luận án
Trang 1Trường đại học luật hà nội
NGUYỄN THỊ ANH THƠ
Trang 2Bộ giáo dục đào tạo Bộ tư pháp
Trường đại học luật hà nội
NGUYỄN THỊ ANH THƠ
TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI - NHỮNG VẤN ĐỀ
Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyờn ngành: Luật Hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 62 38 01 04 (Mó số cũ: 62 38 40 01)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS Nguyễn Ngọc Hũa
HÀ NỘI – 2012
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cùng với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, xu thế hội nhập quốc tế
đã mang lại nhiều tác động tích cực đối với các nước đang phát triển, các nước có thu nhập thấp Tuy nhiên, quá trình này còn đan xen cả những tác động tiêu cực đến hoạt động của nền kinh tế cũng như sự ổn định xã hội Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia cần phải có những biện pháp phù hợp để hạn chế tác động tiêu cực phát sinh Trong đó, một cơ chế chính sách và pháp luật phù hợp với thực tế đất nước cũng như các chuẩn mực quốc tế và khu vực sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
tế, ngăn ngừa những ảnh hưởng xấu tác động đến đời sống chính trị - xã hội của đất nước
Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển trên thế giới và khu vực cho thấy, phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với đảm bảo an sinh xã hội Hiện nay, không một quốc gia nào trên thế giới lại không coi chính sách an sinh xã hội là một chính sách xã hội quan trọng mà trong đó, BHXH là một trụ cột không thể thiếu1 Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Việc bảo vệ lực lượng lao động trong xã hội bằng cách bảo đảm thu nhập cho họ, tránh tạo ra một lớp người nghèo mới trong tương lai là một yêu cầu khách quan Công nghiệp phát triển, đất đai dùng vào sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp đã tạo ra một lực lượng lao động làm công ăn lương, sống bằng tiền lương, tiền công hàng tháng Điều này đòi hỏi sự cần thiết phải có BHXH để có cơ sở tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường của người lao động bị gián đoạn hoặc bị mất đi do các nguyên nhân mang tính xã hội như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động… BHXH không những góp phần giảm bớt sự mất mát về tiền đối với cá nhân người lao động bằng cách chuyển đổi nguy cơ tổn thất tài chính gây ra bởi các rủi ro mang tính xã hội thành các khoản đóng góp nhỏ mà còn góp phần bảo vệ gia đình họ trước nguy cơ phải tiêu tốn các khoản tiền lớn hơn thu nhập của họ và qua đó góp phần đảm bảo đời sống cho người lao động Do vậy, BHXH được xem là yếu tố căn bản để xây dựng hệ thống an sinh xã hội ổn định lâu dài
1
BHXH có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là nghĩa trong đó không bao gồm BHYT nhưng cũng có thể được hiểu theo nghĩa rộng là nghĩa trong đó bao gồm cả BHYT
Trang 4Ở Việt Nam, chính sách BHXH đã trải qua một nửa thế kỷ kể từ khi Điều lệ tạm thời về BHXH được ban hành năm 1961 và sau hơn một thập kỷ kể từ khi Điều
lệ BHXH được thực thi đến khi Luật BHXH, Luật BHYT được ban hành Chính sách BHXH được thực hiện ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những kết quả hết sức to lớn, góp phần đáng kể trong việc ổn định cuộc sống của hàng triệu người lao động khi họ hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động, khi họ gặp những rủi ro như
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động… Do vậy, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai
đoạn 2011 - 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Phát triển hệ thống an
sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Phát triển mạnh hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp… Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm[18]
Chính sách BHXH tuy quan trọng như vậy nhưng cũng dễ bị lạm dụng như các chính sách xã hội khác nếu không được kiểm soát chặt chẽ với những chế tài nghiêm khắc Để hạn chế việc lạm dụng này, một hành lang pháp lý về BHXH đã được tạo dựng trong Luật Bảo hiểm xã hội (được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006
và có hiệu lực từ 1/1/2007) và trong Luật BHYT (được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực từ 1/7/2009) Các luật này đã quy định các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT cũng như các chế tài có thể áp dụng đối với các hành vi
vi phạm này Dưới hai luật này là Nghị định số 86/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH (thay thế Nghị định số 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8/2007) và Nghị định số 92/2011/NĐ-CP ngày 17/10/2011 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHYT
Như vậy, có thể thấy chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH
đã tương đối đầy đủ Nhưng do mức xử phạt thấp, không đủ sức răn đe cũng như do các biện pháp đảm bảo thực hiện thiếu tính khả thi nên đã làm cho tình trạng trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH cũng như các hành vi gian lận BHXH không những không giảm mà còn gia tăng trong thời gian qua, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người lao động cũng như gây thiệt hại cho quỹ BHXH Hơn nữa, việc kiểm tra, xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH cũng còn hạn chế do lực lượng thanh tra chuyên ngành chưa đủ mạnh Nhiều trường hợp sai phạm được cơ quan BHXH phát hiện, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra xử phạt vi phạm hành chính nhưng không được giải quyết kịp thời Do vậy, BHXH nhiều tỉnh, thành phố đã phải đứng đơn khởi kiện các doanh nghiệp không đóng BHXH để bảo vệ quyền lợi của người lao động Tuy nhiên, việc thi hành các bản án buộc doanh nghiệp vi phạm phải nộp số tiền BHXH chưa đóng và số tiền lãi chậm đóng cho cơ quan BHXH cũng gặp rất nhiều khó khăn, thời gian thu hồi nợ kéo dài, thậm chí có doanh nghiệp không thể
Trang 5nộp được do không còn khả năng tài chính Việc chuyển hồ sơ sang Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ đề nghị khởi tố về tội danh không thi hành án theo quy định của BLHS cũng gặp không ít vấn đề vướng mắc
Hiện nay, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH vẫn xảy ra ngày một nghiêm trọng hơn và vẫn chưa có phương án giải quyết có hiệu quả Tính đến 31/8/2011, theo Số liệu được công bố tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Luật BHXH do Bộ Lao động - Thương Binh xã hội tổ chức ngày 29/11/2011, con số 4.611
tỷ đồng tiền BHXH mà các đơn vị sử dụng lao động đang chiếm dụng đã làm cho quyền hưởng BHXH của hàng triệu người lao động bị ảnh hưởng Tuy nhiên, theo thống kê của BHXH Việt Nam, tính đến 30/6/2012, con số này đã tăng thêm gần 4.000 tỷ đồng, nâng số tiền BHXH các đơn vị sử dụng không đóng lên hơn 8.600 tỷ đồng Bên cạnh đó, việc phát hiện số lượng lớn giấy chứng nhận nghỉ ốm giả, sổ khám bệnh khống được bán cho người lao động để làm hồ sơ rút tiền bảo hiểm trái pháp luật cũng như việc lập hồ sơ bệnh án khống để rút tiền BHYT… đang là vấn đề làm cho chính sách BHXH bị lạm dụng và quỹ BHXH bị thâm hụt
Mặc dù các quy định về xử phạt vi phạm pháp luật BHXH, BHYT cũng cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự các cá nhân có hành vi vi phạm Luật BHXH, Luật BHYT đến mức bị coi là tội phạm nhưng do BLHS Việt Nam không có các điều luật riêng về các tội phạm trong lĩnh vực BHXH nên chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình
sự theo các tội danh chung tương ứng Vì vậy, trên thực tế có những hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ đóng BHXH nhưng không thể xử lý hình sự được, những hành vi gian lận để hưởng BHXH tuy có thể xử lý được nhưng vì không có tội danh riêng nên việc áp dụng cũng chưa thật sự phù hợp với tính chất của hành vi cũng như chưa đảm bảo được yêu cầu phân hóa trách nhiệm hình sự Điều này cho thấy, những quy định của pháp luật xét về mặt hình thức đã hội tụ đủ những điều kiện để xử lý vi phạm cũng như tội phạm trong lĩnh vực BHXH nhưng trên thực tế, tính khả thi của các quy định này không cao nếu như không muốn nói là chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa vi phạm cũng như tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Trước tình hình đó, việc tuyên truyền và giáo dục là những biện pháp trước mắt để hạn chế những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH Tuy nhiên, để ngăn chặn có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật BHXH đòi hỏi phải sử dụng nhiều hình thức chế tài từ thấp tới cao một cách phù hợp Trong đó, cần thiết phải có sự tác động hiệu quả của chế tài hình sự - chế tài nghiêm khắc nhất của Nhà nước với nội dung là tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội để họ thấy rằng hậu quả của việc vi phạm pháp luật là bất lợi hơn rất nhiều so với những lợi ích mà việc
Trang 6phạm tội đem lại Từ đó tạo ra cơ chế tác động tới hành vi của những người có ý định phạm tội, khiến họ từ bỏ ý định thực hiện tội phạm
Như vậy, có thể thấy rằng trong những năm qua, thực hiện các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước trong đó có Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ
Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội
phạm trong tình hình mới”, Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, công tác
đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm đã đạt được nhiều kết quả góp phần kìm chế
sự gia tăng của một số loại tội phạm, trong đó có tội phạm trong lĩnh vực BHXH, củng cố lòng tin của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật Tuy nhiên, thực tiễn phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng đã đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi khoa học luật hình sự phải giải quyết như việc xử lý hình sự đối với tội phạm trong lĩnh vực BHXH mới chỉ có thể thực hiện được đối với nhóm hành vi liên quan đến quyền thụ hưởng BHXH và nhóm hành vi liên quan đến quản lý hoạt động BHXH mà chưa thể thực hiện được đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH khiến cho người sử dụng lao động có ý thức coi thường pháp luật Điều này không những ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật BHXH mà còn ảnh hưởng đến tính tôn nghiêm của pháp luật nói chung Bên cạnh đó, xét về mặt lý luận, còn nhiều vấn đề về tội phạm trong lĩnh vực BHXH chưa được làm rõ như khái niệm, phân loại, xác định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính nên gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật để xử lý vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực này
Chính vì vậy, đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu một cách toàn diện để làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật BHXH có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, nghiên cứu các tội phạm có thể phát sinh trong lĩnh vực BHXH góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của trách nhiệm hình sự đối với những hành vi vi phạm pháp luật BHXH ở Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
BHXH được coi là một chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách về an sinh xã hội của quốc gia nên các nghiên cứu liên quan đến chính sách BHXH chủ yếu tập trung vào các vấn đề cụ thể của từng chế độ nhằm mục đích điều chỉnh chính sách BHXH cho phù hợp với tình hình thực tế của công cuộc xây dựng đất nước Có thể
chia chính sách BHXH ở Việt Nam thành hai thời kỳ chính, đó là: Thời kỳ “bao cấp”
về BHXH - thời kỳ thực hiện Điều lệ tạm thời về BHXH từ năm 1961 đến hết năm
1994 và thời kỳ cải cách chính sách BHXH từ năm 1995 đến nay
Thứ nhất, thời kỳ trước năm 1995 - trong thời kỳ này, việc thực hiện chính
sách BHXH do ngành Lao động - Thương binh & Xã hội và ngành Công đoàn (nay là
Trang 7Liên đoàn lao động) thực hiện Trong đó, ngành Lao động - Thương binh & Xã hội quản lý và thực hiện các chế độ BHXH dài hạn, ngành Công đoàn quản lý và thực hiện các chế độ BHXH ngắn hạn Phần lớn các nghiên cứu về BHXH trong thời kỳ này là tổng kết thực tiễn và đưa ra những đề xuất thay đổi chính sách trong từng thời
kỳ cho phù hợp với những thay đổi của nền kinh tế - xã hội
Giai đoạn sau năm 1990 là giai đoạn “hậu bao cấp” về BHXH, khi tỷ trọng
mức chi trả BHXH từ ngân sách nhà nước đã tăng từ 73,82% (năm 1990) lên 92,7% (năm 1993), gây áp lực lớn cho ngân sách nhà nước thì yêu cầu cấp thiết phải cải cách chính sách BHXH ở Việt Nam đã được đặt ra Trong thời kỳ này có rất nhiều bài nghiên cứu hướng tới cải cách chính sách BHXH và phân định rõ chức năng quản
lý và chức năng thực hiện hoạt động BHXH Phần lớn những nghiên cứu này được công bố trong khuôn khổ Hội thảo quốc gia năm 1992 về BHXH (Dự án VIE/90-017) Trong số đó, có thể kể đến những nghiên cứu sau:
- Bài nghiên cứu “Quan điểm tài chính trong việc đổi mới BHXH ở nước ta”
của tác giả Nguyễn Văn Châu (Bộ Tài chính): Trong bài viết này, tác giả đánh giá cơ chế tài chính để thực hiện chính sách BHXH trong hơn 30 năm (kể từ khi thực hiện điều lệ BHXH năm 1961) là phù hợp với giai đoạn lịch sử của đất nước Tuy nhiên, cùng với những thay đổi của nền kinh tế, việc tách rời sự điều chỉnh về mức đóng BHXH và chính sách BHXH, hay nói cách khác, khi thiết kế chính sách BHXH mà không chú ý đến nguồn tài chính đảm bảo, còn để chính sách xã hội khác đan xen trong chính sách BHXH, không kịp thời điều chỉnh nguồn đóng góp vào quỹ BHXH
