức về tiếng Việt và kỹ năng sử dụng vốn từ trong học tập, giao tiếp) có vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với khả năng học tập các môn học của học sinh Thực tế cho thấy, học sinh người dân tộc Bru Vân Kiều càng học lên lớp trên thì khả năng đạt chuẩn chương trình các môn học càng thấp

vì nhiều nguyên nhân như cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện kinh tế, điều kiện học tập, trình độ nhận thức trong đó, sự thiếu hụt về vốn sống, vốn ngôn ngữ là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp của tình trạng trên

Trong những năm vừa qua, Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội gặp nhiều khó khăn đã và đang được Đảng, Nhà nước và các địa phương quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có rất nhiều thay

Trang 4

đổi về khung thời gian, chương trình, sách giáo khoa đối với học sinh dân tộc thiểu

số như chương trình 100 tuần, chương trình 120 tuần, chương trình 165 tuần; tăng thời lượng môn Tiếng Việt, giảm tải chương trình sách giáo khoa; tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, tuyển chọn và bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng cho đội ngũ nhân viên hỗ trợ giáo viên là người dân tộc thiểu số trong quá trình giảng dạy Đặc biệt có dự án chương trình hổ trợ dạy Tập nói Tiếng Việt cho học sinh thiểu số, song chất lượng vẫn chưa được như mong muốn, hiệu quả giáo dục còn thấp, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành đang còn ở Trường PTDT bán trú TH & THCS số 1 Kim Thủy

Trường PTDT bán trú TH & THCS số 1 Kim Thủy vào thời điểm đó gồm 8 điểm trường , 15 điểm dân cư - địa bàn dân cư thưa thớt, trải dài từ Cổ Kiềng Quảng Trị đến Lâm Thủy và Hướng Lập của huyện Sê Pôn Lào Nhưng vài năm trở lại đây trường được tách ra ba điểm trường (trường Kim 1, trường Kim 2, trường Tiểu học), nên đã đỡ đi phần nào trong việc quản lí, theo dõi và bồi dưỡng Dân cư chủ yếu là người Bru Vân Kiều- điều kiện kinh tế rất khó khăn chiếm hơn 80% hộ nghèo

Trong những năm vừa qua, các trường trong toàn huyện nói chung và các trường vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng đã được Huyện ủy, HĐND, UBND, phòng Giáo dục- Đào tạo, các cấp, các ngành rất quan tâm, đầu tư xây nhiều hạng mục công trình, chăm lo đời sống của đội ngũ CBGVNV, hỗ trợ học sinh bằng những chính sách thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên, vì những khó khăn đặc biệt là trình độ nhận thức, vốn Tiếng Việt của học sinh dân tộc Bru Vân Kiều còn nhiều hạn chế nên chất lượng giáo dục còn rất thấp

Các em vào lớp khi vốn Tiếng Việt còn hạn chế thì việc tiếp thu kiến thức vô cùng khó khăn Các em chủ yếu tiếp thu kiến thức một cách thụ động (học vẹt) vì nhiều học sinh đang nghe, đang nói mà không biết mình đang nghe gì, nói gì do không hiểu được nên rất nhanh quên Khi vốn tiếng Việt còn hạn chế thì các em thường rất nhút nhát, thiếu tự tin, nếu không được hướng dẫn thì các em cũng không muốn tham gia vào các hoạt động tập thể

Trang 5

II THỰC TRẠNG KỸ NĂNG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG PTDT BÁN TRÚ TH & THCS Sễ́ 1 KIM THỦY

Trường PTDT bỏn trỳ TH & THCS số 1 Kim Thủy là một trường nằm ở vựng sõu, vựng đặc biệt khú khăn của huyện Lệ Thủy Địa bàn của trường rất rộng đường sỏ đi lại gặp rất nhiều khú khăn đặc biệt là vào mựa mưa, phải qua nhiều đốo dốc, sụng suối Nhà trường cú 5 điểm trường lẻ và 1 điểm trường chớnh trải dài trờn 6 thụn bản, phần lớn là người dan tộc Bru Võn Kiều Trỡnh độ dõn trớ cũn thấp, cuộc sống của người dõn cũn gặp rất nhiều khú khăn

