Lý do chọn đề tài Có ba lý do chủ yếu dưới đây khiến tôi chọn Nghiên cứu so sánh chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số của Mercer làm đề tài cho luận án tiến
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đỗ Thị Liên Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình và
sự giúp đỡ to lớn từ các thầy cô, đồng nghiệp và gia đình
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới GS.TS Mai Ngọc Chừ - người đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu trong suốt thời gian qua Sự tâm huyết và sáng tạo với khoa học và nghề nghiệp của Thầy không chỉ giúp tôi hoàn thành luận án mà còn cho tôi nhiều kinh nghiệm quý báu trên chặng đường nghiên cứu khoa học sau này
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Đông Nam
Á học cũng như các thầy cô trong Khoa Đông phương đã dành cho tôi nhận xét xác đáng, những kinh nghiệm và những lời động viên chân thành, kịp thời trong những lúc tôi gặp khó khăn
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình và bạn bè, những người luôn chia sẻ, động viên, khích lệ để tôi không ngừng nỗ lực trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận án này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kinh nghiệm còn hạn chế nên luận án chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của các thầy cô, đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu và những người có quan tâm
để tôi tiếp tục hoàn thiện luận án của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghiên cứu sinh
Trang 51
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 15
1.1 Các công trình nghiên cứu đã được công bố 15
1.1.1 Các nghiên cứu đã được công bố về chất lượng cuộc sống của Bangkok 15
1.1.2 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của Hà Nội 22
1.1.3 Các nghiên cứu về Bộ chỉ số của Mercer 29
1.2 Những vấn đề chưa giải quyết và hướng nghiên cứu của luận án 31
1.2.1 Đối với các nghiên cứu đã công bố về chất lượng cuộc sống của Bangkok 31
1.2.2 Đối với các nghiên cứu đã công bố về chất lượng cuộc sống của Hà Nội 32
1.2.3 Đối với các nghiên cứu về Bộ chỉ số chất lượng cuộc sống của Mercer 32
1.2.4 Hướng nghiên cứu và tiếp cận của Luận án 33
Tiểu kết Chương 1: 34
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG THÀNH PHỐ 37
2.1 Cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống thành phố 37
2.1.1 Khái niệm về chất lượng cuộc sống, chất lượng cuộc sống thành phố 37
2.1.2 Khái quát về Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống của Mercer 43
2.2 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Bangkok và Hà Nội 47
2.2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hà Nội 47
2.2.2 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Bangkok 56
2.3 Các yếu tố tác động tới chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội 64
2.3.1 Các yếu tố bên ngoài 64
2.3.2 Các yếu tố bên trong 68
Tiểu kết chương 2 72
Trang 62
NỘI QUA NHÓM CHỈ SỐ CHÍNH TRỊ - KINH TẾ 75
3.1 So sánh thực trạng những điểm giống và khác nhau qua nhóm chỉ số chính trị - kinh tế 75
3.1.1 Nhóm chính trị - xã hội 75
3.1.2 Nhóm chỉ số môi trường kinh tế 86
3.1.3 Nhóm cung cấp các sản phẩm tiêu dùng 88
3.2 Đánh giá chung kết quả và hạn chế, khó khăn; nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm 98
3.2.1 Đánh giá chung kết quả và những thành tựu đạt được 98
3.2.2 Khó khăn, hạn chế; nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế 106
3.2.3 Khuyến nghị và bài học kinh nghiệm 111
Tiểu kết chương 3 114
CHƯƠNG 4 SO SÁNH CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BANGKOK VÀ HÀ NỘI QUA NHÓM CHỈ SỐ VĂN HÓA - XÃ HỘI 117
4.1 Thực trạng những điểm giống và khác nhau qua nhóm chỉ số văn hóa - xã hội 117
4.1.1 Nhóm chỉ số văn hóa, xã hội, giáo dục 117
4.1.2 Nhóm chỉ số y tế, vệ sinh và chăm sóc sức khỏe 124
4.1.3 Nhóm chỉ số giải trí (nhà hàng, rạp chiếu phim, thể thao và giải trí) 140
4.2 Đánh giá chung kết quả và hạn chế, khó khăn; nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm 145
4.2.1 Đánh giá chung kết quả và những thành tựu đạt được 145
4.2.2 Khó khăn, hạn chế; nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế 150
4.2.3 Các khuyến nghị, bài học kinh nghiệm rút ra đối với thành phố Hà Nội 151
Tiểu kết chương 4 153
CHƯƠNG 5 SO SÁNH CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BANGKOK VÀ HÀ NỘI QUA NHÓM CHỈ SỐ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, NHÀ Ở VÀ DỊCH VỤ ĐÔ THỊ 156
5.1 So sánh thực trạng chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội qua nhóm chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị 156
Trang 73
5.1.1 Nhóm chỉ số môi trường tự nhiên 156
5.1.2 Nhóm chỉ số nhà ở 160
5.1.3 Nhóm chỉ số dịch vụ đô thị và vận chuyển 165
5.2 Đánh giá chung kết quả và hạn chế, khó khăn; nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm 176
5.2.1 Đánh giá chung kết quả và những thành tựu đạt được 176
5.2.2 Khó khăn, hạn chế; nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế 181
5.2.3 Khuyến nghị và bài học kinh nghiệm đối với Hà Nội 183
Tiểu kết chương 5 186
KẾT LUẬN 190
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 194
TÀI LIỆU THAM KHẢO 195
Trang 84
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Nội dung tiếng Anh Nội dung tiếng Việt
1 AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng Kinh tế ASEAN
2 APSC ASEAN Political - Security
Community
Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN
3 ASCC ASEAN Socio - Cultural
7 GRDP Gross domestic product per
capita
Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người (Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố gọi là GRDP)
10 UNDP United Nations Development
Trang 95
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đông Nam Á - chỉ số Tội phạm và An toàn theo thành phố 85
Bảng 3.2 Nhận định của người dân Bangkok và Hà Nội về mức độ tác động của nhóm chỉ số về chính trị - kinh tế đến CLCS thành phố 99
Bảng 3.3 Xếp hạng CLCS của Mercer đối với các thành phố là thủ đô của các nước khu vực Đông Nam Á (2006 - 2016/2017/2018) 108Bảng 4.1 So sánh mức độ ô nhiễm giữa Hà Nội và Bangkok 127
Bảng 4.2 Đánh giá tác động và sự hài lòng của người dân Bangkok và 146Bảng 4.3 Đánh giá tác động và sự hài lòng của người dân Bangkok về CLCS thông qua nhóm chỉ số văn hóa - xã hội 148
Bảng 4.4 Đánh giá tác động và sự hài lòng của người dân Hà Nội về CLCS thông qua nhóm chỉ số văn hóa - xã hội 149
Bảng 5.1 Diện tích sử dụng đất chính ở Bangkok 160
Bảng 5.2 Đánh giá tác động và sự hài lòng của người dân Bangkok và Hà Nội 179
Trang 10Biểu đồ 3.3 Nhận định của người dân về mức độ tác động của các chỉ số chính trị -
xã hội tới CLCS của Bangkok và Hà Nội 102
Biểu đồ 3.4 So sánh tương quan về sự tác động, hài lòng của người dân về CLCS thông qua nhóm chỉ số môi trường chính trị - xã hội 103Biểu đồ 3.5 So sánh tương quan sự tác động và hài lòng của người dân Bangkok và
Hà Nội qua nhóm chỉ số kinh tế của Mercer 104
Biểu đồ 5.1: Những chỉ số nhóm môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị 177Biểu đồ 5.2: Những chỉ số nhóm môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị 178
Trang 117
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có ba lý do chủ yếu dưới đây khiến tôi chọn Nghiên cứu so sánh chất lượng
cuộc sống của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số của Mercer làm đề tài cho
luận án tiến sĩ của mình:
Một là, chất lượng cuộc sống (CLCS) thành phố đã và đang trở thành mục tiêu
hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) của các quốc gia trên thế giới Đây cũng là một vấn đề quan trọng trong mục tiêu của Cộng đồng Văn hóa
- Xã hội ASEAN, đó là: “ xây dựng một xã hội chia sẻ, đùm bọc, hòa thuận và rộng
mở nơi mà cuộc sống, mức sống và phúc lợi của người dân được nâng cao” [Cổng
Thông tin ASEAN Việt Nam, 2018, 127]
Cho đến nay, đã có nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về CLCS thành phố với các cách tiếp cận rất đa dạng và phong phú Đặc biệt là các công trình nghiên cứu CLCS thành phố của các nước phát triển như khu vực châu Âu, Bắc Mỹ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về CLCS thành phố ở châu Á, trong đó có Đông Nam Á, còn khá khiêm tốn, chủ yếu là dưới dạng các công trình đơn ngành về một hoặc một số lĩnh vực của CLCS thành phố, hoặc là nghiên cứu CLCS thành phố của một tầng lớp dân cư trong xã hội như người cao tuổi, thanh niên, sinh viên, người lao động người thu nhập thấp
Hai là, Hà Nội là thủ đô của Việt Nam Việc nâng cao CLCS là một trong những
mục tiêu hàng đầu của thành phố mà chính quyền các cấp đang ráo riết tập trung thực hiện Nghiên cứu CLCS Hà Nội sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề đang được đặt
ra để giải quyết Tuy nhiên, để có cái nhìn toàn diện khi so sánh với một thành phố khác trong khu vực, tác giả luận án chọn Bangkok là thủ đô của Vương quốc Thái Lan
Sở dĩ chọn Bangkok là vì: Thứ nhất, điều đó phù hợp với chuyên môn của một nghiên
cứu viên đang công tác tại Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội khi lựa
chọn ngành học là Đông Nam Á học; Thứ hai, Bangkok và Hà Nội đều là thủ đô của
hai quốc gia phát triển năng động trong khu vực ASEAN, cùng đang thực hiện chung
các mục tiêu của Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN; Thứ ba, Bangkok và Hà Nội
Trang 128
có trình độ phát triển về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học công nghệ tương đối đồng đều, không có những điểm chênh quá vượt trội hoặc quá lạc hậu khi thực hiện so sánh hai thành phố với nhau, cùng nằm trong top có thứ hạng trung bình trong Bảng xếp hạng chất lượng cuộc sống thành phố của Mercer
Ba là, khác với các bộ chỉ số đưa ra khảo sát CLCS trên thế giới, bộ chỉ số của
Mercer được đánh giá là bộ chỉ số toàn diện nhất các mặt của cuộc sống chứ không quá nhấn mạnh về một phương diện nào đó Đặc biệt, bộ chỉ số của Mercer được thực hiện thường xuyên, định kỳ và công bố công khai hàng năm trên các phương tiện thông tin đại chúng Bộ chỉ số của Mercer không chỉ cung cấp những thông tin hữu ích mà còn đưa ra những khuyến nghị cần thiết đối với các thành phố trên thế giới Ngoài ra, bộ chỉ số còn là thước đo chất lượng phát triển của các thành phố để biết mình đang ở đâu
so với các thành phố khác trên thế giới Tính đến 2018, Mercer đánh giá CLCS đô thị tại hơn 231 thành phố được khảo sát trên toàn thế giới CLCS được phân tích theo 39
chỉ số thành phần và chia thành 10 nhóm: (1) Môi trường chính trị và xã hội; (2) Môi trường kinh tế; (3) Môi trường văn hóa xã hội; (4) Y tế và sức khỏe; (5) Trường học và giáo dục; (6) Dịch vụ công cộng và giao thông; (7) Giải trí; (8) Hàng tiêu dùng; (9) Nhà ở; (10) Môi trường tự nhiên [Mercer.com, 2018, 179] Do vậy, dựa vào bộ chỉ số
Mercer có thể thực thi một cách hiệu quả việc đánh giá CLCS Hà Nội và Bangkok
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của Đề tài là thông qua bộ chỉ số của Mercer, làm sáng tỏ những vấn
đề về CLCS của Hà Nội và Bangkok, từ đó rút ra những bài học để thành phố Hà Nội
có thể tham khảo trong quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao CLCS của người dân trong bối cảnh mới hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu nêu trên, tác giả luận án thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về CLCS và CLCS thành phố; phân tích những yếu tố tác động tác động cả bên trong và bên ngoài đến CLCS của Bangkok và Hà Nội
Trang 139
- So sánh, làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau về thực trạng CLCS của Bangkok và Hà Nội thông qua ba nhóm chỉ số cơ bản: Nhóm chỉ số chính trị - kinh tế; nhóm chỉ số văn hóa - xã hội; nhóm chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị
- Rút ra những bài học mà Hà Nội có thể tham khảo trong quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao CLCS đô thị
Để hoàn thành những nhiệm vụ nghiên cứu nói trên, nghiên cứu sinh cần đặt ra những câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:
+ CLCS thành phố là gì? Đặc điểm, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Bangkok và Hà Nội? Những yếu tố nào tác động đến CLCS thành phố?