để chi trả cho các chế độ BHXH đã làm cho Nhà nước phải gánh những khoản chi BHXH rất lớn, gây áp lực cho ngân sách nhà nước Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý tài chính quỹ BHXH
- Bài nghiên cứu “Một số vấn đề lý luận về BHXH trong nền kinh tế thị
trường” của tác giả Trần Quang Hùng (Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã
hội): Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến một số khái niệm trong lĩnh vực BHXH, chính sách BHXH, một số khái niệm liên quan đến BHXH và so sánh BHXH với hình thức bảo hiểm thương mại để từ đó đưa ra những đề xuất hoàn thiện chính sách BHXH trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
- Bài nghiên cứu “Cơ sở khoa học của BHXH từ góc độ đổi mới” của các tác
giả Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến: Trong bài viết này, các tác giả đã nghiên cứu xoay quanh vấn đề nguồn hình thành quỹ BHXH, các chế độ BHXH và phương thức thực hiện BHXH trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
Trang 8Đặc biệt, trong số các nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực hiện BHXH và đề xuất một số cải cách đối với Việt Nam có bài nghiên cứu của tác giả người Mỹ L Villacorta - chuyên gia kỹ thuật về BHXH của Tổ chức Lao động quốc tế Bài viết này đã được công bố trong Hội thảo quốc gia về BHXH tại Việt Nam năm 1992 Trong đó, tác giả đã đưa ra những đề xuất cho Chính phủ Việt Nam trong việc đổi mới cách thức thực hiện BHXH trên cơ sở đánh giá một cách toàn diện về hệ thống chính sách BHXH ở Việt Nam trong sự so sánh với chính sách BHXH của một số nước trên thế giới
Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài nghiên cứu của các tác giả là chuyên gia của
Bộ Lao động - thương Binh & Xã hội (như TS Nguyễn Hữu Dũng và các chuyên gia
Lê Luyện, Hà Ngọc Quế v.v ) với nội dung đánh giá chính sách BHXH trong thời kỳ này và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách BHXH trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
Thứ hai, thời kỳ từ năm 1995 đến nay - thời kỳ mà trong đó chính sách BHXH
được đặc biệt quan tâm và được coi là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về
an sinh xã hội Các nghiên cứu về chính sách BHXH trong thời gian này cũng có những bước phát triển đáng kể Trong đó phải kể đến một số luận án tiến sỹ và các đề tài, đề án nghiên cứu cấp bộ, ngành xoay quanh nội dung hoàn thiện chính sách BHXH ở Việt Nam như:
- Luận án Phó tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Huy Ban (năm 1996) với đề
tài “Hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn”: Đây là
luận án phó tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về những vấn đề lý luận về BHXH và đánh giá thực trạng công tác xây dựng pháp luật BHXH ở Việt Nam Trên
cơ sở đó, tác giả đã đề xuất mô hình xây dựng Luật BHXH, trong đó có vấn đề giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm về BHXH
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Đỗ Văn Sinh (năm 2004) với đề tài “Hoàn thiện
quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam”: Luận án đã tập trung phân tích tình hình tài
chính quỹ BHXH qua các thời kỳ và đưa ra các giải pháp liên quan đến quản lý và cân đối quỹ BHXH
- Nghiên cứu của tác giả Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến trong cuốn “Đổi
mới chính sách BHXH đối với người lao động” (Nxb Chính trị quốc gia, 1998):
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích chính sách BHXH với những bất cập của nó và đề xuất các kiến nghị đổi mới chính sách đối với người lao động
- Đề tài nghiên cứu cấp ngành “Chế độ lương hưu của các đối tượng nghỉ hưu
thời kỳ trước và sau năm 1995, thực trạng và giải pháp” (năm 2003) của tác giả Hà
Trang 9Văn Chi (Bảo hiểm xã hội Việt Nam): Trong đề tài này, tác giả đã đề cập đến sự bất hợp lý trong quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong các phân đoạn của chính sách BHXH trước và sau năm 1995 để từ đó đưa ra các kiến nghị về điều chỉnh tiền lương hưu đối với các đối tượng nghỉ hưu trước năm 1995
- Gần đây, các chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách của Bộ Lao động
- Thương binh & Xã hội đã có công trình nghiên cứu một cách toàn diện về chính
sách BHXH, thể hiện trong: “Báo cáo đánh giá hệ thống chính sách BHXH” được đăng trên Bản tin số 25 năm 2011 của Viện Khoa học Lao động xã hội Báo cáo này
đã đưa ra các khuyến nghị về cải cách chính sách BHXH cũng như sự cần thiết của việc đa dạng hóa các phương thức thực hiện BHXH
Bên cạnh đó, còn có nhiều đề tài nghiên cứu cấp Bộ khác cũng như nhiều bài nghiên cứu khác được đăng tải trên các Tạp chí Lao động xã hội, Tạp chí BHXH với nội dung nghiên cứu về các chế độ BHXH, BHYT, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện chính sách BHXH, BHYT ở Việt Nam
Về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH (từ khi Luật BHXH có hiệu lực - 01/01/2007) cũng đã có nhiều bài viết của các tác giả đề cập đến các hành vi trốn đóng BHXH, chậm đóng BHXH cho người lao động (Tạp chí BHXH, Tạp chí Lao động xã hội ) Ngoài ra còn có nhiều bài viết thông tin về các vụ án liên quan đến các vấn đề như trục lợi từ quỹ BHYT, lợi dụng chức vụ trong giải quyết các chế độ BHXH được đăng trên các báo Pháp luật, báo Công an nhân dân và các báo điện tử khác2 Riêng Báo BHXH - cơ quan ngôn luận của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có rất nhiều bài viết về các doanh nghiệp, đơn vị chậm nộp BHXH Các bài viết này đều
đã thống nhất đánh giá chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH là thấp, không đủ sức răn đe, trong khi đó, chế tài hình sự lại chưa có thể được áp dụng cho các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH của người sử dụng lao động Việc áp dụng một số điều tương ứng trong BLHS đối với một số hành vi phạm tội trong lĩnh vực BHXH còn gặp nhiều vướng mắc nên có tình trạng không thống nhất trong định tội danh và quyết định hình phạt hoặc để lọt tội phạm Điều này đã làm cho pháp luật BHXH không được thực hiện nghiêm trên thực tế, quyền lợi của người lao động bị xâm phạm ngày càng nghiêm trọng
Trước tình hình đó, yêu cầu khách quan được đặt ra là cần nghiên cứu một cách tổng thể và cụ thể về tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH và về chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT Đề án khoa học
cấp ngành “Xây dựng quy trình tham gia tố tụng và chế tài xử phạt vi phạm pháp luật
2 Theo thống kê của tác giả có hơn 100 bài viết về vấn đề này đã được đăng trên các báo khác nhau
Trang 10về BHXH, BHYT và BHTN" của tác giả Lê Quyết Thắng và nhóm nghiên cứu (BHXH
Việt Nam, năm 2009) đã đáp ứng được một phần yêu cầu này khi tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến hồ sơ tham gia tố tụng và chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT và BHTN ở Việt Nam Đề án này đã có đóng góp tích cực cho BHXH Việt Nam trong việc kiến nghị sửa đổi Nghị định số 135/2007/NĐ-
CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH và kiến nghị cần phải tội phạm hóa một số hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH Tuy nhiên, cho đến nay, những hành vi vi phạm pháp luật về BHXH chưa có chiều hướng giảm mặc dù Nghị định số 86/2010/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH đã được ban hành thay thế cho Nghị định 135/2007/NĐ-CP nói trên, trong đó mức xử phạt tối đa đối với những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH
đã được nâng lên là 30 triệu đồng thay cho mức 20 triệu đồng Điều này đã cho thấy, nếu chỉ sử dụng chế tài hành chính thì khó có thể kìm chế được các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, đặc biệt là đối với nhóm hành vi trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH của người sử dụng lao động
Ngày 29/11/2011, tại Hội nghị Tổng kết, đánh giá 5 năm thực hiện Luật BHXH, đại diện của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, Bộ Lao động Thương Binh & Xã hội và Bảo hiểm xã hội Việt Nam trên cơ sở các nghiên cứu, đánh giá của mình đều đưa ra những kiến nghị về sự cần thiết phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật BHXH, trong đó có kiến nghị liên quan đến chế tài xử phạt vi phạm pháp luật
BHXH như sau: Quy định về chế tài xử phạt vi phạm pháp luật BHXH cần được
nghiên cứu để sửa đổi cho phù hợp hơn, các hành vi trốn đóng BHXH, chậm đóng (chiếm dụng tiền BHXH)… cần được nghiên cứu để quy định thành tội danh trong BLHS nhằm đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội[1]
Ở ngoài nước, có thể kể đến công trình nghiên cứu “An approach on social
security anti-fraud Law in China” của tác giả Hu Jiye (năm 2009) Công trình này
được thực hiện trong khuôn khổ sự hợp tác của cộng đồng châu Âu và Trung Quốc
trong Dự án hợp tác về cải cách BHXH Đây là một tài liệu nghiên cứu sâu về nhóm
giải pháp nhằm ngăn chặn các hành vi gian lận BHXH Trong đó, các giải pháp được đưa ra bao gồm các giải pháp hoàn thiện pháp luật hành chính, pháp luật thuế, pháp luật dân sự và pháp luật hình sự, tạo ra hệ thống các chế tài từ thấp đến cao nhằm kìm chế sự gia tăng ngày càng nhanh các hành vi vi phạm trong lĩnh vực BHXH ở Trung Quốc Trong các kiến nghị đưa ra có giải pháp phải bổ sung vào luật hình sự của Trung Quốc các điều khoản quy định về tội gian lận BHXH
Tóm lại, ở Việt Nam, ngoài các công trình nghiên cứu về BHXH của các tác giả, các cơ quan chuyên môn có chức năng hoạch định chính sách hoặc thực hiện
Trang 11chính sách BHXH, trong đó có nghiên cứu về chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH nhằm hoàn thiện chính sách BHXH nói chung và hoàn thiện pháp luật thực định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH nói riêng còn có nhiều bài báo phản ánh các vụ việc vi phạm pháp luật về BHXH, đặc biệt là vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH Từ thực trạng những vi phạm này, đề xuất cần phải xử
lý hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, đặc biệt là đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH cũng đã được đề cập đến trong các văn bản kiến nghị của các cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, cơ quan thực hiện BHXH và của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn chưa có công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ hay luận án tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề tội phạm trong lĩnh vực BHXH ở Việt Nam dưới góc độ luật hình sự cũng như tội phạm học Chính
điều này đã thúc đẩy tác giả lựa chọn đề tài: “Tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã
hội - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích mà luận án hướng tới là xây dựng cơ sở khoa học cũng như thực tiễn cho các kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về nhóm tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Để đạt được mục đích này luận án có nhiệm vụ nghiên cứu một cách toàn diện
lý luận về tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH; nghiên cứu thực tiễn lập pháp và thực tiễn áp dụng các quy định về tội phạm trong lĩnh vực BHXH của Việt Nam và một số nước trên thế giới Trên cơ sở đó luận án kiến nghị hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng như hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật hành chính về vi phạm trong lĩnh vực BHXH để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài luận án
Luận án được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật Việt Nam và của một số nước trên thế giới về tội phạm trong lĩnh vực BHXH Luận án cũng nghiên cứu một số vụ án điển hình trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH từ năm 2005 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được tác giả thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận án để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
Trang 12phương pháp so sánh,
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận án
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về tội phạm trong lĩnh vực BHXH, một lĩnh vực chuyên ngành hẹp nhưng lại có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và có tác động không nhỏ tới đời sống chính trị - xã hội của đất nước
Trên cơ sở lý luận chung về tội phạm và quy định của các quốc gia về tội phạm trong lĩnh vực BHXH, luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam xây dựng định nghĩa tội phạm trong lĩnh vực BHXH, phân tích các đặc điểm, các yếu
tố của tội phạm cũng như đưa ra các tiêu chí phân loại và phân biệt giữa tội phạm với
vi phạm trong lĩnh vực này
Luận án cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam đề xuất mô hình tổng thể bổ sung quy định về tội phạm trong lĩnh vực BHXH với các phương án khác nhau - phương án mở rộng nguồn trực tiếp của pháp luật hình sự cũng như mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm và phương án giữ nguyên như quy định hiện nay Trong đó, luận án không chỉ xác định các tội danh thuộc lĩnh vực BHXH mà còn mô
