1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA

17 1,7K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng phát triển một số ngành dịch vụ trên địa bàn Thành phố Hà Nội thời gian qua
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 47,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, một số dịch vụ mà Hà Nội có lợi thế thì tốc độ phát triển còn thấp, tỷ trọng giá trị trong tổng giá trị dịch vụ của cả nước còn nhỏ như dịch vụ hoạt động khoa học và công nghệ..

Trang 1

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA

BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA

2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH DỊCH VỤ TRONG 20 NĂM ĐỔI MỚI 2.1.1 Giai đoạn 1986-1990: Thời kỳ mở rộng và phát triển dịch vụ

Trong giai đoạn đầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết của nhà nước (1986-1990), hoạt động dịch vụ, cả phía cung và cầu, ở Hà Nội bắt đầu phát triển Một số dịch vụ đã phát triển trong cơ chế kinh tế cũ, phục vụ trực tiếp cho sản xuất được phát triển với tốc độ khá cao, đó là dịch vụ thương mại, dịch vụ vận tải Kết quả là, tỷ trọng giá trị dịch vụ thương mại và dịch vụ vận tải chiếm tới hơn 50% trong tổng giá trị lĩnh vực dịch vụ ở Hà Nội

Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu phát triển, chủng loại dịch vụ còn khá sơ sài, tốc

độ tăng trưởng còn thấp, quy mô các ngành, tiểu ngành dịch vụ còn nhỏ, lẻ Cụ thể, một số loại hình dịch vụ hạ tầng cơ sở cho phát triển kinh tế – xã hội như dịch vụ bưu chính - viễn thông, dịch vụ tài chính -ngân hàng, dịch vụ giáo dục - đào tạo, dịch vụ khoa học – công nghệ, tôc độ phát triển chưa cao, quy mô nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng Chủng loại các tiểu ngành dịch vụ trong từng ngành chưa đa dạng, còn sơ khai Trong ngành bưu chính – viễn thông, chỉ có dịch vụ điện thoại cố định bắt đầu phát triển với tỷ lệ 1.000 người/1 máy điện thoại, các dịch vụ chỉ mới xuất hiện nhưng chưa phát triển như dịch vụ Internet, chuyển phát nhanh, điện thoại di động, Trong ngành tài chính - ngân hàng chủ yếu vẫn diễn ra các hoạt động huy động và phân bổ vốn thông qua hệ thống ngân hàng, các loại hình dịch vụ khác như bảo hiểm, dịch vụ cho thuê tài chính, kế toán, kiểm toán chưa đáng kể

Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ còn thấp, giá cả dịch vụ tương đối cao Hạ tầng cơ sở cho hoạt động dịch vụ chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, do đó chất lượng thấp Trình độ, thái độ phục vụ của đội ngũ lao động tham gia sản xuất và

Trang 2

cung ứng dịch vụ còn mang nặng thói quen từ thời kỳ bao cấp với cơ chế “xin-cho”

Trong giai đoạn này, Nhà nước vẫn là nhà sản xuất và cung cấp phần lớn dịch vụ cho xã hội, chưa có sự tham gia mạnh mẽ của khu vực tư nhân và nước ngoài trong hoạt động dịch vụ Giá trị dịch vụ cung cấp từ khu vực nhà nước trong tổng giá trị dịch vụ chiếm tỷ trọng cao, tới 53,8%

2.1.2 Giai đoạn 1991-2006: Thời kỳ phát triển mạnh mẽ các loại hình dịch vụ trên địa bàn Hà Nội

Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của khu vực dịch vụ Hà Nội đạt khá

cao, ổn định và giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước Nếu như tốc độ tăng trưởng dịch vụ Hà Nội giai đoạn 1996-2000 chỉ đạt 8,5%/năm thì sang giai đoạn

2001-2005 đã đạt tới trên 9,1%/năm và làm cho tốc độ tăng trưởng cả giai đoạn

1996-2005 đạt tới 8,7%/năm

Bảng 2.1: Tăng trưởng dịch vụ và tăng trưởng GDP của Hà Nội

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Tăng bình quân năm (%)

1996-2000

2001-2005

1996-2005 Tổng GDP Hà Nội 12.021 19.999 34.073 10,70 11,10 10,80

Tỷ trọng dịch vụ trong GDP 0,64 0,58 0,58 0,61 0,56 0,59

Nguồn: Niên giám thống kê 2005.

