1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ vai giao tiếp trong lực lượng công an nhân dân việt nam (qua một vài kịch bản phim)

220 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 Nghiên cứu, khảo sát các đặc điểm ngôn ngữ vai giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong giao tiếp phi chính thức với các nội dung: xưng hô và hành vi ngôn ngữ... - Phươn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

===================

NGUYỄN THỊ THÚY HIỀN

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VAI GIAO TIẾP

TRONG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

(QUA MỘT VÀI KỊCH BẢN PHIM)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

===================

NGUYỄN THỊ THÚY HIỀN

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VAI GIAO TIẾP

TRONG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

(QUA MỘT VÀI KỊCH BẢN PHIM)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đƣợc nêu trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Hà Nội, tháng… năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ học, Phòng Đào tạo (Bộ phận Quản lý sau đại học) – Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Cảm ơn các thầy cô giáo

ở Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, luôn động viên, nhiệt tình giúp đỡ

và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi suốt quá trình học tập

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Khang, người thày mẫu mực cho tôi tri thức, kinh nghiệm, niềm say mê nghiên cứu để hoàn thành luận án này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè và người thân trong gia đình đã tiếp sức cho tôi, giúp tôi có được kết quả như hôm nay

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng… năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy Hiền

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC 1

BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6

MỞ ĐẦU 7

Chương 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 15

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 15

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về vai giao tiếp 15

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ của người chiến sĩ công an nhân dân 22

1.2 Cơ sở lí thuyết 25

1.2.1 Một số vấn đề về lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ 25

1.2.2 Vai giao tiếp 34

1.2.3 Lí thuyết về xưng hô 44

1.2.4 Lí thuyết hành vi ngôn ngữ 50

1.3 Tiểu kết chương 1 56

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CÁC VAI GIAO TIẾP TRONG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG GIAO TIẾP CHÍNH THỨC 58

2.1 Giới hạn khảo sát 58

2.2 Các vai giao tiếp trong giao tiếp chính thức trong lực lượng Công an nhân dân 60

2.2.1 Cặp vai trên – vai dưới 63

2.2.2 Cặp vai ngang 71

Trang 6

2.3 Xưng hô giữa các vai giao tiếp trong giao tiếp chính thức trong lực lượng Công an nhân dân 73

2.3.1 Các kiểu xưng hô của lực lượng Công an nhân dân 74 2.3.2 Nhận xét 74 2.3.3 Xưng hô của các cặp vai giao tiếp của chiến sĩ Công an nhân dân 75

2.4 Những hành vi ngôn ngữ (Speech acts) của các vai giao tiếp trong giao tiếp chính thức trong lực lượng Công an nhân dân 102

2.4.1 Phân loại các hành vi ngôn ngữ của các cặp vai giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân trong giao tiếp chính thức 103 2.4.2 Một số hành vi ngôn ngữ đặc trưng được lực lượng Công an nhân dân

sử dụng trong giao tiếp chính thức 114

2.5 Tiểu kết chương 2 118

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CÁC VAI GIAO TIẾP TRONG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG GIAO TIẾP PHI CHÍNH THỨC 120

3.1 Giới hạn khảo sát 120 3.2 Các vai giao tiếp trong giao tiếp phi chính thức trong lực lượng Công an nhân dân 121

3.2.1 Tương tác trong nội bộ lực lượng Công an nhân dân 124 3.2.2 Tương tác ngoài lực lượng Công an nhân dân 129

3.3 Xưng hô giữa các vai giao tiếp trong giao tiếp phi chính thức của lực lượng Công an nhân dân 133

3.3.1 Các kiểu xưng hô của lực lượng Công an nhân dân 134 3.3.2 Nhận xét 134 3.3.3 Cách xưng hô của các cặp vai giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân 136

Trang 7

3.3.4 Khảo sát trường hợp cặp vai “tôi” – “đồng chí” trong giao tiếp phi chính thức của lực lượng Công an nhân dân 157

3.4 Những hành vi ngôn ngữ tương ứng của các vai giao tiếp trong giao tiếp phi chính thức của lực lượng Công an nhân dân 162

3.4.1 Hành vi ngôn ngữ cùng biểu thức ngôn ngữ của các cặp vai trong lực lượng Công an nhân dân 163 3.4.2 Hành vi ngôn ngữ của các cặp vai giữa lực lượng Công an nhân dân với đối tượng ngoài lực lượng Công an nhân dân 174

3.5 Tiểu kết chương 3 179

KẾT LUẬN 181 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 186 TÀI LIỆU THAM KHẢO 187 PHỤ LỤC

Trang 9

trong và ngoài lực lượng CAND 108

Bảng 2.6: Bảng phân loại các nhóm HVNN của vai CB với các vai giao tiếp

trong và ngoài lực lượng CAND 112

Bảng 3.1: Bảng phân cấp vị thế của các vai giao tiếp trong giao tiếp phi

chính thức 122

Bảng 3.2: Các cặp vai của nội bộ LL CAND trong giao tiếp phi chính thức 124 Bảng 3.3: Các cặp vai của nội bộ LL CAND trong giao tiếp phi chính thức 129 Bảng 3.4: Phân loại các nhóm HVNN theo các cặp vai giao tiếp của lực

lượng CAND 163

Bảng 3.5: Bảng phân loại các nhóm HVNN của các vặp vai trên – vai dưới 166 Bảng 3.6: Bảng phân loại các nhóm HVNN của các vặp vai trên – vai dưới 176

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Mô hình 2.1: Phân cấp quan hệ bậc dựa theo nhân tố quyền lực của người chiến sĩ

CAND trong giao tiếp chính thức 60

Biểu đồ 2.1 a: Các cặp vai trong nội bộ lực lượng CAND 62 Biểu đồ 2.1b: Các cặp vai giữa lực lượng CAND và tổ chức, cá nhân ngoài

lực lượng 62

Biểu đồ 2.2: Các kiểu xưng hô trong giao tiếp của lực lượng CAND 74 Biểu đồ 2.3: Tương quan các kiểu xưng – hô của cặp vai trong lực lượng CAND 76 Biểu đồ 2.4: Tương quan các kiểu xưng – hô giữa cặp vai giữa lực lượng CAND và

đối tượng ngoài LL CAND trong giao tiếp chính thức 86

Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phân loại các cặp vai giao tiếp của LL CAND trong giao tiếp

phi chính thức 123

Biểu đồ 3.2: Các kiểu xưng hô của các vai giao tiếp của LL CAND 134

trong giao tiếp phi chính thức 134

Biểu đồ 3.3: Phân loại các nhóm HVNN của LL CAND trong giao tiếp phi

chính thức 162

Biểu đồ 3.4: Các nhóm HVNN của các cặp vai trong LL CAND 163 Biểu đồ 3.5: Các HVNN trong giao tiếp giữa LL CAND với đối tượng ngoài LL

CAND 174

Trang 11

Quan hệ giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa những nhân vật tham gia giao tiếp Quan hệ này được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ xã hội chung và cấu trúc của xã hội đó Mỗi cá nhân trong xã hội có rất nhiều vai từ gia đình cho đến xã hội Trong mỗi cuộc giao tiếp, con người sẽ lựa chọn cho mình một vai giao tiếp phù hợp Việc lựa chọn vai giao tiếp phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố như: hoàn cảnh giao tiếp, nhân vật giao tiếp, chủ đề giao tiếp, Vì vậy, để cuộc giao tiếp được thành công thì mỗi nhân vật giao tiếp phải xác định vai giao tiếp của mình và điều này mang tính quyết định trong việc lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp của mỗi nhân vật

1 2 Trong ngành Công an nhân dân (CAND), vai giao tiếp được thể hiện và quy định cụ thể trong Điều lệnh Công an nhân dân (CAND) Điều

lệnh quy định rõ mô hình xưng hô “tôi”- “đồng chí” Trong các cuộc họp, có

thể là lớn như hội nghị giữa các lãnh đạo cấp cao; có khi chỉ là một cuộc họp

tổ, đội, nhóm, sinh hoạt chuyên môn…, cách xưng hô thông dụng trở thành

chính thức mang tính bắt buộc là tôi - đồng chí Ví dụ, vị công an cấp tướng cũng xưng với vị công an cấp bậc hạ sĩ quan là “tôi” và gọi vị hạ sĩ quân đó

là “đồng chí”; ngược lại, vị công an cấp bậc hạ sĩ quan có thể xưng là “tôi”

và gọi vị công an cấp tướng là “đồng chí” Như vậy, cặp xưng hô “tôi” –

“đồng chí” được coi là cặp xưng hô mang tính hạt nhân Nếu xét thuần túy từ

góc độ ngôn từ thì cặp xưng hô trên là cặp xưng hô “ngang vai” Đây chính là

Trang 12

một đặc điểm nổi trội của cách xưng hô trong lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng CAND nói riêng

Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp, các vai giao tiếp trong lực lượng CAND cũng luôn thay đổi sao cho phù hợp với bối cảnh giao tiếp Không chỉ thể hiện ở xưng hô, ngôn ngữ vai giao tiếp được thể hiện ở việc sử dụng hành

vi ngôn ngữ khi tham gia giao tiếp gắn với mục đích giao tiếp

Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về vai giao tiếp trong

lực lượng CADN Vì những lí do trên, chúng tôi chọn “Đặc điểm ngôn ngữ

vai giao tiếp trong lực lượng Công an nhân dân Việt Nam (qua một vài kịch bản phim) làm đề tài luận án

