Trong những năm vừa qua, với sự mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, dulịch là ngành kinh tế thu hút được khá nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.Tuy nhiên, hầu hết các dự án còn ở qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tiến Dũng
Hà Nội - 2011
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG NGÀNH DU LỊCH
1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành Du lịch .
1.1.1 Tổng quan chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2 FDI trong ngành du lịch
1.2 Kinh nghiệm quốc tế trong thu hút ĐTNN vào phát triển dịch vụ du lịch
1.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.2.2 Kinh nghiệm của Thái Lan .
1.2.3 Một số gợi ý cho Việt Nam
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA
2.1 Một số cơ chế chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành Du lịch ở Việt Nam
2.1.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý FDI trong lĩnh vực du lịch
2.1.2 Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư
2.1.3 Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về du lịch .
2.1.4 Ban hành, sửa đổi quy hoạch phát triển ngành Du lịch
2.1.5 Chính sách về nguồn nhân lực trong ngành Du lịch
2.1.6 Tác động của việc đổi mới môi trường đầu tư đối với việc tạo sức hấp dẫn cho ĐTTTNN trong lĩnh vực du lịch
2.2 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào dịch vụ du lịch ở Việt Nam
2.2.1 Du lịch Việt Nam đạt kết quả cao trong bối cảnh đất nước phát triển .
2.2.2 Quy mô và nhịp độ đầu tư của các dự án FDI vào các dịch vụ du lịch .
2.2.3 Cơ cấu dự án FDI theo lĩnh vực dịch vụ du lịch .
2.2.4 Cơ cấu dự án và vốn đầu tư theo đối tác FDI của các dịch vụ du lịch
2.2.5 Cơ cấu dự án và vốn đầu tư theo hình thức đầu tư .
2.2.6 Cơ cấu dự án và vốn đầu tư FDI theo địa bàn
2.3 Đánh giá tình hình thu hút FDI vào các dịch vụ du lịch .
2.3.1 Những kết quả đạt được .
Trang 42.3.2 Những hạn chế 81
2.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế trong thu hút và triển khai các dự án FDI vào phát triển các dịch vụ du lịch ở Việt Nam những năm qua .86
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT HIỆU QUẢ FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM 93
3.1 Triển vọng thu hút vốn FDI vào phát triển du lịch ở Việt Nam .93
3.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch ở Việt Nam .93
3.1.2 Bối cảnh mới tác động đến thu hút FDI vào ngành Du lịch Việt Nam .94
3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào phát triển các dịch vụ du lịch ở Việt Nam .108
3.2.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 108
3.2.2 Những giải pháp từ phía ngành Du lịch .117
KẾT LUẬN 122
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 7MNF28
Trang 12iv
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò rất quan trọng đối với sựphát triển kinh tế của mỗi quốc gia, nhất là đối với một đất nước đang phát triểnnhư Việt Nam Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước ta đã có nhữngphương hướng, chiến lược và hành động cụ thể nhằm thu hút FDI, mở rộng quan
hệ đa phương hóa với sự tham gia rộng rãi của nhiều tổ chức quốc tế Trongđường lối phát triển kinh tế - xã hội, đối với kinh tế có FDI, Văn kiện Đại hội
Đảng lần thứ IX nêu rõ: “Tạo điều kiện để kinh tế có vốn FDI phát triển thuận
lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn FDI”.
Hiện nay, dòng vốn FDI vào Việt Nam được tập trung chủ yếu vào một sốngành kinh tế mũi nhọn như công nghiệp, xây dựng, kinh doanh bất động sản, hạtầng khu công nghiệp, du lịch - khách sạn, giao thông vận tải, bưu điện… Trong
đó, ngành Du lịch được đánh giá là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mangnội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, rất cầnđược chú trọng đầu tư và phát triển Nghị quyết 45/CP về Đổi mới quản lý và
phát triển ngành Du lịch của Chính phủ cũng đã định hướng: “…phát triển
nhanh hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ phát triển du lịch”.