Tốc độ tăng trưởng cao của khu vực dịch vụ Hà Nội đã ngày càng nâng cao vị thế dịch vụ Hà Nội với cả nước, làm tăng mức đóng góp giá trị dịch vụ Hà Nội vào tổng giá trị dịch vụ của cả nước Nếu như năm 1995 giá trị khu vực dịch vụ Hà Nội chỉ chiếm 8,9% trong tổng giá trị dịch vụ của cả nước thì đến năm 2000 tỷ trọng này đã tăng lên 10,3% và đạt 12,6% năm 2005

Trang 3

Vai trò là một trung tâm dịch vụ của Hà Nội đối với cả nước ngày càng được khẳng định thông qua tỷ trọng giá trị của một số ngành dịch vụ khá cao trong tổng thể giá trị dịch vụ của cả nước Tỷ trọng giá trị dịch vụ vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc trong tổng giá trị dịch vụ cả nước chiếm đến 24,5% năm 1995 đã tăng lên 34,1% năm 2005; dịch vụ văn hoá - thể thao chiếm đến 22,3% năm 1995 tăng lên 29,9% năm 2005; dịch vụ hoạt động khoa học công nghệ chiếm đến 20,1% năm 2005; đặc biệt tỷ trọng dịch vụ tài chính ngân hàng chiếm có 7,7% năm 1995 đã tăng khá nhanh đạt 16,6% năm 2005

Biểu 2.2: Tỷ trọng giá trị các ngành dịch vụ của Hà Nội với cả nước

Đơn vị tính: %

Thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ 5,6 6,9 7,8

Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc 24,5 27,3 34,1

Hoạt động kinh doanh tài sản và tư vấn 6,4 10,0 10,0 Quản lý Nhà nước, an ninh, quốc phòng 4,5 4,7 4,4

Các hoạt động Đảng, đoàn thể, hiệp hội 22,3 22,8

Hoạt động làm thuê trong các hộ gia đình 9,2 7,9 7,6

Nguồn: Niên giám thống kê 2005.

Với vị thế là thủ đô, một trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước, xu thế nâng cao vị thế phát triển dịch vụ và tăng giá trị đóng góp dịch vụ của Hà Nội đối với cả nước sẽ tiếp tục diễn ra trong những năm tiếp theo Theo một số dự đoán của các chuyên gia kinh tế, tỷ trọng giá trị lĩnh vực dịch vụ Hà Nội phải chiếm từ 20% đến

Trang 4

25% trong tổng giá trị dịch vụ của cả nước mới tương xứng với tiềm năng, vị thế của Thủ Đô, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội

Mặc dù lĩnh vực dịch vụ đã đạt được tốc độ tăng khá nhanh và ổn định tuy nhiên vẫn chậm hơn tốc độ tăng trưởng GDP nói chung và của khu vực công

nghiệp nói riêng Hơn nữa, một số dịch vụ mà Hà Nội có lợi thế thì tốc độ phát triển còn thấp, tỷ trọng giá trị trong tổng giá trị dịch vụ của cả nước còn nhỏ như dịch vụ hoạt động khoa học và công nghệ Đặc biệt, tỷ trọng dịch vụ các hoạt động khoa học công nghệ lại có xu hướng giảm, đạt 28,1% năm 1995 giảm xuống còn 20,1% năm 2005

Bảng 2.3: Cơ cấu các ngành, tiểu ngành dịch vụ của Hà Nội

Đơn vị tính: %

Thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ 22,33 24,57 24,01

Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc 28,19 26,32 30,00

Hoạt động liên quan đến KD tài sản và DV tư vấn 8,67 10,24 8,49 Quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng 3,94 3,28 2,91

Các hoạt động Đảng, đoàn thể, hiệp hội 2,56 0,81 0,69 Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng 1,57 1,54 1,37 Hoạt động làm thuê trong các hộ gia đình 0,55 0,44 0,32

Nguồn: Niên giám thống kê 2005.

Về quy mô và cơ cấu, số liệu Bảng 2.3 cho thấy, quy mô, tỷ trọng giá trị của

từng ngành, tiểu ngành trong tổng thể lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội có sự chênh lệch khá lớn Các ngành dịch vụ đã phát triển khá mạnh trong cơ chế kinh tế cũ vẫn

Trang 5

tiếp tục mở rộng, do đó có quy mô lớn, chiếm tỷ trọng giá trị cao Cụ thể, dịch vụ vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc chiếm tới 30% trong tổng giá trị dịch vụ năm 2005; dịch vụ thương nghiệp và sửa chữa xe có động cơ, chiếm 24,01% Một số ngành dịch vụ có quy mô trung bình như dịch vụ hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản, tư vấn chiếm tỷ trọng giá trị 8,49% năm 2005, tỷ trọng dịch vụ giáo dục - đào tạo chiếm 8,97% năm 2005