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án

Mục đích của luận án là tìm hiểu đặc điểm vai giao tiếp của người chiến

sĩ CAND Việt Nam qua một vài kịch bản phim Từ đó, luận án góp phần vào nghiên cứu giao tiếp ngôn ngữ nói chung, giao tiếp tiếng Việt theo sự phân tầng xã hội của ngôn ngữ học xã hội nói riêng; góp phần vào xây dựng văn hóa giao tiếp trong lực lượng CAND Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu sau: 1) Trình bày, hệ thống hóa một số nội dung cơ bản về lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ liên quan đến đề tài nghiên cứu

2) Nghiên cứu, khảo sát các đặc điểm ngôn ngữ vai giao tiếp của lực lượng CAND Việt Nam trong giao tiếp chính thức với các nội dung: xưng hô

và hành vi ngôn ngữ

3) Nghiên cứu, khảo sát các đặc điểm ngôn ngữ vai giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong giao tiếp phi chính thức với các nội dung: xưng hô và hành vi ngôn ngữ

Trang 13

3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu biểu hiện của các đặc điểm ngôn ngữ của các vai giao tiếp của người chiến sĩ CAND trong giao tiếp chính thức và phi chính thức (qua một vài kịch bản phim) từ các phương diện xưng hô và hành

vi ngôn ngữ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong giao tiếp chính thức và phi chính thức của người chiến sĩ CAND

3.3 Tư liệu nghiên cứu

1) Nguồn tư liệu nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của Ngôn ngữ học

xã hội là ngôn ngữ giao tiếp trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, chúng tôi khảo sát phần lời thoại của các nhân vật thuộc lực lượng CAND và nhân vật tương tác với lực lượng CAND làm tư liệu khảo sát Việc lựa chọn nguồn tư liệu nghiên cứu trên xuất phát từ hai lí do sau:

Thứ nhất, do thời gian thực hiện đề tài luận án có hạn nên việc khảo sát tư

liệu thực tiễn bằng hình thức ghi âm, điều tra bằng phiếu khảo sát,… không cho phép và do đặc trưng ngành của lực lượng CAND quy định nên khó khăn cho tác giả trong tiếp xúc trực tiếp

Thứ hai, khi lựa chọn kịch bản phim làm ngữ liệu nghiên cứu, chúng tôi

nhận thấy: kịch bản phim về người chiến sĩ CAND được các tác giả từng công tác trong Ngành viết Những sự kiện và cá nhân tiêu biểu của thực tiễn là chất liệu sáng tạo được tác giả tái hiện, xây dựng thành những bối cảnh chân thực và hình tượng nhân vật sống động trong kịch bản phim Tuy nhiên, để hạn chế và lược bỏ những yếu tố hư cấu và điển hình hoá của đặc trưng thể loại kịch bản phim, chúng tôi đã dựa trên đặc trưng thể loại văn học (kịch bản phim) khu biệt, đồng thời, xin ý kiến từ các tác giả Nguyễn Xuân Hải và Nguyễn Như Phong

Vì dung lượng luận án không cho phép, chúng tôi tạm gác nghiên cứu phần giao tiếp phi lời

Trang 14

2) Phạm vi tư liệu được giới hạn ở 6 kịch bản phim của hai tác giả:1/

Tác giả Nguyễn Xuân Hải với các kịch bản phim: Những kẻ giấu mặt (2 tập); Thức tỉnh (2 tập); Sa Mi, em ở đâu? (2 tập); Những đứa con biệt động

Sài Gòn - Phần 1 (39 tập); 2/ Tác giả Nguyễn Như Phong với các kịch bản

phim: Bí mật tam giác vàng (38 tập); Chạy án (40 tập)

Lí do chúng tôi lựa chọn 6 kịch bản phim của 2 tác giả Nguyễn Xuân Hải và Nguyễn Như Phong là tư liệu nghiên cứu:

Thứ nhất, xu hướng quốc tế hóa mang lại nhiều lợi thế cho đất nước ta

hội nhập quốc tế Tuy nhiên, mặt trái của xu thế đó là tình hình tội phạm và bất ổn xã hội ngày càng có xu hướng phức tạp hóa từ hình thức đến hành vi

Là lực lượng có nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội, lực lượng CAND giữ vai trò tiên phong và quan trọng trong việc duy trì ổn định trật tự

an toàn, an ninh quốc gia Có rất nhiều các tác phẩm viết về vấn đề vừa nêu, tuy nhiên, 6 kịch bản phim của 2 tác giả Nguyễn Xuân Hải và Nguyễn Như Phong là các tác phẩm phản ánh kịp thời, chi tiết, toàn diện… công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hội nhập có nhiều biến động nhất của đời sống xã hội và thu hút được đông đảo khán giả đón nhận

Thứ hai, 6 tác phẩm là 6 tấm gương phản chiếu các bình diện và phạm

vi khác nhau của người chiến sĩ CAND trong thực hiện nhiệm vụ cũng như trong sinh hoạt đời thường Các tác phẩm là sự liền mạch phạm vi từ vùng núi đến vùng xuôi, từ nông thôn đến thành thị, từ phạm vi gia đình đến phạm

vi xã hội, từ phạm vi quốc gia đến phạm vi quốc tế,… với rất nhiều nhân vật thuộc các tầng lớp trong mối liên quan đến lực lượng CAND

Thứ ba, trong quá trình thực hiện thu thập tư liệu, chúng tôi có được sự giúp đỡ từ hai tác giả Nguyễn Xuân Hải và Nguyễn Như Phong trong việc lí giải các hình tượng chiến sĩ trong các tác phẩm nói riêng và dụng ý nghệ thuật của các kịch bản phim nói chung

Trang 15

3) Kịch bản truyền hình (tiếng Pháp: scénario) là kịch bản văn học làm

cơ sở để xây dựng tác phẩm truyền hình, khác với kịch bản phân cảnh của đạo diễn Đặc điểm của kịch bản truyền hình là gắn liền với hình tượng thị giác, tập trung khai thác các yếu tố thấy được của đối tượng

Do đó, nhân vật, cốt truyện, mâu thuẫn, diễn biến,… đều thể hiện qua các chi tiết, động tác thấy được, không cần sự trần thuật như nhà tiểu thuyết Trong điện ảnh, cái nghe được phục tùng cái thấy được Đối thoại, độc thoại quá nhiều sẽ tổn hại đến tính hoàn chỉnh của hình tượng thị giác

Kịch bản trước hết vạch ra “đề cương” tác phẩm; thứ hai, kịch bản đóng

vai trò như một yếu tố liên hệ giữa những cá nhân có liên quan đến công việc, liên hệ giữa yếu tố kỹ - nghệ thuật, thống nhất hành động, các phương tiện biểu hiện ăn khớp bổ trợ cho nhau tạo nên một chỉnh thể, một tác phẩm hoàn hảo

Kịch bản phim truyền hình về người chiến sĩ CAND là kịch bản văn học về đề tài đặc thù nghề nghiệp của ngành Công an

Nội dung câu chuyện trong kịch bản phim rất đa dạng Các kịch bản phim truyền hình về lực lượng CAND thường đề cập tới những vụ án với nhiều tình tiết hồi hộp, gay cấn Ngoài ra, phía sau mỗi sự vụ ấy là những câu chuyện đánh án ẩn chứa rất nhiều bí mật mà độc giả khó có thể biết được

4) Nhân vật người chiến sĩ CAND: Hình ảnh người chiến sĩ được thể

hiện trong các kịch bản phim hình đã đưa đến cho khán giả một cách nhìn khá

đa dạng về thế giới của những người gác cửa bình yên cuộc sống Đó có thể là

những người cán bộ tài trí, trung thực như: đại tá Hòa, trung tá Minh, đại tá

Vương,… Những nhân vật đó đại diện cho hình tượng những người chiến sĩ

CAND làm việc quyết đoán, nghiêm khắc, bản lĩnh song luôn nhân hậu, thấu hiểu lí lẽ, luôn vất vả, gian lao và khó khăn hơn khi công việc của họ luôn phải đối đầu giữa thiện – ác từng giây từng phút Hay đó là hình ảnh những chiến sĩ Công an dám hi sinh thân mình khi đỡ đạn cho đồng đội

Trang 16

Không chỉ thành công trong việc khắc họa hình ảnh tích cực của người chiến sĩ CAND, các kịch bản cũng nêu những mặt trái, góc khuất của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ tha hóa Đó có thể là nhân vật Chương- một người từng đứng trong hàng ngũ Công an, nhưng bị mờ mắt bởi đồng tiền nên đã sa ngã,

đã đánh mất bản ngã của người chiến sĩ CAND hoặc cũng có thể là nhân vật

Bá, hay nhân vật Sắc …

4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận án sử dụng một số phương pháp nghiên

cứu ngôn ngữ và thủ pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: chúng tôi sử dụng phương pháp này để tập trung nghiên cứu hội thoại và chỉ ra những nhân tố chi phối đến xưng hô, hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong từng hoàn cảnh giao tiếp; chúng tôi so sánh và lí giải điểm tương đồng và khác biệt của vai giao tiếp trong từng hoàn cảnh, đồng thời làm rõ đặc điểm ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong lực lượng CAND

- Phương pháp miêu tả: dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi phân tích, miêu tả đặc điểm xưng hô, hành vi ngôn ngữ, của các vai giao tiếp trong giao tiếp chính thức và phi chính thức; chỉ ra mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn sử dụng ngôn ngữ, giữa ngôn ngữ và người chiến sĩ CAND, sự tương tác giữa ngôn ngữ trong hệ thống và nghĩa ngữ dụng…

