1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG sử DỤNG DỊCH vụ y tế cơ sở TRONG CHĂM sóc sức KHỎE đối với TRẺ NHỎ ở các GIA ĐÌNH NÔNG THÔN

73 90 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 195,94 KB
File đính kèm DỊCH VỤ Y TẾ CƠ SỞ.rar (182 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Y tế cơ sở là đơn vị y tế đầu tiên thực hiện nhiệm vụ chuyên môn CSSK cho trẻ nhỏ trực tiếp cho các hộ gia đình. Cùng với đó để hực hiện mục tiêu công bằng trong tiếp cận với các dịch vụ y tế (DVYT) chăm sóc sức khỏe( CSSK) đối với trẻ nhỏ là định hướng ưu tiên hàng đầu trong chăm sóc sức khỏe và công bằng xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một số hộ gia đình vẫn còn những hạn chế trong việc tiếp cận DVYT, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của trẻ và đời sống của gia đình. Đề tài: “ Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ ”, đề tài dựa vào 70 bảng hỏi kết hợp cùng với 5 phỏng vấn sâu từ đó nhằm tìm hiểu rõ thực trạng quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSK, tìm hiểu xem các hộ gia đình có gặp các vấn đề khó khăn gì trong việc tiếp cận và sử dụng DVYT và đánh giá thực trạng và nhận diện một số thuận lợi đến việc tiếp cận DVYT CSSK đối với trẻ nhỏ độ tuổi 0 tháng tuổi đến 5 tuổi. Câu hỏi đặt ra là: Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) tại y tế cơ sở của Thạch Hòa, Thạch Thất như thế nào? Và có những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ KCB tại y tế cơ sở? Đề tài nghiên cứu “Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ ở các gia đình nông thôn” , xã Thạch Hòa huyện Thạch Thất Hà Nội, năm 2018 được tiến hành trong thời gian 12018 đến 6 2018 nhằm trả lời 3 câu hỏi trên với ba mục tiêu: Tìm hiểu các loại hình dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội; Tìm hiểu việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế cơ sở đối với trẻ nhỏ tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội; Đánh giá mức độ hài lòng của các hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội. Từ khóa: Dịch vụ; Y tế cơ sở; Chăm sóc sức khỏe trẻ nhỏ

Trang 1

HỌC VIỆT NAM VIỆN NÔNG NGHIỆP KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI -*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ CƠ SỞ TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE ĐỐI VỚI TRẺ NHỎ Ở CÁC GIA ĐÌNH NÔNG THÔN ( Nghiên cứu trường hợp tại thôn 6, xã Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội)

Tên sinh viên: NGUYỄN THỊ HOA

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡcho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trongluận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố

Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự

hỗ trợ, giúp đỡ từ thầy cô, người thân và bạn bè Nếu không có sự giúp đỡ đó thìthật khó khăn có thể hoàn thành được

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TSNguyễn Thị Diễnđã nhiệttình hướng dẫn tôi trong quá trình viết Nhờ có những hướng dẫn cụ thể vànhững gợi ý của cô cùng các thầy côtrong Khoa nên luận văn này mới có thểhoàn thành

Luận văn này không thể thành công nếu không được sự ủng hộ từ phía địaphương nơi tôi thực hiện nghiên cứu Tôi xin được cảm ơn TYTxã Thạch Hòa,cán bộ trạm y tế xã, thôn thuộc địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện và tích cựcgiúp đỡ, tham gia vào các hoạt động trong nghiên cứu này

Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2018

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.2.1 Mục tiêu chung: 4

1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 4

1.3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Khách thể nghiên cứu 4

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 5

2.1.1 Lý thuyết lựa chọn duy lý 5

2.1.2 Lý thuyết chức năng - cấu trúc 6

2.2 Các nghiên cứu liên quan 7

2.2.1 Thực trạng sử dụng các loại hình dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ 7

2.2.2 Một số yếu tố tác động đến việc tiếp cận DVYT 9

2.2.3 Thực trạng sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế đối với trẻ nhỏ 12

2.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài 15

2.3.1 Khái niệm chăm sóc sức khỏe 15

2.3.2 Khái niệm hài lòng 16

2.3.3 Khái niệm dịch vụ và dịch vụ y tế 17

2.3.4 Khái niệm y tế cơ sở 17

Trang 5

2.3.5 Khái niệm trẻ nhỏ 18

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Chọn điểm nghiên cứu 19

3.2 Phương pháp thu thập thông tin 20

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 20

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 20

3.3 Xử lý và phân tích thông tin 21

3.4 Khung phân tích 21

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Tìm hiểu các loại hình dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội 23

4.2 Tình hình sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế cơ sở đối với trẻ nhỏ tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội 27

4.2.1 Dịch vụ y tế cho mẹ mang thai 28

4.2.2 Dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em 31

4.2.3 Dịch vụ tiêm phòng, KCB cho trẻ nhỏ 34

4.3 Đánh giá mức độ hài lòng của các hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội 38

4.3.1 Thái độ nhân viên y tế 38

4.3.2 Chất lượng dịch vụ y tế 40

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHẦN PHỤ LỤC 52

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Số người chọn nơi CSSK cho trẻ nhỏ 25

Bảng 4.2: Kết quả điều tra về sử dụng các dịch vụ y tế của bà mẹ mang thai 29

Bảng 4.3 Kết quả điều tra các dịch vụ y tế cho bà mẹ sau sinh 32

Bảng 4.4 Kết quả điều tra sử dụng các dịch vụ tư vấn CSSK trẻ nhỏ 33

Bảng 4.5 Tình hình sử dụng dịch vụ tiêm chủng cho trẻ nhỏ 36

Bảng 4.6 Kết quả đánh giá của người dân về thái độ của nhân viên y tế 39

Bảng4.7 Kết quả điều tra đánh giá của người dân về chất lượng dịch vụ y tế 40

Bảng4.8 Kết quả điều tra mức độ hài lòng của người dân về các dịch vụ y tế .41 Bảng 4.9 Kết quả đánh giá của người dân về điều kiện khám chữa bệnh 44

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ sử dụng dịch vụ khám thai tại các cơ sở y tế 30

Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ sử dụng dịch vụ khám thai tại các cơ sở y tế 34

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHYT Bảo hiểm y tế

CTTCMR Chương trình tiêm chủng mở rộngCSSK Chăm sóc sức khỏe

Trang 8

DANH MỤC HỘP

Hộp 4.1: Nơi hộ gia đình cho trẻ nhỏ sử dụng DV CSSK 26

Hộp 4 Lựa chọn nơi KCB cho trẻ nhỏ 35

Hộp 4…… Lựa chọn dịch vụ tiêm phòng trẻ nhỏ 37

Hộp 4 … Mức độ hài lòng về dịch vụ y tế cơ sở đối với trẻ nhỏ 44

Trang 9

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Y tế cơ sở là đơn vị y tế đầu tiên thực hiện nhiệm vụ chuyên môn CSSK cho trẻ nhỏ trực tiếp cho các hộ gia đình Cùng với đó để hực hiện mục tiêu công bằng trong tiếp cận với các dịch vụ y tế (DVYT) chăm sóc sức khỏe( CSSK) đối với trẻ nhỏ là định hướng ưu tiên hàng đầu trong chăm sóc sức khỏe và công bằng xã hội Tuy nhiên, vẫn còn một số hộ gia đình vẫn còn những hạn chế trong việc tiếp cận DVYT, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của trẻ và đời sống của gia đình Đề tài: “ Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ ”, đề tài dựa vào 70 bảng hỏi kết hợp cùng với 5 phỏng vấn sâu từ đó nhằm tìm hiểu rõ thực trạng quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSK, tìm hiểu xem các hộ gia đình có gặp các vấn đề khó khăn gì trong việc tiếp cận và sử dụng DVYT và đánh giá thực trạng và nhận diện một số thuận lợi đến việc tiếp cận DVYT CSSK đối với trẻ nhỏ độ tuổi 0 tháng tuổi đến 5 tuổi.

Câu hỏi đặt ra là: Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) tại y

tế cơ sở của Thạch Hòa, Thạch Thất như thế nào? Và có những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ KCB tại y tế cơ sở? Đề tài nghiên cứu “Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ ở các gia đình nông thôn” , xã Thạch Hòa - huyện Thạch Thất - Hà Nội, năm 2018 được tiến hành trong thời gian 1/2018 đến 6/

2018 nhằm trả lời 3 câu hỏi trên với ba mục tiêu: Tìm hiểu các loại hình dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội; Tìm hiểu việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế cơ sở đối với trẻ nhỏ tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội; Đánh giá mức độ hài lòng của các hộ gia đình khi sử dụng dịch

vụ chăm sóc sức khỏe y tế tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội.