tả các dấu hiệu pháp lý của các tội danh này Bên cạnh đó, luận án cũng đề xuất hoàn thiện một số quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính có liên quan nhằm tạo ra sự đồng bộ của hệ thống pháp luật liên quan đến việc phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cơ quan BHXH Việt Nam trong việc xây dựng các luận cứ khoa học để kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về yêu cầu tội phạm hóa một số hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH ở mức cần bị coi là tội phạm nhằm đảm bảo sự tôn nghiêm của pháp luật về BHXH, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao động, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động Kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về tội phạm trong một lĩnh vực chuyên ngành
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương I: Những vấn đề chung về tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Chương II: Bộ luật hình sự Việt Nam với việc áp dụng để xử lý tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Chương III: Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quy định
về tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Trang 13CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM TRONG
LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM
XÃ HỘI
1.1 KHÁI NIỆM TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1.1 Khái quát về bảo hiểm xã hội và định nghĩa tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Để có cơ sở cho việc xây dựng khái niệm về tội phạm trong lĩnh vực BHXH chúng ta cần bắt đầu từ bản chất, khái niệm BHXH để từ đó xác định những dạng hành vi có thể gây nguy hiểm đáng kể cho lĩnh vực BHXH và do vậy có thể bị coi là tội phạm thuộc lĩnh vực này
Với mục đích nhằm giảm thiểu tác động của các rủi ro mà người lao động thường phải đối mặt có thể làm cho tiền lương hằng tháng của họ bị gián đoạn hoặc mất đi cũng như làm phát sinh chi phí về chăm sóc y tế, tìm kiếm việc làm ảnh hưởng tới thu nhập người lao động nói riêng và tới đời sống xã hội nói chung, BHXH
đã ra đời với việc quy định trách nhiệm đóng góp của người sử dụng lao động kết hợp với dự phòng cá nhân có sự chia sẻ lẫn nhau dưới sự tổ chức, quản lý của nhà nước Đây là biện pháp hữu hiệu để khắc phục hậu quả của các rủi ro đối với người lao động và ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong chính sách xã hội của các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, ở đâu có quyền lợi thì ở đó cũng dễ nảy sinh vi phạm và tội phạm, BHXH cũng là lĩnh vực không nằm ngoài quy luật này
Bảo hiểm xã hội, theo Công ước 102 - Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội của Tổ chức lao động quốc tế ban hành năm 1952 bao gồm 9 chế độ: Bảo hiểm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp, y tế, trợ cấp gia đình và trợ cấp tàn tật Việt Nam hiện nay đang thực hiện 7 trong số 9 chế độ nói trên, đó là chế độ bảo hiểm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp
Thông qua hệ thống các chế độ trợ cấp, BHXH bù đắp hoặc thay thế thu nhập
cho người lao động và gia đình họ trước những sự kiện, những “rủi ro” mang tính xã
hội làm cho người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội Khi người lao động bị mất thu nhập do không thể lao động được hoặc sức lao động không được sử dụng (trường hợp thất nghiệp), BHXH thực hiện trả trợ cấp BHXH thay cho phần thu nhập bị mất này Khoản thu nhập thay thế này, tùy
Trang 14theo điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng của quỹ BHXH có thể bằng toàn bộ hoặc một phần thu nhập đã mất
Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của nước mình, các quốc gia trên thế giới lựa chọn mô hình BHXH phù hợp, đó có thể là một trong 3 mô hình sau hoặc
là mô hình có sự kết hợp của cả 3 mô hình này:
- Mô hình BHXH toàn dân (tập trung vào chương trình bảo hiểm hưu trí):
Mô hình này được thiết kế theo hướng trả cùng một khoản cho tất cả người già không phụ thuộc là trước đó có đi làm hay không cũng như trước đó đã đóng bao nhiêu vào quỹ hưu trí Trong các nước lựa chọn mô hình này có một số nước như Nam Phi, Canada, Thụy Điển
- Mô hình chương trình hưu trí đóng hưởng với mức hưởng xác định: Mô hình này còn được gọi là mô hình quỹ tồn tích cộng đồng Trong đó, nguồn quỹ được hình thành chủ yếu từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước Việc chi trả chỉ được thực hiện đối với người lao động đã đóng BHXH và mức hưởng được xác định theo mức đóng bình quân của thời gian đã tham gia BHXH Loại mô hình này thường được quản lý bởi các cơ quan nhà nước và được đa số các quốc gia lựa chọn trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, mô hình này đang bộc lộ một số khiếm khuyết, trong đó có sự mất cân đối về nguồn chi trả Nhiều quốc gia đang gặp khó khăn này như Đức, Pháp, Ý và ngay cả Mỹ cũng vậy
- Mô hình có mức đóng xác định: Đây là mô hình mà trong đó nguồn quỹ được hình thành do người lao động hoặc do chủ sử dụng lao động hoặc do người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp Mức hưởng của người lao động được xác định căn cứ vào số tiền đã đóng trước đó cũng như lãi suất từ hoạt động đầu tư số tiền đã đóng Vì mỗi người có một tài khoản riêng nên mô hình này còn được gọi là mô hình tài khoản cá nhân Đây là mô hình đang được
áp dụng ở một số nước Bắc Mỹ như Mexico, Costa Rica,…[32, tr 105]
Trong số các mô hình trên, mô hình mức đóng xác định được đánh giá là mô hình chiếm ưu thế do không gây áp lực cho việc tính toán cân đối quỹ BHXH, tuy nhiên nó lại làm mất đi tính chia sẻ trong cộng đồng - một yếu tố được cho là có tính đặc thù của bảo hiểm Mô hình BHXH mà mỗi nước lựa chọn phụ thuộc vào mục tiêu chính sách của quốc gia và điều kiện cụ thể của nền kinh tế Tuy nhiên, ngày nay với chiến lược toàn cầu hóa BHXH và bảo đảm xã hội cho tất cả mọi người, các nước đang từng bước cải cách hệ thống BHXH theo hướng xây dựng mô hình đa trụ cột trong sự lồng ghép các mô hình trên nhằm đảm bảo quyền thụ hưởng BHXH cho mọi
Trang 15thành viên trong xã hội
Hiện nay, khái niệm chung về BHXH ở bình diện quốc tế vẫn chưa được tất cả các quốc gia thống nhất sử dụng vì quan niệm về vấn đề này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố liên quan đến nhận thức, tập quán lựa chọn, khả năng quản lý… của từng quốc gia Chính vì vậy, khái niệm chung của Tổ chức lao động quốc tế về an sinh xã hội trong công ước 102 cũng được sử dụng trong lĩnh vực BHXH Theo đó,
BHXH có thể hiểu một cách khái quát là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh
tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già hoặc chết cũng như nhằm đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con
Ở Việt Nam, thuật ngữ BHXH thường được sử dụng với nội hàm hẹp hơn, chỉ bao gồm những trường hợp bảo hiểm thu nhập cho người lao động Vì vậy, BHYT thường được tách ra với tên gọi riêng, không thuộc khái niệm BHXH theo nghĩa hẹp, mặc dù đó là hình thức bảo hiểm mang tính xã hội và phi lợi nhuận Luật BHXH cũng không quy định các vấn đề về BHYT bởi đối tượng của BHYT là các chi phí về khám chữa bệnh và chăm sóc y tế, không phải là phần thu nhập của người lao động bị giảm hay mất đi một cách trực tiếp Người tham gia BHYT không bị giới hạn trong lực lượng lao động hay độ tuổi như các trường hợp BHXH theo nghĩa hẹp Tương tự như vậy, cũng có quan điểm cho rằng BHTN cũng không thuộc phạm trù của BHXH
do ở trường hợp này, phạm vi bảo hiểm không chỉ nhằm đảm bảo một phần thu nhập
bị mất do thất nghiệp mà còn có mục đích cung cấp các dịch vụ việc làm, đào tạo nghề nhằm đưa người thất nghiệp quay lại thị trường lao động Theo quan điểm chính thống hiện nay ở Việt Nam được thể hiện trong Luật BHXH thì BHTN thuộc nội hàm của BHXH vì mục đích cơ bản của BHTN là nhằm bù đắp một phần thu nhập cho người lao động trong thời gian bị thất nghiệp
Như vậy, theo nghĩa hẹp và cũng là nghĩa thông dụng ở Việt Nam, BHXH
được hiểu là sự đảm bảo bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết… trên cơ sở đóng góp và sử dụng một quỹ tài chính tập trung, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và an toàn xã hội [32, tr 16-17]
Hiện nay ở Việt Nam, Nhà nước thống nhất quản lý và giao cho cơ quan BHXH Việt Nam tổ chức tổ chức thực hiện 7 chế độ BHXH là: Bảo hiểm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp và BHYT Điều này cho thấy cần có một cách tiếp cận rộng hơn về BHXH, theo đó tất cả các hình thức bảo hiểm cho các rủi ro mang tính xã hội xảy ra đối với con người mà
Trang 16không mang tính lợi nhuận cần được đặt trong một tổng thể chung của lĩnh vực BHXH như ghi nhận trong Công ước số 102 của Tổ chức Lao động quốc tế Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu tổng thể của luận án, BHXH được được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả BHTN và BHYT
Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong quan hệ BHXH Đó là, bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH, cụ thể:
Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của
pháp luật BHXH Bên tham gia BHXH gồm có người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước tham gia trong một số trường hợp
Bên BHXH là bên nhận BHXH từ những người tham gia BHXH Bên BHXH
thường là một số tổ chức do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thể do tư nhân, tổ chức kinh tế - xã hội lập ra) và được Nhà nước bảo trợ, nhận sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động để hình thành quỹ BHXH Bên BHXH có trách nhiệm thực hiện thu khoản đóng góp BHXH và chi trả các chế độ BHXH cho bên được BHXH khi có sự kiện được BHXH phát sinh Ngoài ra, bên BHXH còn được quyền đầu tư khoản kinh phí tạm thời kết dư của quỹ BHXH để đảm bảo giá trị cho khoản tiền BHXH được chi trả cho bên được bảo hiểm Ở Việt Nam, bên BHXH được Nhà nước giao cho cơ quan BHXH Việt Nam thực hiện theo ngành dọc từ trung ương tới các địa phương và là cơ quan trực thuộc Chính phủ
Bên được BHXH là bên được quyền nhận các khoản trợ cấp BHXH khi có sự
kiện BHXH phát sinh Bên được BHXH có thể là người lao động tham gia BHXH và nhân thân của họ theo quy định của pháp luật
Giữa các bên trong quan hệ BHXH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Người lao động tham gia BHXH để bảo hiểm cho bản thân mình trên cơ sở san sẻ rủi ro của
số đông người lao động khác Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải tham gia BHXH để bảo hiểm cho người lao động mà mình đang sử dụng và cũng vì lợi ích của chính người sử dụng lao động để giảm thiểu tác động không mong muốn khi phát sinh các rủi ro hoặc các sự kiện BHXH của người lao động, đặc biệt là trong trường hợp các rủi ro, sự kiện BHXH này có quy mô đáng kể Nhà nước tham gia BHXH với hai tư cách Thứ nhất, Nhà nước tham gia với tư cách là người sử dụng các công chức
và những người hưởng lương từ ngân sách Khi đó, Nhà nước phải tham gia đóng góp BHXH thông qua kinh phí từ ngân sách, với tỷ lệ đóng góp tương đương người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp Thứ hai, Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là người bảo hộ cho quỹ BHXH trong những trường hợp cần thiết Khi tham gia
Trang 17với tư cách bảo hộ cho quỹ BHXH, Nhà nước là chủ thể quản lý và hoạch định chế
độ, chính sách BHXH, định hướng cho các hoạt động BHXH, bảo đảm cho quỹ BHXH cân đối được khả năng chi trả cũng như bảo đảm giá trị của các khoản tiền BHXH trước những biến động về giá cả sinh hoạt luôn có xu hướng tăng lên Khi mở rộng đối tượng tham gia BHXH trong nền kinh tế thị trường, bên tự nguyện tham gia BHXH chính là bên được BHXH như trong trường hợp người lao động tự tạo việc làm, họ vừa là người tham gia BHXH (một cách tự nguyện) vừa là người được quyền hưởng BHXH vì họ đóng BHXH để bảo hiểm cho chính bản thân họ mà không có sự chia sẻ từ phía người sử dụng lao động như trong trường hợp BHXH bắt buộc[38]
Có thể nói rằng, BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời và phát triển Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh được Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú Khi đã tham gia BHXH, người lao động được hưởng trợ cấp khi phải nghỉ việc do ốm đau; khi phải điều trị hoặc khám bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh họ được hưởng chế độ BHYT; khi sinh con hoặc nuôi con nuôi, được hưởng trợ cấp thai sản; khi bị thương tật do lao động, được hưởng trợ cấp tai nạn lao động; khi bị mắc bệnh do các nguyên nhân mang tính nghề nghiệp, được hưởng chế độ trợ cấp bệnh nghề nghiệp; khi bị mất việc làm, được hưởng bảo hiểm thất nghiệp; khi hết tuổi lao động, được hưởng chế độ hưu trí; khi chết, gia đình được trợ cấp tiền mai táng và trợ cấp tiền tuất Điều này đã cho thấy, BHXH đóng vai trò trực tiếp và quan trọng trong việc ổn định đời sống của người lao động, qua đó có tác động tích cực tới thị trường lao động và góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an sinh xã hội Như vậy, có thể nói rằng, BHXH là một loại hình bảo hiểm tồn tại tất yếu trong một xã hội phát triển, và tầm quan trọng của nó
được ví như trong câu ngạn ngữ của người Đức: “Cuộc sống không có bảo hiểm như
cầu thang không có tay vịn.”