+ Những điểm giống và khác nhau giữa CLCS Bangkok và Hà Nội thông qua
Bộ chỉ số của Mercer? Những chỉ số Bangkok vượt trội hơn Hà Nội? Những chỉ số
Hà Nội vượt trội hơn Bangkok?
+ Những chỉ số có tác động đến CLCS thành phố nhiều nhất? Những chỉ số người dân thành phố hài lòng nhất? Mối quan hệ giữa chúng? Những chỉ số đang là những vấn đề bức xúc nhất hiện nay? Ngoài những chỉ số trong Bộ chỉ số của Mercer thì những chỉ số nào mà người dân đang quan tâm nhiều?
+ Các kết quả, hạn chế khó khăn, nguyên nhân của những hạn chế khó khăn của từng nhóm chỉ số? Những khuyến nghị, bài học kinh nghiệm rút ra đối với Hà Nội?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: CLCS của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số của Mercer
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: CLCS đô thị của hai thành phố Bangkok và Hà Nội Tác
giả luận án lựa chọn thành phố Bangkok để so sánh mà không phải là một thành phố nào khác vì:
+ Chuyên ngành đào tạo của nghiên cứu sinh là Đông Nam Á học, đồng thời Bangkok và Hà Nội là 2 thành phố có nhiều điểm tương đồng như: đều là những thủ
đô phát triển năng động của khu vực Đông Nam Á, có cùng chung một tiêu phát triển
Trang 1410
trong Cộng đồng ASEAN, có nền văn hóa lâu đời, là thành phố của sông, hồ cũng như là những thành phố có nhiều tiềm năng phát triển du lịch văn hóa và trong những năm gần đây đều được các tổ chức quốc tế đánh giá cao
+ Cả Bangkok và Hà Nội đều có cùng chung một nguồn gốc từ nền văn hóa lúa nước và nằm trong 2 quốc gia có sản lượng xuất khẩu lúa, gạo đứng nhất, nhì thế giới
2 thành phố đều chịu ảnh hưởng nhiều của Phật giáo Hai thành phố có tốc độ đô thị hóa cao và nhiều lần phải mở rộng địa giới hành chính
+ Đặc biệt, Bangkok và Hà Nội đều đang cùng phải giải quyết những vấn nạn của đô thị sau một thời gian phát triển như: ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, ách tắc giao thông, không gian công cộng…
+ Và nhìn chung, Bangkok và Hà Nội có trình độ phát triển về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học công nghệ tương đối đồng đều, không
có những điểm chênh quá vượt trội hoặc quá lạc hậu khi thực hiện so sánh hai thành phố với nhau, cùng nằm trong top có thứ hạng trung bình trong Bảng xếp hạng chất lượng cuộc sống thành phố của Mercer
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2006 - 2018 Đây là khoảng thời gian
mới, cập nhật và gần nhất với đề tài luận án Đồng thời để có thể so sánh CLCS của
2 thành phố thì cần phải có một khoảng thời gian nhất định khoảng 10 năm trước đó, một quá trình để đánh giá, trong đó, thời điểm nghiên cứu sinh nhận đề tài nghiên cứu là năm 2016 và đề tài tiếp tục được bổ sung, cập nhật các số liệu đến 2018 Đây cũng là khoảng thời gian thuận lợi để nghiên cứu sinh có thể sưu tầm được đầy đủ các số liệu điều tra của tập đoàn Mercer cũng như thực hiện việc điều tra khảo sát tại 2 thành phố
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu CLCS Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ
số gồm 39 chỉ số thành phần của Mercer Trong luận án, tác giả gộp 39 chỉ số thành
3 nhóm để khảo sát, nghiên cứu: Nhóm chỉ số chính trị - kinh tế; Nhóm chỉ số văn hóa - xã hội; Nhóm chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị
4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
4.1 Cách tiếp cận
Trang 1511
Luận án được tiến hành theo hai cách tiếp cận:
Thứ nhất, Luận án nghiên cứu so sánh CLCS của Bangkok và Hà Nội thông qua
Bộ chỉ số của Mercer là nghiên cứu thuộc chuyên ngành Đông Nam Á học nên cách tiếp cận chủ yếu là khu vực học, với hệ phương pháp liên ngành của các ngành kinh
tế - xã hội và văn hóa
Hướng tiếp cận thứ hai, theo đúng tên gọi của luận án, đó là tiếp cận vấn đề
nghiên cứu theo bộ chỉ số của Mercer
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận án này, tác giả tuân thủ các phương pháp nghiên cứu xã hội học gồm: phương pháp nghiên cứu định lượng; phương pháp nghiên cứu định tính; phương
pháp quan sát; phương pháp nghiên cứu diễn dịch Thông qua những phương pháp này, tác giả thu được những dữ liệu định lượng được thống kê từ kết quả của các Báo cáo điều tra khảo sát về CLCS của Mercer và từ kết quả khảo sát điều tra do tác giả luận án thực hiện Như vậy, nghiên cứu định lượng cho tác giả những dữ kiện khách quan, có tính thống kê, dễ dàng kiểm chứng và do đó có độ tin cậy cao Bên cạnh đó, tác giả cũng thu được những dữ liệu mang tính định tính qua phương pháp quan sát, phỏng vấn sâu và dựa trên các tài liệu thứ cấp Các dữ kiện định tính không đo đếm được, thường ở dưới dạng các từ (words), lời nói, âm thanh, hình ảnh - chứ không dưới dạng các con số Cụ thể trong luận án này, đó chính là những cảm nhận của người dân về từng chỉ số CLCS của hai thành phố qua phỏng vấn sâu hoặc qua quan sát của tác giả Nhìn chung, nghiên cứu định lượng bổ sung tính chính xác cho nghiên cứu định tính và nghiên cứu định tính làm rõ hơn ý nghĩa của nghiên cứu định lượng Trong các phương pháp của xã hội học, tác giả luận án coi trọng phương pháp điều tra khảo sát người dân thông qua bảng hỏi (điều tra viên cầm bảng hỏi để lấy thông tin rồi đánh dấu vào phiều điều tra) (Xem thêm Phụ lục Tóm tắt kết quả điều tra khảo sát của Luận án) Để thực hiện điều tra khảo sát một cách hiệu quả nhất trên địa bàn thành phố Bangkok, tác giả đã phối hợp với một nhóm sinh viên Việt Nam (gồm 5 người) đang học tập tại Bangkok để cùng thực hiện điều tra khảo sát trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2018 Quá trình này được tác giả thực hiện
Trang 1612
đồng thời với quá trình phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi nhằm thu được các dữ liệu mang tính cảm nhận chủ quan của người dân về thực trạng CLCS của 2 thành phố đồng thời thu được các ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học về các yếu tố ảnh hưởng cũng như các khuyến nghị về nâng cao CLCS thành phố trong bối cảnh mới hiện nay nhằm làm sâu sắc hơn các luận điểm nghiên cứu
Để làm sáng tỏ sự tương đồng và khác biệt về CLCS của Hà Nội và Bangkok,
như tên gọi của luận án, tác giả tiến hành phương pháp so sánh Đây là phương pháp
chủ đạo trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Cách thức và thời điểm so sánh trong luận án này là so sánh từng chỉ số CLCS thông qua kết quả khảo sát của tác giả trong năm 2018 (đối với các dữ liệu định tính) và so sánh theo số liệu từng năm đối với các số liệu định lượng (các thứ hạng của hai thành phố trong các năm 2006, 2016,
2017, 2018) Phương pháp so sánh giúp tác giả thấy được những ưu điểm và hạn chế trong từng chỉ số Những chỉ số nào là lợi thế của Bangkok và những chỉ số nào là lợi thế của Hà Nội; những chỉ số nào đang là những vấn đề mà cả hai thành phố đều quan tâm Những chỉ số nào người dân của Bangkok cảm thấy hài lòng nhất và những chỉ
số nào người dân Hà Nội sẽ cảm thấy tác động nhiều đến CLCS thành phố hơn
4.3 Cơ sở tư liệu, nguồn tài liệu tham khảo
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu kể trên, luận án tập trung khai thác và
sử dụng các nhóm tóm tài liệu sau:
- Tài liệu nguyên cấp (primary document/document primaire): các công trình nghiên cứu cung cấp thông tin gốc, trực tiếp bằng tiếng Việt và tiếng Anh như: các Báo cáo của Quỹ phát triển Châu Á; Báo cáo của tổ chức UN - HABITAT; các văn bản nhà nước; Báo cáo của sở, ngành Bangkok và Hà Nội về thực trạng CLCS của Bangkok và Hà Nội; từ điển, bách khoa thư, v.v…về CLCS và CLCS thành phố (đô thị); các công trình có liên quan đến các vấn đề về CLCS của Bangkok, Hà Nội
- Nguồn tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt, tiếng Anh bao gồm một số công trình nghiên cứu có liên quan đến CLCS và CLCS thành phố (đô thị); các công trình
về CLCS của Bangkok và Hà Nội; các nghiên cứu về Bộ chỉ số của Mercer như sách; bài báo trong các tạp chí chuyên ngành; các đề tài nghiên cứu của các học giả, các
Trang 175 Ý nghĩa và đóng góp mới của luận án
5.1 Ý nghĩa khoa học và đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu khoa học độc lập và mang tính chất đại diện đầu tiên ở Việt Nam về nghiên cứu so sánh CLCS đô thị ở cấp độ hai thành phố trong cùng khu vực Đông Nam Á, đó là Bangkok và Hà Nội Kết quả nghiên cứu của luận
án sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến CLCS nói chung và CLCS thành phố/đô thị nói riêng
Luận án làm sáng tỏ thực trạng CLCS Hà Nội và Bangkok, nêu rõ những mặt được và chưa được, cùng những khuyến nghị cần thiết cho việc nâng cao CLCS của người dân thành phố Hà Nội trong bối cảnh mới hiện nay
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án cung cấp những số liệu và luận cứ khoa học đối với ba nhóm chỉ số cụ thể về CLCS (Kinh tế - chính trị; Văn hóa - xã hội; Môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị) của hai thành phố là Hà Nội và Bangkok Kết quả nghiên cứu của luận
án sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà lãnh đạo và quản lý, các nhà hoạch định chính sách phát triển đô thị
Ngoài ra, luận án cũng là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà nghiên cứu
và giảng dạy Đông Nam Á học và Đô thị học
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung của Luận án được kết cấu thành 5 chương như sau:
Trang 1814
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về đề tài
Trong chương này, tác giả luận án điểm lại các công trình, bài viết nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước theo các nhóm vấn đề có liên quan đến đề tài; nêu ra những vấn đề đã được đề cập cũng như những vấn đề chưa được đề cập, từ đó xác định hướng đi của luận án; đề xuất hướng tiếp cận và nội dung nghiên cứu đối với luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống thành phố
Luận án làm rõ cơ sở lý luận về CLCS thành phố/đô thị từ các quan điểm và khái niệm mà các tác giả đã công bố, đưa ra quan điểm của tác giả luận án về CLCS thành phố/đô thị; khung lý thuyết của luận án Luận án cũng làm rõ những nhân tố tác động đến CLCS của Bangkok và Hà Nội trên cả phương diện khách quan và chủ quan
Chương 3: Nghiên cứu so sánh chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội qua nhóm chỉ số chính trị - kinh tế
Chương này tác giả tập trung phân tích, làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau về nhóm chỉ số chính trị, kinh tế và dịch vụ tiêu dùng có liên quan đến CLCS của hai thành phố; làm rõ những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra đối với mỗi thành phố Thực chất nhóm chỉ số này được phân nhóm lại từ 3 nhóm chỉ số 1,
Chương 5: Nghiên cứu so sánh chất lượng cuộc sống của Bangkok và Hà Nội qua nhóm chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị
Luận án phân tích, làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau về chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị có liên quan đến CLCS của hai thành phố; làm rõ những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra đối với mỗi thành phố Thực chất nhóm chỉ số này được phân nhóm lại từ 4 nhóm chỉ số 6, 7, 9 và 10 gồm 12 chỉ
số của Mercer
Trang 1915
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Các công trình nghiên cứu đã được công bố
Sau khi tiến hành khảo sát, tác giả nhận thấy rằng những công trình nghiên cứu về CLCS nói chung của Bangkok và Hà Nội nói riêng khá đa dạng và phong phú Tác giả của những công trình này đã lựa chọn những khía cạnh, lĩnh vực, môi trường sống khác nhau có liên quan đến cuộc sống để nghiên cứu, phản ánh, đánh giá CLCS đô thị nhưng mang tính chất riêng lẻ, đơn ngành như: về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, dịch vụ đô thị, cơ sở hạ tầng, ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường để nghiên cứu, phản ánh, đánh giá về chất lượng cuộc sống đô thị Hoặc theo hướng khác, các công trình đó đã nghiên cứu sâu về CLCS của một tầng lớp dân cư trong xã hội như: người cao tuổi, người di cư, người lao động trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, Những công trình đã công
bố bao gồm: sách tham khảo, các bài báo được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và luận án tiến sĩ Với mong muốn việc khảo sát các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và khoa học, tác giả đã sắp xếp và phân chia các công trình
nghiên cứu thành 3 nhóm vấn đề: thứ nhất, các công trình nghiên cứu CLCS của Bangkok; thứ hai, các công trình nghiên cứu CLCS của Hà Nội; thứ ba, các công
trình nghiên cứu về Bộ chỉ số của Mercer Trong mỗi nhóm vấn đề, các nội dung nghiên cứu sẽ bao quát đầy đủ Bộ chỉ số của Mercer gồm 39 chỉ số thành phần, được sắp xếp gộp lại thành 3 nhóm cụ thể gồm:
Các chỉ số về chính trị, kinh tế
Các chỉ số về văn hóa, xã hội
Các chỉ số về môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị
1.1.1 Các nghiên cứu đã được công bố về chất lượng cuộc sống của Bangkok
1.1.1.1 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm chỉ số chính trị, kinh tế
Cùng với quá trình phát triển kinh tế, thì đô thị hóa cũng diễn ra nhanh chóng ở Bangkok và nhiều thành phố lớn khác của Thái Lan làm cho CLCS đô thị có nhiều cải thiện so với những vùng nông thôn khác Bộ mặt đô thị đã sớm được hình thành cùng
Trang 2016
với sự phát triển đa dạng của nhiều loại hình kinh tế và dịch vụ Bangkok đã sớm tận dụng được những lợi thế của mình để phát triển các ngành kinh tế và dịch vụ như: du lịch y tế, khám chữa bệnh (dịch vụ thẩm mỹ sắc đẹp); du lịch hội nghị, hội thảo Dịch
vụ Y khoa ở Đông Nam Á có xu hướng rẻ hơn nhiều so với ở châu Âu và Bắc Mỹ Các nghiên cứu đưa ra kết quả về quy mô của lĩnh vực này rất khác nhau, nhưng theo NaRanong A, NaRanong V thì trong năm 2008, du lịch y tế ở Thái Lan đã tạo ra từ 46
tỷ baht đến 52 tỷ baht (1 đô la Mỹ [USD] = 30 baht), doanh thu từ các dịch vụ y tế còn được cộng thêm 12 đến 13 tỷ baht từ du lịch liên quan Điều này làm cho tổng doanh thu tăng từ 58 tỷ baht đến 65 tỷ baht, tạo ra giá trị gia tăng từ 31 tỷ baht đến 35 tỷ baht
từ các dịch vụ y tế, cộng với 5,8 tỷ baht đến 6,5 tỷ baht từ du lịch Tại thời điểm này, các chuyên gia đã dự báo thị trường du lịch y tế của Thái Lan sẽ tăng hơn gấp đôi 2015, nếu vẫn duy trì mức tăng như năm 2011 [PR Newswire.com, 2012, 156] Tổng số tiền này chiếm tổng giá trị gia tăng từ 36,8 tỷ baht đến 41,6 tỷ baht, tương đương 0,4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Theo các kịch bản khác nhau, giá trị gia tăng từ du lịch y tế
dự kiến sẽ đạt từ 59 tỷ baht đến 110 tỷ baht trong năm 2012 [NaRanong A, NaRanong
V, 2011, pp.336-344, 78] Cho đến nay, Bangkok tiếp tục là trung tâm chính của các
hoạt động kinh tế, chủ yếu dựa vào công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Sự tăng trưởng về du lịch đã nhanh chóng dẫn đến sự cạnh tranh giữa các sân bay ở các thành phố Đông Nam Á Cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các sân bay của Singapore; sân bay Suvarnabhumi của Bangkok và sân bay Quốc tế Kuala Lumpur là trung tâm kinh tế, tài chính, du lịch ở Đông Nam Á và dành cho những hành khách đến từ châu Âu và Bắc Mỹ Các thành phố như Chiang Mai, Cebu City, Surabaya và Penang cũng tìm cách phát triển sân bay của họ thông qua các việc liên kết không chỉ với thành phố thủ đô, mà còn với các điểm đến quốc tế khác [Trevor Hogan, Tim Bunnell et al 2012, pp.59-63, 109]
Một số nghiên cứu khác lại cho rằng sẽ khó quản lý một thành phố lớn hơn một
thị trấn nhỏ Tuy nhiên, Tokyo với 36 triệu dân không chỉ là thành phố đông dân nhất
trên thế giới mà còn là một thành phố giàu có nhất với GDP ước tính là 1.497 tỷ đô
la [Hawksworth et al, 2009: 48] Mặc dù tắc nghẽn giao thông khét tiếng nhưng đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Bangkok vẫn tăng mạnh Việc quản lý các khu vực đô thị
Trang 2117
lớn có thể đặt ra những yêu cầu và các phương pháp tiếp cận mới cùng với một khung thể chế mới nhưng các vấn đề về kích thước có thể khắc phục được
Một nghiên cứu khác cũng cho rằng, mặc dù xếp hạng về cạnh tranh thấp nhưng
khu vực Đông Nam Á vẫn đang thu hút lớn các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài Đô
thị hoá nhanh chóng có thể dẫn đến sự gia tăng các thành phố ở các nước đang phát triển trong hàng ngũ các địa điểm thu hút FDI hàng đầu trên thế giới Và Singapore luôn nằm trong 5 thành phố hàng đầu ở châu Á - Thái Bình Dương về thu hút vốn đầu tư, bất chấp sự sụt giảm tới 8% các dự án thực tế đang hoạt động năm 2008 Bangkok cũng đã tăng gấp đôi thị phần của mình gần 2% do tăng trưởng vốn đầu tư