Trong những năm vừa qua, với sự mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, dulịch là ngành kinh tế thu hút được khá nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.Tuy nhiên, hầu hết các dự án còn ở quy mô nhỏ, hạn chế, do vậy chưa đáp ứngđược yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng du lịch vốn cần nguồn vốn đầu tư lớn Các
dự án phát triển du lịch hiện chỉ tập trung ở các thành phố lớn, các trung tâm dulịch của Việt Nam, còn những nơi tuy có tiềm năng phát triển du lịch rất lớnnhưng vì điều kiện cơ sở hạ tầng còn khó khăn thì lại thiếu các dự án FDI Trongnhững năm gần đây, có nhiều dự án quy mô lớn trong ngành du lịch và bất động
Trang 14sản được cấp phép Các dự án này thường có mức độ sử dụng đất tương đối caonhưng tốc độ triển khai chậm, và trong một số trường hợp đã tạo ra những tácđộng bất lợi về mặt xã hội.
Ngoài ra,theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì khủng hoảng vàsuy thoái kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008-2009 sẽ có những ảnh hưởng nhất địnhđến việc thu hút FDI nói chung trong năm 2010 và một vài năm tiếp theo Làmnhư thế nào để duy trì và sử dụng nguồn vốn FDI trong ngành du lịch một cách
có hiệu quả đang là một thách thức lớn đặt ra cho các nhà hoạch định chính sáchkinh tế
Việc đánh giá đúng thực trạng FDI vào ngành Du lịch, từ đó có những giảipháp hữu hiệu nhằm thu hút hiệu quả nguồn vốn FDI vào ngành Du lịch trong
thời gian tới là hết sức cần thiết Để góp phần giải quyết vấn đề trên, đề tài “Đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào ngành Du lịch Việt Nam” được chọn để nghiên cứu.
2 Tình hình nghiên cứu:
Trong những năm qua, nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư trựctiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địaphương trong toàn bộ nền kinh tế nói chung, của ngành du lịch nói riêng, đãnhiều cuộc hội hội thảo, bài viết và đề tài nghiên cứu về việc tăng cường thu hútFDI vào ngành du lịch đã được thực hiện, ví dụ như:
Luận án tiến sỹ “Chính sách thu hút FDI ở các nước ASEAN 5 từ saukhủng hoảng tài chính Châu Á 1997” của nghiên cứu sinh Đặng Đức Long(2007) Trong luận án, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu những chính sáchthu hút FDI của các nước ASEAN từ năm 1997 đến năm 2006, giới hạn trongkhuôn khổ ASEAN 5 (gồm Thái Lan, Malaysia, Philippine, Indonesia vàSingapore) Luận án xác định những nhân tố tác động, sự cần thiết trong điềuchỉnh các chính sách liên quan đến FDI của các nước ASEAN 5 sau khủnghoảng; phân tích những nội dung chính trong điều chỉnh các chính sách liên quanđến FDI ở các nước ASEAN 5 vv… Thông qua việc nghiên cứu những thay đổichính sách thu hút FDI của các nước ASEAN, luận án đã nêu lên những vấn đề
2
Trang 15có tính tổng kết bài học đối với các nước ASEAN 5 trong việc thu hút FDI vàđưa ra những khuyến nghị tham khảo cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiệnchính sách thu hút FDI trong bối cảnh mới, khi Việt Nam gia nhập WTO Tuynhiên, luận án chỉ nghiên cứu đánh giá về chính sách thu hút FDI của các nướctrong ASEAN 5, mang tính chất tổng quát mà không đi sâu vào nghiên cứu việcthu hút FDI vào một ngành, một ngành cụ thể của một nền kinh tế quốc gia.