Tuy nhiên, quyền được hưởng các chế độ BHXH nêu trên chỉ có thể được bảo đảm khi nghĩa vụ đóng BHXH được thực hiện đầy đủ Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH Ngoài ra, quỹ BHXH còn có thể có các nguồn thu khác như từ lãi suất đầu tư phần quỹ BHXH tạm thời kết dư, khoản nộp phạt của các đơn vị chậm nộp BHXH theo quy định của pháp luật v.v Quỹ BHXH dùng để chi trả các trợ cấp BHXH và chi phí cho các hoạt động quản lý của bộ máy cơ quan
Trang 18BHXH Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định Nhà nước quản lý và bảo hộ các hoạt động của BHXH Với những đặc trưng nêu trên, quan hệ xã hội trong lĩnh vực BHXH là mối quan hệ đa dạng và nhiều chiều, nhiều tầng; có những mối quan hệ bên trong hệ thống BHXH và quan hệ bên ngoài liên quan tới tất cả các ngành, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội thông qua hoạt động đóng và thu BHXH Nói cách khác, mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH
Và, để bảo vệ các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực BHXH, việc quy định các hành vi bị coi là tội phạm trong lĩnh vực BHXH được rất nhiều nước trên thế giới quan tâm từ nhiều thập kỷ trước Tuy nhiên, tội phạm trong lĩnh vực BHXH không được quy định thành nhóm tội riêng trong BLHS của nhiều quốc gia, trong đó
có Việt Nam Hiện nay, chúng ta không chỉ không có định nghĩa trong luật về nhóm tội phạm này mà cũng không có định nghĩa khoa học về tội phạm trong lĩnh vực BHXH trong các sách báo pháp lý của Việt Nam cũng như của nhiều quốc gia khác
mà tác giả có điều kiện tìm hiểu Các sách báo pháp lý thường chỉ đề cập đến hành vi
vi phạm pháp luật về BHXH (như hành vi trốn đóng BHXH, hành vi gian lận bảo hiểm ) cũng như hình thức xử phạt đối với các hành vi này
Tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng như tội phạm trong các lĩnh vực chuyên biệt khác đều là một bộ phận của tội phạm nói chung Vì vậy, về nguyên tắc, khái niệm tội phạm trong lĩnh vực BHXH không những phải thoả mãn các dấu hiệu của tội phạm nói chung mà còn phải phản ánh những dấu hiệu riêng thể hiện nét đặc thù của tội phạm trong lĩnh vực chuyên biệt này
Tội phạm trong lĩnh vực BHXH có thể được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa hẹp, tội phạm trong lĩnh vực BHXH chỉ bao gồm các hành vi trực tiếp vi phạm các quy định của pháp luật BHXH ở mức độ bị coi là tội phạm Theo nghĩa này, tội phạm
trong lĩnh vực BHXH có thể được gọi là tội phạm trong lĩnh vực BHXH có tính riêng
biệt (chỉ xảy ra trong lĩnh vực BHXH) Theo nghĩa rộng, tội phạm trong lĩnh vực
BHXH bao gồm không chỉ tội phạm theo nghĩa hẹp này mà còn cả các tội phạm khác
xảy ra trong lĩnh vực BHXH Các tội phạm khác này có thể được gọi chung là tội
phạm trong lĩnh vực BHXH không có tính riêng biệt (có thể xảy ra trong nhiều lĩnh
vực, trong đó có lĩnh vực BHXH) Như vậy, tội phạm trong lĩnh vực BHXH theo nghĩa rộng bao gồm tội phạm trong lĩnh vực BHXH có tính riêng biệt và tội phạm trong lĩnh vực BHXH không có tính riêng biệt Do có các cách hiểu khác nhau như vậy mà cũng có thể có những định nghĩa khác nhau về tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Trang 19Theo nghĩa hẹp, hành vi bị coi là tội phạm trong lĩnh vực BHXH là hành vi xâm hại các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động BHXH qua việc vi phạm trực tiếp các quy định về đóng và hưởng BHXH, gây ra hoặc đe dọa gây
ra thiệt hại đáng kể cho xã hội
Ngoài các hành vi như vậy còn có các hành vi khác cũng xâm hại quan hệ BHXH và các hành vi này được quy định tại các chương khác nhau của BLHS như hành vi tham ô tài sản được quy định trong nhóm các tội phạm về tham nhũng của chương các tội phạm về chức vụ Hành vi tham ô tài sản có thể xảy ra trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực BHXH Khi xảy ra trong lĩnh vực BHXH, tội tham ô sẽ xâm hại quan hệ BHXH, gây thiệt hại cho Nhà nước là một bên của quan
hệ BHXH Các tội phạm như tội tham ô tài sản xảy ra trong lĩnh vực BHXH tuy không có tính riêng biệt cho lĩnh vực BHXH như các tội phạm trực tiếp vi phạm pháp luật BHXH nhưng cũng cần được coi là tội phạm thuộc lĩnh vực BHXH vì cùng tính chất là xâm hại sự ổn định, bình thường của quan hệ xã hội phát sinh trong thực hiện hoạt động BHXH Việc coi các tội phạm này cũng là tội phạm thuộc lĩnh vực BHXH
sẽ tạo điều kiện cho sự thống nhất trong chính sách xử lý cũng như trong biện pháp phòng ngừa
Thông thường, các hành vi vi phạm trực tiếp pháp luật BHXH ở mức độ nghiêm trọng được các quốc gia quy định là tội phạm ngay trong các văn bản luật về BHXH hoặc trong BLHS tại các điều luật riêng biệt Ở Việt Nam, trong BLHS hiện hành không có các điều luật riêng về tội phạm trong lĩnh vực BHXH; còn trong các văn bản luật về BHXH cũng không có quy định về tội phạm cụ thể mà chỉ quy định chung là cho phép có thể truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm Trong trường hợp này, các hành vi vi phạm trực tiếp pháp luật BHXH chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các tội danh chung tương ứng đã được
quy định trong BLHS Ví dụ: Hành vi xuất trình hồ sơ giả mạo để hưởng chế độ
BHXH một cách trái pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đây thực chất là một dạng hành vi gian lận bảo hiểm nhưng chỉ có thể bị xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tội danh chung vì chưa có tội danh riêng
Việc quy định tội phạm trong lĩnh vực BHXH trong luật hình sự có sự khác nhau giữa hai nhóm tội Các tội phạm trong lĩnh vực BHXH không có tính riêng biệt
có thể được quy định ở các chương tương ứng của BLHS Các tội phạm vi phạm trực tiếp pháp luật BHXH có thể được quy định trong chính các văn bản pháp luật BHXH cùng với các quy định về vi phạm pháp luật BHXH như ở Hoa Kỳ, Philippin, Thái Lan hoặc có thể được pháp điển hoá thành điều luật riêng trong BLHS như ở Cộng
Trang 20hòa Liên bang Đức nơi hệ thống BHXH xuất hiện đầu tiên trên thế giới vào cuối thế
kỷ XIX Trong BLHS của Cộng hòa Liên bang Đức, hành vi không nộp BHXH cho người lao động hoặc đã trích tiền BHXH từ tiền lương của người lao động mà không nộp cho cơ quan có thẩm quyền được quy định là tội phạm tại Điều 266a Ở Việt Nam, BLHS hiện hành chưa quy định về tội phạm trong lĩnh vực BHXH có tính riêng biệt Do vậy, tội phạm trong lĩnh vực BHXH ở Việt Nam chỉ bao gồm một số hành vi phạm tội đã được quy định chung trong BLHS và xảy ra trên thực tế trong lĩnh vực BHXH
Từ các phân tích trên có thể định nghĩa tội phạm trong lĩnh vực BHXH một cách chung nhất như sau:
Tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật BHXH, được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình sự hoặc trong các luật liên quan đến BHXH, gây thiệt hại cho quỹ BHXH, cho quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia BHXH.
Các luật liên quan đến BHXH ở đây có thể là luật BHXH, Luật BHYT, luật BHTN… tuỳ theo quy định của pháp luật ở mỗi quốc gia Tuy nhiên, ở Việt Nam do chúng ta chưa cho phép tội phạm và hình phạt được quy định trong các luật chuyên
ngành nên tội phạm trong lĩnh vực BHXH có thể được định nghĩa là: Những hành vi
nguy hiểm cho xã hội xâm hại những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật BHXH, được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình
sự, gây thiệt hại cho quỹ BHXH, cho quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia
BHXH.
Như vậy, đối với các quốc gia cho rằng nguồn trực tiếp của luật hình sự chỉ là BLHS như Việt Nam thì tội phạm trong lĩnh vực BHXH dù thuộc nhóm nào - nhóm chỉ xảy ra trong lĩnh vực BHXH hay nhóm có thể xảy ra ở các lĩnh vực khác nhau đều chỉ được quy định trong BLHS
Đối với các quốc gia cho rằng nguồn trực tiếp của luật hình sự không chỉ là BLHS mà còn có thể là các luật khác thì tội phạm trong lĩnh vực BHXH có thể được quy định trong BLHS và trong các luật khác Trước hết, các tội phạm có tính chất chung cho nhiều lĩnh vực như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội tham ô tài sản…được quy định trong BLHS hoặc trong một văn bản luật cụ thể khi chưa có BLHS Các tội phạm trong lĩnh vực BHXH có tính riêng biệt có thể được quy định trong BLHS hoặc trong chính các luật riêng biệt về BHXH Trong các luật riêng biệt về BHXH, nhà làm luật có thể quy định các hành vi vi phạm và các tội phạm, trong đó tội phạm là các hành vi vi phạm luật BHXH ở mức độ nghiêm trọng và do vậy có tính nguy hiểm
Trang 21cho xã hội của tội phạm BLHS cũng có thể quy định các tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm tương đối thông thường và ổn định trên cơ sở pháp điển hoá các hành vi phạm tội đã được quy định trong các luật riêng biệt về BHXH
Tóm lại, hoạt động BHXH là quá trình thu, chi và quản lý quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng góp của những người tham gia BHXH nên những hành vi
bị coi là tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng không nằm ngoài quá trình thu, chi và quản lý hoạt động BHXH đó Như vậy, có thể chia những hành vi này thành ba nhóm như sau:
Thứ nhất, nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH
Thứ hai, nhóm hành vi vi phạm quyền thụ hưởng BHXH; và
Thứ ba, nhóm hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và thực hiện hoạt động
BHXH
Và, tội phạm trong lĩnh vực BHXH được hiểu trong luận án này theo nghĩa rộng, bao gồm cả nhóm tội phạm trong lĩnh vực BHXH có tính riêng biệt và nhóm tội phạm trong lĩnh vực BHXH không có tính riêng biệt
1.1.2 Các đặc điểm chung của tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Tội phạm trong lĩnh vực BHXH trước hết cũng là tội phạm Do đó, xét về nội dung chính trị - xã hội và nội dung pháp lý, tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng có các đặc điểm (dấu hiệu) của tội phạm nói chung, đó là tính nguy hiểm cho xã hội, tính
có lỗi, tính trái pháp luật hình sự, đồng thời biểu hiện của những dấu hiệu này cũng
có điểm riêng do đây là những tội phạm xảy ra trong một lĩnh vực chuyên biệt
Về các đặc điểm của tội phạm, có quan điểm cho rằng tính phải chịu hình phạt
là một dấu hiệu của tội phạm, có nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe dọa có thể phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt [29,tr 57-59] Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng “tính phải chịu hình phạt”
chính là hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải chịu nếu hành vi của họ thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của một tội cụ thể được quy định trong BLHS Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, khi phân tích các dấu hiệu của tội phạm trong lĩnh vực BHXH, tác giả chỉ phân tích ba dấu hiệu: Tính nguy hiểm cho xã hội; tính có lỗi
và tính trái pháp luật hình sự
- Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Dấu hiệu “Tính nguy hiểm cho xã hội” là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất
trong các dấu hiệu của tội phạm và nó quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm Tính nguy hiểm cho xã hội là căn cứ để phân biệt hành vi phạm tội với hành vi vi
Trang 22phạm khác và cũng là cơ sở đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội khi xác định trách nhiệm hình sự của người thực hiện tội phạm[19, tr.20]
Nguy hiểm cho xã hội nghĩa là hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật Nhà làm luật khi xác định một hành vi nào đó là nguy hiểm cho xã hội và quy định trong BLHS chẳng qua chỉ là thừa nhận một thực tế khách quan đã tồn tại thông qua việc nhận thức và đánh giá các tình tiết khác nhau của hành vi hoặc
có liên quan đến hành vi Những tình tiết đó bao gồm:
+ Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại;
+ Mức độ thiệt hại gây ra hoặc bị đe dọa gây ra cho quan hệ xã hội bị xâm hại; + Tính chất, mức độ lỗi;
+ Động cơ, mục đích của người có hành vi phạm tội;
+ Hoàn cảnh phạm tội, nhân thân người phạm tội
Những tình tiết trên không những có ý nghĩa đối với người áp dụng pháp luật
mà trước hết nó là cơ sở để các nhà làm luật xác định những hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội và cấu thành tội phạm để quy định trong BLHS[29, Tr 54] Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần hiểu như thế nào về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong lĩnh vực BHXH?
