1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG TIÊU THỤ XI MĂNG CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG 78

28 267 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng tiêu thụ xi măng của Nhà máy xi măng 78
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 47,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình tiêu thụ xi măng của nhà máy Cơ chế thị trường đã mở ra cho các doanh nghiệp những cơ hội làm ăn hấp dẫn cũng như quyền tự chủ hoàn toàn trong sản xuất kinh doanh và điều quan

Trang 1

THỰC TRẠNG TIÊU THỤ XI MĂNG CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG 78 III Tình hình tiêu thụ xi măng của nhà máy

Cơ chế thị trường đã mở ra cho các doanh nghiệp những cơ hội làm ăn hấp dẫn cũng như quyền tự chủ hoàn toàn trong sản xuất kinh doanh và điều quan trọng đối với các doanh nghiệp là phải làm sao nhạy bén, nắm bắt được các thay đổi cũng như yêu cầu của thị trường để phục vụ cho tốt Nó cũng là điều kiện để cho các doanh nghiệp vươn lên không ngừng, tự khẳng định mình ở mọi mặt, đặc biệt trong khâu dự báo và lập kế hoạch tiêu thụ mang tính chất khoa học và sát thực với thực

tế hơn Đây là công việc hoàn toàn mới đối với các doanh nghiệp nhà nước nói chung và Nhà máy xi măng 78 nói riêng

Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất xi măng, Nhà máy xi măng 78 đã và đang cố gắng tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường bằng việc luôn đưa ra các sản phẩm đạt chất lượng cao, giá thành hợp lý nên sản lượng tiêu thụ của nhà máy tăng dần qua các năm

Thị trường tiêu thụ chủ yếu của nhà máy là thị trường Hà Nội, chiếm từ 80% đến 85% sản lượng tiêu thụ Còn lại là một số tỉnh lân cận như Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Lạng Sơn Hiện nay, nhà máy vẫn tiếp tục duy trì và phát triển thị trường Hà Nội, đưa ra các chính sách chăm sóc khách hàng truyền thống và tạo dựng mối quan hệ mới Tuy nhiên, thị trường tại Lạng Sơn vẫn chưa khai thác được nhiều, một phần là do có một số Công ty xi măng cũng đã và đang hoạt động trong đó có Công ty xi măng Lạng Sơn và Công ty xi măng Phú Thịnh, Hương Sơn Bên cạnh đó, giá bán xi măng của Nhà máy xi măng 78 vẫn còn cao hơn các đối thủ nên ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ của nhà máy Trước tình hình

đó, Ban Giám đốc cũng đã đưa ra các chính sách nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ tại địa bàn Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang

Trang 2

Sản phẩm xi măng của nhà máy đã được khách hàng lựa chọn ngày càng nhiều hơn Bình quân mỗi ngày tiêu thụ hơn 250 tấn xi măng, trong đó chủ yếu là các đơn hàng tại Hà Nội, tại Lạng Sơn thì đơn đặt hàng vẫn còn nhỏ lẻ thậm chí các đại

lý nhỏ liên kết với nhau để lấy cho đủ số lượng để hưởng chế độ khuyến mại

Bảng 2: Kết quả tiêu thụ xi măng của nhà máy từ năm 2003 – 2006

Sản lượng tiêu thụ (tấn):

- Sản xuất tại nhà máy

- Mua clinker ngoài

87.890 76.87011.020

88.112 77.05311.059

90.437 78.41612.021

93.104 78.64514.459Doanh thu (triệu đồng) 48.775 48.990 50.807 55.862

Qua bảng số liệu trên ta thấy, sản lượng tiêu thụ của nhà máy tăng dần qua các năm Tuy nhiên năm 2004 so với năm 2003, sản lượng tăng không đáng kể Năm

2005, sản lượng tiêu thụ tăng 2.325 tấn tương ứng tăng 2.6% so với năm 2004 Năm 2006, sản lượng tăng 2.667 tấn tương ứng tăng 2.9% so với năm 2005

Doanh thu năm 2004 so với năm 2003 tăng lên không đáng kể Từ năm 2005, tốc độ tăng của doanh thu tăng dần Doanh thu năm 2005 là 50.807 triệu đồng, tăng 1.817 triệu đồng tương ứng tăng 3.7% so với năm 2004 Sang năm 2006, doanh thu đạt 55.862 triệu đồng, tăng 5.055 triệu đồng tương ứng tăng 9.9% so với năm

