Trước yêu cầu đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá, việc làm văn của học sinh và đề kiểm tra, thi cử, đáp án đã có nhiều thay đổi. Từ việc chú trọng kiến thức và đảm bảo ý, bài làm của học sinh hướng tới việc đảm bảo kỹ năng và thực hiện theo các tiêu chí: đảm bảo được cấu trúc bài nghị luận; xác định đúng vấn đề nghị luận; chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm phù hợp; chính tả, dùng từ, đặt câu và tính sáng tạo.
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: …….
1 Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh phát triển năng lực sáng tạo trong bài văn nghị luận văn học.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Công tác giảng dạy
3 Mô tả sáng kiến:
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết
Trước yêu cầu đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá, việc làm văn của học sinh và đề kiểm tra, thi cử, đáp án đã có nhiều thay đổi Từ việc chú trọng kiến thức và đảm bảo ý, bài làm của học sinh hướng tới việc đảm bảo kỹ năng
và thực hiện theo các tiêu chí: đảm bảo được cấu trúc bài nghị luận; xác định đúng vấn đề nghị luận; chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm phù hợp; chính tả, dùng từ, đặt câu và tính sáng tạo Mỗi tiêu chí đều được được định hướng với những điểm số cụ thể Tuy nhiên, việc đảm bảo tiêu chí sáng tạo trong bài văn nghị luận văn học của học sinh, hiện nay có những ưu và nhược điểm như sau:
* Ưu điểm:
- Cách ra đề và việc thực hiện chấm bài hiện nay tôn trọng sự sáng tạo, khuyến khích việc tìm ra cách thể hiện, cách triển khai, cách diễn đạt mới của học sinh;
- Một số học sinh có ý thức đọc nhiều, có năng lực tìm tòi, phát hiện, khám phá cái mới
- Giáo viên nhiệt tình trong giảng dạy, chịu khó tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học
Trang 2* Nhược điểm:
- Thực tế, rất nhiều học sinh không hình dung được làm thế nào để có điểm sáng tạo trong bài văn nghị luận văn học, viết văn chỉ mong đủ ý chứ không nghĩ đến việc có điểm sáng tạo
- Một số khác không dám đột phá, không dám bày tỏ ý tưởng, không dám thể hiện những quan điểm và cách diễn đạt mới Nếu có thì thường rất lúng túng
và chỉ “miễn cưỡng” theo những yêu cầu bắt buộc vì các em không tự tin vào những gì đã viết
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến.
3.2.1 Mục đích của giải pháp
- Phát triển năng lực sáng tạo trong bài văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng để mỗi giáo viên trong quá trình dạy và mỗi học sinh trong quá trình học sẽ “có can đảm buông tay khỏi những điều chắc chắn” (Erich Fromm), buông tay khỏi khuôn mẫu, lối mòn mang tính quy ước, nhàm chán Nghĩa là, học sinh sẽ được giáo viên khuyến khích tìm tòi, khám phá để đưa ra những quan điểm, ý tưởng mới, cách giải quyết mới, cách thể hiện và trình bày mới
- Điều đó sẽ tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn bởi những cách biểu đạt sáng tạo, những ý tưởng mới mẻ, những cách tiếp cận, lí giải vấn đề độc đáo của người viết Học sinh bảm toàn điểm số cho bài viết, khẳng định được năng lực làm văn của mình
- Đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học, kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh
3.2.2 Nội dung giải pháp
* Sử dụng cách diễn đạt giàu hình ảnh.