130 USD/cent [FDI Intelligence, 2009, pp 3-4, 42]
Và để định lượng CLCS [Thailand, 2014, pp.17, 101], Thái Lan cũng đã xây dựng
hệ thống chỉ tiêu dựa vào các nội dung cốt lõi của CLCS: đó là ăn, mặc, nhà ở và môi trường, sức khỏe, giáo dục và thông tin, an toàn, việc làm Trên cơ sở những khảo sát và xác định 37 chỉ số theo các nhóm nhu cầu cơ bản của CLCS đồng thời đưa ra những biện pháp thực hiện cụ thể gắn liền với địa bàn dân cư, với trách nhiệm các ngành và vai trò cung cấp thông tin, kết cấu hạ tầng xã hội của Nhà nước Từ đó, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá CLCS theo 3 mức yếu kém (một sao), trung bình (hai sao), khá (ba sao) Trong 9 chuẩn mực sống: ăn đủ, nhà ở thích hợp, dịch vụ xã hội, an toàn, thu nhập đầy đủ, kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần, bảo
vệ môi trường Có thể thấy, các chỉ tiêu CLCS ở Thái Lan rất coi trọng chuẩn mực các dịch vụ xã hội cơ bản cần thiết
Tuy nhiên, bộ chỉ số này được xây dựng để dùng chung trong cả nước nên việc chú trọng vào các đặc điểm của đô thị lớn còn hạn chế, hơn nữa công trình này cũng không được tiến hành khảo sát và cập nhật nghiên cứu thường xuyên, định kỳ nên các vấn đề CLCS đề cập trong nghiên cứu chỉ có ý nghĩa tại thời điểm tiến hành nghiên cứu vì CLCS có thể thay đổi theo không gian và thời gian
1.1.1.2 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội
CLCS đô thị không chỉ phản ánh qua thước đo kinh tế, chính trị mà còn được nhấn mạnh ở một số nhân tố khác về văn hóa, giáo dục, an sinh xã hội và được phản ánh ở một số nghiên cứu như:
Trang 2218
Thông qua biện pháp đo lường chủ quan, đa dạng, nghiên cứu “CLCS ở châu Á”, của Inoguchi T & Fujii, S (2013) được thực hiện từ năm 2003 đến 2008 ở 29 quốc gia châu Á trong đó có Thái Lan, Malaysia CLCS tổng thể ở châu Á đã được
đo lường, đánh giá qua mức độ hạnh phúc, sự hưởng thụ và thành tích của người dân Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng ở một số nước Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan và Việt Nam có sự năng động, cạnh tranh hơn Người dân có xu hướng ưu tiên cho các hoạt động văn hóa tinh thần nhằm nâng cao CLCS (như tình bạn, hôn nhân, hàng xóm, cuộc sống gia đình, giải trí và đời sống tinh thần) trong lối sống hàng ngày của họ [Inoguchi T & Fujii S, 2013, 51]
Còn trong một số nghiên cứu khác lại cho rằng, yếu tố động mạnh đến CLCS người dân ở các thành phố hiện nay đó là sự phân hóa giàu nghèo, đặc biệt là ở các thành phố của những nước đang phát triển như ở khu vực Đông Nam Á Điều rất dễ thấy ở khu vực này là tình trạng bất bình đẳng thu nhập như một sự tương phản giữa người giàu và người nghèo đô thị, UN - HABITAT (2008) ước tính Hệ số Gini trung bình(1) của đô thị châu Á là 0,39 và các thành phố được chọn như sau: Jakarta: 0,32 (2002); PhnômPênh: 0,36 (2004); Hà Nội: 0,39 (2002); Manila: 0,41 (2003); Bangkok: 0,48 (2003) và Thành phố Hồ Chí Minh: 0,53 (2002) [UN - HABITAT, 2008, 112] Một sự phát triển đáng kể ở Đông Nam Á là sự gia tăng của tầng lớp trung lưu
ở các trung tâm đô thị Mặc dù được hình thành từ nhiều cách khác nhau nhưng cần phải khẳng định rằng tầng lớp trung lưu mới nổi trong xã hội thường là những đối tượng được đào tạo tốt, có việc làm ổn định, là chuyên gia, thường trong lĩnh vực chính thức và có đủ thu nhập để chi tiêu vượt ra ngoài những nhu yếu phẩm cơ bản hàng ngày mà họ đang có xu hướng hướng tới các vật dụng như xe hơi và nhà ở Thu nhập ổn định từ việc làm đã tạo ra một thế đứng vững chắc cho tầng lớp trung lưu trong xã hội và nền kinh tế khi nắm một khối lượng tài sản cũng như nhu cầu mua sắm trong cuộc sống ngày càng thay đổi tăng cao [Shiraishi, 2004, 94]
Trong một nghiên cứu khác của S Srichuae et al (2016) lại cho thấy một hiện tượng đáng báo động đang có tác động mạnh đến CLCS của Bangkok đó là sự già hóa
bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân và hệ kinh tế trong một nền kinh tế
Trang 2319
nhanh chóng của dân số Thái Lan Dự báo rằng số lượng dân số già (từ 60 tuổi trở lên)
sẽ vượt quá dân số trẻ (từ 15 tuổi trở lên) vào năm 2020 và ở mức 30% của năm 2050 [S Srichuae et al, 2016, 158] Dân số của Bangkok già hóa nhanh hơn so với cả nước
và của các tỉnh khác Văn phòng kinh tế quốc gia và ban phát triển xã hội báo cáo rằng, năm 2008 ở Bangkok có tỷ lệ người già là 10% và năm 2020 nó sẽ là 21% [W.Suwannarada, 2009, 20] Dự kiến số lượng người cao tuổi (độ tuổi 60 và cao hơn)
sẽ vượt quá số dân của trẻ em (tuổi ít hơn 15 năm) trong năm 2020 [UNFPA, 2006, 111] Bên cạnh đó, ở khu vực thành thị, vấn đề chi phí sinh hoạt luôn trở nên đắt đỏ hơn nông thôn nên một tỷ lệ lớn phụ nữ ở khu vực thành thị Đông Nam Á tham gia trong lực lượng lao động bên ngoài nhà Điều này làm cho người phụ nữ người có thu nhập độc lập và trở nên bình đẳng và hơn, được trao nhiều quyền hạn trong xã hội và cũng ít phải làm việc nhà hơn Ngoài ra, vấn đề kế hoạch hóa gia đình có xu hướng đạt mức chuẩn dễ dàng hơn nông thôn do người dân đô thị không chú trọng đến sinh nhiều con Nhiều phụ nữ ở đô thị tập trung vào sự nghiệp của họ và trì hoãn hôn nhân hoặc không kết hôn Do đó, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở khu vực thành thị thấp hơn cùng với
xu hướng trì hoãn hôn nhân, hoặc nhiều phụ nữ đã chọn sinh có ít con hơn nên tổng tỷ suất sinh ở nhiều thành phố Đông Nam Á hiện tại giữ mức bằng hoặc thấp hơn mức thay thế 2.1, xu hướng này đang lan rộng sang các khu đô thị khác cũng như vùng nông thôn và làm cho xu hướng già hóa dân số ở đô thị càng trở nên sớm hơn
Tỷ lệ người cao tuổi tăng đòi hỏi chính quyền thành phố cần có những chính sách thay đổi phù hợp trong môi trường sống để làm cho cuộc sống của họ dễ dàng hơn Tuy nhiên, đô thị hóa nhanh chóng ở Bangkok đã khiến cho các cơ sở hạ tầng kỹ thuật,
hạ tầng xã hội luôn quá tải, làm ảnh hưởng đến các nhu cầu sinh hoạt của người dân [S Srichuae et al, 2016, 158] Trong khi, người cao tuổi cần môi trường hỗ trợ bao gồm vận chuyển và tiếp cận tại toàn bộ những khu vực công cộng chung Nghiên cứu này nhằm mục đích làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng đến sự vận động của người cao tuổi và sự vận động của họ ở nơi công cộng và các cơ sở giao thông vận tải ở Bangkok
1.1.1.3 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở, dịch vụ đô thị
Trang 2420
Có thể thấy, sự phát triển của các loại phương tiện cá nhân đã nhanh chóng vượt
xa sự mở rộng của mạng lưới đường bộ ở Bangkok, Jakarta, Manila và Singapore Do phương thức dùng phương tiện giao thông công cộng thiếu thuận tiện cùng với sự tăng trưởng kinh tế và thu nhập của người dân ngày càng tăng dẫn đến sự gia tăng quyền sở hữu xe cá nhân cùng với nhu cầu vận tải đường bộ Ngoài ra, với tốc độ đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế của các thành phố ngày càng tăng cao nên nhu cầu đi lại cũng ngày một tăng lên, dẫn đến sự phụ thuộc nhiều hơn vào ô tô và nhu cầu đường bộ Việc không kịp cung cấp nhu cầu về đường bộ và giao thông công cộng đã gây tắc nghẽn giao thông nghiêm trọng ở các thành phố lớn hiện nay Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của dân
cư đô thị, các thành phố phát triển hệ thống giao thông công cộng theo cách của riêng họ như phương tiện giao thông công cộng nhỏ và vừa bao gồm taxi và xe máy taxi kết hợp với việc sử dụng các phương tiện cá nhân [Hayashi et al, 2004, pp 29-32, 49]
Một trong những lý do làm giảm CLCS của người dân sống ở các thành phố trên thế giới trong đó có Bangkok, đó là sự gia tăng quá nhanh của những luồng di cư tự do từ nông thôn đến thành phố lớn để học tập hoặc tìm kiếm việc làm, khiến cho cơ sở hạ tầng, dịch vụ đô thị luôn ở trong tình trạng quá tải Cùng với đó là việc không đáp ứng được nhu cầu nhà ở giá rẻ cho cư dân có thu nhập thấp đã góp phần tạo ra những khu ổ chuột
và khu định cư ngồi xổm ở thủ đô Bangkok ngày càng gia tăng, chiếm khoảng 84% tổng