Căn cứ vào đặc điểm và tính chất của BHXH, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong lĩnh vực BHXH thể hiện ở việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ BHXH qua vi phạm các nghĩa vụ phát sinh do luật định liên quan đến quan hệ đóng, hưởng và quản lý hoạt động BHXH Mức độ gây thiệt hại cho quan hệ BHXH của các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH có thể phụ thuộc chủ yếu vào hai nhóm yếu tố sau:
- Mức độ thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra cho quỹ BHXH được tính thành tiền;
- Mức độ thiệt hại được xác định bằng số lượng hồ sơ sai phạm, số lượng người lao động bị thiệt hại do hành vi vi phạm, khoảng thời gian mà hành vi vi phạm diễn ra
Đối với nhiều nước trên thế giới, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong lĩnh vực BHXH được xác định và mô tả rõ ngay trong luật chuyên ngành Nếu tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng kể thì chỉ bị coi là vi phạm và bị xử phạt hành chính, nếu hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì hành vi bị coi
Trang 23là tội phạm và người thực hiện hành vi đó có thể bị áp dụng chế tài hình sự
Như đã trình bày, tội phạm trong lĩnh vực BHXH bao gồm hai nhóm tội: nhóm tội phạm trong lĩnh vực BHXH có tính riêng biệt chỉ xảy ra trong lĩnh vực BHXH hay nói cách khác là nhóm tội phạm vi phạm trực tiếp quy định của pháp luật BHXH và nhóm tội phạm trong lĩnh vực BHXH không có tính riêng biệt, có thể xảy ra trong lĩnh vực BHXH cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế - xã hội Hai nhóm tội phạm này có thể được gọi tắt là nhóm tội phạm có tính riêng biệt và nhóm tội phạm không có tính riêng biệt Chúng có điểm chung cũng như điểm riêng về tính nguy hiểm cho xã hội Cụ thể:
Nhóm tội phạm không có tính riêng biệt tuy cũng xâm hại quan hệ BHXH nhưng trước hết xâm hại quan hệ xã hội khác được luật hình sự bảo vệ Do vậy, tính nguy hiểm cho xã hội của nhóm tội phạm này được quy định trước hết bởi tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị trực tiếp xâm hại Đồng thời, tính nguy hiểm cho xã hội của nhóm tội phạm này còn được quy định bởi tính chất quan trọng của quan hệ BHXH Tùy thuộc vào từng tội mà nhóm tội phạm này có thể có tính nguy hiểm của tội phạm về tham nhũng như tội tham ô tài sản (trong lĩnh vực BHXH), tội phạm về xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (như tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng v.v ) Nhưng đồng thời các tội phạm thuộc nhóm tội phạm này cũng có tính nguy hiểm chung của tội phạm trong lĩnh vực BHXH Do vậy, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của nhóm tội phạm này không chỉ phụ thuộc vào tính chất và mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra cho quan hệ BHXH mà còn phụ thuộc vào tính chất và mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra cho quan hệ xã hội mà hành vi phạm tội trực tiếp nhằm tới
Đối với nhóm tội phạm có tính riêng biệt, tính nguy hiểm cho xã hội được quy định trước hết bởi tính chất quan trọng của những nghĩa vụ phát sinh do luật định trong quan hệ BHXH, là quan hệ giữa nhà nước và các bên của quan hệ lao động (các bên của quan hệ lao động bao gồm người lao động và người sử dụng lao động), trong
đó Nhà nước là chủ thể tổ chức, quản lý việc thu các khoản đóng BHXH từ người sử dụng lao động và người lao động để chi các chế độ BHXH cho người lao động khi có
sự kiện BHXH xảy ra Xét ở phạm vi một cá nhân, chế độ BHXH giúp ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro trong cuộc sống, xét trên bình diện rộng thì BHXH góp phần không nhỏ vào việc duy trì sự ổn định xã hội
Hiện nay, trên thế giới, tiêu chí để đánh giá mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH là đáng kể hay không đáng
kể được xác định khác nhau giữa các quốc gia Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và phương thức thực hiện BHXH mà mỗi quốc gia có những quy
Trang 24định riêng phù hợp Nhưng dù được thực hiện theo phương thức nào - phương thức hình thành quỹ BHXH tập trung hay phương thức tài khoản cá nhân, dù BHXH được thu trực tiếp từ người sử dụng lao động hay thu thông qua thuế thì quỹ BHXH vẫn được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động và nói chung, những hành vi bị coi là tội phạm trong lĩnh vực BHXH đều vi phạm nghĩa vụ đóng góp hoặc quyền thụ hưởng chế độ hay các quy định về quản lý hoạt động BHXH, nghĩa là đều có ảnh hưởng ở mức độ khác nhau đến quan hệ BHXH Tuỳ thuộc vào chính sách hình sự cũng như chính sách BHXH của mỗi quốc gia mà những hành vi vi phạm này bị quy định phải chịu các chế tài xử phạt nặng nhẹ khác nhau trong luật hình sự hoặc trong các luật về BHXH
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong lĩnh vực BHXH (bao gồm cả hai nhóm tội) thể hiện ở việc vi phạm các nghĩa vụ phát sinh do luật định liên quan đến quan hệ BHXH, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quỹ BHXH, cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Sự gây thiệt hại này được thể hiện như sau:
Thứ nhất, đối với nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH
Những hành vi của người sử dụng lao động trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động trước hết chứa đựng nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp về BHXH của người lao động trước mắt cũng như lâu dài, là nguyên nhân có thể gây bất ổn xã hội Đồng thời, hành vi này còn ảnh hưởng trực tiếp đến quỹ BHXH theo chiều hướng giảm thiểu, ảnh hưởng đến mục đích chia sẻ rủi ro của quỹ BHXH Trên thế giới, tỷ lệ đóng BHXH tuy được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia nhưng đa số các quốc gia đều quy định người sử dụng lao động
phải đóng một tỷ lệ bằng hoặc cao hơn so với tỷ lệ đóng của người lao động Ví dụ: Ở
Philippin, pháp luật quy định mức đóng vào quỹ an sinh xã hội là 10,4%, trong đó người sử dụng lao động đóng 7,07%, người lao động đóng 3,33% trên mức lương tháng của người lao động; ở Anh, mức đóng vào quỹ BHXH quốc gia là 23,8%, trong
đó người lao động đóng 11%, người sử dụng lao động đóng 12,8% trên thu nhập của người lao động
Ở Việt Nam, tỷ lệ đóng của người sử dụng lao động vào quỹ BHXH là khá cao, mức đóng BHXH tính đến tháng 12/2009 là 7% trên mức tiền lương tháng đối với người lao động và 18% tổng quỹ tiền lương đối với người sử dụng lao động, tổng
số là 25% (kể cả đóng BHYT và BHTN) Từ năm 2010 tỷ lệ này đã được điều chỉnh tăng theo lộ trình do Luật BHXH và BHYT quy định với tổng số là 29,5% trên tổng quỹ tiền lương của đơn vị sử dụng lao động, trong đó mức đóng của người sử dụng lao động là 20%, mức đóng của người lao động là 8.5% và Nhà nước đóng hỗ trợ
Trang 25BHTN là 1% Từ năm 2012, tỷ lệ đóng BHXH tăng thêm 2%, nâng mức đóng BHXH (bao gồm cả BHTN và BHYT) lên 31,5%, trong đó người sử dụng lao động có nghĩa
vụ đóng 21% trên tổng quỹ tiền lương, người lao động đóng 9,5% tiền lương tháng và Nhà nước đóng hỗ trợ BHTN 1% trên tổng quỹ tiền lương của đơn vị sử dụng lao động Điều này cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH của người sử dụng lao động Việc có đảm bảo được quỹ BHXH hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc tuân thủ nghĩa vụ đóng của người sử dụng lao động Trái lại, cũng chính vì điều này mà nhiều chủ sử dụng lao động ở khu vực kinh tế tư nhân lại tìm mọi cách để có thể lẩn tránh nghĩa vụ đóng BHXH hoặc chỉ đóng BHXH cho người lao động với mức thấp Sự trốn tránh này có thể ở những mức độ khác nhau nhưng đều có tính nguy hiểm cho xã hội, đe dọa đến hoạt động bình thường của quỹ BHXH, ảnh hưởng đến quyền được tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH của người lao động, trong đó có trường hợp mà mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội là đáng kể, cần bị coi là tội phạm
Thứ hai, nhóm các hành vi vi phạm quy định về quyền thụ hưởng BHXH
Những hành vi vi phạm quy định về quyền thụ hưởng BHXH được nói ở đây
là những hành vi gian lận qua làm sai lệnh hồ sơ, làm giả hồ sơ, giấy tờ để hưởng các chế độ BHXH (của người lao động hoặc những người có trách nhiệm liên quan)
để chiếm đoạt tiền của quỹ BHXH Những hành vi này trước hết gây thiệt hại trực tiếp cho quỹ BHXH, làm cho quỹ BHXH phải chi các khoản chi sai và qua đó gián tiếp gây thiệt hại cho quyền lợi hợp pháp của người lao động tham gia BHXH Các hành vi vi phạm các quy định này, dù ở mức độ nào cũng có tính nguy hiểm nhất định cho xã hội, cần bị xử lý bởi các chế tài phù hợp, là chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự
Về lý thuyết, có thể có những hành vi vi phạm quy định về quyền thụ hưởng BHXH theo hướng bất lợi cho người lao động như giải quyết sai chế độ BHXH cho người lao động, để họ được hưởng mức thấp hơn mức mà họ được hưởng theo quy định Những hành vi vi phạm này gây thiệt hại trực tiếp cho quyền lợi BHXH của người lao động Tuy nhiên, trên thực tế, những trường hợp này đều có thể được giải quyết bằng con đường hành chính và thường không có tính phổ biến Cho nên các quốc gia nói chung đều không quy định phải áp dụng biện pháp hình sự đối với những hành vi này
Thứ ba, các hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và thực hiện hoạt động BHXH
Để đảm bảo cho hệ thống BHXH hoạt động bình thường đòi hỏi các quy định
Trang 26pháp luật nhất định phải được tuân thủ, những quy định này có thể là những quy định chung trong quản lý kinh tế, quản lý tài sản nhưng cũng có thể là những quy định riêng đối với hoạt động quản lý BHXH Việc vi phạm những quy định về quản lý này
có thể dẫn đến thất thoát tài sản của quỹ BHXH, không những ảnh hưởng đến quỹ BHXH về mặt tài chính theo chiều hướng giảm thiểu mà còn có thể gián tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, qua đó làm giảm niềm tin của người lao động vào việc thực hiện chính sách BHXH của Nhà nước Do có tính nguy hiểm cho
xã hội như vậy mà những hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự tuỳ theo mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội
Như vậy, có thể thấy rằng, tất cả những hành vi phạm tội trong lĩnh vực BHXH đều gây thiệt hại trực tiếp cho quỹ BHXH, qua đó đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích trước mắt cũng như lợi ích lâu dài của người lao động nói riêng và cho sự ổn định của xã hội nói chung thông qua việc xâm phạm đến sự vận động bình thường của quan hệ BHXH Đây chính là yếu tố cơ bản quyết định đến tính nguy hiểm cho xã hội của những hành vi phạm tội trong lĩnh vực BHXH
- Tính có lỗi của tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Cùng với “tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm”, “tính có lỗi” cũng là dấu
hiệu về nội dung của tội phạm Một người được coi là có lỗi khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu hành vi này là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội
Sự thừa nhận tính có lỗi của tội phạm là một nguyên tắc cơ bản của luật hình
sự Việt Nam - nguyên tắc có lỗi Nguyên tắc này xuất phát từ mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội trong luật hình sự [19, tr.22] Chúng ta áp dụng hình phạt không phải để trừng trị hành vi mà để trừng trị người đã thực hiện tội phạm nhằm cải tạo, giáo dục họ Mục đích cải tạo, giáo dục chỉ có thể đạt được nếu hình phạt được áp dụng cho người có lỗi, còn đối với người không có lỗi, hình phạt không phát huy được tác dụng giáo dục [29, tr 55]
Điều kiện để người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể có lỗi (cố ý hoặc vô ý) khi thực hiện hành vi đó là họ phải có năng lực trách nhiệm hình sự Năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội
Như vậy, “Người có năng lực trách nhiệm hình sự bị coi là có lỗi nếu khi thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người đó nhận thức được hoặc có đủ điều kiện để nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và có đủ điều kiện lựa chọn,
Trang 27thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội” [19, tr.91-92]