Nh chúng ta thấy, ngời Bru Vân Kiều có ngôn ngữ nói riêng của mình nhng

không có chữ viết Do vậy học sinh tới trờng gặp không ít khó khăn khi phải học tập và tiếp nhận sự giáo dục bằng Tiếng Việt Hầu hết học sinh khi vào lớp 1 còn nói cha chuẩn, cha đúng về tiếng, từ Tiếng Việt song tùy theo học sinh ở khu vực nào?( Nếu học sinh ở bản Con cùng (Trung tâm) thì tiếp xúc với ngời Kinh nhiều sẽ nói đợc nhiều Tiếng Việt hơn các học sinh ở các bản Cây Bông, bản Khe Khế, bản Chuôn và bản An Bai

Khi giao tiếp với nhau trong đời sống sinh hoạt, các em hầu nh không giao tiếp Tiếng Việt mà chỉ giao tiếp với nhau bằng Tiếng Việt trong các giờ học hoặc khi trò chuyện với thầy giáo, cô giáo Khả năng đọc của các em thờng phát âm không chuẩn, chậm từng tiếng, thiếu hoặc thừa dấu ( nhất là học sinh lớp 1) Kĩ năng nghe viết của các em nhìn chung là chậm, nhiều em viết còn thừa , thiếu dấu thanh tùy tiện Mặt khác, bố mẹ của các em phần lớn không biết chữ hoặc có biết cũng ít quan tâm, ít sử dụng

Việc tạo thúi quen và bồi dưỡng Tiếng Việt của cỏc em ở gia đỡnh và cộng đồng cũng gặp khú khăn vỡ người dõn ở thành từng cộng đồng và thường ở sõu trong rừng bờn cạnh những con suối để cú nước thuận lợi cho việc làm nụng nghiệp nờn ớt gặp gỡ với người Kinh, khụng cú điều kiện giao tiếp bằng tiếng phổ thụng Nhiều người trong gia đỡnh khụng núi được Tiếng Việt hoặc ớt sử dụng tiếng Việt nờn việc sinh hoạt giao tiếp trong gia đỡnh hầu như bằng tiếng mẹ đẻ Vỡ vậy, khi trẻ ra lớp thường chưa núi và hiểu được Tiếng Việt

Bờn cạnh đú, trỡnh độ dõn trớ vẫn cũn thấp, cỏc gia đỡnh chưa thực sự quan tõm đến việc học tập của con em Tụi mạnh dạn đưa ra đõy một số giải phỏp mà bản thõn đó tớch lũy nhiều năm bằng những kinh nghiệm thực tế giảng dạy Những giải phỏp này đó được ỏp dụng và thực hiện cú hiệu quả tại đơn vị (cú thể cỏc đơn vị

Trang 6

khác và các bạn đồng nghiệp đã thực hiện một trong những giải pháp này) để cùng đồng nghiệp chia sẻ Thiết nghĩ, nếu những trường có nhiều học sinh dân tộc thiểu

số mà thực trạng giống như ở Trường PTDT bán trú TH & THCS số 1 Kim Thủy cũng đưa những giải pháp này và áp dụng một cách khoa học, phù hợp tại đơn vị chắc chắn chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số sẽ được nâng lên

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC

SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ

1 Mục tiêu của giải pháp

Có được những phương pháp dạy học mới, nhẹ nhàng, phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số nhằm tăng cường tiếng Việt một cách hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục để được tất cả học sinh đều hoàn thành chương trình lớp học

2 Nội dung và cách thức thực hiện những giải pháp

a Tạo không khí tiết học sôi nổi, nhẹ nhàng, hấp dẫn

Học sinh là người dân tộc thiểu số vốn dĩ rất nhút nhát, ngại giao tiếp với bạn

bè người Kinh và thầy cô giáo Nhiều em khi thầy cô gọi đứng dậy trả lời chỉ đứng

và im lặng vì hoặc là không hiểu được câu hỏi hoặc là không tự tin với những câu trả lời bằng tiếng phổ thông của mình do vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế Trong khi chương trình sách giáo khoa quá tải, chưa thật sự phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số; giáo viên thì ôm đồm, "tham", chạy đua với thời gian, tìm mọi cách để làm sao truyền đạt, chuyển tải hết những kiến thức trong sách giáo khoa trong thời gian của 1 tiết học Do đó tiết học thường rơi vào tình trạng hối hả nhưng trầm lặng, nặng nề, khô khan và thường diễn ra theo hướng một chiều Vì vậy, muốn tiết dạy đạt hiệu quả cần tạo ra một không khí thật nhẹ nhàng, hấp dẫn Đây là giải pháp đặc trưng trong quá trình giảng dạy đối với học sinh dân tộc thiểu