số các khu định cư và khu ổ chuột ở Thái Lan [Pornchokchai, 2008, 93] Cũng giống như nhiều thành phố và thị trấn Đông Nam Á, vấn đề nhà ở của người nghèo đô thị chưa được quan tâm giải quyết, còn thiếu sự kiên trì và quyết tâm cũng như ý chí của các nhà lãnh đạo các địa phương [Ooi Giok Ling, 2005, 82] Để ngăn chặn sự hình thành khu ổ chuột mới, Chương trình Baan Man kong đã góp phần hạn chế việc sở hữu của những người mới tham gia Chương trình này chỉ hỗ trợ tập trung vào các khu ổ chuột hiện tại chứ không giúp đáp ứng nhu cầu nhà ở của những người mới tham gia vào khu vực đô thị hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp cần nhà ở giá rẻ [Yap KS, De Wandeler, 2010, pp 273-366, 21] Việc phòng ngừa khu định cư khu ổ chuột mới phụ thuộc vào lập kế hoạch của Phòng Kế hoạch Đô thị thuộc Bộ Nội vụ Thái Lan nhưng nó đã tỏ ra không hiệu quả
Trang 25xe buýt nhiều hơn trong thành phố sẽ giảm được các phương tiện cá nhân, là yếu tố quan trọng góp phần giảm bớt việc tắc nghẽn giao thông và cải thiện vấn đề chất lượng không khí Thanaprayochsak (2005) còn cho rằng, đã có những dấu hiệu tích cực bước đầu khi một số người dùng xe hơi có ý thức chuyển đổi sang sử dụng các phương tiện giao thông công cộng như tàu hỏa và tàu điện ngầm cao tốc Điều này thể hiện rõ nét qua số lượng
xe hơi gửi tại những bãi đậu xe ở gần một số ga đường sắt [Thanaprayochsak W, 2005, pp.51-56, 105] Do đó, chính quyền các thành phố cần tăng cường tuyên truyền, định hướng trên các phương tiện truyền thông và ở nơi công cộng nhiều hơn để kêu gọi những người dùng xe hơi chuyển sang sử dụng hệ thống vận chuyển công cộng
Giai đoạn gần đây, chính quyền đô thị Bangkok (Bangkok Metropolitan Adminstration - BMA) hiện đang chi khoảng 2.000 triệu baht cho việc đầu tư cơ sở
hạ tầng hàng năm Số tiền này rất ít khi so sánh với diện tích 1.568 km2 và trên 14 triệu dân đang sinh sống tại khu vực Bangkok Thành phố chắc chắn sẽ cần phải tăng đầu tư ngân sách hàng năm Chính quyền đô thị Bangkok hiện đang yêu cầu chính phủ quốc gia phê duyệt nhiều nguồn thu thuế hơn như thuế tài sản, thuế phí sử dụng
và thuế chuyển nhượng đất Tuy nhiên, việc cải thiện cơ chế hành chính và quá trình đàm phán sẽ mất nhiều thời gian để hoàn thành
Có thể thấy, các nghiên cứu đã đề cập khá sâu tới một số lĩnh vực có liên quan đến CLCS dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau như: cách tiếp cận chủ quan, khách quan, đánh giá sự hài lòng của người dân… về CLCS đô thị qua các điều kiện, môi trường cụ
Trang 2622
thể như: các chỉ số về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, cơ sở hạ tầng, dịch vụ đô thị Trong đó, bên cạnh một số thế mạnh về phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ khám chữa bệnh… thì Bangkok vẫn còn có một số vấn đề khó khăn, hạn chế như: ô nhiễm môi trường; nguồn nước; ngập lụt; không khí; rác thải; ách tắc giao thông; nhà ở Đây là những khó khăn, hạn chế mà Bangkok không thể dễ dàng khắc phục ngay được
1.1.2 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của Hà Nội
1.1.2.1 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm chỉ số về chính trị, kinh tế
Tại Hội thảo quốc tế với chủ đề “Hà Nội: thành phố thân thiện và sống tốt cho
cộng đồng” (Hanoi: a Livable City for all) diễn ra trong tháng 7/2009 do Hội Quy
hoạch Phát triển đô thị Việt Nam (VUPDA) tổ chức với sự tham gia của thị trưởng thủ đô Bangkok (Thái Lan) để cùng nghiên cứu, trao đổi, hướng tới thống nhất giữa các nhà quản lý, nhà chuyên môn về khái niệm “thành phố sống tốt” (livable city) và lựa chọn mô hình thích hợp cho thủ đô Hà Nội trong bối cảnh đang nghiên cứu Quy hoạch chung Hà Nội mở rộng Bài viết của tác giả Đào Ngọc Nghiêm đã khẳng định quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các thành phố Việt Nam luôn đồng hành cùng với đô thị hóa Nếu như 1998 cả nước chỉ có 633 đô thị với tỷ lệ đô thị hóa là 24% thì đến đầu 2009 đã có tới 747 đô thị với tỷ lệ đô thị ≈ 30% và dự báo đến 2020 có thể tới 45 - 50% (khoảng hơn 50 triệu người sống trong các đô thị) Tỷ lệ đô thị hóa cao sẽ tạo nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm và tạo môi trường sống tốt hơn song cũng còn những bất cập, hạn chế nếu không giải quyết tốt giữa tăng trưởng về số lượng với chất lượng đô thị [Đào Ngọc Nghiêm, 2009, tr 35-38, 10] Tác giả Trương Văn Quảng (2009), Viện Kiến trúc, Qui hoạch Đô thị và Nông thôn, bài tham luận tại Hội thảo quốc tế: “Hà Nội: thành phố thân thiện và sống tốt
cho cộng đồng”, Hanoi: a Livable City for all, diễn ra trong tháng 7/2009 Trong đó,
tác giả cũng đã nhấn mạnh đến sự an toàn của một đô thị không phải chỉ được xây dựng trên nền đất ổn định, giảm thiểu được thiên tai mà còn phải an toàn cho con người sống trong đô thị, từ ăn ở, đi lại, sinh hoạt, lao động, sản xuất, học hành Một
đô thị không có tai nạn giao thông; ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn; an toàn thực phẩm; an ninh trật tự; không trộm cắp, tệ nạn xã hội Một đô thị
Trang 27et al, 2005, pp 4-6, 108]
Ở bất cứ thời kỳ nào, đô thị hóa và phát triển đô thị cũng là một động lực phát triển quan trọng của các thành phố và ảnh hưởng trực tiếp đến CLCS của người dân Trải qua các thời kỳ, nhất là qua hơn ba mươi năm đổi mới, vai trò của hệ thống đô thị ở Việt Nam đã chứng minh quy luật đó Trong bài nghiên cứu “Ðô thị hóa và sự
phát triển bền vững” của Lê Hồng Kế (2010) - Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam, tác giả đã chứng minh một trong những tiêu chí quan trọng của quá trình ÐTH
là tỷ lệ dân số sống trong khu vực đô thị so với tổng dân số trên cùng một tỉnh, một vùng hay cả nước Bên cạnh tăng trưởng tỷ lệ đô thị hóa, các tiêu chí về tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP từ các khu vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch (khu vực phi nông nghiệp) chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng GDP quốc gia Các nước có tỷ lệ
đô thị hóa cao đồng nghĩa với tốc độ tăng trưởng khu vực đô thị và cả nước cao như: Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc) có tỷ lệ đô thị hóa gần 100%, Hàn Quốc 91%, Thái Lan 87%, Indonesia 78,5%, Philippines 77%, trong khi Việt Nam mới đạt khoảng 35% và Hà Nội mới đạt gần 50% [Lê Hồng Kế, 2010, tr 1-2, 130]
Với quan điểm khá toàn diện về CLCS, Đỗ Thị Liên Vân, chủ nhiệm đề tài
(2015), “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người dân trên địa bàn Thành phố Hà Nội” đã đưa ra cách tiếp cận CLCS dựa trên những khía cạnh như:
mức sống, tiêu chuẩn sống, lẽ sống, lối sống, Trong đó, các tác giả đã chứng minh
Trang 2824
rằng CLCS của người dân thành phố Hà Nội hiện nay bị chi phối bởi hai yếu tố khách quan và chủ quan, đó chính là mối quan hệ giữa môi trường sống và thái độ sống Môi trường sống mang tính khách quan bởi không chỉ phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của người dân mà phần nhiều phụ thuộc vào môi trường và cơ sở vật chất của đô thị, nhưng thái độ sống thì mang tính chủ quan, do quan niệm và trải nghiệm cá nhân mà hình thành Do đó, dù chọn lựa thái độ sống thế nào thì đánh giá của người dân cũng không thoát được sự chi phối của môi trường sống hiện có [Đỗ Thị Liên Vân, 2015, 19] Tuy nhiên, kết quả khảo sát của đề tài cũng mới chỉ tựa như “một lát cắt” trong tiến trình đô thị hoá và phát triển của Thành phố, vì vậy đề tài cũng mới chỉ phân tích xoay quanh 6 tiêu chí chính mà nhóm nghiên cứu đã tổng hợp và đề xuất, từ đó đưa
ra một số nhận xét về CLCS dân cư Thành phố Rất nhiều các chỉ số CLCS của Mercer chưa được đề cập tới
1.1.2.2 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm chỉ số về văn hóa - xã hội
CLCS và hạnh phúc hiện tại của con người không chỉ tùy thuộc vào mức thu nhập, vào các điều kiện kinh tế mà nó còn được phản ánh qua những tiêu chí như điều kiện sống có thoải mái hay không tùy thuộc vào sức khỏe có tốt không, vào môi trường văn hóa, xã hội và vào kiến thức của từng người với nhiều yếu tố không thể cân, đong, đo, đếm bằng tiền bạc Nguyễn Xuân Chính, Đỗ Thị Liên Vân (2013),
trong nghiên cứu: “Một số giải pháp chủ yếu cải thiện chất lượng và đời sống người lao động tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn Hà Nội” Trong đó,