Cũng như tội phạm nói chung, tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng đòi hỏi phải có dấu hiệu có lỗi Nếu như lỗi của tội phạm nói chung là sự phủ định chủ quan - phủ định trong ý thức chủ quan của chủ thể các đòi hỏi của xã hội được cụ thể hoá qua các đòi hỏi của luật hình sự thì lỗi của tội phạm trong lĩnh vực BHXH là sự phủ định chủ quan các đòi hỏi về nghĩa vụ của pháp luật BHXH được đặt ra cho các bên tham gia quan hệ BHXH
Tính có lỗi của tội phạm nói chung được biểu hiện cụ thể ở lỗi cố ý hoặc lỗi vô
ý Theo đó, lỗi ở tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng có thể là cố ý hoặc vô ý3
- Tính trái pháp luật hình sự của tội phạm trong lĩnh vực BHXH
Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu có “tính trái
pháp luật hình sự”, hay nói cách khác, tính trái pháp luật hình sự là đặc điểm đòi hỏi
phải có ở hành vi bị coi là tội phạm Việc quy định này là thừa nhận nguyên tắc đã
được ghi nhận trong tuyên ngôn về nhân quyền của Liên hợp quốc: “Không ai bị kết
án về một hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia hay quốc tế không coi là tội phạm”
Tính trái pháp luật hình sự có thể được hiểu là một dấu hiệu mà trong đó có
nội dung chính là được quy định trong luật hình sự [19, tr.23] Theo đó, tội phạm
trong lĩnh vực BHXH chỉ có thể là các hành vi nguy hiểm cho xã hội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho quan hệ BHXH đã được quy định trong luật hình sự Đó có thể là BLHS hoặc văn bản luật khác Cụ thể, tội phạm trong lĩnh vực BHXH có thể được quy định trực tiếp trong BLHS (cũng có thể chỉ là văn bản luật hình sự) hoặc có thể được quy định trong các luật về BHXH4
1.2 CÁC YẾU TỐ CỦA TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI
Xét về nội dung chính trị - xã hội và nội dung pháp lý, tội phạm nói chung
cũng như tội phạm trong lĩnh vực BHXH có các dấu hiệu (đặc điểm) như đã được trình bày; xét về cấu trúc, tội phạm nói chung cũng như tội phạm trong lĩnh vực BHXH có 4 yếu tố hợp thành Đó là khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan
1.2.1 Khách thể của tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại, theo khoa học luật hình sự, được coi là khách thể của tội phạm Các quan hệ xã hội có ý nghĩa
Trang 28khác nhau đối với sự củng cố và phát triển của xã hội và được Nhà nước bảo vệ bằng những loại quy phạm khác nhau với những biện pháp chế tài khác nhau Khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội bị gây thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại ở mức độ nhất định, được Nhà nước xác định cần được bảo vệ bằng pháp luật hình sự
Trong pháp luật hình sự của các quốc gia, các hành vi phạm tội trong lĩnh vực BHXH tuy được sắp xếp theo các cách khác nhau, có thể là trong các chương khác nhau của BLHS (như Cộng hòa Liên bang Đức) hoặc trong cùng một chương của BLHS (như Cộng hòa Slovenia) hoặc trong cùng một nhóm hành vi bị coi là tội phạm trong các luật chuyên ngành về BHXH (như Philippin, Thái Lan…) v.v nhưng đều
có tính chất chung là xâm phạm đến quan hệ BHXH được pháp luật hình sự bảo vệ
Ở Việt Nam, BLHS chưa có các quy định riêng về tội phạm trong lĩnh vực BHXH Nhưng với việc khẳng định trong các luật chuyên ngành về BHXH (Luật BHXH và Luật BHYT) về trách nhiệm hình sự của các hành vi vi phạm pháp luật BHXH thì có thể hiểu rằng các quan hệ xã hội trong lĩnh vực BHXH là nhóm quan hệ
xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và có thể trở thành khách thể của tội phạm Đó
là quan hệ giữa các chủ thể - Nhà nước, cơ quan BHXH, người sử dụng lao động và người lao động Quan hệ này được hình thành, duy trì và phát triển là nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi trực tiếp cho người lao động và qua đó đảm bảo cho sự ổn định của xã hội nói chung Quan hệ xã hội trong lĩnh vực BHXH chỉ có thể duy trì và phát triển để thực hiện chức năng xã hội tốt đẹp đó khi các chủ thể thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, xuất phát từ chính nghĩa vụ và quyền lợi của các bên trong quan hệ BHXH đã dẫn tới nguy cơ các chủ thể không tuân thủ nghĩa vụ
ở những mức độ khác nhau Như vậy, với tầm quan trọng của BHXH đối với sự ổn định xã hội và hơn nữa với nguy cơ dễ bị xâm phạm, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực BHXH cần được xác định là nhóm quan hệ xã hội phải được bảo vệ bằng pháp luật hình sự Hay nói cách khác, quan hệ BHXH phải được coi là khách thể bảo vệ của pháp luật hình sự và trong trường hợp bị xâm phạm ở mức độ đáng kể, quan hệ BHXH trở thành khách thể của tội phạm trong lĩnh vực BHXH
1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Cũng như các tội phạm khác, yếu tố mặt khách quan của tội phạm trong lĩnh vực BHXH gồm trước hết là hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, bên cạnh đó còn có thể là thủ đoạn phạm tội, thời gian phạm tội
* Về hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội phạm trong lĩnh vực
Trang 29BHXH tuy đa dạng nhưng có cùng tính chất là vi phạm nghĩa vụ phát sinh trong quá trình thực hiện BHXH Đó có thể là không làm, làm không đúng yêu cầu của pháp luật BHXH hoặc làm những việc mà pháp luật BHXH không cho phép Các hành vi này có thể chia thành hai nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất là nhóm hành vi vi phạm trực tiếp quy định về đóng BHXH
Nhóm hành vi này bao gồm:
- Hành vi của người sử dụng lao động không tham gia BHXH cho người lao động và do vậy không đóng BHXH cho người lao động Do không tham gia, không đóng BHXH cho người lao động nên có thể chủ sử dụng lao động cũng không khấu trừ tiền đóng BHXH của người lao động (từ tiền lương của người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc) để nộp vào quỹ BHXH Hành vi này thường được gọi là
hành vi trốn đóng BHXH cho người lao động;
- Hành vi của người sử dụng lao động tuy tham gia BHXH cho người lao động nhưng không phải tham gia cho tất cả mà chỉ tham gia cho một bộ phận Trong trường hợp này, chủ sử dụng lao động không tham gia và do vậy không đóng BHXH cho một bộ phận người lao động và họ cũng có thể không khấu trừ tiền đóng BHXH của những người lao động này để nộp vào quỹ BHXH Hành vi này có thể được gọi
là hành vi không đóng BHXH cho đủ số người lao động;
- Hành vi của người sử dụng lao động tuy tham gia BHXH cho người lao động nhưng không nộp tiền BHXH cho cơ quan BHXH đúng thời hạn (hành vi chậm đóng BHXH) mặc dù họ đã khấu trừ tiền đóng BHXH từ tiền lương của người lao động
Hành vi này được gọi là hành vi không đóng đúng hạn BHXH cho người lao động;
- Hành vi của người sử dụng lao động tuy tham gia BHXH cho người lao động nhưng không đảm bảo đúng mức mà thấp hơn mức quy định Hành vi này được gọi là
hành vi không đóng đủ mức BHXH cho người lao động
Bốn loại hành vi kể trên đều vi phạm trực tiếp nghĩa vụ đóng BHXH, gây thiệt hại trước hết về tài chính cho quỹ BHXH Ngoài ra, nhóm hành vi này còn đe dọa gây thiệt hại cho người lao động cả ở hiện tại và trong tương lai
Ngoài bốn hành vi kể trên còn có hành vi thứ năm có thể cũng được coi thuộc nhóm này Đó là hành vi (của người sử dụng lao động) không cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cung cấp những thông tin, tài liệu giả liên quan đến vấn đề này Hành vi này tuy không vi phạm quy định về nghĩa vụ đóng trong quan hệ BHXH nhưng đã vi phạm quy định về trách nhiệm của bên sử dụng lao động trong việc đảm bảo điều kiện cho việc kiểm tra, kiểm soát nghĩa vụ đóng
Trang 30BHXH của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Nhóm thứ hai - nhóm hành vi vi phạm trực tiếp quy định về quyền thụ hưởng BHXH, nhóm này bao gồm:
- Hành vi dùng thủ đoạn gian dối (khai man hoặc làm giả hồ sơ) để cho mình hoặc để cho người khác hưởng BHXH;
- Hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong hệ thống BHXH (có thể bao gồm cả hệ thống cơ sở y tế, hệ thống cơ quan lao động) làm trái quy định pháp luật trong giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội (sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ để chiếm đoạt tiền BHXH)
- Hành vi của người có thẩm quyền đã cấp Biên bản giám định khả năng lao động không đúng để người lao động hưởng các chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí trái pháp luật, hành vi của người có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận nghỉ hưởng BHXH không đúng để người lao động hưởng trợ cấp bảo hiểm ốm đau trái pháp luật5 Đây thực chất là hành vi tạo điều kiện cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH trái pháp luật;
Ba loại hành vi kể trên đều vi phạm quy định về hưởng BHXH, gây thiệt hại
về tài chính cho quỹ BHXH Trên thế giới, các hành vi này thường được gọi là nhóm hành vi gian lận BHXH Biểu hiện cụ thể của nhóm này rất đa dạng, có thể là các hành vi dùng thẻ BHXH, BHYT giả, dùng đối tượng “ảo” để truy cập vào hệ thống máy tính, máy rút tiền để nhận tiền BHXH bất hợp pháp, có thể là hành vi tạo ra sự kiện bảo hiểm xã hội để được hưởng chế độ BHXH hoặc làm sai lệch hồ sơ để đủ điều kiện hưởng chế độ BHXH
Nhóm thứ ba là nhóm các hành vi vi phạm có liên quan đến quản lý và thực hiện hoạt động BHXH Thuộc về nhóm này là những hành vi sau:
- Hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong hệ thống BHXH chiếm đoạt hoặc để người khác chiếm đoạt tiền của hệ thống BHXH Theo pháp luật hình sự Việt Nam cũng như một số nước khác, hành vi này là hành vi khách quan của tội tham ô tài sản (Ví dụ, theo Điều 104 Luật BHXH của Iran, quỹ và các tài sản khác của tổ chức BHXH được coi là tài sản và quỹ công, việc sử dụng trái pháp luật các quỹ BHXH sẽ bị coi là đã tham ô, sở hữu bất hợp pháp và bị truy tố theo các điều khoản
5 Ngày 11/9/2009, Tòa án tỉnh tại Brno (Cộng hòa Séc) đã tuyên án 8 năm tù và phạt nửa triệu cu-ron với bà bác sĩ Alena Kubacova Rokytova ở Brno-Novy Lískovec vì tội lừa đảo với những tờ giấy chứng nhận nghỉ ốm giả, với thiệt hại tổng cộng lên tới gần 13 triệu cu-ron Ngoài ra còn có 6 tòng phạm của bà ta cũng bị kết án từ 3 đến 10 năm tù Bác sĩ này kháng án tại chỗ và sự việc sẽ được đưa lên tòa án cấp cao tại Olomouc xử phúc thẩm[96]
Trang 31của BLHS);
- Hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã cố ý làm trái quy định về quản
lý hoạt động BHXH hoặc hành vi thiếu trách nhiệm trong quản lý các hoạt động BHXH
* Về hậu quả nguy hiểm cho xã hội:
Hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực BHXH trước hết là thiệt hại về vật chất gây ra cho quỹ BHXH Thiệt hại này được thể hiện dưới dạng bị chiếm đoạt, bị thất thu (không thu được hoặc không thu đủ) hay bị thất thoát Tội phạm trong lĩnh vực BHXH còn có thể gây ra thiệt hại cho người lao động Đó là thiệt hại đe dọa gây ra đối với lợi ích trước mắt (các quyền được hưởng chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, chế độ bảo hiểm y tế, chế độ bảo hiểm thất nghiệp) và những quyền lợi lâu dài mà người lao động được hưởng khi hết tuổi lao động (quyền được hưởng lương hưu và chế độ tử tuất)
Trong các cấu thành tội phạm của tội phạm trong lĩnh vực BHXH, hành vi khách quan đòi hỏi phải được mô tả và là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các CTTP cơ bản Tuy nhiên, việc xác định biểu hiện cụ thể của hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như việc quy định, mô tả dấu hiệu này như thế nào trong CTTP hoàn toàn không giống nhau giữa các quốc gia Thông thường, hậu quả của các tội trong lĩnh vực BHXH được xác định là thiệt hại được tính ra bằng tiền và để cấu thành tội phạm thì thiệt hại này phải đạt mức độ nhất định Ngoài ra, thiệt hại ở mức độ cao hơn còn
có thể được mô tả là dấu hiệu định khung tăng nặng trong các CTTP
* Về thủ đoạn phạm tội:
Thủ đoạn phạm tội của tội phạm trong lĩnh vực BHXH thường là thủ đoạn lừa dối dưới các hình thức rất đa dạng, khác nhau để che giấu hành vi phạm tội nhưng thủ đoạn phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP
1.2.3 Chủ thể của tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Chủ thể của tội phạm trong lĩnh vực BHXH rất đa dạng, có thể là cá nhân và cũng có thể là pháp nhân
Thứ nhất, đối với nhóm chủ thể là cá nhân: Theo luật hình sự của các nước