2005

Công suất thiết kế hiện tại của máy nghiền là 80.000 tấn / năm nhưng công suất thực tế lại chỉ gần 79.000 tấn / năm do đó nhà máy vẫn phải thường xuyên nhập clinker bên ngoài để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các khách hàng và đại lý, đặc biệt là mấy tháng cuối năm Do đặc điểm, tính chất đặc thù của ngành sản xuất

xi măng theo thời vụ nên nhà máy luôn có kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp Mấy tháng đầu năm do nhu cầu xây dựng chưa cao nên nhà máy luôn có chiến

Trang 3

lược dự trữ xi măng trong kho, nhằm hạn chế việc nhập clinker nhiều vào lúc cao

điểm, từ đó giảm được chi phí kinh doanh, tiêu thụ

Để đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ xi măng của nhà máy trong những năm vừa qua, cần tiến hành đánh giá kết quả tiêu thụ của nhà máy theo từng khu vực thị trường và từng kênh phân phối

1 Tình hình tiêu thụ xi măng theo khu vực thị trường

Sản phẩm xi măng của Nhà máy xi măng 78 đã được người tiêu dùng biết đến

và đã dùng thực tế Trong đó, sản phẩm xi măng của nhà máy chủ yếu là tiêu thụ

tại thị trường Hà Nội, còn tại Lạng Sơn và các tỉnh lân cận thì mức tiêu thụ vẫn còn rất hạn chế

Tình hình tiêu thụ xi măng theo khu vực thị trường của nhà máy được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3: Kết quả tiêu thụ xi măng theo từng khu vực qua các năm

Số lượng

(tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng

(tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng

(tấn)

Tỷ trọng (%)

Hà Nội 70.156 79,8 71.905 81,6 72.312 80 74.674 80,2Lạng Sơn 10.552 12,0 10.019 11,4 11.553 12,8 12.496 13,4Bắc Ninh 1.578 1,8 1.356 1,5 1.398 1,5 1.576 1,7

Trang 4

Qua bảng số liệu trên ta thấy:

- Thị trường Hà Nội:

Sản lượng xi măng của nhà máy được tiêu thụ chủ yếu tại thị trường Hà Nội, hàng năm chiếm khoảng 80 % sản lượng tiêu thụ của nhà máy Qua đó ta thấy được sức tiêu thụ tại đây là rất cao nhưng không có sự tăng đáng kể, số lượng các đại lý đặt hàng thường xuyên vẫn chưa thay đổi nhiều Năm 2004, tiêu thụ được 71.905 tấn, tăng 1.749 tấn tương ứng tăng 2,5% so với năm 2003 Năm 2005, tiêu thụ được 72.312 tấn, tăng 407 tấn tương ứng tăng 0,6% so với năm 2004 Năm

2006, sản lượng tiêu thụ là 74.674 tấn, tăng 2.362 tấn tương ứng tăng 3,3% so với năm 2005 Mức tiêu thụ tại đoạn thị trường này tăng dần qua các năm nhưng mức tăng không cao, nguyên nhân là do thị trường Hà Nội dù nhu cầu xây dựng rất cao nhưng do có rất nhiều loại xi măng khác đang cùng tồn tại và giá lại rẻ hơn nên việc mở rộng thị trường tại đây vẫn chưa mang lại hiệu quả thiết thực Nhà máy đã giao nhiệm vụ cho Văn phòng đại diện và Phòng Kinh doanh thường xuyên tiến hành chăm sóc khách hàng, đồng thời đặt quan hệ lại với các đại lý cũ đã từng bán

xi măng của nhà máy Bên cạnh đó, nhân viên thị trường đã tiến hành nghiên cứu

và mở rộng thị trường Hà Nội ra rộng vùng ngoại thành như Gia Lâm, Đông Anh, Long Biên Tuy nhiên, việc chăm sóc khách hàng nhiều khi vẫn còn mang tính hình thức, chăm sóc khách hàng không chỉ là việc thường xuyên qua lại, tiếp xúc

mà cần phải đi sâu vào việc nắm bắt tâm lý khách hàng, hiểu được tâm tư, nguyện vọng và các ý kiến, đề nghị của họ để từ đó đưa ra biện pháp tiếp cận thích hợp với từng khách hàng

- Thị trường Lạng Sơn:

Nhà máy xi măng 78 được đặt trụ sở tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Đây

là một tỉnh khu vực phía Bắc, giáp ranh với Trung Quốc, với hệ thống giao thông thuận tiện, là nơi có rất nhiều núi đá vôi, thuận lợi cho hoạt động sản xuất xi măng

Trang 5

Tuy nhiên, nhu cầu xây dựng nhà ở, các công trình ở đây vẫn còn thấp, nguyên nhân là do thu nhập của người dân vẫn còn thấp, nhiều núi đá, diện tích đất ở vẫn còn thưa thớt Mặc dù vậy, đây lại được đánh giá là thị trường lớn trong thời gian tới.