Bài văn nghị luận nói chung, bài văn nghị luận văn học nói riêng là sản phẩm của tư duy logic, tư duy biện chứng Vì vậy, cấu trúc, ý tứ cần chặt chẽ, rõ ràng, lập luận phải chặt chẽ, lí lẽ, dẫn chứng phải chắc chắn, đảm bảm độ chính xác cao Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là bài văn nghị luận văn học chỉ trình bày vấn đề một cách khô khan, trừu tượng, cứng nhắc, thiếu cảm xúc, thiếu
Trang 3hình ảnh Ngôn ngữ trong văn nghị luận cũng cần sự hấp dẫn, lôi cuốn bằng những từ ngữ có tính hình tượng và giàu sắc thái biểu cảm Sử dụng cách diễn đạt giàu hình ảnh sẽ neo lại trong trí nhớ người đọc cùng với những thông điệp
ấn tượng mà chúng truyền tải
Nhiều người cho rằng, viết văn có hình ảnh gần như một loại năng khiếu nhưng không có nghĩa là không làm được Thiết nghĩ, biện pháp cơ bản để tạo ra những câu văn giàu hình ảnh là sử dụng biện pháp so sánh, liên tưởng, ẩn dụ hoán dụ Để làm được điều này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh sưu tầm những câu văn, đoạn văn có hình ảnh so sánh, ẩn dụ, hoán dụ hay; luyện tập để vận dụng vào bài viết một cách linh hoạt Từ đó, học sinh tập viết, tập sáng tạo
ra những hình ảnh của riêng mình bằng chính những quan sát và cảm nhận của bản thân
Ví dụ: “Cùng viết về con người những năm 1930 - 1945, người đọc bắt
gặp bao dáng cấy, dáng cày nhọc nhằn vất vả Nhưng đọc “Chí Phèo” của Nam Cao, người đọc bao đời vẫn dâng lên cảm xúc đau đớn, xót xa trước sự quằn quại, quẫy đạp của con người trước Cách mạng tháng Tám khi họ buộc phải lựa chọn giữa hai con đường: sống thì phải làm quỷ, không muốn làm quỷ thì phải chết Chí Phèo đã chết giữa ngưỡng cửa trở về với cuộc đời lương
thiện để giữ lấy nhân cách cho bản thân Đọc “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam,
người đọc lại cảm thương trước cuộc sống mỏi mòn, leo lét của hai đứa trẻ Chúng đang âm thầm tiến đến cái “chết” ngay khi còn sống” (Hồ Phạm Thanh
Hiếu - 12A1)
Tuy nhiên, hình ảnh được sử dụng trong bài văn nghị luận văn học cần chính xác, phù hợp Các đối tượng được đưa ra để so sánh, liên tưởng cần có mối liên hệ hợp lý Mặt khác, hình ảnh cũng cần đảm bảo tính thẩm mỹ, mới
mẻ, tạo ấn tượng đẹp, tránh những cảm giác phản cảm, sáo rỗng, công thức
* Trích dẫn câu nói nổi tiếng, danh ngôn, nhận định văn học.
Những câu nói nổi tiếng, những câu danh ngôn hay nhận định văn học luôn tạo ra một ấn tượng thật đặc biệt Đó có thể là câu nói của những người nổi tiếng, người có uy tín, chính khách, nhà lí luận, nhà văn, nhà phê bình văn học,
Trang 4nếu được trích dẫn một cách hợp lí sẽ tạo hiệu quả và sức thuyết phục lớn đối
với bài văn nghị luận văn học Bởi “người ta luôn bị cuốn hút bởi những trích dẫn trực tiếp Dấu ngoặc kép bao giờ cũng báo hiệu một tiếng nói riêng, một ý kiến, một câu chuyện - một cái gì sống động hơn những câu chữ thẳng đơ trên trang giấy” (Joe Vitale) Để có thể vận dụng danh ngôn trong bài viết, giáo viên
có thể hướng dẫn học sinh tập sưu tầm những câu danh ngôn có ý nghĩa, những câu nói nổi tiếng, những nhận định văn học thuyết phục; sắp xếp theo các chủ đề
để có thể vận dụng khi cần thiết: quá trình sáng tác của nhà văn, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác, nhân vật văn học, giọng điệu … Tù đó, học sinh
có thể luyện tập viết và sử dụng danh ngôn trong bài viết của mình
Để nhấn mạnh nỗi đau cùng cực của Chí Phèo trong bi kịch tha hóa, người viết đã khiến cho lập luận của mình thuyết phục hơn bằng trích dẫn của
Tiến sĩ văn học Chu Văn Sơn: “Độc giả còn ấn tượng mãi về tiếng chửi của Chí
ở phần đầu tác phẩm “Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt đầu hắn chửi trời Có hề gì ? Trời có của riêng nhà nào ? Rồi hắn chửi đời Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại…” Chí tìm mọi cách “gây sự” để mong dân làng Vũ Đại đáp trả nhưng “Không ai lên tiếng cả”, “không ai ra điều” Trong cơn đau khổ, cùng quẫn, hắn muốn phủ định cả sự tồn tại của mình Tiếng chửi
là “Bài hát lộn ngược của một linh hồn méo mó và khổ đau” (Chu Văn Sơn),