Từ khóa: Dịch vụ; Y tế cơ sở; Chăm sóc sức khỏe trẻ nhỏ

Trang 10

PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta có những bước pháttriển mạnh mẽ, đã làm thay đổi chất lượng cung cấp và lựa chọn các dịch vụ y tế.Nhà nước đã có chủ trương đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch vụ y tế Hệthống y tế nước ta đã được kiện toàn mạng lưới tổ chức từ Trung ương đến địaphương, đảm bảo thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh cho người già và đặcbiệt là trẻ nhỏ góp phần đáp ứng nhu cầu cơ bản chăm sóc sức khỏe và thực hiệncông bằng trong khám chữa bệnh cho trẻ (Nguyễn Văn Qui và cộng sự Đào VănKhuynh, 2009) Dịch vụ y tế tại Việt Nam đã chủ động mở cửa, hội nhập kinh tếkhu vực và thế giới Chính vì vậy, xu hướng thị trường hóa ngành dịch vụ y tế đã

có tác động không nhỏ đến lĩnh vực dịch vụ y tế ở Việt Nam

Vấn đề bệnh dịch, khám chữa bệnh, phòng bệnh cho trẻ nhỏ đang đượcmọi thành viên xã hội chú trọng, quan tâm Nhiều dịch bệnh nguy hiểm khôngđược thể hiện trong số liệu về gánh nặng bệnh tật do số mắc và tử vong khônglớn, hoặc do bệnh được phòng hiệu quả bằng vắc xin và biện pháp y tế dự phòngkhác, tuy nhiên vẫn phải duy trì mức ưu tiên cao vì những lý do nhất định Cácbệnh dịch có thể phòng bằng vắc xin, Tiêm vắc xin phòng bệnh là một biện pháp

y tế dự phòng hiệu quả nhất và là biện pháp quan trọng để loại trừ bệnh trong xãhội như bệnh bại liệt và uốn ván sơ sinh.(Bộ y tế, 2015)

Mạng lưới y tế rộng khắp trên toàn quốc là nền tảng cơ bản cho các hoạtđộng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em Tuy nhiên khi kinh tế đất nước phát triểntheo cơ chế thị trường và ngành y tế cũng đang từng bước tiến hành xã hội hóacông tác y tế, mạng lưới chăm sóc sức khỏe trẻ em có nhiều thay đổi Mạng lướichăm sóc sức khỏe, một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần vào thànhcông trong công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em nước ta là nhờ có một mạng lưới

và hệ thống chăm sóc y tế toàn diện(Bộ Y Tế, 2018) Cho dù, các phòng khám

Trang 11

tư, các hiệu thuốc lẻ, các bệnh viện tư,… thì trạm y tế xã vẫn là địa điểm phục

vụ nhu cầu của đại đa số các hộ gia đình có trẻ nhỏ sử dụng dịch vụ CSSK

Có thể thấy hệ thống chăm sóc sức khỏe phân cấp theo 4 tuyến: trungương, tỉnh, quận/huyện, xã/phường và y tế thôn bản Tuyến Xã/Phường: Trạm Y

tế là nơi thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu, thực hiện các chương trình về trẻ

em tại cộng đồng Trạm Y tế còn có nhiệm vụ quan trọng là hỗ trợ, giám sát cáchoạt động của mạng lưới y tế thôn bản trong các nhiệm vụ như tuyên truyền,giáo dục sức khỏe; phát hiện và báo cáo dịch bệnh; chăm sóc theo dõi trẻ tạinhà; tham gia vào các chương trình y tế liên quan và xử trí một số bệnh thôngthường ở trẻ em.(Học viện Y Dược Học Cổ Truyền Việt Nam, 2013)

Do vậy khi đời sống xã hội được nâng cao thì nhu cầu về khám chữa bệnh

và chăm sóc sức khỏe ngày càng được chú trọng, người ta đến bệnh viện, phòngkhám, trạm xá không chỉ để khám bệnh, chữa bệnh mà còn phòng ngừa bệnh.Dịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt Dịch vụ y tế cũng như các loại hìnhdịch vụ khác đều có đặc điểm chung là chất lượng của chúng rất khó nắm bắt vàxác định, nhưng nó lại là một tiêu chuẩn về đo lường sự khác biệt giữa các đốithủ hoạt động cùng loại hình dịch vụ Thực tế hiện nay cho thấy bệnh nhân ngàycàng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh từ khâu bắtđầu tham gia vào dịch vụ cho đến khâu cuối cùng Chính vì vậy, chúng ta có thểkhẳng định rằng mức độ hài lòng của bệnh nhân đối với chất lượng dịch vụ y tế

là rất quan trọng Việc đo lường giá trị của các chỉ số hài lòng này sẽ giúp các cơ

sở y tế có cái nhìn chính xác về chất lượng dịch vụ hiện tại của mình Đây là vấn

đề có ý nghĩa sâu sắc đối với bệnh viện, đồng thời là sự tôn vinh của bệnh nhânđối với hoạt động y tế

Theo báo cáo Bộ Y Tế “Dự án tiêm chủng mở rộng- báo cáo hội nghịchuyên đề tiêm chủng mở rộng năm 2016” và “Công văn chỉ đạo tăng cườngcông tác khám, chữa bệnh trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017”vănbảnhướng dẫn số 35/KCB-QLCL ngày 11/01/2017; Ở trên nhiều địa bàn việc người

Trang 12

dân tiếp cận dịch vụ còn nhiều hạn chế tồn tại Xã Thạch Hòa huyện ThạchThất, Hà Nội với việc thực hiện dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe cho trẻviệc tiếp cận, tuyên truyền đã đến các hộ gia đình có trẻ, được các hộ đưa trẻ đếntrạm xá định kỳ vào các ngày cố định trong thời gian được thông báo trước đã

ổn định

Do quá trình phát triển, sức đề kháng và khả năng tự điều chỉnh của trẻnhỏ chưa cao, cộng với sự hấp thụ dinh dưỡng, dự trữ năng lượng của mỗi bé làkhác nhau Đó là những điều kiện làm cho các trẻ nhỏ dễ bị nhiễm bệnh, pháttriển nặng lên khi các ông bố bà mẹ không chăm lo chu đáo Các bệnh của trẻnhỏ thường biểu hiện như: ho, sốt, đờm, hăm bẹn, nổi nốt, mẩn ngứa, rang lợi,…các bé chưa hình thành toàn diện làm cho khó chẩn đoán và phát hiện Vì vậy,nếu không được phát hiện, chăm sóc và điều trị tích cực, kịp thời có thể dễ dẫnđến tình trạng sức khoẻ kém, thường xuyên ốm đau, mỏi mệt và khóc, cáctrường hợp nặng nếu không điều trị kịp thời có khả năng dẫn đến tử vong Hạnchế quá trình mắc bệnh và phòng tránh kịp thời cho trẻ, nhằm kéo dài cuộc sốngkhoẻ mạnh, đó là lý do các hộ gia đình luôn chăm lo đến sức khỏe của trẻ.Trênthực tế, xã Thạch Hòa thuộc Hà Nội, với số trẻ trong độ tuổi sử dụng dich vụkhám chữa bệnh cũng như sử dụng thuốc và tiêm chủng mở rộng năm rất lớn

Từ đó, đặt ra câu hỏi trong quá trình thực hiện cũng như tuyên truyền,thực trạng sử dụng dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhỏ?, các hộ giađình có trẻ có tiếp cận được dịch vụ?, các dịch vụ thăm khám, chữa trị các bệnhcho trẻ nhỏ, các hộ gia đình có con từ 0tháng tuổi đến 5 tuổi có ứng dụng cácthuốc cũng như tiêm chủng như thế nào?, các hộ gia đình có hài lòng với dịch vụchăm sóc sức khỏe mà họ sử dụng? Chính vì đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“thực trạng sử dụng dịch vụ y tế cơ sở trong chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ ởcác gia đình nông thôny tế cho trẻ nhỏ” nhằm trả lời những câu hỏi đó, tiến hànhđiều tra tại xã Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội

Trang 13

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung:

Mục tiêu chung của nghiên cứu này là: tìm hiểu thực trạng trạng sử dụngdịch vụy tế cơ sở trong chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ

1.2.2 Mục tiêu cụ thể:

Để làm rõ và đi sâu hơn đề tài tiến hành nghiên cứu 3 mục tiêu cụ thể là:

- Tìm hiểu các loại hình dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe đối với trẻnhỏ tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội

- Tìm hiểu việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế cơ sở đối vớitrẻ nhỏ tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội

- Đánh giá mức độ hài lòng của các hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ chămsóc sức khỏe y tế tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội

1.3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung tìm hiểu thực trạng sử dụng dịch vụ y tế trong chămsóc sức khỏe cho trẻ nhỏ

1.3.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là các hộ gia đình có trẻ nhỏ từ 0 tháng tuổi đến 5tuổi tham gia vào tiếp cận các dịch vụ và sử dụng các dịch vụ KCB và sử dụngthuốc chăm sóc sức khỏe cho trẻ

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Đề tài này tập trung nghiên cứu đến tiếp cận dịch chămsóc sức khỏe cho trẻ nhỏ và ứng dụng các dịch vụ thuốc, khám, phòng ngừabệnh cũng như tiêm phòng cho trẻ 0 tháng tuổi đến 5 tuổi

Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện năm 2018

Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại thôn 6, xã Thạch Hòa,huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội

Trang 14

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu

2.1.1 Lý thuyết lựa chọn duy lý

Lý thuyết lựa chọn duy lý (hay còn gọi là thuyết lựa chọn hợp lý) chorằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn

và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chiphí tối thiểu Theo Marx con người không chỉ làm biến đổi hình thái do nhữngcái tự nhiên cung cấp mà con người cũng đồng thời thực hiện những mục đích tựgiác của mình, nó quyết định toàn bộ cấu trúc, nội dung, tính chất của hành động

và ý chí của con người.(Lê Ngọc Hùng, 2008)

Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc cân nhắc, tính toán đểquyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiệnhay cách thực hiện nhằm đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm nguồn lực.Cách hiểu này mang nặng ý nghĩa kinh tế nhưng sau này các nhà xã hội học mởrộng phạm vi của mục tiêu bao gồm các yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần.Thuyếtlựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trongmối quan hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với nhữngnhu cầu và sự mong đợi của họ Do tác động của nhiều yếu tố như vậy mà hành

vi lựa chọn duy lý của các cá nhân có thể tạo ra những sản phẩm hợp lý hoặc phi

lý không như mong đợi của cả nhóm, tập thể

Áp dụng lý thuyết vào đề tài để xem xét người dân địa phương, các hộ giađình có trẻ nhỏ từ 0 tuổi đến 5 tuổi đã lựa chọn sử dụng dịch vụ tiêm phòng,thăm khám chữa trị, sử dụng thuốc và uống Vitamin,…ở dịch vụ y tế công cộng

Sự lựa chọn này vì họ tin tưởng rằng ở cơ sở đó có đủ trình độ kỹ năng tay nghề

để hộ gia đình có trẻ nhỏ tiếp cận sử dụng dịch vụ hay là do yếu tố nào, có rấtnhiều các loại hình dịch vụ y tế như: bác sỹ địa phương, bệnh viện, trạm y tế,quầy thuốc… hay phòng khám tư gần nơi cư trú,thăm khám cũng như chữa trị

sử dụng thuốc mà người dân lại chọn dịch vụ đó Đó là những câu hỏi mà đề tài

Trang 15

tôi nghiên cứu đặt ra để làm rõ hành động lựa chọn của các hộ gia đình tham giavào quá trình sử dụng thuốc xuất phát từ yêu cầu nào và nó có thật sự hiệu quảgiúp các trẻ nhỏ phòng ngừa các bệnh tật như các hộ gia đình như mong đợi.

2.1.2 Lý thuyết chức năng - cấu trúc

Thuyết chức năng cấu trúc nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộphận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đề có chức năng nhất địnhgóp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tươngđối ổn định, bền vững

Theo Tacott Parson, chức năng là nhu cầu, đòi hỏi của hệ thống đối vớitừng bộ phận cấu thành của nó,chức năng xuất phát một cách tự nhiên từ chính

sự tồn tại và phát triển của cả hệ thống gồm các bộ phận cấu thành Cấu trúcnhận mạnh đến các yếu tố tố tạo thành khuôn mẫu, định hình hệ thống một cáchtương đối ổn định

Cấu trúc là tập hợp các thành phần, bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ, hữu

cơ tạo thành một chỉnh thể tồn tại trong mối quan hệ tương tác, trao đổi với môitrường sống xung quanh, bất kỳ một thay đổi ở bộ phận nào cũng gây ra nhữngthay đổi ở bộ phận phận khác Mỗi cấu trúc lớn đều có các thần phần là cá cấutrúc nhỏ (tiểu cấu trúc) Chức năng là nhu cầu lợi ích, sự cần thiết, sự đòi hỏi, hệquả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo ra hay thực hiện để đảm bảo sựtồn tại, vận động của cả hệ thống.(Lê Ngọc Hùng, 2008)

Áp dụng lý thuyết vào đề tài, xem việc sử dụng dịch vụ thuốc chăm sócsức khỏe cho trẻ nhỏ là một thành tố của các dịch vụ y tế, sự tiếp cận của hộ giađình có trẻ, giúp trẻ ngăn ngừa như thế nào, vai trò của việc sử dụng dịch vụthuốc đối với trẻ ra sao? Như vậy, để lý giải việc sử dụng các dịch vụ, các mũitiêm phòng như uấn ván, sởi, cácdịch vụ khám chữa bệnh, thì các hộ gia đình cótrẻ nhỏ mong muốn thế nào về các lợi ích, vì thế tôi vận dụng lý thuyết cấu trúcchức năng để lý giải điều này

Trang 16

2.2 Các nghiên cứu liên quan

2.2.1 Thực trạng sử dụng các loại hình dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ

Chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân theo định hướng công bằng và hiệuquả là mục tiêu và chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam, là tư tưởngxuyên suốt trong quá trình xây dựng và phát triển nền y tế Việt Nam nhất là từkhi công cuộc đổi mới được thực hiện Qua hơn 20 năm đổi mới, công tác bảo

vệ và CSSK nhân dân ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Mạnglưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển; nhiều dịchbệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi; các dịch vụ y tế ngày càng một đadạng; nhiều công nghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng Đặc biệt, CSSK chotrẻ nhỏ là vấn đề đã đang và sẽ được quan tâm hàng đầu Tuy vậy, vẫn còn sựchênh lệch đáng kể giữa các vùng và các nhóm có điều kiện kinh tế-xã hội khácnhau về tình trạng sức khỏe và tình hình sử dụng dịch vụ CSSK Chênh lệch vềcác chỉ số y tế có liên quan trực tiếp tới các mức độ tiếp cận các dịch vụ y tếgiữa các tỉnh, vùng, dân tộc và các nhóm kinh tế xã hội khác nhau (Trần ThịMai Oanh và cộng sự, 2006)

Loại hình y tế cơ sở gồm y tế công cộng và y tế tư nhân là hai loại hìnhkhám chữa trị chủ yếu Trong những năm gần đây, dịch vụ y tế tư nhân đóng vaitrò quan trọng trong hệ thống y tế ở nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.Hơn nữa, bệnh nhân sẵn sàng chi trả chi phí y tế cho dịch vụ y tế tư nhân đểnhận được dịch vụ y tế tốt hơn và có khả năng tiếp cận cao hơn Có ý kiến chorằng dịch vụ y tế tư nhân là dành cho người giàu, người có khả năng chi trảtrong xã hội Tuy nhiên dịch vụ y tế tư nhân được sử dụng thậm chí ở cả cácnước nghèo nhất và trong các nhóm thu nhập thấp Người giàu cũng như ngườinghèo đều tìm kiếm chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho con em mình tại các cơ sở y

tế tư nhân, bao gồm cả những vấn đề y tế công cộng quan trọng như sốt rét, lao

và bệnh lây truyền qua đường hô hấp Nguyên nhân hộ gia đình lựa chọn dịch

Trang 17

vụ y tế tư nhân được nêu bởi là sử dụng dịch vụ dễ tiếp cận, thời gian chờ đợingắn hơn, thời gian mở cửa dài và linh hoạt hơn, sự sẵn có của nhân viên vàthuốc, (Dương Đức Thiện Nguyễn Hoàng Long, Lưu Hoài Chuẩn, Phạm ĐứcMinh, Phan Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thu Cúc,, 2007)