Hiện nay có một số đại lý tại Hữu Lũng, Chi Lăng và thành phố Lạng Sơn là khách hàng thường xuyên, còn các đại lý khác vẫn lấy hàng nhưng không thường xuyên và số lượng lấy hàng không nhiều

Sản lượng tiêu thụ hàng năm tại thị trường Lạng Sơn chiếm tỷ trọng từ 12% đến 13% tổng sản lượng của nhà máy Năm 2004, sản lượng tiêu thụ là 10.019 tấn, giảm 533 tấn, tương ứng giảm 5% so với năm 2003 Năm 2005, sản lượng tiêu thụ

là 11.553 tấn, tăng 1.534 tấn, tương ứng tăng 15,3% so với năm 2004 Sang năm

2006, tiêu thụ được 12.496 tấn, tăng 943 tấn, tương ứng tăng 8,2% so với năm

2005 Như vậy, tình hình tiêu thụ tại thị trường Lạng Sơn vẫn còn ở mức thấp, chưa tận dụng được thị trường ngay tại nơi sản xuất Số lượng đại lý tại đây là gần

10 đại lý, còn lại là một số khách hàng mua lẻ trực tiếp Công tác mở rộng thị trường tại đây hầu như chưa được quan tâm, nhà máy chỉ tiến hành chăm sóc các đại lý đã và đang tiêu thụ xi măng của nhà máy

- Các thị trường khác:

Các đoạn thị trường tiêu thụ khác của nhà máy chủ yếu là các khách hàng mua trực tiếp cho các việc xây dựng công trình, các đơn vị Quân đội Sản lượng tiêu thụ hàng năm rất thấp, cước vận chuyển xa nên giá thành cao Đây cũng chính là một trong những yếu tố tạo ra rào cản trong việc tiêu thụ xi măng của nhà máy trong khi đó giá bán của các loại xi măng địa phương thấp hơn giá bán của nhà máy từ 5.000 đến 10.000 đồng/tấn

Như vậy, thị trường tiêu thụ xi măng chính của nhà máy là tại khu vực Hà Nội

do đó nhà máy cần phải tiếp tục duy trì, giữ vững khách hàng, đại lý tại đây thông

Trang 6

qua các chương trình khuyến mại, giảm giá vì đây cũng chính là thị trường có rất nhiều đối thủ cạnh tranh như xi măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, Nghi Sơn, Phúc Sơn, Hải Dương, Sài Sơn Bên cạnh đó, nhà máy cần phải đặc biệt quan tâm tới việc chăm sóc khách hàng và mở rộng thị trường tại Lạng Sơn và các tỉnh lân cận cũng như các khu vực khác mà nhà máy chưa xâm nhập

2 Tình hình tiêu thụ xi măng theo kênh phân phối

Việc lựa chọn kênh phân phối phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là rất quan trọng vì khi lựa chọn được kênh phân phối phù hợp với doanh nghiệp sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời đem lại tiện ích cho khách hàng, đại lý trong việc mua bán, vận chuyển

Có nhiều loại kênh phân phối thường được các doanh nghiệp sử dụng như kênh phân phối trực tiếp, kênh phân phối gián tiếp, kênh phân phối hỗn hợp

Kênh trực tiếp: là hình thức mà doanh nghiệp bán trực tiếp sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng mà không qua trung gian

Kênh gián tiếp: là hình thức mà doanh nghiệp bán sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua các trung gian (người bán buôn, bán lẻ, đại lý)

Kênh hỗn hợp: là loại kênh phân phối được sử dụng nhiều trong các doanh nghiệp Kênh này là sự kết hợp hai loại kênh trực tiếp và gián tiếp nhằm tận dụng hết những ưu điểm và hạn chế những khuyết điểm của cả hai loại kênh phân phối trên

Hiện nay nhà máy phân phối chủ yếu thông qua các đại lý (kênh gián tiếp), còn lại là bán trực tiếp cho người dân địa phương và các khách hàng là các công ty xây dựng Khách hàng của nhà máy ký kết hợp đồng thông qua hợp đồng đại lý và hợp đồng mua bán hàng hoá Các khách hàng ký kết hợp đồng đại lý là loại kênh phân

Trang 7

phối gián tiếp còn các khách hàng ký kết hợp đồng mua bán là loại kênh phân phối trực tiếp, giao cho các chủ công trình xây dựng.