số ở Tiểu học

Hiểu được tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số thì Trường PTDT bán trú TH & THCS số 1 Kim Thủy đã có những chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và nhiều giáo viên ở trường đã áp dụng những phương pháp phù hợp tùy theo các môn học nhưng đều chú trọng đến những yếu tố

Trang 7

vừa truyền đạt kiến thức của bài học đồng thời tăng cường tiếng Việt bằng những trò chơi ở tất cả các môn học (chủ yếu là các trò chơi về ngôn ngữ, trò chơi trí tuệ

sử dụng ngôn ngữ) như:

- Đóng vai

Đóng vai là một trong những phương pháp gây được hứng thú trong học tập

cho học sinh (học mà chơi, chơi mà học), rèn tính tự tin, tinh thần đoàn kết đặc biệt đây cũng là điều kiện tốt để tăng cường tiếng Việt cho học sinh song để mang lại hiệu quả, giáo viên và học sinh phải đầu tư nhiều

Trong những tiết dự giờ ở các điểm trường, tôi đã thấy giáo viên tìm tòi và viết kịch bản, dàn dựng khá công phu những câu chuyện phù hợp với nội dung bài học

ở những môn học như tự nhiên- xã hội, đạo đức, kể chuyện để hướng dẫn học sinh thực hiện Các em hào hứng tham gia, tiết học trở nên sôi động và hấp dẫn, hiệu quả của những tiết dạy này khá thành công, vốn tiếng Việt của các em cũng được cải thiện đáng kể Vì vậy tôi đã khuyến khích giáo viên phát huy phương pháp này, tổ chức thao giảng để nhân rộng đến toàn thể giáo viên trong nhà trường

để thực hiện Đến nay rất nhiều giáo viên thường xuyên thực hiện phương pháp này trong quá trình giảng dạy

- Thảo luận theo nhóm

Là một trong những phương pháp có sự tham gia tích cực của học sinh Thảo

luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự

do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn

Với những kết quả đạt được trong quá trình sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong những năm vừa qua mà đội ngũ giáo viên nhà trường đã áp dụng, nhiều em học sinh dân tộc thiểu số ở đây đã trở nên mạnh dạn, tự tin, vốn tiếng Việt của các em đã được cải thiện rất đáng kể Các em đã có khả năng tự đặt ra những câu hỏi, đưa ra những ý kiến của mình Việc giao tiếp của các em cũng dễ dàng hơn Do vậy, bản thân tôi luôn khuyến khích đội ngũ giáo viên sử dụng phương pháp này vào giảng dạy nhằm làm cho tất cả học sinh được hoạt động, tạo

Trang 8

khụng khớ lớp học sụi động, hấp dẫn, cỏc em tiếp thu bài cũng dễ dàng hơn, đặc biệt tạo điều kiện để cỏc em bổ sung vốn tiếng Việt một cỏch hiệu quả

Đặc biệt

- Thờng xuyên tăng cờng khả năng nghe và nói Tiếng Việt cho học sinh thông qua dạy học âm, vần và tập đọc trong phân mô Tiếng Việt

- Nghe và nói Tiếng Việt có liên quan mật thiết với nhau, có nghe đợc mới nói

đợc, nghe đúng mới nói đúng Muốn học sinh nghe đợc và nghe chuẩn giáo viên phải nói rõ ràng, nói đúng, đồng thời phải nói chậm rãi để Hs dễ thu nhận và hớng dẫn cách phát âm, cách nói để Hs nói theo Khả năng nói Tiếng Việt của học sinh

đợc xác định là khả năng phát âm chuẩn, khả năng sử dụng tiếng, từ đúng và phong phú trong khi nói, khi tham gia giao tiếp với ngời khác

Đặc biệt với Hs Bru Vân Kiều các em nói thế nào ,viết thế ấy thì việc tập cho các

em nói đúng lại càng có ý nghĩa và vô cùng quan trọng trong việc học môn Tiếng Việt