Dù trong trường hợp nào, tăng cường sự tham gia của dịch vụ y tế tư nhâncũng dấn đến sự tăng tương tác giữa hệ thống công- TYT xã và dịch vụ y tế tưnhân dưới các hình thức như chia sẻ nhân lực và cơ sở hạ tầng Đã có những sựcạnh tranh của hai loại hình dịch vụ nhưng điều này có thể làm tăng sự lựa chọncho hộ gia đình lựa chọn cho trẻ nhỏ Trong thực tế có sự chồng chéo đáng kểđến hai loại hình dịch vụ nhưng sự tách biệt tương đối mờ nhạt vì có sự tham giacủa cùng một cá thể vào cả hai loại hình

Cho đến nay, mới chỉ có một vài nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng dịch

vụ y tế ở trẻ em được tiến hành trên quy mô lớn Kết quả của các nghiên cứu chothấy xu hướng khi ốm đau trẻ em khu vực thành thị tìm kiếm dịch vụ CSSK tạibệnh viện hoặc trung tâm y tế huyện trong khi trẻ em ở khu vực nông thôn khám

và điều trị tại TYT xã Tỷ lệ khám bệnh tại TYT xã đối với trẻ em thuộc cácnhóm mức sống nghèo giảm, ngược lại, trẻ em thuộc nhóm mức sống khá có xuhướng tìm kiếm dịch vụ CSSK tại bệnh viện hoặc trung tâm y tế huyện (ĐàmViết Cương và cộng sự, 2005)

Tóm lại dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhỏ là mối quan tâm hàng đầucủa các ông bố bà mẹ và của mọi người dân kể cả trẻ chưa mắc bệnh đến khimắc bệnh Nó được biểu hiện qua sự tiếp cận các DVYT của người dân Tuynhiên trong quá trình nghiên cứu sự tiếp cận các DVYT và quá trình sử dụngdịch vụ chữa trị ta cần trả lời được một số câu hỏi: quá trình tiếp cận DVYTcủa người dân có sựu khác biệt như thế nào? Có phải cứ những người có điềukiện hơn về kinh tế thì sẽ tiếp cận với dịch vụ y tế chất lượng cao hơn? Cóphải những người có trình độ học vấn cao thì tiếp cận các DVYT tốt hơn? Cóphải là những người dân sống ở đô thị thì tiếp cận DVYT tốt hơn những

Trang 18

người sống ở nông thôn? Để lý giải những vấn đề này tôi đi vào tiếp cận thái

độ hành vi của các hộ gia đình người dân chăm sóc cho trẻ nhỏ khi chưa mắcbệnh và đã mắc bệnh

Khi trẻ không bị bệnh, CSSK chủ động của con người bao gồm các hoạtđộng như sau: hoạt động phòng chống bệnh tật, tiếp cận y tế dự phòng, tiêmchủng cho trẻ, chuẩn bị tủ thuốc dự phòng ở gia đình và ăn uống điều độ đủ dinhdưỡng, chế độ sinh hoạt hợp lý, luyện tập thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh vàKCB định kỳ cho trẻ Tiếp cận DVYT của hộ gia đình không chỉ dừng lại ở hoạtđộng chữa bệnh cho trẻ mà còn được thể hiện ở hoạt động phòng bệnh

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thu nhập và mức sốngcủa nhân dân được nâng lên, dẫn đến nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của ngườidân và đặc biệt là CSSK cho con em mình, cho trẻ nhỏ cũng ngày càng tăng cao

Hệ thống y tế ở Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng, chất lượngphục vụ được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho nhu cầu chăm sóc sứckhỏe của trẻ

2.2.2 Một số yếu tố tác động đến việc tiếp cận DVYT

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc thực trạng các dịch vụ y tếhiện nay ở Việt Nam còn nhiều bất cập như: mô hình tổ chức nhiều biến động; y

tế cơ sở và CSSK ban đầu còn nhiều hạn chế; chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữacác tuyến; còn tách biệt giữa phòng bệnh và khám, chữa bệnh; các hoạt động y

tế tập trung nhiều cho khám, chữa bệnh; tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyếntrung ương còn nặng nề Chính sách tài chính y tế còn nhiều bất cập, đặc biệt làcác phương thức chi trả dịch vụ y tế Các vấn đề phát sinh trong triển khai thựchiện chính sách tự chủ bệnh viện, như tình trạng lạm dụng các dịch vụ y tế (đặcbiệt là lạm dụng xét nghiệm, lạm dụng thuốc,…); năng lực quản lý bệnh việncòn hạn chế; thiếu các công cụ điều phối và kiểm soát để bảo đảm tính minhbạch và trách nhiệm giải trình trong quá trình thực hiện tự chủ dẫn đến nhữngbất cập trong cung ứng dịch vụ y tế, ảnh hưởng đến tính công bằng, hiệu quả

Trang 19

trong CSSK Chưa xây dựng được hệ thống hiệu quả để kiểm soát và đánh giáchất lượng dịch vụ y tế, trong cả các cơ sở công lập và tư nhân.(Bộ y tế, 2015)

 Kinh tế hộ gia đình, chi phí

Khả năng chi trả chi phí cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếpcận dịch vụ y tế Khó khăn về kinh tế luôn luôn là nguyên nhân hàng đầu choviệc không chữa trị Những yếu tố tài chính, bao gồm chỉ trả trực tiếp tiền túi, làkhó khăn chính trong tiếp cận dịch vụ y tế Kết quả từ Điều tra y tế quốc gia2001-2002 chỉ ra rằng thu nhập liên quan chặt chẽ tới khả năng tìm kiếm dịch vụCSSK khi ốm đau Một số nghiên cứu được tiến hành tại khu vực nông thôncũng cho thấy xu hướng người nghèo trì hoãn đi KCB do không có khả năng chitrả (Đơn vị Chính sách Y tế - Vụ Kế hoạch và Tài chính Y tế, 2002)

Một vấn đề khác là tuy có thẻ BHYT, nhưng một số hộ gia đình vẫn rất longại vấn đề chi phí trong quá trình khám chữa bệnh bởi giá DVYT chi trả choBHYT khá thấp, vì vậy với một số loại thuốc và DVYT, hộ gia đình phải bỏ tiềnthêm Đặc biệt, bệnh càng nặng, cần càng nhiều thuốc biệt dược và sử dụng cácmáy móc, kỹ thuật cao thì một số hộ càng phải phụ thêm nhiều chi phí Bêncạnh đó, việc giới hạn mức cùng chi trả 5%, cũng đã làm giới hạn khả năng tiếpcận với các DVYT của một số hộ gia đình, nhất là đối với những trường hợpbệnh nặng hay bệnh mãn tính phải điều trị lâu dài hoặc điều trị phức tạp.(NhấtHuy, 2017)

 Thủ tục (hành chính)

Thủ tục hành chính rườm rà phức tạp, từ các khâu nộp sổ đến các hìnhthức đón tiếp bệnh nhân còn nhiều hạn chế Các giai đoạn chờ gọi tên đến khiđược gọi tên còn quá lâu và không hướng đến lấy người bệnh làm trung tâmphục vụ ở các cơ sở y tế (Trần Thị Mai Oanh và cộng sự, 2006)

 Thời gian chờ đợi

Đối với các DVYT theo chế độ BHYT, mặc dù phần lớn các hộ gia đình cótrẻ sử dụng dịch vụ đánh giá về thời gian chờ đợi là bình thường, nhưng tỷ lệ đánh

Trang 20

giá “rất lâu”điều trị phức tạp Ngoài ra, còn một lý do nữa là tình trạng cho ngườibệnh làm nhiều những xét nghiệm hay chỉ định khám các hạng mục không cầnthiết nhằm làm tăng số lượt sử dụng các thiết bị, DVYT của một số cán bộ y tếcũng góp phần làm tăng mức chi trả cho y tế của hộ gia đình khi có trẻ bị ốm đau.Đối với các DVYT không dùng thẻ BHYT, các hộ gia đình phải thanh toán 100%tiền khám, chữa bệnh và mua thuốc mà không được hỗ trợ, điều này vượt quá mứcchi trả so với thu nhập của họ Do vậy, đây trở thành một yếu tố tác động rất lớntrong việc tiếp cận y tế của hộ gia đình kinh (Bộ Y tế, 2006b).