Kết quả tiêu thụ xi măng của nhà máy theo kênh phân phối trong những năm vừa qua được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4: Kết quả tiêu thụ xi măng theo kênh phân phối

Số lượng (tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (tấn)

Tỷ trọng (%)Kênh trực

Đối với kênh trực tiếp: Khách hàng là các công ty xây dựng và các người dân địa phương mua hàng trực tiếp tại nhà máy hoặc vận chuyển đến tận nơi công trình Sản lượng tiêu thụ thông qua kênh trực tiếp có xu hướng giảm qua các năm

Trang 8

Năm 2004, sản lượng tiêu thụ là 18.327 tấn, giảm 305 tấn, tương ứng giảm 1,6%

so với năm 2003 Năm 2005, sản lượng tiêu thụ là 16.821 tấn, giảm 1.506 tấn, tương ứng giảm 8,2% so với năm 2004 Sang đến năm 2006, sản lượng tiêu thụ qua kênh trực tiếp có tăng lên nhưng tăng không đáng kể, lượng tăng là 31 tấn, tương ứng tăng 0,2 % so với năm 2005 nhưng nếu so sánh tỷ trọng tiêu thụ thì vẫn giảm, tỷ trọng tiêu thụ qua kênh trực tiếp năm 2006 là 18,1% trong khi năm 2005

là 18,6%

Đối với kênh gián tiếp: sản lượng tiêu thụ năm 2004 là 69.785 tấn, tăng 527 tấn, tương ứng tăng 0,76% so với năm 2003 Năm 2005 tiêu thụ được 73.616 tấn, tăng 3.831 tấn, tương ứng tăng 5,5% so với năm 2004 Sang đến năm 2006 thì sản lượng tiêu thụ thông qua kênh trực tiếp tăng lên là 76.252, tăng 2.636 tấn, tương ứng tăng 3,6% so với năm 2005 Điều này cho thấy các đại lý đã tiêu thụ ngày càng nhiều hơn

I Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ xi măng của nhà máy

1 Quy trình công nghệ sản xuất xi măng

Do đặc thù là sản xuất xi măng nên Nhà máy có quy trình kỹ thuật công nghệ khép kín từ khâu nhận nguyên liệu, nhiên liệu ban đầu cho đến khi kết thúc sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Chính vì vậy, quy trình công nghệ của công ty có tính nguyên tắc và tổ chức chặt chẽ theo một dây truyền công nghệ tương đối hoàn chỉnh, đòi hỏi trình độ và khả năng nhất định Nhà máy đã đầu tư đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, lành nghề để vận hành sản xuất trong từng công đoạn của dây truyền công nghệ… Đội ngũ kỹ thuật được đào tạo tại khoa Silicat Đại học Bách khoa Hà Nội để chỉ đạo sản xuất

Về quy trình công nghệ sản xuất xi măng của Nhà máy hết sức nghiêm ngặt, đòi hỏi khi sản xuất phải luôn làm việc ba ca liên tục, sản xuất 24/24 giờ trong một

Trang 9

ngày Vì vậy luôn ràng buộc người công nhân trong đơn vị phải vận hành đúng thao tác công nghệ đảm bảo quy phạm kỹ thuật sản xuất: Cân, đong, đo, đếm đúng

và đủ mọi thành phần trong đơn phối liệu và sự quản lý về kỹ thuật nghiêm ngặt để đảm bảo cho sản xuất ra đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quy định

Để phục vụ tốt cho công tác quản lý nói chung và quản lý kỹ thuật nói riêng, ngay từ khâu đầu tiên, các nguyên liệu đầu vào được tuyển chọn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ trước khi nhập kho và phải đảm bảo tốt tính chất hoá, lý theo yêu cầu sản xuất không cho phép nhập bừa nhập ẩu nguyên liệu Công ty đã đầu tư thiết bị một cách đồng bộ từ hệ thống phân tích hoá lý của nguyên liệu nhập kho cũng như của sản phẩm xuất kho một cách đầy đủ Rồi đến các hệ thống nghiền liệu, hệ thống nghiền xi, đóng bao… Hệ thống điện luôn đảm bảo phục vụ tốt công tác sản xuất được bố trí nghiêm ngặt, an toàn và hợp lý Quy trình công nghệ sản xuất xi măng của nhà máy được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ sản xuất xi măng

Trang 10

Là một doanh nghiệp nhà nước chuyên sản xuất và kinh doanh một loại sản phẩm truyền thống là xi măng PCB30 phục vụ cho ngành xây dựng Xuất phát từ chức năng của sản phẩm là phục vụ cho ngành xây dựng nên yêu cầu về chất lượng của sản phẩm phải có đầy đủ các tiêu chuẩn về chất lượng đã qui định.