Đáng chú ý, một số ngành dịch vụ mà Hà Nội có lợi thế phát triển nhưng quy

mô còn thấp, tỷ trọng giá trị trong tổng thể giá trị dịch vụ của Hà Nội thấp như dịch

vụ tài chính – ngân hàng (chỉ chiếm 6,04% năm 2005); dịch vụ hoạt động của các

tổ chức quốc tế (chỉ chiếm 0,62% năm 2005); dịch vụ hoạt động văn hoá - thể thao (chỉ chiếm 3,51% năm 2005)

Về xu hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành, tiểu ngành dịch vụ của Hà Nội, sự chuyển dịch cơ cấu các ngành, tiểu ngành dịch vụ diễn ra theo hướng phát

triển mạnh các dịch vụ khai thác, sử dụng tối đa thế mạnh của Hà Nội trong gần 10 năm qua diễn ra khá mạnh mẽ Cụ thể, tỷ trọng giá trị dịch vụ thương nghiệp, sữa chữa xe có động cơ có sự thay đổi đáng kể, tăng từ 22,33% năm 1995 lên 24,01% năm 2005; dịch vụ tài chính, tín dụng tăng từ 3,78% năm 1995 lên 6,04% năm

2005 Tuy nhiên, xu hướng chuyển dịch cơ cấu diễn ra ở một số ngành dịch vụ còn lại vẫn đang diễn ra chậm, có mức thay đổi trên (dưới) 2%/năm) Đặc biệt, tỷ trọng giá trị một số ngành dịch vụ trong tổng giá trị dịch vụ ở Hà Nôi có xu hướng giảm như dịch vụ hoạt động quốc tế, dịch vụ hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội, dịch

vụ phục vụ cá nhân và cộng đồng

Trang 6

Bảng 2.4: Quy mô và tốc độ tăng các phân ngành dịch vụ của Hà Nội

Đơn vị tính: tỷ đồng

Tốc độ tăng trởng (%)

1996-2000

2001-2005

1996-2005 Tổng các ngành dịch vụ 7674 11517 19812 8,5 11,0 9,6 Thương nghiệp, sửa chữa xe

Vận tải, kho bãi và thông tin

Hoạt động khoa học, công

Hoạt động liên quan đến KD

Quản lý Nhà nước, an ninh

Hoạt động văn hoá, thể thao 230 372 655 10,1 11,4 10,6 Các hoạt động Đảng, đoàn thể,

Hoạt động phục vụ cac nhân

Hoạt động làm thuê trong các

Hoạt động của các tổ chức

Nguồn: Niên giám thống kê 2005.

Như vậy, các loại hình dịch vụ ở Hà Nội đã và đang phát triển tương đối toàn diện Tuy nhiên, tốc độ phát triển một số ngành dịch vụ mà Hà Nội có lợi thế chưa cao, chưa xứng với tiềm năng, sự dịch chuyển cơ cấu dịch vụ theo hướng khai thác tối đa lợi thế của một thủ đô diễn ra chưa mạnh Bên cạnh đó, nhiều ngành dịch vụ

có vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội, có

Trang 7

nhu cầu tiêu dùng lớn như dịch vụ thương mại, du lịch, dịch vụ khoa học công nghệ, dịch vụ tư vấn hỗ trợ sản xuất chưa phát triển đúng với tiềm năng của nó

2.2 ĐÓNG GÓP CỦA KHU VỰC DỊCH VỤ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA HÀ NỘI

2.2.1 Ngành dịch vụ góp phần giải quyết việc làm của Thành phố

Tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ trong tổng số lao động có

xu hướng ngày càng tăng cũng là một tính quy luật hiện nay Tại các nước phát

triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Canađa lĩnh vực dịch vụ luôn tạo ra việc làm cho khoảng 70-80% lực lượng lao động toàn xã hội Nền kinh tế càng phát triển, lao động trong lĩnh vực dịch vụ càng gia tăng và dẫn đến xu hướng di chuyển lao động

từ các lĩnh vực chế tạo sang lĩnh vực dịch vụ Tại các nước đang phát triển, lực lượng lao động tập trung nhiều trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp nhưng

xu hướng di chuyển lao động sang ngành dịch vụ cũng đang trở nên ngày càng phổ biến