các tác giả đã làm rõ sự đóng góp đối với kinh tế Hà Nội của một lực lượng lao động không nhỏ trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhưng đang gặp phải nhiều khó khăn trong cuộc sống như: thu nhập, nhà ở, dịch vụ y tế, giáo dục, sinh hoạt văn hoá tinh thần… [Nguyễn Xuân Chính, Đỗ Thị Liên Vân, 2013, 02] Mặc dù nghiên cứu đã trình bày khá chi tiết CLCS của người lao động trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhưng nghiên cứu cũng mới chỉ phản ánh CLCS của một tầng lớp dân cư nhỏ ở đô thị Đây chưa phải là tầng lớp đông đảo và chiếm đa số dân cư ở đô thị của Hà Nội hiện nay
Trang 2925
Một số công trình khác tiếp cận vấn đề CLCS của các thành phố Đông Nam Á dưới giác độ là sự cộng sinh của truyền thống và hiện đại, giữa phát triển kinh tế với việc giữ gìn những yếu tố văn hóa truyền thống [Evers et al, 2000, 40] Sự kết hợp đó quả thật không phải là dễ dàng Các thành phố Đông Nam Á cảm thấy cần phải hiện đại hóa để cạnh tranh với các thành phố khác trên thế giới Họ thay thế các cửa hàng truyền thống bằng các trung tâm mua sắm và cho phép McDonald và Burger King thiết lập cửa hàng trên mọi góc phố Một mặt, các thành phố vẫn phải phát triển hiện đại giống như các thành phố khác vì bản thân đang là một phần của nền kinh tế toàn cầu Kết quả là hầu hết các thành phố đều trông na ná giống nhau, các tòa tháp văn phòng, khách sạn và trung tâm mua sắm… bằng kính và thép đua nhau mọc lên Mặt khác, người dân cũng đang có xu hướng phương tây hóa khi ngày càng quen với các sản phẩm ăn nhanh, tiện dụng như: cocacola, pizza và bánh mì kẹp thịt,… các thành phố như Singapore, Bangkok và Hà Nội đang có nguy cơ mất dần bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo của họ và bắt đầu xem xét ngày càng giống như bất kỳ thành phố nào khác trên thế giới Với việc giá đất tăng liên tục, việc bảo tồn di sản văn hóa trở nên khó khăn Nhiều thành phố đã phải trả giá cho những tổn thất phát sinh Các chuyên gia cho rằng một thành phố chỉ có thể được tái sinh thành công, nếu nó không đánh mất bản sắc văn hóa độc đáo của nó [Tuyên bố Bắc Kinh, 2007, 16]
Ngoài ra, tại các đô thị lớn hiện đang phải đối phó với các thách thức về bất bình đẳng và chênh lệch thu nhập, suy thoái môi trường, di sản văn hóa đô thị, an ninh lương thực… Pejaranonda và các cộng sự (2005) đã cho rằng, sự biến đổi của CLCS thành phố là do những tác động của những luồng di cư từ nông thôn ra thành thị và dần tạo nên sự bất bình đẳng xã hội… Có những lo ngại rằng, đô thị hóa nhanh chóng sẽ chuyển đói nghèo từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị Kết quả Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2015 cho thấy, tỷ lệ di cư của nữ giới (17,7%) ngày càng cao hơn so với nam giới (16,8%) Xu hướng này tương tự ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng, trừ Trung du và miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long lại có xu hướng ngược lại, nghĩa là tỷ lệ di cư của nam cao hơn nữ [Pejaranonda et al, 2005, tr 21, 12]
Trang 3026
Sự bất bình đẳng ở các thành phố còn thể hiện qua việc tiếp cận các dịch vụ công gặp nhiều khó khăn đối với nhóm người di cư đến các thành phố Cụ thể qua một nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Ngân hàng Thế giới phối hợp với nhóm nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2016), đã phân tích về những khó khăn mà người dân di cư đến các thành phố lớn gặp phải liên quan tới tình trạng đăng
ký hộ khẩu Cụ thể có ít nhất 5,6 triệu người dân hiện không có hộ khẩu thường trú ở nơi họ cư trú (và chỉ đăng ký tạm trú), bao gồm 36% dân cư của thành phố Hồ Chí Minh và 18% dân cư ở Hà Nội Xét về lợi ích kinh tế và từ góc độ thị trường lao động, những người đăng ký tạm trú không gặp phải các bất lợi nghiêm trọng, ngoại trừ việc họ khó có cơ hội làm việc cho khu vực công Những người đăng ký tạm trú tiếp tục gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ, đặc biệt về giáo dục, bảo hiểm y tế cho trẻ em, tiếp cận tín dụng và trong các thủ tục dân sự như đăng ký xe máy Có tới 70% người dân ở các khu vực khảo sát tin rằng hệ thống hộ khẩu đã hạn chế quyền của những người dân không có hộ khẩu và cần giảm bớt những hạn chế này [Ngân hàng Thế giới và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 2016, tr.1, 132]
Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa việc tiếp cận tới dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục của trẻ với tình trạng đăng ký hộ khẩu Thực tế những người có đăng
kí tạm trú vẫn đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận tới các dịch vụ xã hội Có nhiều lợi ích liên quan đế đăng ký hộ khẩu thường trú không còn nhưng việc tiếp cận tới giáo dục của con cái hay chăm sóc sức khỏe có thể gặp khó khăn nếu không có hộ khẩu thường trú Vay vốn từ các nguồn chính thức cũng gặp khăn và đăng kí phương tiện đi lại như
xe máy có thể không dễ dàng ở nơi đến nếu không có hộ khẩu thường trú Đồng thời, thủ tục đăng ký hộ khẩu thường trú ở Hà Nội và nhiều thành phố lớn còn rất phức tạp
1.1.2.3 Các nghiên cứu chất lượng cuộc sống qua nhóm chỉ số về môi trường tự nhiên, nhà ở, dịch vụ đô thị
Một số công trình nghiên cứu về CLCS ở các thành phố còn hướng đến việc người dân thành phố phải được bảo đảm đầy đủ bởi hệ thống các dịch vụ đô thị hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thông suốt như: cấp điện, cấp nước, giao thông công cộng, trao đổi thông tin, liên lạc, … Ngoài ra, nhóm người nghèo yếu thế trong xã hội thì
Trang 3127
phải được quan tâm về nhà ở xã hội và hệ thống an sinh xã hội khác Tuy nhiên, trong một thời gian dài, các thành phố chỉ tập trung phát triển kinh tế và nâng cao đời sống vật chất mà quên đi sự phát triển bền vững của người dân thành phố và các thế hệ mai sau Các tác giả Divya Leducq & Helga - Jane Scarwell (2017) đã có bài viết: Hà Nội mới: Cơ hội và thách thức cho phát triển đô thị trong tương lai, đã đưa ra nhận định
Hà Nội hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp về dân số, cơ sở hạ tầng, giao thông, chất lượng môi trường và cả thực phẩm, … đòi hỏi thành phố phải
có những giải pháp cẩn trọng, toàn diện và thực tế Trong hoàn cảnh đó, các nhà nghiên cứu và quy hoạch thực tiễn nên có sự quan tâm hơn đến phương án tiếp cận
từ những yếu tố kết cấu không gian xã hội, để thấu hiểu rõ hơn về sự chuyển dịch của thành phố theo hướng phát triển bền vững [Divya Leducq & Helga - Jane Scarwell,
2017, pp.70-81, 37] Jones, Gavin (2008) tính toán quy mô dân số của Bangkok, Thành phố Hồ Chí Minh, Jakarta và Manila sử dụng cuộc điều tra dân số năm 1990
và 2000 Ông phân biệt ba khu vực: (a) một đô thị lõi có mật độ dân số trên 5.000 người/km2; (b) một khu vực bên trong với mật độ vượt quá 1.000 người trên mỗi km2
và việc làm trong nông nghiệp của dưới 10%; (c) một lõi ngoài: phần còn lại của xác định hành chính khu vực xung quanh lõi và khu vực bên trong, trừ các khu vực có hơn 40 phần trăm việc làm trong nông nghiệp Dân số thực sự của Bangkok, Jakarta
và Manila thực tế có thể nhiều gấp đôi so với chính thức [Jones, Gavin, 2008, 55] Ngoài ra, CLCS của các thành phố còn đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi mặt trái của quá nhanh đô thị hóa nhanh và những hệ lụy của nó sau một thời gian dài tác động vào môi trường mà không có biện pháp và ý thức giữ gìn của người dân [Newman, Peter, 2006, pp 275-295, 79] Các khu định cư đô thị tạo ra lượng ô nhiễm khổng lồ Các hộ gia đình, các nhà máy công nghiệp và dịch vụ sản xuất ngày càng có nhiều chất thải chưa được xử lý xả thẳng ra các sông, hồ và biển làm cho nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng Các ngành công nghiệp và các loại nhiên liệu hóa thạch phát ra khí thải nhà kính dẫn đến sự nóng lên toàn cầu Ngày càng nhiều các khu đô thị bị ô nhiễm nhiều hơn các khu vực nông thôn do sự tập trung cao của các hoạt động kinh tế và sự thịnh vượng Trên thực tế, về mặt sản xuất, nhiều ngành công nghiệp tập trung chủ yếu ở các
Trang 3228
đô thị nhưng chúng không chỉ sản xuất hàng hóa cho các khu vực đô thị, mà còn dành cho khu vực nông thôn [Satterthwaite, David, 2009, pp 545-567, 91]