Luận văn thạc sỹ “Một số giải pháp nhằm thu hút hiệu quả FDI vào ngànhdịch vụ ở Việt Nam” (2008), của học viên Vũ Thị Vân Anh, khoá 15, Trường ĐHKinh tế Quốc dân Hà Nội Luận văn đã phân tích và nêu lên được vai trò củaFDI, đánh giá thực trạng việc thu hút FDI vào ngành dịch vụ ở Việt Nam, đưa ramột số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào ngành dịch vụ Tuy rằngtrong ngành dịch vụ nói chung có dịch vụ du lịch - khách sạn, vui chơi giải trínhưng luận văn không đi sâu vào phân tích cụ thể về FDI trong ngành du lịch nóiriêng
Bài “Tạo môi trường du lịch lành mạnh để tăng cường thu hút đầu tư vàkhách du lịch” của TS Nguyễn Văn Lưu (2003) Bài nghiên cứu này đi sâu phântích ảnh hưởng của môi trường, kể cả môi trường tự nhiên và mội trường xã hộiđến hoạt động du lịch cũng như thu hút đầu tư Phân tích của tác giả chỉ ra “việccảm nhận sự an toàn của du khách và những người đang và sẽ đầu tư vào ngành
du lịch là yếu tố hàng đầu, quyết định sự phát triển và tiếp tục tăng trưởng củangành du lịch” Việt Nam có môi trường du lịch lành mạnh, được đánh giá làđiểm đến an toàn và thân thiện nhất trong khu vực Tuy nhiên, bài viết chỉ mớichỉ ra được các ảnh hưởng của môi trường tới du lịch đối với việc thu hút khách
du lịch, thu hút đầu tư, xây dựng một hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiệnmôi trường du lịch nhằm thu hút hơn nữa du khách và các nhà đầu tư nước ngoàiđến Việt Nam mà chưa đi sâu vào nghiên cứu đánh giá tình hình đầu tư FDI vàongành Du lịch
Bài “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển du lịch Việt Nam” củaPGS.TS Phạm Trung Lương (2003) Tác giả đã phân tích rõ vai trò của FDI đốivới phát triển du lịch Việt Nam và nêu lên thực trạng FDI vào ngành du lịch ở
Trang 16Việt Nam trong giai đoạn 1988 - 2003, cùng với những thuận lợi và khó khăn,thách thức đặt ra trong việc thu hút FDI vào ngành này Từ đó, bài nghiên cứucũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư phát triển dulịch trong giai đoạn tới Tuy nhiên, các số liệu trong bài viết được tổng hợp trướckhi Việt Nam gia nhập WTO, các điều kiện mới chưa được đưa vào phân tích sâu
và cụ thể
Quyển sách “20 năm đầu tư nước ngoài – Nhìn lại và hướng tới” (2008)của Tạp chí Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (với sự trợ giúp và hợp tác của Cụcđầu tư nước ngoài), Nhà xuất bản Tri thức giới thiệu nhiều bài viết của các nhànghiên cứu trong nước và ngoài nước về FDI vào Việt Nam như bài: “Dòng vốnFDI trong tầm nhìn hội nhập” của PGS.TS Trần Đình Thiên, bài: “FDI trongchiến lược công nghiệp hoá” của GS.TS Trần Văn Thọ, hay bài: “Đầu tư nướcngoài trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam” của Ayumi Konishi vv…Các bài viết đã phân tích khái quát được chặng đường thu hút FDI trong 20 nămqua, vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam và đưa ra cácđánh giá, kiến nghị đối với hoạt động thu hút FDI tại Việt Nam, triển vọng vànhững thách thức sau khi Việt Nam gia nhập WTO Tuy nhiên, các bài viết cũngchỉ mới dừng lại ở mức độ bài tham luận, đánh giá một cách tổng quát mà chưa
có sự phân tích đánh giá một cách hệ thống
Các công trình nghiên cứu và bài viết có liên quan đến luận văn đều lànhững tài liệu rất hữu ích cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về FDI vào ngành Dulịch Việt Nam Tuy nhiên các tài liệu này chủ yếu đi vào nghiên cứu một cáchkhái quát về FDI và vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế, nghiên cứuchính sách thu hút FDI của một khu vực, về FDI trong lĩnh vực dịch vụ, hay chỉ
là các bài viết tham luận về việc thu hút FDI vào ngành Du lịch Việt Nam màchưa có một nghiên cứu về thực trạng FDI vào ngành Du lịch Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
Trang 17*Mục đích nghiên cứu: Phân tích thực trạng FDI vào ngành Du lịch Việt Nam,
trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào ngành Dulịch Việt Nam
*Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về FDI trong du lịch
- Khảo sát, phân tích một số kinh nghiệm quốc tế về thu hút và sử dụng FDI trong du lịch
- Phân tích và đánh giá thực trạng, vai trò, kết quả FDI đối với sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vàongành Du lịch của Việt Nam trong thời gian tới, đặc biệt là để phát triển các dịch
vụ du lịch chủ yếu như lưu trú và vui chơi giải trí
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
*Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành Du lịch Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: Từ năm 1998 đến nay
- Nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu đầu tư trực tiếp nước ngoài vào dịch
vụ lưu trú và dịch vụ vui chơi giải trí, theo đối tác đầu tư và địa bàn đầu tư
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài, ngoài các phương pháp chung thường dùng trongnghiên cứu kinh tế, một số phương pháp cụ thể được sử dụng là phương phápphân tích, thống kê; phương pháp so sánh, tổng hợp; phương pháp lấy ý kiếnchuyên gia