trên thế giới cũng như luật hình sự Việt Nam, cá nhân có thể là chủ thể của tội phạm nếu có hành vi thoả mãn các dấu hiệu định tội của các tội phạm cụ thể Đối với tội phạm nói chung hay tội phạm trong các lĩnh vực chuyên biệt cũng vậy, cá nhân khi là chủ thể của một tội phạm có thể là chủ thể thường mà cũng có thể là chủ thể đặc biệt Trong đó, chủ thể thường chỉ đòi hỏi có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi
Trang 32luật định; còn chủ thể đặc biệt đòi hỏi phải có thêm dấu hiệu đặc biệt khác
Trong lĩnh vực BHXH, chủ thể thường có thể là người thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện hoặc cũng có thể là người không thuộc đối tượng tham gia BHXH Riêng về chủ thể tham gia BHXH bắt buộc có sự quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia Đối với Việt Nam, chủ thể thường thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc có thể là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; cán bộ, công chức, viên chức có hành vi phạm tội cụ thể trong lĩnh vực BHXH
Chủ thể đặc biệt của tội phạm trong lĩnh vực BHXH là người có chức vụ, quyền hạn nhất định trong hệ thống BHXH (có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản hoặc làm trái quy định trong khi thực hiện hoạt động BHXH)
Những hành vi phạm tội mà cá nhân thực hiện trong lĩnh vực BHXH chủ yếu
là các hành vi vi phạm quy định về quyền được thụ hưởng các chế độ BHXH và thuộc nhóm các hành vi gian lận BHXH như hành vi làm giả, làm sai lệch hồ sơ hoặc
sử dụng hồ sơ bị làm giả, làm sai lệch nội dung để hưởng các chế độ BHXH Bên cạnh đó, người phạm tội là cá nhân còn có thể thực hiện các hành vi thuộc nhóm các hành vi liên quan đến quản lý và thực hiện hoạt động BHXH
Thứ hai, nhóm chủ thể là pháp nhân: Trên thế giới có nhiều nước theo quan
điểm coi pháp nhân cũng có thể là chủ thể của tội phạm Đối với những quốc gia này thì tội phạm nói chung hay tội phạm trong các lĩnh vực chuyên biệt cũng đều có thể
có chủ thể là pháp nhân Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật một
số quốc gia khác, pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc dân sự Pháp nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội phạm được thực hiện trong khuôn khổ các hoạt động của pháp nhân hoặc vì lợi ích của pháp nhân hay không là câu hỏi đã và đang được đặt ra Mặc dù vẫn còn nhiều tranh luận nhưng về mặt lý thuyết và thực tiễn, trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã được thừa nhận chung trong khoa học luật hình sự và được ghi nhận trong pháp luật hình sự của nhiều quốc gia như là một chế định cần thiết để tăng cường hơn nữa mức độ bảo vệ bằng pháp luật hình sự các quan hệ xã hội trong một số lĩnh vực như môi trường, bảo hiểm
xã hội…
Các nước theo truyền thống common law như Anh, Hoa kỳ, Canada, Úc… cũng đều chấp nhận nguyên tắc TNHS của pháp nhân từ rất sớm[27] Ở Việt Nam, trước sự vận động của xã hội nói chung cũng như của nền kinh tế nói riêng, chúng ta không thể đứng ngoài xu thế chung hiện nay khi mà một số quốc gia ở châu Á, trong đó có
Trang 33Trung Quốc đã thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân Việc chỉ quy định trách nhiệm hình sự của cá nhân đã làm cho pháp luật hình sự bị bó hẹp phạm vi điều chỉnh
và để lọt tội phạm
Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân nói chung cũng như trách nhiệm hình sự của pháp nhân là chủ thể thực hiện các hành vi phạm tội trong lĩnh vực BHXH là hoàn toàn có cơ sở và là cần thiết
Pháp nhân tồn tại thông qua các hoạt động cụ thể Đó có thể được coi là các hành vi của pháp nhân Các hành vi này được thực hiện qua cá nhân cụ thể Cá nhân
cụ thể thực hiện hành vi theo yêu cầu và vì lợi ích của pháp nhân và vì vậy hành vi đó không phải đơn thuần là hành vi của cá nhân mà thực chất là hành vi của pháp nhân Hành vi đó, về nguyên tắc là hành vi có lợi cho pháp nhân và bình thường là phù hợp với đòi hỏi của xã hội Nhưng điều đó không có nghĩa không có những hành vi của pháp nhân là trái với đòi hỏi của xã hội và có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho xã hội Như vậy, pháp nhân có thể có hành vi gây thiệt hại cho xã hội Hành vi đó xét về chủ quan cũng có thể có lỗi theo lỗi của cá nhân Điều này cho thấy pháp nhân có thể là chủ thể của những hành vi có tính chất của tội phạm vì có tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể (gây hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể
và có lỗi)
Pháp nhân cũng hoàn toàn có khả năng chấp hành các biện pháp cưỡng chế hình
sự phù hợp và những biện pháp này cũng có khả năng răn đe, phòng ngừa pháp nhân thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội
Về mặt thực tế, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, ở các nước phát triển
và cả những nước đang phát triển như Việt Nam đã có không ít tổ chức kinh tế vì lợi nhuận mà thực hiện các hành vi trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng và do vậy mang tính chất của tội phạm (như hành vi trốn thuế, hành vi gây ô nhiễm môi trường, hành vi trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH…) Những hành vi như vậy đòi hỏi phải bị
xử lý về hình sự và chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự không thể chỉ là cá nhân mà phải quy định đối với cả pháp nhân Nếu chỉ buộc cá nhân phải chịu trách nhiệm hình
sự không những không đảm bảo tính công bằng (cá nhân phải chịu trách nhiệm khi pháp nhân được hưởng lợi từ hành vi do cá nhân thực hiện) mà cũng không đảm bảo tính răn đe đối với pháp nhân Chế tài được đặt ra cho cá nhân về hành vi được thực hiện cho pháp nhân đòi hỏi phải phù hợp với khả năng chấp hành của cá nhân và như vậy có thể không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi mà cá nhân đã thực hiện cho pháp nhân
Trang 34Pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự bằng tài sản của mình nhưng không phải ở tất cả các tội danh cũng như không phải với mọi chế tài được quy định trong BLHS Có những tội danh được quy định trong BLHS mà chủ thể của nó chỉ có thể là
cá nhân cũng như có những chế tài chỉ có thể áp dụng được cho chủ thể là cá nhân Bên cạnh đó, có những tội danh có thể có chủ thể là cả cá nhân và pháp nhân; có những chế tài cho riêng pháp nhân và cũng có những chế tài cho cả cá nhân và pháp nhân nhưng có thể với mức độ khác nhau
Tóm lại, với việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân nguyên tắc công bằng và bình đẳng, nguyên tắc mọi hành vi phạm tội không thoát khỏi sự trừng trị của pháp luật sẽ được đảm bảo đầy đủ hơn và là điều kiện quan trọng bảo đảm hiệu quả của đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm nói chung cũng như tội phạm trong lĩnh vực BHXH nói riêng
Trong lĩnh vực BHXH, những hành vi liên quan đến quyền thụ hưởng BHXH
và quản lý hoạt động BHXH là những hành vi có chủ thể thực hiện là cá nhân Đối với những hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH, bao gồm: Hành vi trốn đóng BHXH (trốn đóng cho toàn bộ người lao động), hành vi không đóng BHXH cho đủ
số người lao động (không đóng cho một bộ phận người lao động), hành vi không đóng đủ mức BHXH cho người lao động và hành vi không đóng đúng hạn BHXH cho người lao động là những hành vi có chủ thể đích thực là pháp nhân
Việc không xử lý hình sự được đối với pháp nhân không đóng BHXH đã dẫn đến những bất công đối với người lao động và tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh giữa đơn vị tuân thủ và đơn vị không tuân thủ pháp luật về nghĩa vụ đóng BHXH Mặc dù mọi hoạt động của pháp nhân được thực hiện thông qua cá nhân nhưng hành vi của cá nhân lại không tạo ra quyền và nghĩa vụ cho họ mà tạo ra quyền
và nghĩa vụ cho pháp nhân Khi thực hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH, người sử dụng lao động đã hướng tới mục đích giảm chi phí, vì lợi ích của pháp nhân chứ không vì lợi ích của một cá nhân cụ thể nào (tất cả người lao động của pháp nhân đều được hưởng lợi từ việc tăng nguồn vốn của đơn vị) Do vậy, việc chỉ xử lý cá nhân người sử dụng lao động sẽ không đạt được mục đích răn đe đối với pháp nhân Hơn nữa, người sử dụng lao động, trong nhiều trường hợp lại chỉ là người “làm thuê”
Ở Việt Nam, các hành vi trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động ngày càng gia tăng, mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội ngày càng cao Dư luận xã hội đã có những phản ứng rất gay gắt, đòi hỏi không chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự cá nhân mà còn phải truy cứu trách nhiềm hình sự cả pháp nhân Nếu không quy định và xử lý pháp nhân về những hành vi này thì vô hình chung đã khuyến
Trang 35khích các đơn vị sử dụng lao động tiếp tục chạy theo lợi ích trước mắt, gây nguy hại cho xã hội
Trong trường hợp Việt Nam coi pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm thì theo Luật BHXH, nhóm chủ thể này có thể là: Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động (riêng đối với BHTN là đơn vị có sử dụng từ 10 lao động trở lên)
1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Mặt chủ quan của tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng có các biểu hiện là lỗi, mục đích và động cơ phạm tội Trong đó, lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các CTTP
Dấu hiệu lỗi ở tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng bao gồm 2 hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý Tuy nhiên, lỗi của chủ thể ở nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH và nhóm hành vi vi phạm quyền thụ hưởng BHXH được giới hạn chỉ là lỗi cố
ý Trái lại, ở nhóm hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và thực hiện hoạt động BHXH, lỗi của chủ thể có thể là cố ý nhưng trong các trường hợp hành vi khách quan thể hiện sự thiếu trách nhiệm của những người có chức vụ, quyền hạn thì lỗi là vô ý
Mục đích phạm tội của nhiều tội phạm thuộc nhóm tội này là mục đích tư lợi, trước hết là ở nhóm hành vi vi phạm quyền thụ hưởng BHXH cũng như ở một số hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH
Động cơ phạm tội của tội phạm trong lĩnh vực BHXH có thể là động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, trong đó có thể có động cơ có tính “tập thể” như để tăng nguồn vốn của đơn vị hoặc tăng thu nhập một cách không chính đáng cho thành viên trong đơn vị…
1.3 TỘI PHẠM VÀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.3.1 Những điểm giống nhau giữa tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm
xã hội
Tội phạm trong lĩnh vực BHXH, xét về bản chất pháp lý cũng là loại vi phạm pháp luật BHXH (trực tiếp hoặc gián tiếp) Do vậy, giữa chúng có những điểm giống nhau như sau:
- Tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực BHXH cùng xâm hại quan hệ BHXH, nghĩa là cùng xâm hại đến quan hệ giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong việc hình thành quỹ tài chính để đảm bảo bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập cho người lao động trong các trường hợp bị mất hoặc giảm thu nhập do
Trang 36ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp… và cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế thiết yếu cho người lao động
- Tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực BHXH đều gây thiệt hại (hoặc đe dọa gây thiệt hại) về vật chất cho quỹ BHXH cũng như có thể cho cá nhân người lao động
như đã trình bày
- Tội phạm và vi phạm cùng có hành vi khách quan cũng như lỗi của chủ thể tương tự nhau vì tội phạm trong lĩnh vực BHXH thực chất là các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này nhưng có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội đòi hỏi phải bị xử lý bằng chế tài hình sự
Trong lĩnh vực BHXH, không có dạng hành vi vi phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội đến mức chỉ có thể là tội phạm Cùng một hành vi vi phạm pháp luật nhưng có thể là vi phạm hành chính và cũng có thể là tội phạm trong trường hợp vi phạm ở mức độ nghiêm trọng nhất định Điều này có nghĩa: Nếu chỉ xét ở khía cạnh hành vi thì khó có thể phân biệt được giữa tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực BHXH Để phân biệt được vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực BHXH cần phải căn