Tác giả Lê Thị Thanh Loan và cộng sự (2010) đã thực hiện: Báo cáo đánh giá
nghèo đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, trong khuôn khổ Dự án “Hỗ trợ đánh giá sâu về tình trạng nghèo đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh” do
Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc (United Nations Development Programme - UNDP) tài trợ Trong đó, báo cáo cũng khuyến nghị một số lĩnh vực mà thành phố cần quan tâm đó là tăng cường việc tiếp cận hệ thống an sinh xã hội; cải thiện các dịch vụ liên quan đến nhà ở, nâng cao chất lượng và cải thiện diện tích nhà ở Bộ phận dân di
cư ở thành phố chiếm một phần lớn trong số những người nghèo của hai thành phố Nghiên cứu cho thấy, người di cư phàn nàn về việc phải thuê nhà với giá điện, nước quá cao Diện tích nhà ở trung bình của người di cư nhỏ hơn so với người không di cư Hơn 40% số người di cư ở diện tích bình quân đầu người thấp hơn 10m2 trong khi đó
tỷ lệ này ở người không di cư là 16% [Lê Thị Thanh Loan và cộng sự, 2010, 07] Những vấn đề quá tải về cơ sở hạ tầng dễ thấy nhất là tắc nghẽn giao thông ở
đô thị Các thành phố thường xuyên xảy ra là Bangkok, Jakarta và Manila và còn cả những thành phố nhỏ hơn nhưng cũng đang xảy quá tải đó là Thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội và Phnôm Pênh Tại Hà Nội, số lượng xe máy tăng từ 56.648 lên 1.076.581
và số lượng xe tư nhân từ 18.000 xe trở lên 1981 đến hơn 109.900 giữa 1981 và 2002 [Koh, 2006, 59] Chi phí kinh tế dành cho môi trường của việc tắc nghẽn giao thông của các thành phố này là rất lớn Số phương tiện cá nhân của các thành phố nhanh chóng vượt xa sự mở rộng của mạng lưới đường bộ Ngoài ra, do thiếu phương tiện giao thông công cộng đồng thời việc tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập dẫn đến sự gia tăng quyền sở hữu phương tiên cá nhân và nhu cầu di chuyển bằng đường bộ gây tắc nghẽn giao thông nghiêm trọng Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, các thành phố phát triển hệ thống giao thông công cộng theo cách của riêng họ như phương tiện giao thông công cộng nhỏ và vừa kết hợp với di chuyển bằng taxi và xe máy [Hayashi
et al, 2004, pp 27-54, 49] Chính những khó khăn, hạn chế từ các cách quản lý đô thị theo mô hình truyền thống mà ngày nay các thành phố trên thế giới nói chung,
Trang 3329
Bangkok và Hà Nội nói riêng đã và đang chủ trương ứng dụng quản trị thành phố theo mô hình thành phố thông minh Vì chỉ có như vậy nhu cầu của người dân ở mỗi thành phố mới được đáp ứng tối đa và phần nào giải quyết được những thách thức như: tình trạng tăng trưởng dân số quá mức, áp lực về ngân sách công, tình trạng già hóa dân số, ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông, biến đổi khí hậu, v.v
Nhìn chung, các công trình, nghiên cứu kể trên đã trực tiếp và gián tiếp cung cấp một cái nhìn khái quát về CLCS của các thành phố, quốc gia, khu vực khác nhau trong những khoảng không gian, thời gian khác nhau Tuy nhiên, vẫn còn vắng bóng các công trình nghiên cứu đánh giá CLCS thông qua các vấn đề như: cấp điện, cấp nước; nhà ở; tiện nghi gia đình; khí hậu, thời tiết; thiên tai…Vì vậy, các vấn đề này
sẽ tiếp tục được tác giả phát triển, bổ sung theo hướng nghiên cứu tổng thể về so sánh CLCS của Bangkok và Hà Nội thông qua Bộ chỉ số của Mercer
1.1.3 Các nghiên cứu về Bộ chỉ số của Mercer
Có thể thấy, tùy từng mục đích nghiên cứu khác nhau mà các tổ chức, cá nhân trên thế giới đã xây dựng nên những Bộ chỉ số đo lường CLCS đô thị khác nhau Đã
có một số công trình, bài viết trước khi lập luận đưa ra quan điểm của mình về CLCS
đã phân tích, dẫn chứng và đưa ra các bộ chỉ số khác đã được kiểm chứng thực tiễn
để làm sáng rõ mục tiêu của mình Một số công trình nghiên cứu, bài viết có đề cập tới Bộ chỉ số của Mercer theo hướng này như:
A Kaklauskasvà các cộng sự (2018) trong bài viết: “Phân tích CLCS thành phố với nhiều tiêu chí”đã cho rằng các giá trị và ý nghĩa của các Bộ chỉ số được đánh giá hoặc mô tả nhằm xem xét thành phố đó có phát triển bền vững và CLCS tốt hay không Các tính toán như vậy là cơ sở cho việc thiết lập các kế hoạch phát triển ưu tiên của các thành phố Chẳng hạn phương pháp chỉ số Green City Index của châu Âu bao gồm ba giai đoạn: Thu thập dữ liệu; bình thường hóa chỉ số; và xây dựng chỉ mục [A.Kaklauskas et al, 2018, pp.82-93, 22] Bên cạnh đó, một phương pháp ba giai đoạn tương tự cũng áp dụng cho Khảo sát CLCS của Monocle; Bộ chỉ số xếp hạng CLCS của Mercer và Xếp hạng sinh kế toàn cầu của EIU, là hệ thống đánh giá Chỉ số CLCS (QLI) Ngoài ra, NUMBEO cũng đã phát triển Chỉ số CLCS QLI như là một ước tính
Trang 3430
về chất lượng tổng thể của cuộc sống bằng cách sử dụng một công thức thực nghiệm
có tính đến tám chỉ số khác nhau [Numbeo, 2016; Numbeo, 2018, 154, 155]
Còn trong nghiên cứu của mình về: “Xây dựng chỉ số thành phố có thể sinh sống (LCI) sử dụng mô hình không gian địa lý đa tiêu chí cho các thành phố hạng trung ở các nước đang phát triển”, Worawej Onnom và các cộng sự (2018) đã chứng minh rằng trước
đây, người ta thường dùng chỉ số GDP làm thước đo tiêu chuẩn của phát triển kinh tế và CLCS của các thành phố, mặc dù nó chỉ được dùng như một công cụ kế toán kinh tế vĩ
mô [Worawej Onnom, 2018, 166] Tuy nhiên, sau đó các tác giả cũng cho thấy GDP có một số nhược điểm khi được sử dụng để đo lường tình trạng hữu hình [Soubbotina T,
2004, pp.13-26, 99] Còn một số nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng GDP không tính đến các yếu tố như ô nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm tài nguyên, tự do của con người và giá trị của giải trí Do đó, các tác giả còn đề cập tới Bộ chỉ số khảo sát CLCS của Mercer, được sử dụng để giúp các chính phủ và các tập đoàn chủ chốt đặt nhân sự vào các nhiệm
vụ quốc tế Khảo sát CLCS được sử dụng để xếp hạng các thành phố dựa trên đánh giá
39 yếu tố, bao gồm cả chính trị, kinh tế, môi trường, an toàn cá nhân, y tế, giáo dục, giao thông và các yếu tố dịch vụ công cộng khác [Mercer, 2014, 71]
Trong một công trình: “Khảo sát CLCS ở Hồng Kông” của Zhonghua Gou và
các cộng sự (2018) đã đưa ra dẫn chứng rằng [Zhonghua Gou et al, 2018, pp 219, 121]: Trong khi Kahn (1995) cho rằng CLCS có nhiều khía cạnh bao gồm gia đình, công việc, tình hình tài chính, sức khỏe, đức tin và giải trí… do đó, CLCS nó là một hỗn hợp về tâm lý và thể chất của một cá nhân hạnh phúc và liên kết chặt chẽ với các khái niệm như sự hài lòng, phát triển con người, hạnh phúc và sức khỏe [Kahn M.E,1995, pp 221-235, 56] Còn Bộ chỉ số CLCS của Mercer thì lại nhấn mạnh tới
10 nhóm chỉ số như: môi trường chính trị và xã hội, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa xã hội, y tế và sức khỏe, trường học và giáo dục, dịch vụ công cộng và giao thông, giải trí, hàng tiêu dùng, nhà ở và môi trường tự nhiên [Mercer, 2014, 71]
Tác giả Chiara Garau và Valentina Maria Pavan (2018) với nghiên cứu về, “Đánh
giá chất lượng đô thị: Các chỉ số và công cụ đánh giá cho các thành phố bền vững thông minh” [Chiara Garau et al, 2018, 31], trong đó, các tác giả nhận định rằng
Trang 35pp 17-21, 36] Sau đó các nhóm tác giả Höjer, M và cộng sự, (2015) [Höjer, M.et al,
2015, pp 333-349, 114] và Ahvenniemi và cộng sự, (2017) nhấn mạnh rằng giám sát
đô thị bắt đầu từ những năm 1990 nhờ các chỉ số của Chương trình nghị sự địa phương
21, có khả năng giám sát sự bền vững của các khu vực đô thị [Ahvenniemi H et al,
2017, pp 234-245, 23] và chỉ số tăng trưởng kinh tế đã được dùng để đo lường cuộc sống [Economist Intelligence Unit, 2005, 106] và phân tích CLCS, tiếp theo là khảo sát Bộ chỉ số đo lường CLCS hàng năm của Mercer [Mercer, 2014, 71] và sau đó là bảng xếp hạng CLCS nổi tiếng nhất của Monocle [Monocle, 2014, 151] (Thành phố đáng sống nhất) và là một trong những hoạt động học thuật mang tính quốc tế
1.2 Những vấn đề chưa giải quyết và hướng nghiên cứu của luận án