Đối với Việt Nam, ngành dịch vụ đang ngày càng có xu hướng sử dụng nhiều lao động Số lượng lao động trong lĩnh vực dịch vụ tăng cả về tương đối và tuyệt đối Số liệu năm 2000 cho thấy trong tổng số gần 38 triệu lao động của Việt Nam thì 65% làm việc trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp, 10% làm việc trong các ngành công nghiệp và 25% làm việc trong lĩnh vực dịch vụ Tuy nhiên, việc mỗi năm Việt Nam tăng thêm khoảng 1,7 triệu lao động (chưa kể số lao động dôi ra và lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp) đã gây ra một sức ép rất lớn về việc làm đối với nền kinh tế Dự báo ngành công nghiệp chỉ có thể thu hút được tối đa 0,7 triệu lao động mỗi năm, còn lại 0,9 triệu là do khu vực dịch vụ Nhưng với tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ như hiện nay thì mỗi năm cũng chỉ thu hút thêm được 0,5 triệu lao động trong tổng số 0,9 triệu lao động Rõ ràng, ngành dịch vụ của Việt Nam đang thực sự tạo ra nhiều việc làm cho nền kinh tế quốc dân, nhưng so với sức ép việc làm hiện nay thì việc thu hút lao động của ngành dịch vụ như trên là chưa thoả đáng

Trang 8

Hà Nội là trung tõm dịch vụ lớn thứ hai cả nước, sau thành phố Hồ Chớ Minh, năm 2003 cú tỷ trọng lao động dịch vụ trong tổng số lao động toàn thành phố là 49,3%% Con số này chứng tỏ rằng, ngành dịch vụ Hà Nội đang đúng gúp rất lớn vào giải quyết việc làm của thành phố

hình 2: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của các

ngành dịch vụ năm 2003

36%

4%

5%

8%

12%

35%

Không có chuyên môn

kỹ thuật

Sơ cấp/có chứng chỉ nghề

Công nhân kỹ thuật không bằng

Công nhân kỹ thuật có bằng

Trung học chuyên nghiệp

Cao đẳng, đại học trở lên

2.2.2 Vai trũ của ngành dịch vụ Hà Nội đối với sự phỏt triển của cỏc ngành sản xuất ở Hà Nội

Ngày nay, vai trũ của dịch vụ trong tăng trưởng ngày càng lớn Dịch vụ từ chỗ phỏt triển sau cụng nghiệp và nụng nghiệp đó chuyển thành khu vực cựng phỏt triển đồng thời với cụng nghiệp và nụng nghiệp Ngành dịch vụ khụng cũn đơn thuần chỉ phụ thuộc vào ngành sản xuất mà nú phỏt triển cú tớnh chất độc lập, đụi khi đi trước làm tiền đề, tạo điều kiện để cỏc ngành sản xuất phỏt triển Người ta đó thống kờ rằng để sản xuất ra một thành phẩm cú giỏ trị 100 đồng, 10 đồng phải chi cho dịch vụ vận tải, 10 đồng cho dịch vụ viễn thụng, 10 đồng cho dịch vụ quảng cỏo, 30 đồng cho cỏc dịch vụ liờn quan tới sản xuất, chỉ cú 20 đồng cho nguyờn vật liệu và cũn lại là cỏc chi phớ khỏc như tiền lương, quản lý v.v Như vậy, cỏc ngành sản xuất ngày càng cần đến nhiều dịch vụ hơn Đối với Việt Nam núi chung và Hà Nội núi riờng, ngành dịch vụ đó cú hỗ trợ rất đắc lực cho sự phỏt triển kinh tế,

Trang 9

nhưng mức độ hỗ trợ còn chưa được như mong muốn và đôi khi còn cản trở, làm giảm khả năng cạnh tranh của các ngành sản xuất Các điều tra đã chỉ ra rằng nhiều ngành dịch vụ đang là nguyên nhân làm cho các ngành sản xuất kém tính cạnh tranh Các chi phí cao về dịch vụ vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển), viễn thông, phí và lệ phí hải quản, hàng hải, hàng không, kho bãi có ảnh hưởng rất lớn tới chi phí sản xuất và sức cạnh tranh đặc biệt là các sản phẩm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu và xuất khẩu như: phân bón; sản phẩm nhựa; sản phẩm dệt - may; giầy, dép; hàng tiêu dùng cao cấp, Hiện tại các chi phí dịch vụ viễn thông, cảng biển, chi phí vận tải ở Việt Nam cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực Cụ thể là cước viễn thông quốc tế của Việt Nam cao hơn so với các nước trong khu vực từ 30-50% (so với Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philipine và Singapore), chi phí vận tải cao hơn từ 10-30% (so với Malaysia, Indonesia, và Singapore)