 Chất lượng của cơ sở y tế và thái độ phục vụ của nhân viên y tế

Đối với rào cản từ phía cơ sở cung ứng, sự sẵn có và chất lượng dịch vụ,đặc biệt là chất lượng dịch vụ của các cơ sở y tế các tuyến là những yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế giữa các nhóm đối tượng trẻ nhỏ.Các dịch vụ CSSK sẵn có đảm bảo người dân có tiếp cận bất cứ dịch vụ nào vàbất cứ khi nào họ cần Chất lượng chăm sóc phụ thuộc chủ yếu vào khả năngchuyên môn và thái độ chăm sóc cũng như sự sẵn có của thuốc và trang thiết bị(Bộ Y tế, 2006a) Đặc biệt khó khăn lớn nhất đang phải đối mặt của các cơ sởcung ứng dịch vụ ở tuyến y tế cơ sở là sự thiếu hụt nhân viên y tế, trang thiết bị

và thuốc điều trị và thông tin chuyên môn hỗ trợ hoạt động điều trị Những vấn

đề này có ảnh hưởng lớn đến hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ em và là nguyênnhân chính gây nhiều biến chứng như sốc thuốc của trẻ (World HealthOrganization., 2000- 2001)

Thêm nữa, có sự khác biệt trong đánh giá của các hộ về chất lượng phục vụcủa nhân viên y tế đối với hai loại DVYT theo chế độ BHYT và DVYT khôngdùng BHYT trong việc khám chữa bệnh Phần lớn hộ gia đình đều đánh giá “rấttốt” và “tốt” đối với các DVYT không dùng BHYT trong khi lại đánh giá “bìnhthường” đối với các DVYT theo chế độ BHYT Các hộ cho biết họ cảm thấy khôngđược các cán bộ y tế tôn trọng khi dùng thẻ BHYT hộ nghèo đi khám chữa bệnh

Trang 21

Trong khi đó, họ hài lòng nhiều hơn với chất lượng phục vụ của nhân viên y tế tạicác cơ sở y tế không dùng BHYT.(Phan Thị Thúy Hà, 2015).

2.2.3 Thực trạng sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế đối với trẻ nhỏ

Hệ thống cơ sở y tế của Việt Nam bao gồm các bệnh viện, phòng khám đakhoa, bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, trạm y tế xã/phường, trạm y

tế của cơ quan xí nghiệp và các cơ sở khác Các cơ sở y tế này hoặc thuộc quyềnquản lý của ngành y tế (bộ y tế và sở y tế) hoặc thuộc các ngành khác quản lý.Năm 2008, ngành y tế có 13.460 cơ sở y tế công lập với khoảng 219.800 giườngbệnh với 223,5 ngàn cán bộ y tế các cấp; khoảng 30.000 cơ sở y tế ngoài cônglập (chủ yếu là các phòng khám) với 13.180 giường bệnh và có tổng số 93.100cán bộ y tế Quy mô ngành y tế tăng đều đặn qua 22 Báo cáo nghiên cứu hàngnăm Cơ sở y tế công lập tăng, nhưng tăng không đáng kể; nếu so sánh giữa năm

2008 và 2000 trong vòng tám năm số cơ sở y tế chỉ tăng 2,6%, số cán bộ y tếtăng 37,4% và số giường bệnh tăng thêm 14,5% trong cùng thời kỳ Các cơ sở y

tế công lập khám cho khoảng 110 triệu lượt người và điều trị nội trú cho hơn 9triệu lượt người trong năm 2008 Trong khi các cơ sở ngoài công lập khám vàđiều trị cho hơn 4 triệu người trong đó có trẻ nhỏ (Tổng cục Thống kê và Bộ Y

tế, 2008)

 Dịch vụ thăm khám bệnh cho trẻ

Khám bệnh: là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể,khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng đểchẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị cho phù hợp đã được công nhận.Chữa bệnh: là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được côngnhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồichức năng cho người bệnh

Cơ sở khám, chữa bệnh: là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp phéphoạt động và cung cấp dịch vụ KCB Khám bệnh cho trẻ giúp các ông bố bà mẹphát hiện sớm các vấn đề về sức khỏe, các bệnh lây nhiễm để biết phòng tránh

Trang 22

sớm cho trẻ Từ đó, bác sĩ sẽ đưa ra hướng xử trí và phòng ngừa bệnh hiệu quảhơn, tránh được những biến chứng xấu (Nguyễn Thanh Nga, 2017).

Bên cạnh đó, trong quá trình khám bệnh, trẻ em nam và trẻ em nữ sẽ đượccác bác sĩ chuyên khoa tư vấn về các kiến thức CSSK, cách phòng tránh cácbệnh, cách chăm sóc và bảo vệ bộ phận sinh dục cho trẻ,…

 Tiếp cận với dịch vụ thuốc chữa bệnh

Sức khỏe là quyền cơ bản nhất của con người Tiếp cận với các dịch vụCSSK, trong đó việc tiếp cận với thuốc chữa bệnh la điều kiện cần thiết yếu.Trong khi đó gánh nặng về y tế đối với các nước đang phát triển đang là vấn đềthách thức mang tính toàn cầu Trong số các nguyên nhân tạo nên gánh nặngngân sách y tế tại các nước đang phát triển là tình trạng không tiếp cận được vớicác thuốc thiết yếu, sử dụng thuốc không hợp lý, không an toàn, không hiệu quảhoặc được cung ứng với giá thuốc cao Một số các loại mũi tiêm và các thuốcchữa trị cho trẻ độ tuổi từ 1 tháng tuổi đến 3 tuổi như: Viêm gan sớm, Sởi, Ho

gà, Uốn ván, bạch hầu, bệnh bại liệt polio,…(Bộ Y Tế, 2017)

 Dịch vụ tiêm phòng và uống Vitamin

Năm 1985, Việt Nam triển khai Chương trình Tiêm chủng mở rộng(TCMR) với 6 loại vắc xin phòng bệnh Lao, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Sởi, Bạiliệt Năm 1997, bốn vắc xin mới được triển khai miễn phí trong Chương trìnhTCMR của Việt Nam là: vắc xin viêm gan B cho tất cả các trẻ sơ sinh và vắc xinviêm não Nhật Bản B Tháng 6/2010, vắc xin H Influenzae B (Hib) phòng cácbệnh viêm phổi nặng và viêm màng não mủ do H Influenzae B trong thànhphần vắc xin phối hợp DPT-VGB-Hib được triển khai trên toàn quốc, như vậy

có 11 vắc xin trong Chương trình TCMR được cấp miễn phí ở Việt Nam (Bộ y

tế, 2015)

Hiện nay duy trì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cao là công việc quan trọng giữvững hiệu quả của tiêm chủng Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Tiên Lãng, mộthuyện nông nghiệp của Hải Phòng, với mục tiêu xác định tỷ lệ tiêm chủng từng

Trang 23

loại vắc xin cơ bản của trẻ < 5 tuổi và xác định một số yếu tố ảnh hưởng đếnviệc chưa tiêm chủng đầy đủ Kết quả cho thấy tỷ lệ tiêm phòng đối với từngloại vacxin ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện đạt mức cao, đều trên 95% Tuy nhiên tỷ

lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 5 tuổi đạt 93,4%, và chỉ đạt 89,84% ở trẻ dưới 1tuổi, thấp hơn so với tỷ lệ trung bình của cả nước (Phạm Minh Khuê, 2010).Việc sử dụng dịch vụ tiêm chủng và uống Vitamin định kỳ hoàn toàn miễn phítheo chính sách của Đảng và nhà nước, nhà nước chi trả 100% các chi phí dụng

cụ, mũi tiêm, thuốc tiêm và Vitamin uống cho trẻ

Ta nhận thấy từ nghiên cứu phân tích cơ cấu nguồn ngân sách cấp, thựctrạng chi tiêu của CTTCMR và ước tính chi phí đơn vị của chương trình tạihuyện miền núi, vùng cao biên giới Bát Xát và thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cainăm 2014 Chi phí được tính toán dựa trên hoạt động từ quan điểm của nhà cungcấp dịch vụ, sử dụng phương pháp điều tra hồi cứu Kết quả nghiên cứu cho thấynguồn ngân sách cho CTTCMR tại địa bàn nghiên cứu được cung cấp chủ yếu

từ CTTCMR quốc gia và NSNN cấp cho y tế tuyến huyện Tổng chi tiêu củaCTTCMR tại huyện Bát Xát năm 2014 là 2.748.514.000 đồng, cao hơn thànhphố Lào Cai là 2.393.584.000 đồng, trong đó chi thường xuyên chiếm phần lớn,đặc biệt là chi tiêu cho vắc xin, nhân lực và theo dõi, giám sát khi sử dụng dịch

vụ tiêm chủng cho trẻ theo từng mũi và từng đợt Chi phí trung bình mũi tiêmcủa tất cả các loại vắc xin tại Bát Xát là 44.005 đồng (2,07 USD) cao hơn so vớithành phố Lào Cai là 36.874 đồng (1,74 USD) Chi phí cho mỗi trẻ được tiêmchủng đầy đủ tại Bát Xát là 505.312 đồng (23,8 USD) và tại thành phố Lào Cai

là 438.734 đồng (20,7 USD), cao hơn ngưỡng chi phí hiệu quả ở những nướcđang phát triển theo đánh giá của WHO (15 USD) (Văn Minh Hoàng Mạnh VũNgô, Đức Mạnh Phạm, Thị Mai An Nguyễn, , 2014)