- Nghiên cứu liên ngành: vì đối tượng nghiên cứu và tư liệu khảo sát của luận án liên quan đến văn bản nghệ thuật cho nên, ngoài những tri thức ngôn ngữ học làm nền tảng, chúng tôi sử dụng các tri thức và kỹ năng của các

chuyên ngành khác trong quá trình tìm hiểu như: lý luận văn học, tâm lý học

tội phạm, xã hội học, sử học, khoa học hình sự…

Trang 17

4.2 Thủ pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu như:

- Thủ pháp thống kê, phân loại, thủ pháp phân tích ngữ cảnh để dựng lên bức tranh toàn cảnh về hoàn cảnh giao tiếp của người chiến sĩ công an với việc lựa chọn vai giao tiếp; tính đếm số lượng và tần suất xuất hiện của các từ ngữ xưng hô, hành vi ngôn ngữ các vai sử dụng

- Thủ pháp so sánh, đối chiếu được chúng tôi sử dụng để chỉ ra sự giống và khác nhau thói quen sử dụng hành vi ngôn ngữ, lựa chọn từ ngữ xưng hô,… của các vai giao tiếp từng hoàn cảnh cụ thể

5 Đóng góp của đề tài

5.1 Về mặt lí luận

Luận án góp phần giải quyết một số vấn đề về giao tiếp tiếng Việt nói chung và giao tiếp của người chiến sĩ CAND dưới tác động của các nhân tố ngôn ngữ - xã hội Tách nhân tố vai giao tiếp ra thành một biến xã hội để nghiên cứu về xưng hô và hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp chính thức và phi chính thức của người chiến sĩ CAND, luận án góp phần nghiên cứu mối quan

hệ giữa ngôn ngữ và người chiến sĩ CAND, một hướng nghiên cứu liên ngành hay đa ngành của ngôn ngữ học hiện đại

5.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nghiên cứu giao tiếp tiếng Việt dưới tác động của biến xã hội – vai giao tiếp Thông qua việc nghiên cứu vai giao tiếp trong các hoàn cảnh giao tiếp chính thức và phi chính thức với các nội dung

cụ thể: xưng hô, hành vi ngôn ngữ và nghiên cứu trường hợp cụ thể của cặp vai

“tôi” – “đồng chí” có thể thấy được những biến đổi về lối ứng xử văn hóa – ngôn

ngữ của người chiến sĩ CAND

Đồng thời, luận án góp phần phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục văn hóa ứng xử của người chiến sĩ CAND trong nhà trường công an và trong phong trào học tập và làm việc theo quy định của pháp luật trong thời đại mới

Trang 18

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung

chính của luận án được cấu trúc thành 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của luận án Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ các vai giao tiếp trong lực lượng Công

an nhân dân trong giao tiếp chính thức

Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ các vai giao tiếp trong lực lượng Công

an nhân dân trong giao tiếp phi chính thức

Trang 19

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về vai giao tiếp

1.1.1.1 Trên thế giới

Trong giao tiếp, các quan hệ quyền lực và thân hữu luôn hiện hữu trong mọi cấu trúc xã hội Điều này lí giải, hai quan hệ này thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau, trong đó có ngôn ngữ học Tiếp cận đối tượng ở những hướng khác nhau trên hệ tư tưởng chung của ngành, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học lại có những cách tiếp cận khác nhau Trên cơ sở tìm hiểu, chúng tôi điểm qua một số hướng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ như:

Thứ nhất, nghiên cứu về quan hệ giao tiếp trong giao tiếp

Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Michael Focault (triết gia người Pháp; 1926 – 1984), Pierre Bourdieu (1930 - 2002), Michael Forcault được xem là người đầu tiên nhận ra và đưa lí luận về quan hệ quyền lực vào trong việc lựa chọn vai và sử dụng ngôn ngữ Bằng việc chỉ ra và phân tích ba

đặc điểm cơ bản về quyền lực và ngôn ngữ, tác giả Forcault đã chỉ ra: “trong

các tương quan của con người, cho dù các tương quan đó bao gồm sự giao tiếp bằng lời nói như chúng ta đang tham gia ngay lúc này, hay những tương quan kinh tế, thể chế, tình yêu, thì quyền lực luôn có mặt.”[113] Điều này

đồng nghĩa với việc cho rằng quan hệ quyền lực là quan hệ có sẵn trong xã hội để các cá nhân lựa chọn vai giao tiếp cũng như mã ngôn ngữ phù hợp

Tiếp sau Focault, Pierre Bourdieu đã phát triển, mở rộng mối quan hệ quyền lực, vai giao tiếp và ngôn ngữ Cùng với việc chỉ ra mối quan hệ quyền lực

và các hình thức chiếm hữu của nhà nước, tác giả đồng thời nêu ra: vị thế của mỗi

Trang 20

cá nhân trong không gian xã hội không tồn tại tự nó, mà tồn tại trong sự so sánh với số lượng tư bản do các cá nhân khác sở hữu Minh chứng cho điều này, Pierre Bourdier đã đưa ra ví dụ: xem xét ở phạm vi pháp đình, sự chênh lệch về nguồn lực ngôn ngữ (lượng từ vựng chuyên ngành luật, khả năng sử dụng cấu trúc cú pháp phức tạp, hiểu biết về nghi thức giao tiếp ngôn ngữ tòa án ) sẽ đưa đến sự chênh lệch về quyền lực giữa một bên là những người tiến hành tố tụng; một bên

là những người tham gia tố tụng Khái niệm quyền lực tượng trưng của Bourdieu

đã cung cấp một khung phân tích cho mối quan hệ quyền lực và ngôn ngữ khá cụ thể, gắn với những ngữ cảnh cụ thể trong giao tiếp [36]

Một trong những công trình đáng chú ý thuộc hướng nghiên cứu này là

“Language and Power” của tác giả Norman Fairclough: “bàn về cách ngôn ngữ hoạt động để duy trì và thay đổi các mối quan hệ quyền lực trong xã hội đương đại và cách hiểu các quy trình này có thể cho phép con người phản ứng linh hoạt và thay đổi chúng.” [106, tr x + 248]

Dựa trên năm mối quan hệ tích cực giữa ngôn ngữ và quyền lực trong giao tiếp xuất hiện từ các nghiên cứu ngôn ngữ học, xã hội học, phân tích hội thoại, tâm lí học xã hội của ngôn ngữ và giao tiếp, đồng tác giả Sik Hung Ng

và Fie Deng đã chỉ ra hai trong số các mối quan hệ đó xuất phát từ quyền lực

ẩn sau ngôn ngữ mà nó thể hiện và quyền lực tồn tại ở cả cấp độ vi mô và vĩ

mô: “Ở cấp độ vi mô, quyền lực ẩn sau ngôn ngữ là những nhân tố thuộc sở

hữu của người phát ngôn như vũ khí, tiền bạc, địa vị xã hội hoặc những phẩm chất cá nhân khác – những nhân tố đó được thể hiện thông qua ngôn ngữ, người nói tác động đến người nghe Ở cấp độ vĩ mô, quyền lực phía sau ngôn ngữ là sức mạnh tập thể (sức sống của ngôn ngữ dân tộc) của cộng đồng nói ngôn ngữ đó” [120, tr 1-2]

Thứ hai, nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp

Brown và Gilman trong công trình “The pronouns of power and

solidarity”[95] thông qua khảo sát hai quan hệ “quyền lực” và “thân hữu”

Trang 21

trong nghiên cứu đại từ nhân xưng ở tiếng Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha đã

nhận định rằng: “Việc sử dụng T hay V có quan hệ mật thiết tới kết cấu xã hội và

ý thức cộng đồng”[49, tr.359] Chẳng hạn, từ thế kỉ thứ XII đến thế kỉ thứ XIV,

trong các ngôn ngữ Châu Âu đã hình thành một chuẩn về ý nghĩa quyền lực mang tính phi tương hỗ: người có quyền được dùng T, còn người khác đối với

người có quyền lực phải dùng V (hai chữ T và V (từ hai từ tu và vos trong tiếng

Latinh), hai kí hiệu chung cho đại từ chỉ sự thân hữu và đại từ chỉ sự quyền lực trong tất cả các ngôn ngữ Đối với những người có quyền lực ngang nhau, việc xưng hô lúc đầu là không có khu biệt (mà chỉ căn cứ vào địa vị cao thấp trong xã hội để sử dụng T hoặc V) Mãi về sau mới có sự phân hóa, T trở thành tiêu chí gần gũi, V trở thành tiêu chí mang tính lễ nghi Nhân tố này tạo nên mối quan hệ thân hữu Nhân tố kết liên lúc đầu chỉ dùng để xưng hô giữa những người có quyền lực ngang nhau [49, tr.359]

Nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp còn có tác giả Elizabeth Bates và Laura Benigni với cuộc khảo sát đại từ nhân xưng ngôi thứ hai trong tiếng Ý Tác giả phát hiện ra rằng, cách dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ hai trong tiếng Ý chịu ảnh hưởng rất lớn của mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố tuổi tác và giai cấp Ngoài ra, còn có tác giả Paul Friedrich cũng có công trình nghiên cứu về đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ 2 trong tiếng Nga Người có quân hàm cao hơn, có trình độ cao hơn, quyền chức cao hơn sẽ có cách xưng hô khác với những người có quân hàm thấp hơn, có trình độ thấp hơn, quyền chức thấp hơn Christine Bratt Paulston – tiến hành khảo sát đại từ nhân xưng ngôi thứ hai trong tiếng Thụy Điển