Chí muốn được giao tiếp, khát khao được đón nhận song bị cộng đồng cự tuyệt Sống ở làng Vũ Đại, Chí Phèo hoàn toàn cô độc, Chí Phèo bị chặn mọi ngả đường để được sống là người lương thiện” (Lại Thị Ngọc Ánh - lớp 11B1) Hay
để chứng minh cho luận điểm “viên quản ngục (Chữ người tử tù – Nguyễn
Tuân) là người khao khát và biết trân trọng cái đẹp”, em Nguyễn Thị Hoa Mai (lớp 11B1) đã trích dẫn nhận định của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh: “Tư thế khúm núm, thái độ và hành động bên ngoài có vẻ ủy mị khi lắng nghe lời khuyên của Huấn Cao đã làm sáng lên vẻ đẹp nhân cách của ngục quan, làm cho nhân vật trở nên đáng quý, đáng trân trọng Đặc biệt, ông còn cúi đầu thành kính đón nhận lời khuyên của ông Huấn Ông cúi đầu nhưng không hề trở nên hèn kém
Trang 5mà trái lại, nó còn làm cho ông trở nên cao thượng hơn bao giờ Nguyễn Đăng
Mạnh từng cho rằng: “Có những cái cúi đầu làm cho con người trở nên hèn
hạ, có những cái cúi lạy làm con người trở nên đê tiện Nhưng cũng có những cái cúi đầu làm con người trở nên cao cả hơn, lớn lao hơn, lẫm liệt hơn, sang trọng hơn Đấy là cái cúi đầu trước cái tài, cái đẹp, cái thiên lương” Và cái cúi đầu của quản ngục cũng thật cao đẹp chẳng khác nào cái
cúi đầu của Cao Bá Quát khi xưa: “Nhất sinh để thủ bái mai hoa”.
Tuy nhiên, khi hướng dẫn học sinh trích dẫn danh ngôn, câu nói nổi tiếng
hay nhận định văn học, giáo viên cần lưu ý: Một là, dẫn cho đúng Không chỉ
đúng về mặt câu từ mà còn phải đảm bảo được cách hiểu đúng trong ngữ cảnh của câu nói Mọi sự thay đổi, thêm bớt để tạo lợi thế cho lập luận của mình đều
khó có thể chấp nhận Hai là, nên lựa chọn những danh nhân, những nhà phê
bình, những nhà văn nối tiếng, nhiều người biết - những người mà cuộc đời của
họ, thành tựu của họ, quan điểm, phong cách của họ được coi là bảo chứng vững
chắc cho những điều họ nói Ba là, nên trích dẫn một cách hợp lí, đừng biến
những câu nói nổi tiếng, những nhận định trở thành món đồ trang trí rườm rà, diêm dúa, vô nghĩa
* Sử dụng các biểu tượng biểu trưng, kết nối biểu tượng với nội dung bài viết một cách khéo léo.
Biểu tượng là những đối tượng đại diện cho đối tượng khác, truyền đạt thông điệp ý nghĩa một cách nhanh chóng dễ dàng và ngắn gọn, đơn giản Trong mỗi biểu tượng luôn được ẩn chứa một câu chuyện, luôn nói nhiều hơn chính
nó Ví như ngọn lửa Prometheus biểu tượng cho sự khai minh nhân loại; gót chân A-sin tượng trưng cho điểm yếu chết người; ngọc trai - giếng nước là cặp
biểu tượng dẫn đến bi kịch mất nước do Mị Châu nhẹ dạ cả tin, đồng thời cũng tượng trưng cho tấm lòng nhân đạo của nhân dân lao động, muốn minh oan,
chiêu tuyết cho linh hồn kẻ vô tình lầm lỗi; chim phượng hoàng lửa trong thần
thoại Ai Cập làm tổ trên đỉnh núi cao bằng những cành quế thơm Cứ 300 năm phượng hoàng lửa lại trầm mình đau đớn trong lửa đỏ để tự đốt mình thành tro
và rồi từ đống tro tàn phượng hoàng lại hồi sinh rực rỡ hơn xưa Câu chuyện về
Trang 6phượng hoảng lửa tượng trưng cho điều gì? Đó là sự đau đớn tái sinh, là sự vượt qua khó khăn thử thách để trưởng thành, là sự vượt qua chính mình để tiếp tục
cống hiến và sáng tạo! Hay pho tượng nhân sư Ai Cập cũng có một ý nghĩa đặc
biệt: ở dưới là mình sư tử, ở trên đầu là người vươn cao đón ánh mặt trời Phải chăng đó là thông điệp ngàn năm của người xưa về cuộc đấu tranh nội tại giữa phần người và phần con, giữa bóng tối và ánh sáng, giữa thiện và ác trong mỗi con người ? Nguồn biểu tượng sử dụng trong bài văn nghị luận văn học khá phong phú, có thể từ các các thể loại: truyền thuyết, ca dao, thần thoại, sử thi, truyện cổ tích… cũng có thể ở các tác phẩm văn học nổi tiếng, từ điển biểu tượng văn hóa… Học sinh sẽ tích lũy và vận dụng linh hoạt vào bài viết của mình
Việc vận dụng các biểu tượng sẽ tạo sự thu hút, tạo nhiều dư âm cho bài viết Mặt khác, nếu biết cách khai thác, liên hệ hợp lí sẽ làm sâu sắc hơn hệ thống lí lẽ Tuy nhiên khi sử dụng các biểu tượng biểu trưng cũng cần lưu ý: tái hiện ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa biểu tượng, cần kết nối biểu tượng với nội dung bài viết và mục đích nghị luận
* Vận dụng thao tác so sánh.