cứ vào những dấu hiệu khác mà những dấu hiệu này khi được xác định càng cụ thể bao nhiêu càng có tác dụng bấy nhiêu trong việc áp dụng pháp luật
- Tội phạm và vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH cùng vi phạm trực tiếp hoặc gián tiếp các quy định của pháp luật BHXH Các quy định này chủ yếu bao gồm các quy định về đóng và hưởng các chế độ BHXH Bên cạnh đó, còn có các quy định liên quan đến quản lý và thực hiện hoạt động BHXH
1.3.2 Những điểm khác nhau giữa tội phạm và vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Tội phạm và vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH về cơ bản được phân biệt với nhau ở mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Từ đó kéo theo sự khác nhau khác có tính như là hệ quả của sự khác nhau cơ bản này Đó là
sự khác nhau về hậu quả pháp lý mà chủ thể thực hiện phải gánh chịu
* Về mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội: Tội phạm trong lĩnh vực BHXH
là những hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể, đòi hỏi phải bị xử
lý bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm hoàn toàn có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cơ quan lập pháp cũng như của cơ quan giải thích và áp dụng luật [19, tr 20] Do vậy, việc xác định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm là căn cứ vào những yếu tố khách quan Đó là mức độ thiệt hại khách quan gây
ra hoặc đe dọa gây ra, là mức độ lỗi của chủ thể, là yêu cầu đấu tranh chống để phòng
Trang 37ngừa phù hợp với tình hình vi phạm cũng như các điều kiện kinh tế - xã hội khác Điều này cũng hoàn toàn đúng đối với tội phạm trong lĩnh vực BHXH Việc xác định
sự khác nhau giữa tội phạm trong lĩnh vực BHXH với vi phạm hành chính trong lĩnh vực này cũng hoàn toàn phải dựa vào các yếu tố khách quan Đó là mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra cho người lao động hoặc quỹ BHXH, là mức độ lỗi của người có hành vi vi phạm pháp luật BHXH, là tình hình thực thi pháp luật BHXH đặt trong hoàn cảnh và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Từ nguyên tắc chung này, mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách BHXH cũng như chính sách hình sự của nước mình để đưa ra các tiêu chí hay dấu hiệu phân biệt giữa tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực BHXH
Qua nghiên cứu quy định của pháp luật về vấn đề này ở một số quốc gia khác chúng tôi thấy rằng, pháp luật của các quốc gia này cũng chưa xác định được một cách rõ ràng “giải phân cách cứng” giữa tội phạm trong lĩnh vực BHXH và vi phạm
trong lĩnh vực này Mỗi quốc gia có cách quy định riêng Ví dụ: Ớ Cộng hoà Iran, vi
phạm và tội phạm trong lĩnh vực BHXH được quy định trong Chương 11 Luật bảo hiểm xã hội,từ Điều 97 đến Điều 109 Trong đó, Điều 97 quy định hành vi sử dụng
các loại giấy tờ và tài liệu giả mạo để hưởng các chế độ trợ cấp theo quy định của luật hoặc sắp đặt để cho các thành viên trong gia đình hoặc bên thứ ba được hưởng chế độ, sẽ bị phạt một khoản tiền gấp đôi khoản gây thiệt hại và trong trường hợp tái phạm sẽ bị phạt tù từ 61 ngày đến 6 tháng
Trong Luật An sinh xã hội của Cộng hoà Philippin, các hành vi bị coi là tội phạm trong lĩnh vực BHXH (hành vi không đóng BHXH, giả mạo hồ sơ hưởng BHXH…) được quy định trong một điều khoản riêng [69, Đ.28] có giá trị như một quy phạm pháp luật hình sự Tuy nhiên, những hành vi này cũng có thể chỉ bị cơ quan
có thẩm quyền xử lý hành chính khi vi phạm ở mức độ nhẹ (Thẩm quyền xử phạt này thuộc về Hội đồng quản lý hệ thống an sinh xã hội Philippin) Vi phạm nhẹ cũng có
thể bị khởi tố hình sự nếu sau khi Hội đồng quản lý an sinh xã hội kiểm tra, xử phạt
mà vẫn vi phạm Ở Cộng hoà Mông Cổ - Quốc gia có phương thức thực hiện BHXH tương tự Việt Nam, Điều 20 Luật BHXH năm 1996 đã quy định về trách nhiệm pháp
lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này Theo đó, nếu vi phạm pháp luật về BHXH không đến mức phải xử lý hình sự thì người vi phạm sẽ phải chịu các trách nhiệm hành chính hoặc các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật Điều này cho thấy, cũng như Việt Nam, ranh giới giữa vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực BHXH hầu như không được xác định rõ trong Luật Pháp luật chỉ dự liệu những hành vi có khả năng gây ra những thiệt hại đáng kể cho quan hệ BHXH cần thiết phải bị cưỡng chế thi hành và xử phạt bằng các chế tài hành chính và
Trang 38hình sự Tuỳ thuộc vào mức độ gây thiệt hại hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng
kể cho quan hệ BHXH của hành vi vi phạm mà hành vi vi phạm có thể bị áp dụng những chế tài phù hợp, tương xứng với mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi Một trong những tình tiết có thể được sử dụng để xác định ranh giới này là tình tiết tái phạm hành chính
Từ lý luận chung về tội phạm và vi phạm và từ thực tế của Việt Nam cũng như tham khảo luật một số quốc gia khác tác giả cho rằng việc xác định ranh giới giữa tội phạm trong lĩnh vực BHXH và vi phạm trong lĩnh vực này có thể căn cứ vào:
- Mức độ thiệt hại về vật chất mà hành vi đã gây ra cho quỹ BHXH hoặc cho người lao động;
- Quy mô và mức độ vi phạm;
- Tính chất “lặp lại” của hành vi vi phạm
Về căn cứ thứ nhất, chúng ta có thể dùng mốc mức độ thiệt hại về vật chất để
bị coi là tội phạm ở các tội xâm phạm sở hữu làm mốc mức độ thiệt hại về vật chất để
bị coi là tội phạm trong lĩnh vực BHXH Đó là các mốc mức độ thiệt hại về vật chất
để bị coi là tội tham ô tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại (nghiêm trọng) đến tài sản (của Nhà nước)
Về căn cứ thứ hai, chúng ta có thể hiểu quy mô vi phạm là số lượng người lao động có thể bị ảnh hưởng về quyền lợi do hành vi của người sử dụng lao động không đóng BHXH hoặc không đóng đúng mức quy định hoặc có thể là số lượng người được hưởng chế độ BHXH sai (không được hưởng mà hưởng; chỉ được hưởng theo mức thấp mà thực tế lại được hưởng ở mức cao) Mức độ vi phạm ở đây được hiểu là mức độ về mặt thời gian Giữa thời gian vi phạm và mức độ thiệt hại có thể có quan
hệ tỷ lệ thuận với nhau nhưng riêng khoảng thời gian vi phạm cũng phản ánh mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi về cả mặt khách quan và cả mặt chủ quan
Về căn cứ thứ ba, chúng ta có thể hiểu tính chất “lặp lại” của hành vi vi phạm
là vi phạm liên tiếp nhiều lần hoặc có thể là tái vi phạm
Các căn cứ trên có thể được sử dụng độc lập hoặc trong sự kết hợp hợp lý với nhau để xác định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực BHXH khi quy định tội phạm này trong luật (hoặc khi giải thích hoặc áp dụng luật)
* Về hậu quả pháp lý: Nếu như vi phạm pháp luật khác chỉ bị xử lý bằng các biện pháp cưỡng chế ít nghiêm khắc hơn như biện pháp hành chính, biện pháp kỷ luật hay biện pháp bồi thường thiệt hại thì tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng như các tội phạm nói chung bị xử lý bằng hình thức cưỡng nghiêm khắc nhất là hình phạt với
Trang 39loại và mức khác nhau, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi Đồng thời, người phạm tội còn phải mang án tích trong một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật
Ngoài hai sự khác biệt nêu trên, tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực BHXH còn điểm khác nhau ở hình thức phản ánh trong luật
Đây là dấu hiệu có ý nghĩa quan trọng đối với người áp dụng pháp luật Tội phạm trong lĩnh vực BHXH phải được quy định trong trong văn bản luật hình sự - có thể là BLHS, luật hình sự đơn hành hay trong văn bản luật có quy phạm pháp luật hình sự - là những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Những hành vi vi phạm pháp luật BHXH không có đặc điểm về hình thức pháp lý như vậy đều không thể bị coi là tội phạm Khác với tội phạm trong lĩnh vực BHXH,
vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là những hành vi có thể được quy định trong các quy phạm pháp luật về xử phạt hành chính trong văn bản pháp luật khác thuộc lĩnh vực BHXH
Như vậy, có thể thấy trong các tiêu chí phân biệt tội phạm và vi phạm khác trong lĩnh vực BHXH, tiêu chí khác nhau về mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi có ý nghĩa quyết định đến những tiêu chí khác và những tiêu chí này đều mang tính phụ thuộc và chỉ thông qua việc xác định tiêu chí đầu tiên thì những tiêu chí này mới được xác định
1.3.3 Tiêu chí để phân biệt tội phạm và vi phạm khi quy định tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có một số tiêu chí được các nhà làm luật dùng để phân biệt tội phạm và vi phạm ngay khi quy định tội phạm Trong lĩnh vực BHXH, những tiêu chí này cũng có thể được sử dụng đối với một số hành vi, đó là những tiêu chí sau:
- Thứ nhất, thiệt hại gây ra cho quỹ BHXH được tính ra bằng tiền
Đây là tiêu chí được sử dụng trong nhiều quy định về tội phạm trong lĩnh vực BHXH vì mục đích chiếm đoạt tiền BHXH là mục đích phạm tội của đa số các hành
vi phạm tội liên quan đến nghĩa vụ đóng BHXH cũng như liên quan đến quyền thụ hưởng BHXH
Mặc dù bị hạn chế bởi giá trị đồng tiền bị giảm đi do lạm phát nhưng đây vẫn
là một dấu hiệu được sử dụng khi quy định các tội phạm trong lĩnh vực BHXH cũng như nhiều tội phạm khác trong luật hình sự của các quốc gia, trong đó có các tội xâm phạm sở hữu và các tội phạm về kinh tế
Trang 40- Thứ hai, thời gian trốn đóng, đóng thiếu hoặc chậm đóng BHXH cho người
lao động
Tiêu chí này được sử dụng khi quy định nhóm tội vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH Mặc dù số tiền trốn đóng, đóng thiếu hoặc chậm đóng BHXH là tiêu chí tổng hợp phản ánh cả dấu hiệu thời gian không đóng, đóng thiếu hoặc chậm đóng BHXH
và dấu hiệu số người không được đóng, bị đóng thiếu hoặc bị chậm đóng Dấu hiệu thời gian ở đây vừa có ý nghĩa ảnh hưởng đến mức độ gây thiệt hại và vừa có ý nghĩa riêng đối với việc xác định mức độ vi phạm cũng như mức độ lỗi cố ý, mức độ cố trốn tránh trách nhiệm của người sử dụng lao động
- Thứ ba, số lao động bị vi phạm quyền lợi về BHXH
Bên cạnh tiêu chí thời gian vi phạm, tiêu chí số người lao động bị vi phạm quyền lợi về BHXH cũng được quy định trong pháp luật của một số quốc gia Tiêu chí thời gian vi phạm và tiêu chí số người lao động bị vi phạm có thể cùng ảnh hưởng đến mức độ thiệt hại nhưng riêng tiêu chí về số người lao động bị vi phạm cũng có thể phản ánh tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội của hành vi vi phạm Có thể thời gian vi phạm chưa kéo dài nhưng số người bị vi phạm quá lớn và vì vậy tác động của hành vi vi phạm không thể không bị coi là nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn tới quyền lợi của người lao động trong phạm vi rộng, đe dọa đến sự ổn định xã hội
- Thứ tư, số lượng hồ sơ có sai phạm
Số lượng hồ sơ có sai phạm là dấu hiệu được sử dụng để định tội danh đối với các hành vi vi phạm liên quan đến giải quyết các chế độ BHXH vì dấu hiệu này phản ánh trực tiếp mức độ nghiêm trọng về mặt quy mô của hành vi vi phạm Cũng nhờ dấu hiệu này mà có thể tách riêng hành vi tổ chức làm giả hồ sơ hưởng BHXH để quy định thành tội danh độc lập và trong đó, dấu hiệu để xác định là tội phạm chính là số lượng hồ sơ
- Thứ năm, tình tiết tái phạm hành chính
Tái phạm hành chính là một tình tiết có ý nghĩa rất quan trọng trong truy cứu trách nhiệm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự Tình tiết này được cả quy phạm pháp luật hành chính và quy phạm pháp luật hình sự sử dụng Trong pháp luật hình sự, tình tiết tái phạm hành chính có thể được quy định là dấu hiệu định tội hoặc
là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng trách nhiệm hình sự Tuy nhiên về vấn đề
có coi tái phạm hành chính là một dấu hiệu định tội để phân định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính hay không vẫn còn các ý kiến khác nhau Các quốc gia
đi theo hướng quy định hành vi vi phạm hành chính và tội phạm ngay trong luật chuyên ngành về BHXH thường coi dấu hiệu này là dấu hiệu định tội, xác định ranh