Thứ ba, nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp

Có thể kể đến một số nghiên cứu đề cập đến hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp như:

Lí thuyết hành vi ngôn ngữ do nhà triết học J L Austin (1962) và J Searle (1968, 1979) khai sinh và củng cố Searle đã khắc phục những điểm bất

Trang 22

nhất của Austin để đưa ra 12 quan điểm khác biệt, quy chiếu thành bốn tiêu chí

và xác lập được năm nhóm hành vi ngôn từ lớn Với từng nhóm hành vi ngôn ngữ, tác giả đã nêu những đặc trưng của nhóm và quy định giữa người nói (Sp1)

và người nghe (Sp2) thực hiện một việc nào đó trong tương lai Điều này đã gián tiếp khẳng định sự có mặt của năm nhóm hành vi ngôn, từ đó là sự khẳng định cương vị - vai giao tiếp giữa Sp1 và Sp2 Theo đó, các mức độ của quyền lực và thân hữu trên thang độ quan hệ được thiết lập từ quyền lực tuyệt đối đến thân hữu tuyệt đối Ứng với các mức độ này là các hành vi ngôn ngữ khác nhau

Các tác giả cùng hướng nghiên cứu này như: A.Wierzbicka, D.Wunderlich, F.Bach, … Qua nghiên cứu hành vi ngôn ngữ gián tiếp xác lập quan hệ giao tiếp với các vai cụ thể

Bên cạnh việc xác định vai giao tiếp là điều kiện để tạo lập hành vi ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến hiện tượng lịch sự Các tác giả tiêu biểu như: R Lakoff, G.N Leech, R Brown và S Levinson,… Dựa vào ba quy tắc lịch sự (không được áp đặt, dành cho người đối thoại sự lựa chọn và khuyến khích tình cảm bạn bè), R Lakoff đã chỉ ra rằng, mỗi quy tắc thích hợp với một ngữ cảnh nhất định: quy tắc thứ nhất phù hợp vời hành vi mà vị thế của Sp1 cao hơn Sp2, lợi ích hành vi thuộc về Sp1; quy tắc thứ hai phù hợp với những hoàn cảnh

mà Sp1 và Sp2 có vị thế tương đương nhau không thân cận; quy tắc thứ ba thích hợp với những hoàn cảnh mà nhân vật giao tiếp có vị thế ngang và có quan hệ thân cận [20, tr.18]

1/ Nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp

Trang 23

- Khi nghiên cứu về sự chi phối của vai giao tiếp trong việc lựa chọn và

sử dụng từ xưng hô, tác giả Nguyễn Văn Khang đã dành một nội dung trong

công trình “Ngôn ngữ học xã hội” nghiên cứu về xưng hô Tác giả đã vận dụng khái niệm “quyền thế” và “kết liên” để chỉ ra 13 kiểu xưng hô và những nhân tố

chi phối việc lựa chọn từ xưng hô - đây được xem là nghiên cứu có tính chất nền tảng cho nghiên cứu xưng hô từ góc độ vai giao tiếp ở giai đoạn tiếp sau

Cùng hướng nghiên cứu này có các tác giả với các công trình nghiên

cứu như: Vũ Tiến Dũng với “Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính (qua một số

hành động nói)”; Phạm Trọng Thưởng với “Sự chi phối của vai giao tiếp tới cách sử dụng từ xưng hô trong hội thoại”,…

- Nghiên cứu xưng hô dưới góc độ văn hóa có thể nhắc đến các nghiên cứu của các tác giả sau:

Trong công trình “Các cách xưng hô trong tiếng Nùng” [59], tác giả

Phạm Trọng Thưởng tập trung nghiên cứu cách xưng hô trong hội thoại tiếng Tày như là một đơn vị của ngôn ngữ trong trạng thái hoạt động, trạng thái hành chức Thông qua việc xác lập các điều kiện xác lập hành vi xưng hô, tác giả đã chỉ ra các chức năng của xưng hô cùng những nhân tố tác động đến việc sử dụng

từ xưng hô như hoàn cảnh giao tiếp, tín ngưỡng văn hóa,… của nhân vật tham gia hội thoại

Lê Thanh Kim trong công trình “Từ xưng hô và cách xưng hô trong phương

ngữ tiếng Việt” đã đi sâu phân tích các đặc điểm của từ xưng hô trong các phương

ngữ tiếng Việt trong quan hệ với các ngữ cảnh xã hội, với người sử dụng giúp ta nắm được bản sắc văn hóa, phong tục, tâm lí, tình cảm,… và đặc biệt chú ý đến những hoàn cảnh và tình huống giao tiếp cụ thể

Theo hướng này còn có nghiên cứu của các tác giả như: Dương Thị Nụ

(2004), “Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Anh và người Việt”; Phạm Ngọc Hàm (2008), “Từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán hiện đại (đối chiếu

với tiếng Việt)”; Bùi Khánh Thế (1990), “Về hệ thống đại từ xưng hô trong

Trang 24

Nguyễn Văn Khang (1996) với “Nghi thức lời nói trong giao tiếp gia

đình người Việt” đã đi sâu phân tích các đặc điểm của nghi thức lời nói và

đưa ra các biểu thức xưng hô thể hiện tính nghi thức trong xưng hô của gia đình người Việt

Trong công trình “Tìm hiểu văn hóa quyền lực được đánh dấu bằng

hành vi xưng hô trong giao tiếp gia đình người Việt”, Lương Thị Hiền xuất

phát từ cơ sở tổng quan các quan niệm về quyền lực, văn hóa quyền lực và ngữ liệu thu thập đã đưa ra các mô hình xưng hô thể hiện văn hóa quyền lực trong giao tiếp gia đình người Việt như: bằng đại từ nhân xưng, bằng danh từ thân tộc…

Những nghiên cứu theo hướng này của các giả khác như: Bùi Minh

Yến: “Xưng hô giữa các thành viên trong gia đình người Việt” (1996), “Từ

xưng hô gia đình đến xưng hô ngoài xã hội của người Việt” (2001); Khuất

Thị Lan (2015), “Xưng hô trong giao tiếp vợ chồng nông dân người Việt

(Trên cứ liệu một số tác phẩm văn học giai đoạn 1930-1945)”; …

Nghiên cứu xưng hô ở phạm vi ngoài xã hội với các mối quan hệ như bạn bè, thầy giáo – học sinh, người hâm mộ - nghệ sĩ,… có thể kể đến: Bùi

Minh Yến (2003), “Ngôn ngữ xưng hô bạn bè trong nhà trường hiện nay”; Đào Thản (2003), “Ngôn ngữ giao tiếp trên lớp học của giáo viên và học sinh

tiểu học hiện nay”; Mai Xuân Huy (2004), “Về hiện tượng xưng hô trong giao tiếp quảng cáo”; Phạm Thị Hà (2013) “Chiến lược giao tiếp xưng hô trực tuyến giữa người hâm mộ với nghệ sĩ (qua hành vi khen và hồi đáp khen)”;

Trang 25

Lê Thị Kim Cúc (2015), “Đặc điểm ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong

truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam”;

2/ Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp

- Nghiên cứu cấu trúc, ngữ nghĩa và mối quan hệ của các hành vi ngôn ngữ trong việc thể hiện vai giao tiếp có thể kể đến các tác giả với các công

trình nghiên cứu như: Nguyễn Thị Thanh Ngân (2011), “Hành động giao và

phân công trong tiếng Việt”; Khuất Thị Lan (2014), “Hành vi hỏi trong giao tiếp vợ chồng nông dân người Việt giai đoạn 1930-1945 (qua ngữ liệu tác phẩm văn học 1930-1945)”; Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2017), “Hành động cầu khiến của các vai giao tiếp của người lính Cụ Hồ trong giao tiếp chính thức”;…

- Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong quan hệ gia

đình và xã hội có thể kể đến: Lương Thị Hiền, “Các phương tiện ngôn ngữ

biểu thị quyền lực trong hội thoại gia đình người Việt (Qua một số tác phẩm văn học 1930-1945); Trần Thị Kim Hằng (2011), “Văn hóa ứng xử của người Việt và người Anh: những cặp thoại phổ biến (khen và hồi đáp khen)”, Phạm

Thị Hà (2013), “Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành

vi khen và tiếp nhận lời khen”; Nguyễn Thị Thanh Ngân (2011) “Hành động giao và phân công trong tiếng Việt”;…

Đặc biệt, trong công trình “Những hướng nghiên cứu quyền lực trong

giao tiếp ngôn ngữ” (2014), tác giả Lương Thị Hiền đưa ra các hướng nghiên

cứu về quyền lực: nghiên cứu mối quan hệ quyền lực và ngôn ngữ theo hướng

xã hội học; nghiên cứu mối quan hệ quyền lực và ngôn ngữ theo hướng ngữ dụng học; nghiên cứu mối quan hệ quyền lực và ngôn ngữ theo hướng ngôn ngữ học xã hội; nghiên cứu mối quan hệ quyền lực và ngôn ngữ theo hướng phân tích hội thoại Tác giả đã tổng hợp rất nhiều những khái niệm về quyền lực Đặc biệt là quyền lực trong xã hội Tuy nhiên, bài viết cũng không nói gì