Sau khi tiến hành khảo sát các công trình nghiên cứu tại Việt Nam và nước ngoài theo các nhóm vấn đề liên quan đến đề tài như trên, tác giả nhận thấy một số vấn đề chưa được đề cập, giải quyết Do vậy, nghiên cứu sinh đề xuất hướng giải quyết tương ứng sẽ được triển khai cụ thể trong luận án như sau:
1.2.1 Đối với các nghiên cứu đã công bố về chất lượng cuộc sống của Bangkok
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về CLCS của Bangkok khá đa dạng, phong phú nhưng các nghiên cứu này mới chỉ tiếp cận về CLCS theo xu hướng đơn ngành, phản ánh riêng lẻ về một lĩnh vực nào đó có liên quan đến CLCS tại một thời điểm nhất định: chính trị, kinh tế; văn hóa, xã hội; môi trường tự nhiên, nhà ở, cơ sở hạ tầng và vận chuyển… Tuy nhiên, nếu đối chiếu với từng nhóm chỉ số về CLCS trong Bộ chỉ số của Mercer thì còn có nhiều vấn đề mà các tác giả chưa đề cập tới đó là: Xuất nhập cảnh dễ dàng; Quan hệ với các quốc gia khác; Thực thi pháp luật; Dịch vụ ngân hàng; Chuyển đổi tiền tệ; Nguồn cung thực phẩm; Đồ dùng hàng ngày; Sự ổn định; Tội phạm
Trang 3632
Chính phủ Thái Lan cũng đã đưa ra Bộ chỉ số đánh giá CLCS phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình Tuy nhiên, các chỉ tiêu CLCS ở Thái Lan rất coi trọng chuẩn mực các dịch vụ xã hội cơ bản cần thiết với 10 chỉ tiêu để đánh giá mức độ phát triển của CLCS nhưng chủ yếu là thuộc lĩnh vực dịch vụ xã hội cơ bản Vì vậy, các vấn đề này chưa được đề cập sẽ được tác giả tiếp tục nghiên cứu và làm rõ từng chỉ số trong các chương so sánh thực trạng CLCS Bangkok và Hà Nội của Luận án
1.2.2 Đối với các nghiên cứu đã công bố về chất lượng cuộc sống của Hà Nội
Qua tổng quan các nghiên cứu, bài viết về CLCS đô thị của Hà Nội, tác giả thấy mới xuất hiện những công trình nghiên cứu đi sâu về CLCS thông qua các vấn đề văn hóa - xã hội, an sinh xã hội, y tế, chăm sóc sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần; chất lượng dịch vụ xã hội Tuy nhiên, nếu đối chiếu với từng nhóm chỉ số về CLCS trong
Bộ chỉ số của Mercer thì còn có nhiều vấn đề mà các nghiên cứu chưa đề cập tới đó là: Quyền tự do cá nhân; Quan hệ với quốc gia khác; Thực thi pháp luật; Nguồn cung thực phẩm; Trao đổi tiền tệ; Truyền thông và kiểm duyệt; Dịch vụ ngân hàng; Cấp nước; Cấp điện; Ô nhiễm không khí; Nước thải; Rác thải; Nhà hàng; Rạp chiếu phim; Thể dục thể thao; Biểu diễn nghệ thuật; Côn trùng gây hại; Dịch vụ y tế; Bệnh truyền nhiễm;
Hệ thống trường học; Vận chuyển công cộng; Biến đổi khí hậu; Sân bay; Nhà ở; Bảo trì và sửa chữa nhà ở; Dịch vụ thư tín…
Ngoài ra, cũng đã có một số nghiên cứu về CLCS theo phương pháp tổng hòa các vấn đề có liên quan đến CLCS nhưng dưới dạng đề xuất xây dựng Bộ tiêu chí hoặc là những công trình điều tra khảo sát thực hiện ở quy mô nhỏ và tại một thời điểm nhất định Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chủ yếu dựa trên việc điều tra khảo sát những cảm nhận chủ quan của người dân thành phố mà chưa có sự đối chiếu với những số liệu đánh giá tổng thể mang tính khách quan thông qua các Bộ chỉ số được
đo lường thường xuyên, định kỳ trên thế giới
1.2.3 Đối với các nghiên cứu về Bộ chỉ số chất lượng cuộc sống của Mercer
Có thể thấy, trên thế giới đã có rất nhiều Bộ chỉ số để đánh giá và nghiên cứu
về CLCS dưới các góc độ và mục đích khác nhau Bộ chỉ số của Mercer cũng được xem là một Bộ chỉ số có uy tín, được khảo sát, đánh giá định kỳ hàng năm về CLCS
Trang 3733
của 231 thành phố ở khắp các khu vực trên thế giới Vì vậy, khi đề cập tới các bộ chỉ
số đo lường CLCS đô thị thì không thể không đề cập tới Bộ chỉ số của Mercer Đã có một số công trình có đề cập tới bộ chỉ số của Mercer dưới dạng giới thiệu tổng quan
về các Bộ chỉ số đo lường CLCS có uy tín trên thế giới cũng như giới thiệu về mục đích, vai trò của Bộ chỉ số đối với các tổ chức, cá nhân và thành phố
Chưa có nghiên cứu nào sử dụng Bộ chỉ số của Mercer để nghiên cứu, khảo sát đánh giá cụ thể từng chỉ số cũng như so sánh CLCS của hai hoặc nhiều thành phố với nhau Từ đó, làm rõ được nguyên nhân và bài học đối với từng chỉ số có liên quan Đặc biệt, sẽ thực hiện so sánh từng chỉ số với nhau hoặc so sánh với các
bộ chỉ số khác để có những đánh giá mang tính khoa học và đa chiều về những số liệu và luận chứng đưa ra
1.2.4 Hướng nghiên cứu và tiếp cận của Luận án
Các công trình nghiên cứu và các Bộ chỉ số kể trên đã cung cấp cho tác giả một cách nhìn tổng quan về thực trạng CLCS của một số thành phố, quốc gia, khu vực khác nhau thông qua các cách tiếp cận khác nhau, các Bộ chỉ số khác nhau trong những khoảng không gian, thời gian khác nhau Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới đi sâu nghiên cứu, đánh giá, khảo sát về một hoặc vài lĩnh vực chỉ số cụ thể của CLCS hoặc các tác giả đi sâu nghiên cứu CLCS của một tầng lớp dân cư trong
xã hội cũng như CLCS của một thành phố, quốc gia, khu vực nào đó trên thế giới Đặc biệt, chưa có luận án tiến sĩ nào nghiên cứu về chủ đề này
Một số tổ chức, đơn vị cũng đã xây dựng được Bộ chỉ số đánh giá tổng thể CLCS của thành phố mình nhưng mới chỉ dừng ở mức độ cung cấp các số liệu tổng quan chứ chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích các lĩnh vực, chỉ số cụ thể Các nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức là những Báo cáo thống kê các số liệu hoặc ở dạng là các đề
án Các thành phố cũng chưa sử dụng Bộ chỉ số cụ thể để đánh giá CLCS thường xuyên, định kỳ Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu so sánh CLCS của hai thành phố để rút ra những quy luật, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm phát triển theo xu hướng bền vững
Trang 38sự hài lòng của người dân Bangkok và Hà Nội về CLCS của các thành phố hiện nay Hướng tiếp cận này được kết hợp với phương pháp nghiên cứu so sánh, liên ngành xã hội học sẽ từng bước luận giải, làm sáng rõ những điểm giống và khác nhau giữa hai thành phố về tổng thể toàn bộ 39 chỉ số của Mercer, được tác giả luận án phân nhóm lại thành 3 nhóm chỉ số cơ bản tương ứng 3 chương so sánh thực trạng CLCS của Bangkok và Hà Nội của luận án gồm: Nhóm chỉ số môi trường chính trị - kinh tế; Nhóm chỉ số môi trường văn hóa - xã hội; Nhóm chỉ số môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị Luận án sẽ bổ sung lần lượt những khoảng trống về từng chỉ
số CLCS của hai thành phố mà các công trình đã công bố trước đây chưa nghiên cứu đồng thời làm rõ các nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm đối với thành phố Hà Nội trong bối cảnh mới hiện nay
Tiểu kết Chương 1:
Như vậy, Chương 1 đã tập trung khảo sát các công trình nghiên cứu khoa học
cả ở trong và ngoài nước theo các nhóm vấn đề liên quan đến đề tài Việc khảo sát, đánh giá những thành tựu, kết quả đạt được cũng như những hạn chế của những công trình nghiên cứu đã công bố sẽ là cơ sở để tác giả xác định những hướng đi cụ thể của luận án sau này Cụ thể, Chương 1 đã làm rõ các công trình đã công bố về chủ đề CLCS mới tiếp cận vấn đề nghiên cứu ở dạng đơn ngành, tức là mới nghiên cứu sâu
về một hoặc vài lĩnh vực nào đó của CLCS thành phố/đô thị như: Thu hút đầu tư;
Trang 39Để tránh bị dàn trải, tác giả đã nhóm 39 chỉ số thuộc 10 nhóm lĩnh vực trong Bộ chỉ số của Mercer thành 3 nhóm lĩnh vực cơ bản, phù hợp với 3 chương so sánh thực trạng của luận án gồm: Nhóm môi trường chính trị - kinh tế; Nhóm môi trường văn hóa - xã hội; Nhóm môi trường tự nhiên, nhà ở và dịch vụ đô thị Từ đó, tác giả luận
án có thể dễ dàng so sánh, làm rõ những điểm giống và khác nhau của từng chỉ số; những kết quả, thành tựu, cũng như những hạn chế, khó khăn trong việc thực thi các chỉ số cùng nguyên nhân của chúng, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm đối
Trang 4036
với thành phố Hà Nội về việc nâng cao CLCS thành phố/đô thị trong bối cảnh mới hiện nay và những giai đoạn tiếp theo Bên cạnh đó, chương 1 cũng làm rõ hơn hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của luận án thông qua 2 cách tiếp cận chính đó
là cách tiếp cận khu vực học và tiếp cận từ bộ chỉ số của Mercer Bên cạnh một số phương pháp nghiên cứu truyền thống được sử dụng, phương pháp liên ngành xã hội học và phương pháp so sánh được tác giả sử dụng làm các phương pháp chủ đạo để giải quyết vấn đề nghiên cứu một cách thấu đáo và hiệu quả hơn cả