Thực tế cho thấy, học sinh phát âm không chuẩn, phát âm không đúng, còn rụt rè trong giao tiếp Do đó ngời giáo viên phải thờng xuyên tăng cờng khả năng nói Tiếng Việt cho học sinh bằng cách cung cấp thêm từ ngữ mới, thông qua việc luyện nói câu hỏi, câu trả lời, luyện đối thoại để làm phong phú thêm vốn từ cho học sinh Tồn tại khó sửa nhất về kĩ năng nói của Hs là nói thừa hoặc thiếu dấu thanh Cho nên khi giảng từ, giải nghĩa hoặc hớng dẫn phát âm cho học sinh, đòi hỏi giáo viên phải hớng dẫn kĩ, phát âm mẫu nhiều lần, sửa sai cụ thể cho từng trờng hợp, tránh qua loa, đại khái Song việc hớng dẫn cho học sinh nhanh hay chậm, học sinh tham gia trả lời, giao tiếp ra sao còn tùy thuộc vào từng đối tợng không nhất thiết phải

nh nhau cho tất cả học sinh, nhng phải đảm bảo tính nguyên tắc của từng học sinh

ở từng lớp Nếu các em càng nhỏ thì phải dành thời gian tập nói càng nhiều

Mặt khác, việc tập nói Tiếng việt cho học sinh phải thực hiện dới nhiều hình thức

và phơng pháp dạy học khác nhau nh : Dạy trong tiết tăng cờng tập nói TV cho Hs, dạy tích hợp trong các tiết học khác, các tiết HĐNGLL, trò chơi, nói chuyện với nhau

- Việc dạy Tiếng Việt cho học sinh Bru Vân Kiều phải đợc tuân thủ theo chơng trình và hớng dẫn của Bộ GD&ĐT Tuy vậy, cần có sự linh hoạt và sáng tạo, không rập khuôn máy móc mà phải tùy theo từng mức độ của đối tợng để lựa chọn nội dung và phơng pháp dạy học cho phù hợp và có hiệu quả theo các bớc , đó là:

- Lựa chọn tiếng, từ để tập nói cho phù hợp

- Luyện nói theo câu hỏi, câu trả lời có chứa các tiếng, từ mới cung cấp cho Hs

- Tạo tình huống cho học sinh đối thoại, đợc giao tiếp trong đó chú ý môi

trờng giao tiếp cho học sinh với học sinh dới sự hớng dẫn của giáo viên.

Trang 9

Ví dụ trong một tiết toán lớp 2, bài "bảng chia 2" Sau khi giáo viên cùng học sinh xây dựng xong bảng chia 2 đến phần bài tập Giáo viên lần lượt 3 em lên đặt câu hỏi và tự các bạn mời các bạn trả lời "Bạn nào cho mình biết: 8 chia cho 2 bằng mấy? Mời bạn A trả lời "Thưa bạn, 8 chia 2 bằng 4" Bạn A trả lời đúng chưa các bạn? Đúng rồi, cho mình cảm ơn bạn! Mời bạn ngồi xuống Lớp học cũng vì vậy mà trở nên nhẹ nhàng, thân thiện, gần gủi, sôi động hơn, giúp học sinh hứng thú học tập đặc biệt những tiết học dùng phương pháp này giúp tăng cường tiếng Việt cho các em học sinh một cách hiệu quả

Qua thời gian thực hiện giải pháp này ở một số lớp thuộc điểm trường Con Cùng , Cây Bông (các lớp này có 95% học sinh dân tộc thiểu số), kết quả đem lại rất khả quan Tiết học rất nhẹ nhàng, các em rất hứng thú với phương pháp dạy học này vì được tham gia vào các hoạt động Nhiều em học sinh được giáo viên bồi dưỡng đã trở thành những học sinh học giỏi, có kỹ năng nghe và diễn đạt tiếng Việt rất tốt