đến quyền lực trong lực lượng CAND

Trang 26

- Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp với vấn đề lịch sự

như: Vũ Thị Thanh Hương (2000), “Lịch sự và phương thức biểu hiện tính

lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt”; Vũ Tiến Dũng (2003), “Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính (qua một số hành động nói);…

Có thể nói, đề tài nghiên cứu về xưng hô, cách xưng hô và hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp đã thu hút được nhiều nhà ngôn ngữ học qua nghiên cứu Vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm và tiếp cận ở nhiều phương diện khác nhau từ phương diện lí thuyết thuần túy cho đến việc áp dụng lí thuyết vào các hiện tượng trong thực tiễn Tuy nhiên cho đến nay, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về vai giao tiếp của người chiến sĩ trong ngành CAND

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ của người chiến sĩ công an nhân dân

Trong phạm vi tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ của người chiến sĩ CAND Tuy nhiên ở phạm vi nghiên cứu về chiến sĩ trong phạm vi lực lượng vũ trang nhân dân có thể kể

đến công trình “Đặc điểm ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ thời kì chống

Pháp, từ góc độ vai giao tiếp (Trên ngữ liệu một số tác phẩm văn xuôi hiện đại)” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Chuyên Trong nghiên cứu này, tác giả đã

coi ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ là một biến thể của ngôn ngữ và đi sâu tìm hiểu về chủ đề, xưng hô và hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong hai hoàn cảnh giao tiếp quy thức và phi quy thức Từ việc phân tích, lí giải tác

giả đã nhận định: “Giao tiếp của người lính Cụ Hồ là hình thức giao tiếp vừa

mang tính pháp quy, vừa mang tính tình cảm, vừa mang tính hiện đại, vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính quy thức, vừa mang tính phi quy thức Những điều này làm cho giao tiếp của người lính Cụ Hồ thời kì chống Pháp

có những nét đặc thù so với các nhóm đối tượng khác trong xã hội và làm nên

vẻ đẹp văn hóa giao tiếp của người lính Cụ Hồ” [14, tr 148]

Ngoài ra có thể kể đến, tác giả Nguyễn Thị Hiền (2006), Kĩ năng giao

tiếp với dân của cảnh sát khu vực quận Thanh Xuân, Luận văn Thạc sĩ,

Trang 27

trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Huy Toàn

(2011), Kĩ năng giao tiếp của học viên trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân

II, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh; Lê Thị Quý (2015), Hành vi giao tiếp có văn hóa của cảnh sát khu vực với người dân quận Cầu Giấy, Hà

Nội, Luận văn Thạc sĩ, Đại học KHXH&NVHN; Nguyễn Thanh Tuấn với bài

viết: “Nâng cao văn hóa ứng xử của thanh niên Công an, ngăn ngừa hành vi

lệch chuẩn” (2017);…

Những quan niệm, nhận định về ngôn ngữ người chiến sĩ CAND xuất

hiện ở một số công trình thuộc các ngành nghiên cứu có liên quan như: văn

hóa học, tâm lý học, luật học, xã hội học

Từ góc độ các văn bản pháp quy, vấn đề xưng hô của người chiến sĩ

CAND đã được cụ thể hóa trong một số văn bản như: “Thông tư

27/2017/TT-BCA về quy tắc ứng xử của cán bộ, chiến sĩ CAND” đã quy

định: cán bộ, chiến sĩ CAND phải ứng xử theo đúng nguyên tắc, quy tắc đã

quy định trong khi thực hiện nhiệm vụ, kể cả giao tiếp, quan hệ với mọi người xung quanh Một số nội dung quy định cụ thể về văn hóa ứng xử của người chiến sĩ CAND như:

“Khi giao tiếp qua điện thoại, cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân phải

xưng tên, chức danh, đơn vị công tác, nội dung trao đổi đầy đủ, rõ ràng; ngôn ngữ giao tiếp văn minh, lịch sự, ngắn gọn, dễ hiểu Tại Điều 4 và Điều 6 trong “Sáu điều Bác Hồ dạy”quy định: “Đối với nhân dân, phải kính trọng lễ phép” và Điều 6: “Đối với địch, phải cương quyết khôn khéo”; Lời thề thứ 3 trong “5 lời thề danh dự của CAND” quy định: “Kính trọng, lễ phép với nhân dân Tại điều 1 và điều 5 của “10 Điều kỷ luật của Công an nhân dân” quy định: Điều 1: Không có lời nói, hành động xâm hại đến Tổ quốc Việt Nam, đến

uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, đến sự vững mạnh của Nhà nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đến danh dự và truyền thống của CAND Việt Nam Điều 5: Có thái độ niềm nở, lịch sự, đúng mực khi tiếp xúc với mọi người; Không

Trang 28

hách dịch, cửa quyền, thô bạo, gây phiền hà, sách nhiễu đối với nhân dân [132]

Ngoài ra, có thể kể đến một số văn bản quy phạm khác như: Luật Công

an nhân dân (Số 73/2014/ QH13); Chỉ thị số 12/2002/CT-BCA Về tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy” giai đoạn 2003-2008; Quyết định số 893/2008/QĐ-BCA Về quy tắc ứng

xử của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức trong Công an nhân dân,

Từ góc độ văn hóa học, có thể kể đến một số tác giả với các công trình như:

Tác giả Trần Đại Quang với công trình: “Văn hóa ứng xử Công an nhân dân Việt

Nam” Trong công trình này, tác giả khi đi sâu phân tích, lí giải vấn đề văn hóa và

văn hóa ứng xử của CAND là một bộ phận của văn hóa Việt Nam, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng CAND ngày càng trong sạch, vững mạnh đã quan tâm, làm rõ

và có minh chứng trong giao tiếp của người chiến sĩ CAND với từng đối tượng

cụ thể Đối với nhân dân, “Trong thi hành công vụ, cán bộ, chiến sĩ công an luôn

vui vẻ, niềm nở, luôn gần gũi, thân thiện mà không suồng sã.”[136, tr 125]

Thông qua các khảo sát, tác giả nhận định: “Ở nhiều công an địa phương, việc

xưng hô, chào hỏi giữa cán bộ, chiến sĩ với nhau, giữa cấp trên và cấp dưới còn mang nặng tính chất gia đình (như cấp dưới xưng con với lãnh đạo, chỉ huy hoặc cán bộ lớn tuổi) Một số cán bộ, chiến sĩ, nhất là số chiến sĩ trẻ, chiến sĩ phục vụ

có thời hạn xưng hô với nhau suồng sã, nói tục, ảnh hưởng đến tính chất chính quy của lực lượng.” [136, tr 135-136]

Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy: các tác giả đã dành sự quan tâm nghiên cứu về giao tiếp nói chung và vai giao tiếp nói riêng Ở phương diện vai giao tiếp, các tác giả đã nêu và tập trung làm rõ các quan hệ vai quyền lực và vai thân hữu trên các phương diện: từ phạm vi gia đình đến xã hội; từ nhân tố xã hội tác động đến các quan hệ đến các đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa; … Ở phạm vi vai giao tiếp của lực lượng vũ trang,

Trang 29

các nghiên cứu về người chiến sĩ chưa được quan tâm tìm hiểu Theo tìm hiểu, nghiên cứu về người lính Cụ Hồ đã được một số tác giả nghiên cứu, tìm hiểu Tuy nhiên, nghiên cứu về chiến sĩ thuộc lực lượng CAND chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về lực lượng CAND

Luận án tập trung vào tìm hiểu đặc điểm vai giao tiếp của lực lượng CAND trong giao tiếp chính thức và phi chính thức trên tư liệu một số kịch bản phim thể hiện qua hành vi xưng hô, hành vi ngôn ngữ

Vì vậy, thực hiện đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ vai giao tiếp trong lực

lượng Công an nhân dân Việt Nam (qua một vài kịch bản phim) là vấn đề cần

thiết không chỉ có giá trị lí thuyết mà còn có giá trị thực tiễn

1.2 Cơ sở lí thuyết

1.2.1 Một số vấn đề về lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ

1.2.1.1 Khái niệm giao tiếp ngôn ngữ

Giao tiếp (communication) là một trong những hiện tượng phổ biến

trong xã hội Trong xã hội loài người, giao tiếp là nhu cầu cơ bản của con người, là hoạt động có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người và

nó thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu:

Tiếp cận giao tiếp ngôn ngữ ở những phương diện khác nhau, các nhà nghiên cứu có nhiều cách hiểu và đưa ra các định nghĩa khác nhau về giao tiếp Quá trình hình thành và định hình khái niệm giao tiếp bằng ngôn ngữ qua hai bước sau:

Thứ nhất, nghiên cứu giao tiếp bằng ngôn ngữ theo hướng tuyến tính

(một chiều)

Những tác giả đầu tiên nghiên cứu về giao tiếp bằng ngôn ngữ là các nhà

tu từ học La Mã và Hi Lạp cổ đại với mục đích giúp cho quá trình đào tạo các nhà hùng biện Dựa trên các kết quả nghiên cứu, Aristotle đã khái quát mô hình

giao tiếp bằng ngôn ngữ với ba nhân tố: người phát, thông điệp và người nhận

Đây được xem là mô hình đầu tiên phác họa về giao tiếp bằng ngôn ngữ Cũng

Trang 30

từ mô hình cơ bản này, những nghiên cứu về giao tiếp được mở rộng, bổ sung các nhân tố mới