Đây là yêu cầu cần thiết để vấn đề nghị luận trong bài văn nghị luận văn học được nhìn nhận một cách toàn diện, sâu sắc Mục đích của phương pháp này
là đặt đối tượng được so sánh bên cạnh các đối tượng liên quan để thấy chỗ giống nhau, chỗ khác nhau, soi sáng mặt kế thừa và mặt đổi mới của vấn đề nghị luận của tác phẩm hoặc thấy được tài năng, sự độc đáo trong cái nhìn của các tác giả khi viết chung một đề tài, một đối tượng, một hình ảnh ở nhiều thời điểm khác nhau Trong quá trình làm văn, cần vận dụng so sánh văn học thường xuyên như một biện pháp “lợi hại” có tác dụng rất lớn trong việc diễn đạt và làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận
Chính nhờ việc sử dụng thao tác so sánh mà đoạn văn sau đã làm nổi bật
vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt của những người lính Tây Tiến:“Những anh lính vệ quốc năm xưa dường như đều đồng nhất trong dáng hình - tóc rụng hết vì những trận sốt rét rừng Hình ảnh thơ gợi tả những khó khăn , khắc nghiệt mà
Trang 7người lính phải chịu đựng - những trận sốt rét đã lấy hết mái tóc xanh Trong
bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu từng viết: “Sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi” Trong “Cá nước”, Tố Hữu cũng từng miêu tả những trận sốt rét khắc
nghiệt ấy: “Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ” Thế nhưng ý thơ của Quang Dũng lại xóa nhòa cái khắc nghiệt có thể làm tiều tụy mà tôn lên vẻ kiêu hùng, mạnh mẽ của những người lính.” (Nguyễn Nguyên Hải - 12A1)
* Sử dụng cấu trúc điệp trong quá trình diễn đạt để nhấn mạnh và khắc sâu ý tưởng.
Cấu trúc điệp là việc lặp lại cấu trúc ngữ pháp và tạo ra hiệu quả tu từ Cũng như phép điệp nói chung, cấu trúc điệp trong văn nghị luận luôn tạo ra sức thuyết phục lớn bởi nó khắc sâu trong tâm trí người nghe ý tưởng chủ đạo của người viết với những âm hưởng hùng biện đầy cảm xúc Đó có thể là những cảm xúc thiết tha, sâu lắng cũng có thể rất hùng hồn, mạnh mẽ Và thông qua đó, người viết (mỗi học sinh) có thể truyền tải một thông điệp mạnh mẽ đến người đọc
Để vận dụng thành công yếu tố này trong bài văn nghị luận văn học, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tiến hành sưu tầm những đoạn văn có sử dụng cấu trúc điệp, luyện viết để có thể tự diễn đạt được bằng chính những lời văn của mình Ví dụ:
“Truyền thuyết kể rằng: một con bướm phải mất ba trăm tám mươi triệu năm mới có thể cất cánh bay Một bông hồng phải mất thêm một trăm tám mươi triệu năm nữa để tỏa hương Và con người cũng phải trải qua chừng ấy
năm để mới có thể hát hay hơn loài chim và biết yêu Tình yêu là một giá trị văn hóa lớn, Xuân Quỳnh đã thể hiện một giá trị văn hóa như thế trong “Sóng” Để mãi về sau, khi đến với “Sóng”, mỗi người đều cảm nhận được rằng như đang đến với một truyền thuyết về tình yêu lứa đôi.” (Hồ Phạm Thanh Hiếu - 12A1)