Trong điều kiện cơ chế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì vấn đề chất lượng đối với sản phẩm của Nhà máy được đặt lên hàng đầu, từ đó mới có thể đứng vững và cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường Nhận thức được điều đó, Nhà máy đã hết sức chú trọng vào việc nghiên cứu và đầu tư đổi mới quy trình công nghệ sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm của mình, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

Hiện nay với quy trình công nghệ sản xuất xi măng lò đứng, một số dây truyền

tự động, quy trình sản xuất theo đúng các công đoạn máy móc thiết bị được đầu tư, đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật ngay từ khâu nhập nguyên liệu đầu vào, công đoạn chuẩn bị nghiền liệu được kiểm tra chặt chẽ Các phân xưởng phối kết hợp cùng tiến hành kiểm tra các thông số kỹ thuật cho phép Phòng Kỹ thuật tiến hành kiểm tra các tiêu chuẩn của các mẫu đá, đất sét, bột phối liệu, clinker, hàm lượng mất khi nung Chỉ khi nào có xác nhận của Phòng Kỹ thuật thì mới được đóng

Trang 11

bao và tiến hành nhập vào kho thành phẩm Quy trình sản xuất tạo ra chất lượng ở từng khâu, từng công đoạn do đó Nhà máy luôn có sự kiểm tra, giám sát và quản lý các công đoạn một cách chặt chẽ nhằm đảm bảo về các chỉ tiêu như thời gian đông kết, màu sắc của xi măng Bên cạnh đó, việc sản xuất theo đúng quy trình công nghệ sẽ làm giảm các chi phí liên quan như chi phí làm lại khi bị sai, lỗi, chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu

Tuy nhiên, vẫn tồn tại việc sử dụng số liệu quá khứ để làm số liệu hiện tại nên nhiều khi chất lượng xi măng bị ảnh hưởng Bên cạnh đó, vỏ bao lại do một cơ sở khác sản xuất nên nhiều khi không kiểm soát được Nhiều khi khách hàng phàn nàn về vấn đề vỏ bao dễ bị rách, bục Vì vậy, nhà máy cần phải đảm bảo quá trình sản xuất theo đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật đã xây dựng

Sơ đồ 3: Quá trình sản xuất xi măng của nhà máy

2 Đặc điểm về nhân lực của nhà máy

Một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng tạo lập và phát triển bất kỳ một doanh nghiệp nào đó là vấn đề nguồn nhân lực Một doanh nghiệp

có nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ năng lực cao thì chắc chắn doanh nghiệp đó

sẽ có những bước phát triển hết sức nhanh chóng Điều đó lại phụ thuộc vào việc tuyển chọn, quản lý và phát triển nguồn nhân lực của mỗi doanh nghiệp

Với Nhà máy xi măng 78, căn cứ vào năng lực của máy móc thiết bị, trình độ của người lao động, định mức lao động cho sản phẩm để xây dựng kế hoạch sản

Trang 12

xuất kinh doanh Nhà máy rất chú trọng đến yếu tố con người, nó có tác động trực tiếp đến sự trường tồn và phát triển của nhà máy Vì vậy, kế hoạch sử dụng và quản

lý nguồn nhân lực được nhà máy rất chú trọng trong việc sản xuất kinh doanh để từ

đó bố trí, sắp xếp nhân lực cho hợp lý trong từng công đoạn của dây truyền sản xuất

Nhà máy xác định việc giáo dục và đào tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng qua đó cung cấp cho công nhân viên những kiến thức về quản lý kinh tế, quản lý kỹ thuật, để có thể nâng cao được chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm, thúc đẩy khả năng tiêu thụ sản phẩm của nhà máy Để đáp ứng được những yêu cầu đó về sản xuất kinh doanh, nhà máy đã có kế hoạch đào tạo lực lượng cán bộ công nhân viên theo nhiều mô hình đào tạo tại chỗ cho toàn bộ công nhân theo các chuyên ngành Hàng năm, nhà máy còn tuyển dụng thêm lao động mới tốt nghiệp từ các trường Đại học, cao đẳng và trung học chuyên ngành để có thể sử dụng và quản lý tốt hơn nữa máy móc thiết bị trong dây truyền sản xuất của nhà máy