Khi nghiên cứu về quá trình tạo lập văn bản, R Jakobson trong công

trình “Linguistics and Poetics” đã đưa ra sơ đồ giao tiếp bằng ngôn ngữ gồm 6 nhân tố, gồm: 3 nhân tố cơ bản của Aristotle (người phát, thông điệp và người

nhận) và thêm 3 nhân tố có tính chất trung gian (ngữ cảnh, tiếp xúc và mã)

Việc R Jakobson mở rộng các thành tố đã thể hiện bước phát triển quan trọng trong giao tiếp ngôn ngữ Tuy nhiên, tác giả mới chỉ xem xét các nhân tố tác động một chiều

J Lyons xem xét giao bằng ngôn ngữ gắn với sự truyền tin Trong lược

đồ mà tác giả đưa ra xuất hiện “vật nhận” đóng vai trò như nhân vật giao tiếp

trung gian Có thể nói, lược đồ đã lấy sự trao đổi lời làm trung tâm Tuy nhiên, cũng như các mô hình và sơ đồ của các tác giả Aristotle và Jakobson,

lược đồ của Lyons vẫn chỉ coi X (nguồn phát tin) và Y (nguồn nhận tin) –

những nhân vật trực tiếp trong giao tiếp có tính một chiều, tức là: X chủ động phát tin còn Y thụ động tiếp nhận

Có thể nói, các tác giả nêu trên đã hình thành các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Bước đầu tạo nền móng cho quá trình hoàn thiện mô hình giao tiếp bằng ngôn ngữ có tính hai chiều – thể hiện bản chất tác động qua lại của giao tiếp

Thứ hai: nghiên cứu giao tiếp bằng ngôn ngữ theo hướng tương tác

(hai chiều)

Kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu giao tiếp bằng ngôn ngữ của các nhà khoa học đi trước, các nhà ngôn ngữ sau này đã đi sâu tìm hiểu bản chất của giao tiếp – đó là tính hai chiều của giao tiếp Đặt giao tiếp trong một

một trường thích ứng, các nhân tố giao tiếp như: người gửi, người nhận, thông

điệp đã được mở rộng biên độ chức năng Chẳng hạn: quá trình người gửi và

người giải đáp thông điệp đều phải tuân theo quy trình: mã hóa thông điệp,

Trang 31

truyền thông điệp và giải mã thông điệp Mặc dù có sự khác nhau về quá trình trình tiếp nhận và xử lí thông tin nhưng giữa người gửi và người giải thông điệp

đã có sự tương tác với nhau

Như vậy, quá trình hình thành khái niệm giao tiếp bằng ngôn ngữ đi từ:

mô hình tuyến tính một chiều đến mô hình tác động qua lại Gắn với các mô hình giao tiếp trên có rất nhiều các định nghĩa về giao tiếp bằng ngôn ngữ Trên cơ sở tìm hiểu, chúng tôi đưa ra một số định nghĩa về giao tiếp như sau:

Căn cứ vào Từ điển “The Encyclopedia of Language and Linguistics”

(1994), tác giả Diệp Quang Ban đã lí giải các cách hiểu về giao tiếp và đưa ra các hiểu giao tiếp bằng ngôn ngữ như sau:

a Một cách đơn giản nhất và chung nhất, giao tiếp được hiểu là quá trình thông tin diễn ra giữa ít nhất hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định

Trong định nghĩa này có ba yếu tố cần chú ý:

Thứ nhất, giao tiếp là “quá trình thông tin diễn ra giữa hai người giao

tiếp (communicators) trao đổi với nhau” Như vậy, nhân vật giao tiếp ở đây

không nhất thiết phải là hai con người tách biệt mà có thể là một người “phân

thân” tự trao đổi với bản thân mình

Thứ hai, “hai người giao tiếp trao đổi với nhau”, tức là họ có sự đồng

thuận tương tác Nếu không có sự đồng thuận thì giao tiếp không thể diễn ra

Thứ ba, cuộc giao tiếp giữa các nhân vật phải có một ngữ cảnh và một tình huống cụ thể

b Với cách hiểu có tính chất chuyên môn, giao tiếp được định nghĩa như một thuật ngữ chỉ loại, bao trùm tất cả các thông điệp được phát ra trong những ngữ cảnh tình huống khác nhau

c Trong ngôn ngữ học, “giao tiếp được nhìn nhận như là những cái vốn có

trong thông điệp ngôn ngữ: qua bình diện nội dung và bình diện biểu hiện (hình thức của thông điệp bằng ngôn ngữ, người ta có thể hiểu tình huống, ngữ cảnh, và

Trang 32

bản thân những người trao đổi lời với nhau tự thể hiện mình” [3, tr 18-19]

Cách định nghĩa giao tiếp này đƣợc coi là cách định nghĩa có tính chất trung hòa, có quan tâm đến những truyền thống khác nhau trong ngôn ngữ học

Theo Kathleen Stremel “Giao tiếp là sự trao đổi thông tin giữa hai

người trở lên Mỗi người giao tiếp theo nhiều cách khác nhau và vì nhiều lý do khác nhau Giao tiếp có thể được thể hiện hoặc tiếp nhận”.[ “Communication

Interactions: It takes two” (2008), The National Consontium On Deaf –

Blindness, Voice (800), tr 838]

Theo Duncan và Moriarty (1998), “giao tiếp là một hoạt động của con người

liên kết mọi người lại với nhau và tạo mối quan hệ Nói cách khác, mỗi cá nhân liên quan đến các cá nhân khác bằng phương tiện giao tiếp (Sanford, Hunt, & Bracey, 1976).” [138]

Cooren (1999) và Schwartzman (1989) cho rằng: “giao tiếp tạo nên hoạt

động của một tổ chức và các công tác tổ chức, điều phối, thông báo, sắp xếp, chỉ đạo v.v được thực hiện bởi các hành vi giao tiếp Ý nghĩa của giao tiếp không chỉ là việc cung cấp thông tin.” [138]

Trong “Từ điển Khái niệm Ngôn ngữ học” của Nguyễn Thiện Giáp

“Giao tiếp (communication) là sự trao đổi tư tưởng, thông tin… giữa hai hoặc

hơn hai người Trong mỗi hành động giao tiếp thường có ít nhất một người nói hoặc người gửi, một thông điệp được truyền đạt và một người hoặc những người tiếp nhận” [27, tr 179]

Kế thừa và phát huy có phản vấn các kết quả nghiên cứu về giao tiếp ngôn ngữ của các tác giả trên thế giới, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã có

những quan điểm riêng của mình Cụ thể: trong công trình “Phân tích phong

cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học”, tác giả Đỗ Việt Hùng và Nguyễn

Thị Ngân Hoa đã quan niệm: “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tiếp

xúc giữa con người với con người nhằm truyền đạt hay thông báo một số nội dung trong tư duy” [42, tr.12]; tác giả Khuất Thị Lan trong công trình: “Giao

Trang 33

tiếp vợ chồng trong gia đình người Việt giai đoạn 1930-1945 (Qua tư liệu tác phẩm văn học)” nhận định giao tiếp ngôn ngữ là: “hoạt động mà người nói dùng ngôn ngữ để truyền đạt cho người nghe những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình về một thực tế khách quan nào đó để người nghe có hành động với thực tế như người nói mong muốn” [57, tr 13]

1.2.1.2 Giao tiếp chính thức và giao tiếp phi chính thức

Khi bàn về hoàn cảnh giao tiếp, các nhà nghiên cứu và các đối tượng quan tâm đã nhận thấy: hoạt động giao tiếp diễn ra ở những môi trường khác nhau tùy theo mục đích và đối tượng giao tiếp Tuy nhiên, giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người có thể quy về hai phạm vi chính là giao tiếp trong gia đình và giao tiếp ngoài xã hội với các quy định có tính chất quy định pháp quy ràng buộc hoặc có tính pháp quy thấp – thậm chí không có tính pháp quy

Tìm hiểu các quan niệm về phạm vi giao tiếp bằng ngôn ngữ trên thế giới, chúng tôi nhận thấy có các quan niệm như sau:

Giao tiếp chính thức (formal communication):

“Giao tiếp chính thức là việc trao đổi thông tin chính thức, chảy dọc

theo các cấp khác nhau của hệ thống phân cấp tổ chức và tuân thủ các quy tắc, chính sách, tiêu chuẩn, quy trình và quy định chuyên nghiệp của tổ chức”

[140] Từ việc đưa ra định nghĩa về giao tiếp chính thức, các tác giả đã phân tích các nhân tố có tính nguyên tắc như: Giao tiếp chính thức tuân theo một kênh giao tiếp được xác định trước thích hợp và được kiểm soát có chủ ý Nó được điều chỉnh bởi chuỗi chỉ huy và tuân thủ tất cả các quy tắc thông thường của tổ chức Có thể hình dung các hình thức giao tiếp chính thức như sau:

- Giao tiếp hướng xuống: khi thông tin chuyển từ cấp cao hơn xuống cấp thấp hơn

- Giao tiếp đi lên: thông điệp chuyển từ cấp thấp hơn lên cấp cao hơn

- Giao tiếp theo chiều ngang: khi các đồng nghiệp với các lĩnh vực trách nhiệm khác nhau, nhưng ở cùng cấp trong tổ chức giao tiếp với nhau

Trang 34

- Giao tiếp chéo: Khi nhân viên của các phòng ban khác nhau ở các cấp khác nhau giao tiếp với nhau không phân biệt chuỗi lệnh [140]

“Giao tiếp chính thức đề cập đến trao đổi thông tin chính thức Luồng

truyền thông được kiểm soát và là một nỗ lực có chủ ý Điều này giúp thông tin có thể đến được nơi mong muốn mà không gặp bất kỳ trở ngại nào, với một chi phí nhỏ và một cách thích hợp.” [139]