Trang 24

2.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài

2.3.1 Khái niệm chăm sóc sức khỏe

Theo định nghĩa của Leriche (giáo sư phẫu thuật Pháp 1879- 1955): “ Sứckhỏe, là sự im lặng của các cơ quan”, nếu các cơ quan hoạt động tốt, nó sẽ “ imlặng “, con người không cảm thấy đau mệt…

Từ xưa tới nay người Việt Nam ta thường quan niệm rằng: sức khỏe cónghĩa là cơ thể không có bệnh tật và ngành y tế là ngành chuyên chữa bệnh

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sức khỏe bao gồm sự lànhmạnh cả về thể xác lẫn tinh thần Người định nghĩa” ngày nào cũng tập thể dụcthì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe”

Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO- WorldHealth Organization): "Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả vềthể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật haytàn phế" Khái niệm này được xây dựng trên qua điểm dự phòng, sức khỏe làyếu tố cơ bản ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt, lao động và học tập của conngười Nó là khái niệm tổng hợp, đòi hỏi sự tham gia đóng góp của toàn xãhội và sự tham gia của bản thân mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng nhất định.Như vậy , có thể hiểu một cá nhân hoàn toàn khỏe mạnh là người có đủ sứckhỏe về thể chất, tinh thần

Đầu tư CSSK là phải đầu tư chăm sóc ngay khi còn đang khỏe mạnh, khichưa thành bệnh mới là đầu tư chăm sóc có ý nghĩa và hiệu quả kinh tế cao nhất

Khái niệm chăm sóc sức khỏe, Theo hội nghị y tế thế giới AlmaAta thìchăm sóc sức khỏe là những chăm sóc thiết yếu với kỹ thuật thích hợp đượcmang tới cho mỗi người trong mọi gia đình, được cộng đồng chấp nhận và thamgia với những chi phí rẻ nhất Do đó, CSSK là sự thường xuyên quan tâm làmmột việc nào đó, CSSK chính là hoạt động thường xuyên liên tục để đạt đến mộttrạng thái hoàn hảo về sức khỏe, đó là sự sảng khoái về thể chất, tinh thần và các

Trang 25

quan hệ xã hội Hoạt động này có thể là tự bản thân chăm sóc hoặc là sự quantâm, giúp đỡ của người khác.

2.3.2 Khái niệm hài lòng

Khái niệm về sự hài lòng của khách hàng (hộ gia đình) là chất lượng dịch

vụ rất khó đánh giá trong suốt quá trình phân phối và sử dụng dịch vụ, mỗi hộgia đình khi tiếp xúc với dịch vụ đều có thể hài lòng hay không hài lòng với dịch

vụ cung cấp Sự hài lòng (kỳ vọng) của khách hàng- hộ gia đình có thể tùy thuộcvào nhiều nguồn khác nhau: nhu cầu khách hàng, kinh nghiệm khi họ đã sửdụng dịch vụ…(Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2010)

Những tài liệu nghiên cứu chuyên về sự hài lòng của người bệnh rấtphong phú Sự hài lòng là một cấu trúc nhiều yếu tố - người bệnh trải nghiệmnhững khía cạnh khác nhau của dịch vụ y tế và họ đưa ra những đánh giá đadạng về quá trình, cũng như kết quả khám, chữa bệnh Các nghiên cứu cho thấy,các nhóm yếu tố chính liên quan đến chất lượng, sự hài lòng của người dân vớidịch vụ khám, chữa bệnh, đó là: Tình trạng kinh tế - xã hội, hệ thống y tế, thôngtin y tế, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân và sự đa dạng của loại hìnhdịch vụ y tế Đồng thời, chỉ ra một số tác động ảnh hưởng đến sự hài lòng củangười bệnh: Sự tiếp cận, chi phí, chất lượng chung, tính cộng đồng, năng lực,thông tin được cung cấp, thủ tục hành chính, thời gian chờ đợi, cơ sở vật chấtkhám, chữa bệnh, sự chú trọng đến những vấn đề tâm lý xã hội của cả ngườicung cấp dịch vụ (thái độ, tư vấn, thấu hiểu, đồng cảm, dễ tiếp xúc và thân thiệncủa nhân viên y tế) và người sử dụng dịch vụ, vệ sinh môi trường của các cơ sở

y tế, tính liên tục của dịch vụ y tế và kết quả của dịch vụ y tế (Tạp chí bảo hiểm

xã hội, 2016)

Bên cạnh đó, khách hàng khi đã hài lòng thì kênh truyền thông tin sẽ rấthiệu quả vì thông qua sự hài lòng mình đạt được sẽ giới thiệu cho nhiều ngườikhác khi có nhu cầu sử dụng những sản phẩm, dịch vụ tương tự, giúp mở rộngphạm vi khách hàng và ít tốn chi phí phục vụ cho nhóm khách hàng này Đồng

Trang 26

thời khi sự hài lòng tăng giúp giá cả tăng do việc khách hàng nghĩ những gìmình chi ra là hoàn toàn xứng đáng với cái nhận được Đặc biệt hơn khi hài lòngtăng thì lợi nhuận tăng 17 % - 27%.(http://citinews.net/doi-song/su-hai-long-cua-benh-nhan-giup-bv-tang-loi-nhuandwso6ey/, 2014).

2.3.3 Khái niệm dịch vụ và dịch vụ y tế

Dịch vụ: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa ngườicungcấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng một nhu cầu nào đó của người tiêu dùng.Một dịch vụ chỉ tồn tại khi tạo ra được niềm tin và uy tín ñối với khách hàng.Dịch vụ ngày càng phát triển và đóng một vai trò ngày càng quan trọng trongmỗi quốc gia, người ta gọi là ngành kinh tế mềm (Soft Economics) (Bùi ThịHằng, 2011)

Dịch vụ y tế: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa ngườicung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khoẻ như: KCB,phòng bệnh, giáo dục sức khoẻ, tư vấn sức khoẻ do các cơ sở y tế công cộng(trạm xá các cơ quan, trạm y tế xã, trung tâm y tế huyện/quận, các cơ sở y tếtuyến tỉnh và trung ương) Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ trong đó ngườicung ứng và người sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ

2.3.4 Khái niệm y tế cơ sở

Y tế cơ sở là nền móng của toàn bộ hệ thống y tế quốc gia, là lực lượngchủ lực giải quyết các vấn đề chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhỏ.Y tế cơ sở ở nước

ta gồm có các trạm y tế xã, phường, mạng lưới y tế thôn, bản, ấp, đường phố,các cơ sở hành nghề y dược tư nhân tại cộng đồng, các trạm y tế thuộc cácdoanh nghiệp, công ty v.v… Ngoài ra, tham gia vào dịch vụ bảo vệ chăm sóc tạicộng đồng còn có những người tình nguyện, hội viên chữ thập đỏ, ông lang, bà

mế, bà mụ, v.v… Tuy nhiên, trạm y tế xã sẽ không thể hoạt động có hiệu quảnếu thiếu sự chỉ đạo, giám sát chặt chẽ của trung tâm y tế huyện và UBND xã,cũng như nếu nó không có một mạng lưới y tế thôn, bản mạnh, được tổ chức tốt

và hoạt động tích cực Hệ thống y tế cơ sở giống như một cơ thể con người mà

Trang 27

thân thể, tim, phổi là trạm y tế xã, đầu óc chỉ huy là Trung tâm y tế huyện, chân

và tay là y tế thôn bản Con người đó muốn hoạt động không thể thiếu đầu, thiếutim, phổi và chân tay

2.3.5 Khái niệm trẻ nhỏ

Trẻ nhỏ được cho là các bé có độ tuổi từ 2 tháng tuổi đến 5 tuổi, là hìnhthức độ tuổi còn phụ thuộc vào bố mẹ chưa hình thành và phát triển thể chất vàtrí tuệ hoàn chỉnh (Minh Thúy, 2013)