Nhà máy xác định rõ nguồn nhân lực là yếu tố hết sức quan trọng sản xuất kinh doanh Vì vậy nhà máy đã sử dụng số lượng công nhân viên và phân công, bố trí lao động hợp lý nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Do đặc thù

là doanh nghiệp nhà nước cho nên ngoài mục tiêu lợi nhuận thì yếu tố tạo công ăn việc làm và ổng định chính trị, nâng cao thu nhập cũng được quan tâm đúng mức Tình hình biến động và tuyển dụng lao động của nhà máy trong mấy năm gần đây được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 5: Tình hình biến động và sử dụng lao động của nhà máy

Chỉ tiêu

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Trang 13

(người) (người) (người)

- Nếu chia lao động của nhà máy theo tiêu chí tính chất công việc: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp

+ Trong số 428 lao động của nhà máy năm 2004 thì có 308 lao động sản xuất trực tiếp chiếm 72% tổng số lao động của nhà máy, số còn lại là 120 lao động sản xuất gián tiếp chiếm 28% tổng số lao động Như vậy tỷ lệ giữa lao động sản xuất trực tiếp và lao động sản xuất gián tiếp là 2,5:1

+ Trong năm 2005, số lượng lao động của nhà máy có sự biến động Tổng số lao động là 481 người trong đó lao động sản xuất trực tiếp

là 358 người chiếm 74,4 % tổng số lao động,

số lao động sản xuất gián tiếp là 123 người chiến 25,6% Tỷ lệ giữa lao động sản

Trang 14

xuất trực tiếp và lao động gián tiếp là 3:1 Như vậy, tỷ lệ giữa lao động gián tiếp và lao động trực tiếp đã có sự thay đổi

+ Trong năm 2006, tỷ lệ giữa lao động sản xuất trực tiếp và gián tiếp là 2:1

Đây là con số rất đáng quan tâm với một doanh nghiệp sản xuất Nhà máy nên tiến hành điều chỉnh lại cơ cấu lao động trực tiếp và lao động gián tiếp vì chỉ có lao động sản xuất trực tiếp mới tạo ra được giá trị gia tăng cho sản phẩm còn lao động gián tiếp chỉ góp phần thực hiện giá trị sản phẩm

- Nếu chia lao động theo trình độ:

+ Lao động trình độ đại học năm 2004 là 17 người chiếm 4,0%, năm 2005 là

21 người chiếm 4,4%, năm 2006 là 23 chiếm tỉ lệ là 5,6% trên tổng số lao động của nhà máy

+ Lao động có trình độ cao đẳng năm 2004 là 8 người chiếm 1,9%, năm 2005

là 11 chiếm 2,3%, năm 2006 là 10 chiếm tỉ lệ 2,4% trên tổng số lao động

+ Lao động có trình độ trung cấp năm 2004 là 32 người chiếm 7,5%, năm

2005 có 35 người chiếm 7,3%, năm 2006 có 31 người chiếm 7,5% trên tổng số lao động

+ Công nhân và lao động phổ thông năm 2004 là 371 người chiếm 86,6%, năm

2005 là 414 người chiếm 86,0%, năm 2006 là 347 người chiếm 84,5% trên tổng số lao động

Sự biến động về lực lượng và cơ cấu lao động cũng là một trong các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy Trong đó chất lượng lao động là yếu tố đặc biệt quan trọng, nếu công tác nghiên

Ngày đăng: 22/10/2013, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Kết quả tiêu thụ xi măng theo kênh phân phối - THỰC TRẠNG TIÊU THỤ XI MĂNG CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG 78
Bảng 4 Kết quả tiêu thụ xi măng theo kênh phân phối (Trang 7)
Bảng 6: Bảng giá xi măng quốc phòng 78 (năm 2006 – 2007) - THỰC TRẠNG TIÊU THỤ XI MĂNG CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG 78
Bảng 6 Bảng giá xi măng quốc phòng 78 (năm 2006 – 2007) (Trang 19)
Bảng 7: Giá bán xi măng quốc phòng 78 giao cho các đại lý phía Bắc (Áp dụng từ - THỰC TRẠNG TIÊU THỤ XI MĂNG CỦA NHÀ MÁY XI MĂNG 78
Bảng 7 Giá bán xi măng quốc phòng 78 giao cho các đại lý phía Bắc (Áp dụng từ (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w