Giao tiếp phi chính thức (Informal communication):

“Giao tiếp phi chính thức dựa trên mối quan hệ xã hội giữa con người

với con người (Anderson & Narus, 1984; Litterst & Eyo, 1982; Guffy,

Rhoddes, & Rogin, 2005) Nói cách khác, giao tiếp phi chính thức là thuộc cá nhân, phục vụ cho các “mục đích riêng tư” trong khi nền tảng của giao tiếp

chính thức được cho là để phục vụ các mục đích của một tổ chức (Ogaard,

Marnburg, & Larsen, 2008)

Liên quan đến khái niệm “giao tiếp chính thức” và “giao tiếp phi chính

thức” là khái niệm “hoàn cảnh giao tiếp”

Theo Ngôn ngữ học truyền thống, các tác giả khi tìm hiểu các hoàn cảnh giao tiếp đã gián tiếp khẳng định các đặc trưng phong cách ngôn ngữ Tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Hữu Đạt,… đã cho rằng: có thể phân chia hoàn cảnh giao tiếp theo: giao tiếp hành chính và giao tiếp đời thường Các hoàn cảnh giao tiếp trên sản sinh và quy định các phong cách ngôn ngữ

Các nhà nghiên cứu thuộc phong cách học như: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Hữu Đạt, sau khi chỉ ra các đặc điểm đã chia thành 6 phong cách ngôn ngữ khác nhau, cụ thể: phong cách ngôn ngữ Sinh hoạt; phong cách ngôn ngữ Nghệ thuật; phong cách ngôn ngữ Báo chí; phong cách ngôn ngữ Chính luận; phong cách ngôn ngữ Hành chính; phong cách ngôn ngữ Khoa học Mỗi phong cách trên có những đặc trưng riêng từ phạm vi sử dụng, chức năng, đặc trưng cơ bản và các dạng biểu hiện

Trang 35

Theo Ngôn ngữ học hiện đại, các tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Khang, … kế thừa các nghiên cứu đi trước đã chỉ rõ và cụ thể các khái niệm: ngữ vực (register) và phong cách (style) trong giao tiếp Ngữ vực được dùng

để chỉ khái quát tất cả những biến đổi được sinh ra khi sử dụng ngôn ngữ

“Ngữ vực là một hình thức dự báo và phân chia ngữ vực thành ba bình diện:

hiện trường/ toàn cảnh (field), phương thức (mode) và người giao tiếp (tenor)

- Hiện trường/ toàn cảnh: toàn bộ sự kiện phát sinh hành vi ngôn ngữ (tức

là hoạt động xã hội đang tiến hành) và mục đích giao tiếp của người tham gia giao tiếp

- Phương thức: phương tiện và (kênh) truyền giao tiếp

- Người nói: Các vai trong hoạt động xã hội của người tham gia giao tiếp Nói một cách khác, đây là mối quan hệ về vai giữa những người giao tiếp, bao gồm cả ý đồ của người sử dụng ngôn ngữ đối với người thụ lời (như mệnh lệnh, khuyên bảo, răn đe, tuyên truyền,….) [49, tr.393]

Một số nhà ngôn ngữ học đã đề nghị, nên dùng thuật ngữ “ngữ vực” để

chỉ ngôn ngữ nghề nghiệp (như ngôn ngữ pháp luật, ngôn ngữ y học, ngôn ngữ tiếp viên, ) hoặc chỉ phong cách quen dùng của một nhóm xã hội nào đó như phong cách nữ tính

Phong cách (style) được coi là biến thể chức năng của ngôn ngữ Bối cảnh giao tiếp có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng phong cách Khi tìm hiểu

về vấn đề này, tác giả Nguyễn Văn Khang dẫn: “Martin Joos đã chia phong

cách trong tiếng Anh làm 5 loại là: phong cách nghi lễ, phong cách chính thức, phong cách thương lượng đàm phán, phong cách tự do và phong cách thân mật

(1) Phong cách nghi lễ là phong cách rất chính thức Đặc điểm cơ bản của phong cách này là, thường sử dụng các mô hình có sẵn, thường dùng trong các buổi lễ nghi quan trọng

Trang 36

(2) Phong cách chính thức, thường dùng để chỉ phong cách sách vở Đặc điểm của phong cách này là câu tương đối dài, chuẩn về văn phạm Phong cách này thường dùng trong các bài diễn văn hoặc phát ngôn Nhiều khi, phong cách này còn được dùng khi cấp dưới giao tiếp với cấp trên hoặc với người có quyền lực

(3) Phong cách thương lượng, đàm phán Đây là phong cách nửa chính thức, nằm trung gian giữa phong cách chính thức và tự do Đối tượng sử dụng phong cách này thường là những người không quen biết Người nói dùng khẩu khí thương lượng để lôi cuốn khách thể tham gia vào cuộc đàm thoại

(4) Phong cách tự do (tùy tiện) Phong cách này được dùng trong các cuộc giao tiếp không chính thức như trong quan hệ bạn bè, người quen Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách này là đơn giản, nhiều khi lược thành phần chủ ngữ cùng các trợ động từ,…

(5) Phong cách thân mật Phong cách này được dùng giữa những người thân quen Ngôn ngữ sử dụng thường đơn giản và có khi sử dụng cả tiếng lóng [49, tr.394]

Quá trình phân tích các phong cách, tác giả cũng khẳng định và thừa

nhận: “hai phong cách chính thức và không chính thức luôn được người sử

dụng có ý thức phân biệt khi sử dụng.” [49, tr 395]

Trong mỗi cộng đồng xã hội tồn tại các cộng đồng giao tiếp khác nhau Các cộng đồng giao tiếp được hình thành qua giao tiếp thường xuyên và liên tục của con người trong sử dụng ngôn ngữ tự nhiên Tuy nhiên, trong cộng đồng giao tiếp lại chia thành các nhóm khác nhau bởi các tiêu chí như: nghề nghiệp, tôn giáo, thể chế chính trị,… Đồng thời, dưới tác động của các nhân

tố mang tính cá nhân như: tuổi tác, giới tính, trình độ hiểu biết, quan hệ thân sơ,… sẽ hình thành các vùng ngôn ngữ (domain) riêng Theo đó, mỗi thành viên trong xã hội sẽ được xếp vào các giai tầng xã hội khác nhau trên cơ sở của hàng loạt các tiêu chí như: giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần

Trang 37

xuất thân, trình độ văn hóa,… Các đặc điểm về giai tầng xã hội có tác động trực tiếp và tạo nên đặc điểm ngôn ngữ trong sử dụng Điều này tạo ra sự phân tầng trong xã hội và tác động trực tiếp đến việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng giao tiếp ở phạm vi rộng (cả cộng đồng) và phạm vi hẹp (nhóm đối tượng)

Kế thừa và phát huy những quan niệm và nghiên cứu thực tiễn về sự phân biệt hoàn cảnh cảnh giao tiếp Trong phạm vi luận án, chúng tôi đồng thuận quan điểm với các tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Khang,… trong cách phân định và gọi tên: hoàn cảnh giao tiếp chính thức và hoàn cảnh giao tiếp phi chính thức

Môi trường giao tiếp của người chiến sĩ CAND rất đa dạng Tuy nhiên,

dựa theo Điều lệnh Công an nhân dân [135] và Luật Công an nhân dân [142],

chúng tôi quy về hai dạng chính, đó là: giao tiếp chính thức và giao tiếp phi chính thức

Giao tiếp chính thức được xác định “là việc trao đổi thông tin chính

thức, xuyên suốt theo các cấp khác nhau của hệ thống phân cấp tổ chức và tuân thủ các quy tắc, chính sách, tiêu chuẩn, quy trình và quy định chuyên nghiệp của tổ chức Giao tiếp chính thức tuân theo một kênh giao tiếp được xác định trước phù hợp và được kiểm soát có chủ ý Nó được điều chỉnh bởi chuỗi chỉ huy và tuân thủ tất cả các quy tắc pháp quy của tổ chức.” [140]

Như vậy, giao tiếp chính thức có các đặc điểm: “1 Do chính phủ hoặc

cơ quan có quyền lực hợp pháp công bố hoặc đưa ra; 2 Có đầy đủ các điều kiện như đã quy định, có đầy đủ tư cách; 3 Đúng cách thức đã được pháp luật hoặc tổ chức quy định, đúng thể thức” [92, tr 163]

Cụ thể, trong lực lượng CAND, giao tiếp chính thức được xác định là hoạt động giao tiếp của người chiến sĩ CAND trong thi hành công vụ để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự và thực hiện nhiệm vụ bảo

vệ an ninh quốc gia, đảm vảo trật tự an toàn xã hội và trong nội bộ (công tác, chiến đấu, học tập)