Vì vậy trong năm học vừa qua, nhà trường đã tổ chức Hội giảng để góp ý, xây dựng hoàn thiện và nhân rộng hình thức dạy học này đến tất cả các lớp trong nhà trường Các lớp cũng đã thực hiện, bước đầu đã đem lại hiệu quả

c Sử dụng một số phương pháp dạy học:

c.1 Học sinh người dân tộc, do nhầm lẫn giữa hai ngôn ngữ nên thường mắc lỗi giao thoa ngôn ngữ (quá trình tất yếu) Hiện tượng này diễn ra ở từng cá nhân và

cả cộng đồng trong mọi phạm vi giao tiếp, thể hiện trên tất cả các bình diện của ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, Đây là một trong những lực cản lớn ảnh hưởng đến việc tiếp nhận kiến thức của học sinh Giáo viên phải điều tra phát hiện tính phổ biến những hiện tượng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ xen vào, gây cản trở hay nhiễu loạn ngôn ngữ tiếng Việt, sau đó sử dụng mẫu ngữ liệu

từ những bài viết mắc lỗi của học sinh ở các dạng bài tập về từ, đặt câu, làm văn,

để sửa chữa những sai sót về cấu tạo ngữ âm, ngữ pháp, hướng dẫn cách viết đúng chính tả và luyện đọc đúng chính âm tiếng Việt Nhận diện và phân loại giao thoa ngôn ngữ là việc làm cần thiết của người giáo viên để tìm hướng phát huy giao thoa tích cực và khắc phục giao thoa tiêu cực

Trang 10

c.2 Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia và là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường nên phải xác lập việc dạy tiếng Việt có "quán triệt đặc điểm dân tộc" (PGS.Trương Dĩnh) Việc tính đến đặc điểm dân tộc đòi hỏi coi trọng biện pháp quy nạp, biện pháp trực quan, biện pháp giao tiếp, đặc biệt là biện pháp được nâng lên như một phương pháp "biện pháp đối chiếu” (PGS.Trương Dĩnh) Có thể đối chiếu trên tất cả cấp độ ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách, theo hướng đối chiếu tương đồng, đối chiếu dị biệt và đặc biệt là đối chiếu từ vựng học

Sử dụng phương pháp đối chiếu là một hình thức của dạy song ngữ, tùy theo từng trạng thái song ngữ mà tập trung vào nội dung này hay nội dung kia, không nên lạm dụng Sử dụng phương pháp đối chiếu sẽ tạo điều kiện cho học sinh người dân tộc vừa có điều kiện so sánh, vừa lựa chọn áp lực hai phía của ngôn ngữ Nên dùng phương pháp này trong các giai đoạn tìm ví dụ xây dựng ngữ liệu, phân tích khái quát hóa bài học và luyện tập

c.3 Khi cung cấp từ mới và mở rộng vốn từ tiếng Việt cho học sinh dân tộc cần sử dụng phương pháp dẫn dắt, gợi mở vì vốn từ của học sinh dân tộc còn hạn chế rất nhiều Trước khi nghĩ đến việc dạy cho học sinh khả năng tích cực hóa vốn từ hay phân tích cái hay, cái đẹp của từ ngữ thì trước tiên phải nghĩ đến việc cung cấp vốn

từ ngữ cần có và đủ để các em hiểu văn bản và sử dụng trong giao tiếp cộng đồng, sau đó mới tính đến việc luyện tập như thế nào để hình thành và nâng cao năng lực dùng từ cho học sinh một cách hiệu quả nhất Cần lưu ý:

- Vốn từ về các lĩnh vực chính trị - xã hội và khoa học kỹ thuật còn xa lạ với học sinh Sau khi cung cấp và giải thích ý nghĩa, giáo viên phải thường xuyên thực hành các vốn từ ấy trong các hoạt động giao tiếp cụ thể ở lớp, ở trường, ở các môi trường khác của đời sống xã hội

- Khi giải nghĩa từ, cách giải thích phải gắn liền cách sử dụng cụ thể, tránh giải thích trừu tượng mà tuân theo đặc điểm tâm lý trẻ (đi từ cụ thể đến khái quát) Trong quá trình chiếm lĩnh khái niệm, quy tắc trừu tượng của tiếng Việt, người giáo viên phải giúp học sinh khắc phục thói quen tư duy cụ thể, những tiêu cực của ngôn ngữ tự nhiên mà hình thành giá trị của ngôn ngữ văn hóa "Cái mà giáo viên

Ngày đăng: 13/10/2020, 10:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w