Trang 28

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Chọn điểm nghiên cứu

Xã Thạch Hòa là xã thuộc huyện Thạch Thất, Hà Nội, nằm ở phía Tâycủa Hà Nội Huyện Thạch Thất phía bắc và đông bắc giáp huyện Phúc Thọ, phíađông nam và nam giáp huyện Quốc Oai, phía tây nam và nam giáp tỉnh HòaBình, phía tây giáp thị xã Sơn Tây.Hiện nay, trên địa bàn huyện Thạch Thất đã

và đang hình thành một số khu đô thị, khu nhà ở cao cấp, trường học, là nơiđông dân cư, đặc biệt có số lượng trẻ em rất đông trong đó tập chung ở thôn 6,Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội

Do quá trình phát triển, sức đề kháng và khả năng tự điều chỉnh của trẻnhỏ chưa cao, cộng với sự hấp thụ dinh dưỡng, dự trữ năng lượng của mỗi bé làkhác nhau Đó là những điều kiện làm cho các trẻ nhỏ dễ bị nhiễm bệnh, pháttriển nặng lên khi các ông bố bà mẹ không chăm lo chu đáo Các bệnh của trẻnhỏ thường biểu hiện như: ho, sốt, đờm, hăm bẹn, nổi nốt, mẩn ngứa, răng lợi,…các bé chưa hình thành toàn diện làm cho khó chẩn đoán và phát hiện Vì vậy,nếu không được phát hiện, chăm sóc và điều trị tích cực, kịp thời có thể dễ dẫnđến tình trạng sức khoẻ kém, thường xuyên ốm đau, mỏi mệt và khóc, cáctrường hợp nặng nếu không điều trị kịp thời có khả năng dẫn đến tử vong Hạnchế quá trình mắc bệnh và phòng tránh kịp thời cho trẻ, nhằm kéo dài cuộc sốngkhoẻ mạnh, đó là lý do các hộ gia đình luôn chăm lo đến sức khỏe của trẻ.Thạch Hòa- Thạch Thất- Hà Nội là một trong những địa phương năng độngtrong kinh tế, thu hút nhiều cá nhân, hộ gia đình từ các nơi khác về cư trú, tốc độ

đô thị hoá nhanh, đời sống nhân và đặc biệt sức khỏe trẻ nhỏ được chú trọng

Với điều kiện kinh tế, văn hóa, giáo dục, cư dân đông đúc, trình độ dân tríphát triển của người dân ở Thạch Hòa như vậy nên trong giai đoạn từ năm 2013đến 2017, dịch vụchăm sóc sức khỏe y tế cho trẻ nhỏ được chú trọng hơn cả.Khi thực hiện dịch vụ y tế cơ sở chăm sóc sức khỏe được các hộ gia đình có trẻtrong độ tuổi từ 1 tháng tuổi đến 5 tuổi tham gia và thu được kết quả khả quan

Trang 29

3.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Phương pháp phân tích tài liệu: là phương pháp thu thập thông tin giántiếp thông qua nguồn tài liệu có sẵn, những nguồn tài liệu này đã có trước khinghiên cứu Để đề tài được hoàn thiện đầy đủ nội dung và thông tin phong phúthì cá nhân đã thu thập khai thác và thống kê từ nhiều nguồn khác nhau Phươngpháp phân tích số liệu là phương pháp quan trọng của đề tài

Số liệu thứ cấp từ: báo cáo UBND xã Thạch Hòa, các báo tổng kết tìnhhình tiêm chủng, các bài báo khoa học về nghiên cứu các loại thuốc tiêm phòng

và các nghị quyết của Đảng và Nhà Nước có liên quan đến đề tài nghiên cứucũng như sách, tạp chí có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu sửdụng dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

 Phương pháp quan sát

Thu thập thông tin thông qua quan sát và ghi chép lại thực trạng sử dụngdịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe trẻ nhỏ, quan sát thực tế về sử dụng dịch vụthăm khám chữa bệnh cho trẻ nhỏ, cơ sở vật chất, kỹ thuật của các y tá y sĩ thamgia làm việc tại địa bàn thôn nhằm có những thông tin thực tế và khách quannhất về thực trạng sử dụng dịch vụ y tế

 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Để thực hiện đề tài tôi đã tiến hành chọn 70 mẫu là các hộ gia đình đãtham gia vào việc cũng như sử dụng các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe trẻ nhỏ

độ tuổi 0 tháng tuổi đến 5 tuổi, mẫu được chọn ngẫu nhiên từ tổng số các hộ giađình tham gia vào thăm khám cũng như sử dụng dich vụ để đảm bảo độ tin cậykhách quan trong quá trình nghiên cứu, phân tích số liệu Nhằm tìm hiểu tiếpcận loại hình dịch vụ y tế, sử dụng dịch vụ, sử dụng thuốc, và sự hài lòng của hộgia đình có trẻ nhỏ tại xã Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội

 Phương pháp điều tra phỏng vấn sâu

Trang 30

Thực hiện 6 phỏng vấn sâu, trong đó:

+ 4 hộ gia đình có trẻ nhỏ từ độ tuổi 0 tháng tuổi đến 5 tuổi tiếp cận sửdụng dịch vụ y tế cơ sở tại xã Thạch Hòa nhằm tìm hiểu sâu hơn về những loạithuốc, các mũi tiêm, loại kháng sinh hay dịch vụ thăm khám chữa trị cũng nhưcác hộ gia đình có gặp các yếu tố tác động đến việc tiếp cận dịch vụ y tế

+ 2 cán bộ y tế gồm: cán bộ y tế phụ trách kê đơn thuốc và 1 trưởng trạm

xá nhằm nắm bắt những thông tin về tình trạng trẻ sử dụng dịch vụ và quá trìnhcác hộ gia đình cho trẻ sử dụng dịch vụ, từ đó có cái nhìn khách quan hơn khi điđiều tra thực tế các hộ gia đình để làm rõ thực trạng sử dụng dịch vụ y tế chămsóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ

3.3 Xử lý và phân tích thông tin

Để tiến hành phân tích số liệu điều tra thực tế nhóm tác giả sử dụng phầnmềm SPSS để hỗ trợ xử lý số liệu và phần mềm M.EXCEL

3.4 Khung phân tích

Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng dịch vụ y tế CSSK

Đề tài tập trung nghiên cứu các cách tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cụ thể

là việc chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ, để mô tả tôi xem việc tiếp cận dịch vụchăm sóc sức khỏe là trung tâm, từ những tác động bên ngoài như chính sáchcủa nhà nước và địa phương, cùng với sự mong muốn của hộ gia đình có connhỏ tiếp cận như thế nào cũng như mong muốn trẻ có sức khỏe tốt hơn và đượcchăm sóc dịch vụ tận tình chu đáo Sử dụng dịch vụ CSSK cho trẻ nhỏ có nhiềutác động đến hộ gia đình về các mặt như kinh tế hộ gia đình, chi phí, hoặc cácyếu tố dịch vụ của nhân viên y tế,… tác động như thế nào đến dịch vụ y tế

Trang 31

- Hiệu quả KCB

Trang 32

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tìm hiểu các loại hình dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội

Y tế tuyến xã, phường là một cấu phần quan trọng của hệ thống y tế cơ sở,

có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong hệ thống Y tế Việt Nam bởi đây làđơn vị kỹ thuật y tế gần dân nhất, phát hiện ra sớm nhất những vấn đề sức khỏecho trẻ nhỏ, giải quyết 80% khối lượng dịch vụ y tế, là nơi thể hiện rõ nhất sựcông bằng trong chăm sóc sức khỏe, nơi trực tiếp thể hiện và kiểm chứng cácchủ trương của Đảng và Nhà nước về y tế

Tại các địa phương đặc biệt tại xã Thạch Hòa, Thạch Thất đã thực hiệntheo quy định mới, về cơ bản hệ thống y tế đã ổn định cơ cấu tổ chức và đi vàohoạt động có hiệu quả; việc sắp xếp tổ chức các đơn vị y tế theo hướng giảm đầumối tổ chức, gọn nhẹ, hợp lý, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý và hoạtđộng chuyên môn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên tại ThạchHòa cũng cần tổ chức, sắp xếp, bố trí nhân lực hợp lý, bảo đảm quyền lợi củacác hộ gia đình Đi liền với đó là tìm ra những biện pháp để các loại hình dịch

vụ y tế được nhiều hộ gia đình quan tâm, lựa chọn ra dịch vụ tối ưu họ ưng nhất

Khám cho trẻ nhỏ ở đâu tốt? Là băn khoăn của hầu hết các hộ gia dình cótrẻ nhỏ, bởi hiện tại có rất nhiều trung tâm y tế thực hiện khám chữa bệnh cho