Trang 38

Giao tiếp phi chính thức được xác định là giao tiếp “dựa trên mối quan

hệ xã hội giữa con người với con người Cụ thể, nguồn gốc của giao tiếp không chính thức là “nhân vật giao tiếp” thực hiện nhằm “mục đích riêng tư” trong khi nền tảng của giao tiếp chính thức được cho là để phục vụ các mục đích của một tổ chức Bằng cách giao tiếp phi chính thức, nhân vật giao tiếp có thể nói chuyện về các vấn đề, thái độ, công việc và bất cứ điều gì họ thích, sau đó dẫn đến sự hài lòng” [138] Trong lực lượng CAND, hoàn cảnh

giao tiếp phi chính thức được xác định là hoàn cảnh giao tiếp không “do chính

phủ hoặc cơ quan có quyền lực hợp pháp công bố hoặc đưa ra” [92, tr 163]

hay giao tiếp phi chính thức là hoàn cảnh giao tiếp lực lượng CAND khi không thực hiện nhiệm vụ Trong hoàn cảnh không thực hiện nhiệm vụ, cán

bộ - chiến sĩ sinh hoạt theo tập quán cá nhân và địa phương

1.2.2 Vai giao tiếp

1.2.2.1 Khái niệm vai giao tiếp

Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp có sự phân vai cho nhau:

“Vai phát diễn ngôn, tức là vai nói (viết), kí hiện Sp1 (speaker 1) và vai tiếp nhận

diễn ngôn, tức nghe (đọc), kí hiệu Sp2 (speaker 2) Trong cuộc giao tiếp nói, mặt đối mặt, hai vai nói, nghe thường luân chuyển, Sp1 sau khi nói xong chuyển thành vai nghe Sp2 và ngược lại.” [10, tr 15]

Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp không chỉ đơn thuần là sự

cố định vai người nói và vai người nghe mà sự định vai của các nhân vật giao tiếp chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ như: quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế,

Trên thực tế, con người luôn luôn có nhiều mối quan hệ giao tiếp đa dạng với nhiều lớp người, loại người khác nhau về địa vị xã hội, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, học vấn, uy tín xã hội… nên mỗi cá nhân bao giờ cũng có một bộ vai xã hội phản ánh quan hệ ứng xử của cá nhân đó Hay nói như tác

giả Nguyễn Thiện Giáp: “một số nhân tố đã được thiết lập trước đối với giao

tiếp và đó là những nhân tố khách quan bên ngoài Chúng gồm vị trí tương đối

Trang 39

của các tham thoại Vị thế đó dựa vào những giá trị xã hội liên quan đến tuổi tác, giới tính và cương vị xã hội Các nhà ngôn ngữ học đã dùng thuật ngữ vai giao tiếp để biểu hiện vị thế xã hội của nhân vật hội thoại Có thể nói, vai giao tiếp là cơ sở mà các nhân vật hội thoại dựa vào để tổ chức và biểu hiện vị thế xã hội của mình trong giao tiếp” [26, 405]

Tác giả Nguyễn Văn Khang cho rằng: “Là một thực thể đa chức năng,

mỗi một người có rất nhiều vai từ ở trong gia đình đến ra ngoài xã hội… Tất

cả những quan hệ đan xen ấy làm nên một mạng các quan hệ với rất nhiều vai khác nhau” [49, tr 357-371]

Trong mỗi cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp căn cứ vào sự kiện giao tiếp để lựa chọn cho mình một vai giao tiếp phù hợp và tiến hành cuộc giao tiếp Quá trình giao tiếp, mỗi nhân vật phải tự duy trì và điều chỉnh hành

vi giao tiếp để cuộc giao tiếp thành công – hay đó chính là năng lực ứng xử của các vai trong giao tiếp

Nói về năng lực ứng xử của các vai trong giao tiếp, Nguyễn Như Ý viết:

“Ứng xử vai xuất hiện trong mọi tình huống giao tiếp bởi vì trong giao tiếp

không có người nói hoặc người nghe trừu tượng mà luôn luôn là người nói và người nghe cụ thể, gắn với một tình huống cụ thể” [89, tr.4] Năng lực này

được hiểu là, để có một phát ngôn thỏa đáng, người giao tiếp phải nhận thức được chính bản thân mình trong quan hệ với người đối thoại, đồng thời phải đoán nhận đúng hình ảnh của người đối thoại với tất cả những thuộc tính về động cơ, mục đích, nhân cách, địa vị xã hội, học vấn, lối sống, cá tính… và

hoàn cảnh trong đó giao tiếp diễn ra Do vậy, tác giả cũng khẳng định: “Người

ta tính rằng, hai yếu tố quan trọng nhất trong đối thoại là người đối thoại và tình huống” [89, tr 5]

Trong các cuộc giao tiếp, nhân vật giao tiếp là những người tham gia, sử dụng ngôn ngữ và dùng ngôn ngữ để tạo ra các diễn ngôn nhằm truyền đạt thông

Trang 40

tin hiệu quả Khi tương tác với nhau, giữa các nhân vật tạo ra các mối quan hệ Các quan hệ được tạo ra là: quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân

1.2.2.2 Đặc điểm của vai giao tiếp

a) Vị thế xã hội

Để các nhân vật tham gia vào một cuộc hội thoại và xác định vai giao tiếp cụ thể thì một trong những vấn đề then chốt là các nhân vật cần xác định

vị thế xã hội của mình bởi vai giao tiếp trước hết là vị thế xã hội/ vai xã hội

Ở Việt Nam, Nguyễn Như Ý là người đầu tiên nghiên cứu về vai xã

hội và ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp Tác giả cho rằng, “nói CON NGƯỜI

sử dụng ngôn ngữ tức là nói tới chủ thể của hoạt động ngôn ngữ chính là con người với tất cả những biểu hiện nhân cách và hành vi của nó… Con người trong giao tiếp ngôn ngữ không phải là người nói hoặc người nghe mà là các thành viên của hệ thống giao tiếp xã hội cụ thể” [89, tr 1] Trong bài viết

“Vai xã hội và ứng xử trong giao tiếp”, tác giả đã đề cập: vai xã hội, các loại

vai xã hội, ngôn ngữ của vai xã hội và năng lực ứng xử ngôn ngữ của vai xã hội trong giao tiếp

Nói về các loại vai xã hội, Nguyễn Như Ý trong [96, tr.3] đã chia các vai

xã hội thành hai nhóm: vai thường xuyên và vai lâm thời hay vai tình huống Vai thường xuyên được đặc trưng bởi giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp; vai lâm thời có hai nhóm: lâm thời thể chế và lâm thời tình huống Căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong cặp vai, có thể chia quan

hệ vai thành hai nhóm: vai người nói ngang hàng với vai người nghe và vai người nói không ngang bằng với vai người nghe Vai người nói không ngang bằng với vai người nghe lại được chia thành: vai người nói thấp hơn vai người nghe và vai người nói cao hơn vai người nghe

Nói về ngôn ngữ của vai xã hội, Nguyễn Như Ý viết: “Mỗi cặp vai có một

ngôn ngữ riêng trong ứng xử xã hội, tương ứng với một biến thể ngôn ngữ cá nhân của vai đó Có bao nhiêu cặp vai ở mỗi vai sẽ có bấy nhiêu biến thể ngôn

Ngày đăng: 13/10/2020, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
2. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
3. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
4. Diệp Quang Ban (2006), Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1+2), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
5. Phan Huy Bích (1993), Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Phan Huy Bích
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 1993
6. Đinh Thị Thủy Bình (2010), “Văn hóa chào hỏi, nét đẹp của người quân nhân”, Báo Quân đội nhân dân, http://www.baomoi.com/Ky-nang-giao-tiep-mo-ra-co-hoi-moi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa chào hỏi, nét đẹp của người quân nhân"”, Báo Quân đội nhân dân
Tác giả: Đinh Thị Thủy Bình
Năm: 2010
8. Nguyễn Tài Cẩn (1962), “Một vài nhận xét về danh từ chỉ quan hệ thân thuộc trong tiếng Việt hiện đại”, Thông báo khoa học - Đại học Tổng hợp Hà Nội (1), tr. 2 -7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về danh từ chỉ quan hệ thân thuộc trong tiếng Việt hiện đại”, "Thông báo khoa học
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Năm: 1962
9. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học- ngữ dụng (tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học- ngữ dụng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
10. Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
11. Nguyễn Văn Chiến (1991), “Sắc thái địa phương của các danh từ thân tộc trong tiếng Việt”, tạp chí Ngôn ngữ, (2), tr. 53 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc thái địa phương của các danh từ thân tộc trong tiếng Việt”, tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1991
13. Nguyễn Văn Chiến (2004), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt (nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa), NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt (nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa)
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004
14. Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2017), Đặc điểm ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ thời kỳ chống Pháp, từ góc độ vai giao tiếp (Trên cứ liệu một số tác phẩm văn xuôi hiện đại), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sƣ phạm – ĐH Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ của người lính Cụ Hồ thời kỳ chống Pháp, từ góc độ vai giao tiếp (Trên cứ liệu một số tác phẩm văn xuôi hiện đại)
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Chuyên
Năm: 2017
15. Mai Ngọc Chừ (1998), Văn hóa Đông Nam Á, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Nam Á
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1998
16. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
17. Trương Thị Diễm (2002), Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Trương Thị Diễm
Năm: 2002
18. Phan Thị Phương Dung (2004), Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị tính lễ phép trong giao tiếp tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị tính lễ phép trong giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Phan Thị Phương Dung
Năm: 2004
19. Nguyễn Thị Dung (2011), Đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp ở trường Đại học Quân sự Việt Nam (trên ngữ liệu thi vấn đáp), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sƣ phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp ở trường Đại học Quân sự Việt Nam (trên ngữ liệu thi vấn đáp)
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Năm: 2011
20. Vũ Tiến Dũng (2003), Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính (Qua một số hành động nói), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính (Qua một số hành động nói
Tác giả: Vũ Tiến Dũng
Năm: 2003
21. Hữu Đạt (2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
22. Hữu Đạt (2006), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w