Chính việc sử dụng cấu trúc điệp trong 2 câu văn đầu tiên đã tạo ấn tượng đặc biệt để phát huy ý tưởng được người viết gửi gắm ở những câu cuối của văn bản Và có lẽ vì thế, đoạn văn không chỉ mang ý nghĩa khẳng định mà còn gửi gắm thông điệp về ý nghĩa của tình yêu - một giá trị văn hóa
Trang 8Và đây lại là một đoạn kết cho bài viết về nhà viết kịch tài ba Lưu Quang
Vũ Chính việc lặp lại cấu trúc điệp đã tạo ra sự tăng tiến, diễn tiến không ngừng
trong cảm xúc của người viết: “Nếu cần ghi một lời nào đó trên bia mộ Lưu Quang Vũ, người sống trọn đời sôi động cho khát khao và cống hiến trong nghệ thuật Nhà viết kịch tài ba đưa sân khấu kịch của Việt Nam đến với thế giới thì
có lẽ nên viết:
Lưu Quang Vũ đã sống
Lưu Quang Vũ đã cống hiến
Lưu Quang Vũ đã yêu
Bằng cả trái tim và khao khát cháy hết mình cho cuộc đời, cho nghệ thuật” (Lại Thị Ngọc Ánh - 12A1)
* Vận dụng cấu trúc tương phản.
Tương phản là một biện pháp sử dụng nhiều trong nghệ thuật, một nguyên tắc thẩm mĩ Ở đó, người nghệ sĩ đặt các yếu tố đối lập cạnh nhau để tạo ấn tượng Bài văn nghị luận văn học, học sinh nếu biết vận dụng cấu trúc này sẽ không chỉ đem đến điểm độc đáo trong hành văn, trong cách biểu đạt mà còn giúp người viết truyền tải những thông điệp có ý nghĩa
Để vận dụng biện pháp này trong bài văn nghị luận văn học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tăng cường để ý, nhận biết sự tương phản quanh mình: màu sắc, âm thanh, đường nét, hình khối, ý nghĩa Tự khám phá, tìm tòi sự tương phản trong cuộc sống, thiên nhiên, trong các tác phẩm nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng Trên cơ sở đó, học sinh tập viết những câu văn có sự tương phản để làm nổi bật lên ý tưởng của mình Mặt khác, có thể sắp xếp các vấn đề được nghị luận theo chuyên đề với một hệ thống dẫn chứng tương phản để làm sáng rõ vấn đề cần nghị luận đó
Đoạn văn phân tích cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn
Tuân sau đây tạo được ấn tượng đặc biệt với người đọc nhờ việc sử dụng phép
tương phản: “Cảnh tượng đẹp nhất trong “Chữ người tử tù” chính là cảnh cho
chữ - một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”, đặc biệt là trong hoàn cảnh đề lao, nơi “người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc”, cái đẹp vẫn ngang
Trang 9nhiên được sinh thành Ta ngỡ ngàng khi thấy “một người tù cổ đeo gông,
chân vướng xiềng, đang dậm to nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh
ván” Bóng tối của nhà tù thực dân đã bị đẩy lùi bởi ánh sáng của tài hoa, thiên lương, nhường chỗ cho cái đẹp được sinh thành Cái đẹp đã trở thành tác nhân làm đảo lộn ý thức xã hội, nó được khai sinh trên một mảnh đất chết,
từ bàn tay của người tử tù sắp chết nhưng vẫn phát lộ rực rỡ và có sức cảm hóa mãnh liệt.”(Ninh Thị Ngọc Huyền - 11B1)
* Viết câu văn linh hoạt.