Trang 33

trẻ nhưng không phải nơi nào cũng đảm bảo chất lượng và hiệu quả điều trị Vậylàm sao để tìm đúng địa chỉ khám nhi uy tín, đáng tin cậy và tiện lợi cho các ông

bố bà mẹ khi không có đủ thời gian, tiền bạc hay công sức nhưng luôn muốn chocon được hoàn thiện tránh xa mọi rủi ro bệnh tật Hộ thì chọn nơi nào phải được

Bộ cấp giấy phép hoạt động, một địa chỉ khám uy tín nhất định phải được Bộ Y

tế cấp phép hoạt động, như vậy mới đủ điều kiện khám chữa bệnh an toàn chotrẻ Hộ thì chỉ cần đội ngũ bác sĩ giỏi và phải có các bác sĩ chuyên về Nhi khoa,giỏi, giàu kinh nghiệm Bởi chỉ có những chuyên gia từng học tập và nghiên cứusâu về nhi mới biết được điều gì là tốt và an toàn với trẻ nhất hay cần áp dụngbiện pháp nào thì có thể mang lại hiệu quả phục hồi tốt Vì những lý do đó mà

họ đều lựa chọn sử dụng tùy vào trường hợp cụ thể hay thời gian, điều kiện cócho phép hay không Và từ lúc mang thai đến lúc sinh con nuôi con thì các dịch

vụ cũng được sử dụng khác nhau chứ không phải 1 người sử dụng tất cả cácdịch vụ một nơi và giống nhau

Tại các cơ sở y tế trên địa bàn xã Thạch Hòa hiện nay, đã và đang cung cấpnhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhỏ khác nhau, bao gồm các nhóm như:

+ Dịch chăm sóc bà mẹ mang thai gồm:khám và theo dõi thai nhi, tiêmphòng cho bà mẹ mang thai, điều trị bệnh trong quá trình mang thai và tư vấn sửdụng thuốc trong quá trình mang thai

+ Dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em gồm: thăm khám, tiêm phòngsau sinh cho mẹ, tư vấn nuôi và chăm sóc trẻ, tư vấn sử dụng thuốc cho trẻ nhỏ

+ Dịch vụ tiêm phòng cho trẻ nhỏ gồm: tiêm phòng các loại vacxin trongchương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia (miễn phí) và tiêm phòng các loạivacxin ngoài chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia (dịch vụ)

Với nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhỏ khác nhau như vậy nênkết quả điều tra cho thấy: trong tổng số 70 người được hỏi hầu hếtđã từng sửdụng 1 hoặc nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhỏ tại các cơ sở y tế Số

Trang 34

liệu điều tra về mức độ sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhỏ tại xãThạch Hòa được thể hiện tại Bảng 4.1.

Bảng 4.1 Số người chọn nơi CSSK cho trẻ nhỏ

Qua Bảng 4.1 về mức độ sử dụng các dịch vụ y tế của các đối tượng đượcđiều tra cho thấy, các nhóm đối tượng được điều tra phân theo độ tuổi, trình độvăn hóa, mức thu nhập, nguồn thu nhập (ngành nghề) cũng có sự khác nhautương đối về lựa chọn sử dụng dịch vụ y tế tại cơ sở Tuy nhiên sự khác nhaunày là không rõ rệt

Tổng hợp kết quả điều tra cho thấy:

Trong số 70 người được điều tra (là những đối tượng đang nuôi con nhỏ)

có 3 người chưa đủ 18 tuổi, 29 người có độ tuổi từ 18-25 tuổi, 38 người ngoài

25 tuổi Như vậy tại nơi thực hiện điều tra vẫn có những người sinh con trước 18tuổi, tuy nhiên đây là những trường hợp cá biệt, với tỉ lệ thấp Tất cả những

Trang 35

người được điều tra đều có sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế tại cơ sở Phầnlớn những người được điều tra sử dụng đa dạng các dịch vụ tại các cơ sở y tế điạphương.

Phân nhóm theo thu nhập của các bà mẹ cho thấy: phần lớn thu nhậptrung bình của các bà mẹ nằm trong dưới 5 triệu đồng/tháng Đây là mức thunhập trung bình đối với một người tại nơi điều tra Chỉ có số ít các bà mẹ có thunhập trung bình trên7 triệu đồng/tháng Mức thu nhập cũng ảnh hưởng đến sựlựa chọn sử dụng các dịch vụ y tế Với các đối tượng có mức thu nhập cao (trên7triệu đồng/tháng) có xu hướng sử dụng các dịch vụ y tế tư nhân và cơ sở y tếdịch vụ nhiều hơn Bên cạnh đó các đối tượng có thu nhập trun bình và thấpthường lựa chọn các cơ sở y tế nhà nước (bệnh viện huyện, trạm y tế) để sửdụng các dịch vụ y tế

Hộp 4.1: Nơi hộ gia đình cho trẻ nhỏ sử dụng DV CSSK

“… Chị hiếm khi cho bé nhà chị qua trạm y tế xã, căn bản chị mới chuyển về thôn không biết điều kiện ở trạm có tốt không, khám tư cho lành…”

tá, các bác sĩ thường xuyên về thăm khám nên lượt các hộ gia đình đưa trẻ đi tớichăm sóc nhiều hơn Một số ra đình thì cho rằng:

Trang 36

Dịch vụ CSSK cho trẻ nhỏ là dịch vụ khá đặc biệt, khi phân chia theo độtuổi, nghề nghiệp thì đều có các lựa chọn sử dụng khác nhau tùy tình trạng trẻ,nhưng tất cả các hộ gia đình đều có sử dụng dịch vụ y tế để bảo vệ chăm sóc sứckhỏe của trẻ kịp thời đúng lúc

4.2 Tình hình sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế cơ sở đối với trẻ nhỏ tại Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội.

Hiện nay ở nước ta gần 80% số dân sống ở vùng nông thôn, nên y tế cơ sởđóng vai trò rất quan trọng, góp phần tăng khả năng tiếp cận của người dân hộgia đình có đối với dịch vụ y tế ngay tại cơ sở, bảo đảm công bằng trong chămsóc sức khoẻ cho trẻ nhỏ và giảm thấp nhất chi phí cho các hộ gia đình Nghịquyết T.Ư 6, khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sứckhỏe nhân dân trong tình hình mới (Nghị quyết số 20) xác định y tế cơ sở vẫn lànền tảng để thực hiện vai trò là tuyến đầu trong phòng bệnh, chăm sóc sức khỏetrẻ nhỏ cũng như sàng lọc, phát hiện sớm và kiểm soát bệnh tật Điều đó đặt rayêu cầu phải đổi mới cơ chế hoạt động của mạnglưới y tế cơ sở để hoàn thànhtốt các nhiệm vụ được giao Ở địa phương thôn 6, xã Thạch Hòa Thạch Thất, HàNội đã đang có các dịch vụ y tế cơ sở phổ biến như: trạm y tế, bác sĩ địaphương, khám dịch vụ, quầy thuốc,…

Để đánh giá tình hình sử dụng các dịch vụ y tế của người dân khu vựcnghiên cứu, tôi tiến hành đánhgiá mức độ sử dụng các loại dịch vụ y tế theo cácđối tượng gồm: dịch vụ y tế cho mẹ mang thai và nuôi con nhỏ, dịch vụ y tế cho

“ Trạm y tế xã Thạch Hòa chị thấy khá tốt đó chứ, giờ tư nhân mở lên rất nhiều mà dính bao nhiêu vụ cắt thuốc nhầm, thăm khám nhầm liên tục do tay nghề chưa có, hoặc như ngay tháng trước chị đưa bé Ngọc nhà chị qua tư tiêm vào mông mà tiêm toàn chệch, mình nhìn còn sót cả ruột em à Chị thấy các bác ở trạm y tế tiêm cái là được rõ ngon, chắc kinh nghiệm hơn

đó ”

PVS, Nữ 28 tuổi, hộ gia đình

Ngày đăng: 12/10/2020, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sốnhânkhẩutronggiađình Khác
2. Thu nhập bình quân đầu người:……………………… Khác
3. Nguồn thu nhập của gia đình từ:……………………………… Khác
4. Con nhỏ nhất của chị được mấy tuổi: ………………………………… Khác
5. Khoảng cách từ nhà chị đến nơi sử dụng dịch vụ y tế: ……………… Khác
7. Tình trạng sức khỏe trẻ nhỏ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w