2.2.3 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Nội trong thời gian tới

Mặc dù cả 3 lĩnh vực kinh tế của Hà Nội (công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp) có tốc độ tăng trưởng khá ổn định, tuy nhiên tỷ trọng giá trị công nghiệp trong tổng GDP của Hà Nội liên tục tăng trong khi giá trị dịch vụ và nông nghiệp liên tục giảm Nói cách khác, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Nội đang diễn ra theo hướng: công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp

Bước sang giai đoạn đổi mới, công nghiệp Hà Nội phát triển theo hướng mở rộng, đó là do mật độ đầu tư tập trung cao ở một số ngành công nghiệp, đặc biệt là thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài ở lĩnh vực công nghiệp Sự mở rộng sản xuất đã thúc đẩy giá trị sản xuất công nghiệp tăng nhanh, đạt 14,5%/năm, có những ngành tăng trên 20%/năm

Hơn nữa, do sản phẩm công nghiệp mang tính vật thể nên có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất trong một thời gian và sau đó phân phối cho các thị trường khác nhau, trong khi các sản phẩm dịch vụ lại được tiêu dùng đồng thời với quá trình sản xuất, không lưu giữ được ở trong kho và không thể chờ đợi điều kiện thuận lợi

Trang 10

rồi mới đưa vào thị trường tiêu thụ Do đó không thể mở rộng quy mô, đẩy nhanh tốc độ phát triển dịch vụ trong một thời gian ngắn vì còn phụ thuộc rất lớn vào các kênh tiêu thụ

Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng ý nghĩa 1% giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp và ngành dịch vụ rất khác nhau về mặt chất lượng tăng trưởng Trong giá trị tăng thêm của nhiều ngành công nghiệp, tỷ trọng của hao phí vật chất (lao động quá khứ) thường khá lớn, khoảng 50-60%, thậm chí có những ngành như may mặc đến trên 70%, trong khi đó các chỉ tiêu tương ứng đối với các ngành dịch vụ lại thường chỉ 30-40%, có khi còn thấp hơn nhiều Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật vồn có này vừa phản ánh chất lượng tăng trưởng khác nhau đối với các con số thể hiện tốc

độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm của các lĩnh vực

Trong những năm gần đây, mặc dầu có xu hướng giảm sút cả về tỷ trọng nhưng tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ khá cao và ổn định dẫn đến tỷ trọng giá trị khu vực dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu giá trị GDP của Hà Nội Cơ cấu dịch vụ phát triển từng bước hợp lý hơn theo hướng phát triển mạnh các dịch vụ có tính hạ tầng cơ sở như giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ; các dịch vụ có giá trị gia tăng cao như tài chính - ngân hàng, bưu chính – viễn thông,

du lịch; và các dịch vụ mà Hà Nội có lợi thế như dịch vụ hội nghị, hội thảo quốc tế Kết hợp với các yếu tố khác như: Một là, nền kinh tế Hà Nội đang hướng nhanh tới nền kinh tế tri thức bằng việc đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi dịch vụ phải phát triển đồng bộ tạo thành một hệ thống tổng thể đáp ứng như cầu sản xuất hiện đại và đời sống xã hội; Hai là, các thị trường dịch vụ của Hà Nội như thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, lao động, bảo hiểm, khoa học công nghệ, thông tin- tư vấn, dịch vụ đô thị chất lượng cao,

đã hình thành và đang phát triển tương đối mạnh; Ba là, Hà Nội là một thị trường tiêu thụ dịch vụ lớn với đông người có trình độ văn hoá và thu nhập cao Hơn nữa,

Hà Nội còn có vai trò là một trung tâm dịch vụ phía Bắc; Bốn là, trong quá trình thúc đẩy xã hội hoá trong hoạt động dịch vụ và hội nhập kinh tế quốc tế, dịch vụ

Hà Nội sẽ thu hút được vốn đầu tư từ khu vực tư nhân và nước ngoài, có thể kết

Ngày đăng: 22/10/2013, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Cơ cấu các ngành, tiểu ngành dịch vụ của Hà Nội - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
Bảng 2.3 Cơ cấu các ngành, tiểu ngành dịch vụ của Hà Nội (Trang 4)
Bảng 2.4: Quy mô và tốc độ tăng các phân ngành dịch vụ của Hà Nội - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
Bảng 2.4 Quy mô và tốc độ tăng các phân ngành dịch vụ của Hà Nội (Trang 6)
Hình 2: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của các - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
Hình 2 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của các (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w