Một bài nghị luận văn học mà từ đầu đến cuối cùng sử dụng một kiểu câu
sẽ tạo ra cảm giác đơn điệu, nhạt nhẽo Điều này chắc chắn sẽ không đem lại ấn tượng đẹp cho người đọc, người nghe Vì vậy, trong quá trình tạo lập văn bản học sinh cần biết vận dụng linh hoạt các kiểu câu để vừa tạo sự thu hút, vừa thực hiện những ý tưởng muốn gửi gắm Có thể kết hợp câu dài ngắn, câu khẳng định câu phủ định, câu trần thuật, câu nghi vấn… tùy vào mục đích nghị luận và giọng văn của mỗi đoạn
Đoạn văn sau thành công một phần nhờ sự kết hợp nhiều kiểu câu khác nhau:
“Khó quá, nhưng tình yêu là thế! Làm sao có thể trả lời một cách rành rẽ về nơi bắt đầu của tình yêu? Ai có thể trả lời chính xác những câu hỏi ấy? Chỉ có thể là những người đang sống với tình yêu thực dụng hoặc tình yêu sét đánh mà thôi Riêng Xuân Quỳnh thổ lộ: “Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau” Một câu hỏi rất con gái, nhẹ nhàng pha chút đắm say, ngọt ngào, nũng nịu Bên cạnh sự nồng nàn, mãnh liệt ấy còn là sự suy tư tìm câu trả lời cho câu hỏi không có lời đáp Một ánh mắt bâng quơ, một câu nói vô tình nhiều khi cũng làm cho con người ta tương tư chứ huống chi cả một khoảng thời gian dài nỗi khát vọng tình yêu cứ bồi hồi trong ngực trẻ Bởi tình yêu đích thực không cần bất cứ một lí do nào, lớn lao hơn mọi lí trí trên đời, bí ẩn như sóng, như gió, như thiên nhiên muôn đời bí ẩn.” (Nguyễn Thị Thúy
Quỳnh - 12A1)
* Sử dụng nhịp điệu ngôn ngữ để thổi hồn vào bài viết.
Sẽ hơn một lần chúng ta từng ấn tượng, mê hoặc với nhịp điệu của một bài hát nào đấy Sẽ hơn một lần nhịp chân ta đắm đuối đung đưa theo tiết tấu của
Trang 10một bản giao hưởng, một bức tranh kì diệu với những đường nét, màu sắc ấn tượng… Và một bài văn để đem đến sự sáng tạo ở người viết và sức hấp dẫn với người đọc không thể không nhắc đến giai điệu của ngôn ngữ Giai điệu của ngôn ngữ được tạo ra từ sự hòa phối các yếu tố ngữ âm (âm, thanh, từ, cụm từ, câu, thể…) sao cho dễ nghe, dễ đi vào lòng người Sự hòa phối này không chỉ tạo nên ấn tượng đặc biệt về hình thức của bài văn mà còn giúp người viết biểu đạt những dụng ý nhất định Khi người viết sử dụng nhiều nguyên âm sẽ tạo độ vang, tạo dư âm, chiều sâu biểu đạt, sử dụng phụ âm đóng thường tạo cảm giác lắng đọng; khi người viết sử dụng nhiều thanh bằng sẽ tạo cảm giác nhẹ nhàng, mênh mang, dàn trải, bay bổng, tâm tình nhưng thanh trắc sẽ trĩu nặng những dồn nén, giằng xé, chế ngự thậm chí căm phẫn; sử dụng câu ngắn sẽ tạo nên âm hưởng mạnh mẽ, rắn rỏi, sử dụng câu dài tạo cảm giác bay bổng, mênh mang; sử dụng câu hỏi sẽ góp phần thể hiện sắc thái băn khoăn, mong muốn tìm câu trả lời, sử dụng câu khẳng định sẽ tạo cảm giác chắc chắn…
Vận dụng yếu tố này không đơn giản, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh thói quen lắng nghe nhịp điệu của ngôn ngữ và cần lưu ý trong quá trình tạo lập văn bản, không nên quá nặng nề, ép buộc để bài viết phải có nhịp điệu Điều này vô hình trung sẽ khiến bài văn thiếu tự nhiên, cảm xúc bị gò bó
Nhờ việc sử dụng thành công nhịp điệu ngôn ngữ, từ những câu văn được lặp lại có chủ ý đến những khoảng trống bỏ lửng ở dấu ba chấm, từ cách kết thúc câu văn bởi thanh bằng đến cách khép lại bởi thanh trắc, đoạn văn sau đã thực sự tạo được ấn tượng với người đọc:
“Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như chăng?”
Gần ba thế kỉ trôi qua…
Thời gian đóng dày trên những trang thơ một lớp bụi mờ, như năm tháng
đi qua còn để lại dấu chân.
Gần ba thế kỉ trôi qua…
Những vẫn thơ ấy vẫn ngậm ngùi, yêu thương, vẫn sáng long lanh, đau
buốt lòng người.