6 Những đóng góp mới của luận văn:
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tầmquan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việc phát triển du lịch ở Việt Namtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Qua việc phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dulịch, đặc biệt là đối với dịch vụ lưu trú và dịch vụ vui chơi giải trí, chỉ ra những
Trang 18hạn chế, bất cập trong việc thu hút đầu tư nước ngoài và nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm thu hút hiệu quả nguồn vốn FDI, góp phần phát triển ngành kinh tế du lịch ở Việt Nam
7 Kết cấu, nội dung của luận văn:
Trang 19CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG
NGÀNH DU LỊCH
1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành Du lịch
1.1.1 Tổng quan chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1.1.1 Khái niệm
Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các tài sản hữu hình hoặc vô hình
để hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư
Đầu tư được phân thành 2 loại là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Đầu
tư trực tiếp là hình thức nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lý hoạt động đầu tưcòn đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua các cổ phần, cổphiếu, các giấy tờ có giá vv… Như vậy, hai hình thức đầu tư này được phân biệtbởi việc nhà đầu tư có hay không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt
là FDI) là một trong những hình thức đầu tư không thể thiếu tại các quốc gia
đang phát triển nhằm thu hút vốn cho quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất
kỹ thuật và quan hệ sản xuất
Đã có nhiều định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài, cụ thể:
Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng “FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên
giới quốc gia, trong đó người đầu tư trưc tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp FDI trong một quốc gia khác Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận FDI.”
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) định nghĩa : “Đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý
ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con"
Trang 20Tại Việt Nam, định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài được bắt đầuđược xây dựng và đưa vào “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” năm 1987,một năm sau khi Việt Nam thực hiện đường lối Đổi mới do đại hội Đảng toànquốc lần thứ 6 đề ra Sau nhiều lần sửa đổi, đến nay, Luật đầu tư nước ngoàiđược thay thế bằng Luật đầu tư chung (2005) Theo khoản 2 và khoản 12, điều 3,
có thể định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mà bên nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư trực tiếp có thể nhằm khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên haytham gia vào các khu vực sản xuất, tài chính, thương mại hay dịch vụ… Cácnguồn vốn đầu tư trực tiếp không chỉ bao gồm ở lĩnh vực tư nhân mà còn cảđồng tài trợ giữa cơ quan tư nhân với Nhà nước Ngoài ra Đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) được thực hiện xuất phát từ sự phù hợp về lợi ích của các bên thamgia Mỗi lĩnh vực và mỗi dự án đầu tư đều chứa đựng những mong muốn nhấtđịnh của bên tiếp nhận và bên đầu tư Thường thì bên tiếp nhận đầu tư luôn cónhững kỳ vọng về vấn đề việc làm, thu hút vốn hoặc công nghệ, còn bên đầu tưthì lại có những kỳ vọng về vấn đề nguyên liệu, thị trường hoặc giảm chi phíkinh doanh… Khi các bên tham gia tạm thời hài lòng với những mong muốn củamình thì một dự án đầu tư có thể được thực hiện
Đối với các nhà đầu tư, do yêu cầu mở rộng kinh doanh, nâng cao hiệu
quả và giành lợi thế trong cạnh tranh, thị trường trong nước ngày càng trở nênchật hẹp Mặt khác, cạnh tranh trong nước ngày càng trở nên gay gắt cho nênviệc mở rộng kinh doanh ra bên ngoài vừa là đòi hỏi cấp thiết tự thân, vừa là điềukiện sống còn của họ
Đối với các nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển,
việc thu hút FDI được coi như là một động lực quan trọng giúp nền kinh tế trởnên năng động, có hiệu quả, tạo đà cần thiết để vượt qua sự nghèo đói
Tuy nhiên, do mục đích của các nhà đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu
tư không phải luôn luôn trùng hợp, vì vậy chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư
Trang 21luôn tìm các biện pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vàotrong nước mình đồng thời với việc nhấn mạnh sự phát triển quốc gia theo hướngđộc lập, tự chủ Còn các nhà đầu tư thường tìm giải pháp để tăng khả năng cạnhtranh của chúng trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế toàn cầu, vì vậy, vai trò của cácbiện pháp, chính sách đặc biệt quan trọng đề nhằm điều hòa lợi ích giữa các bên.
1.1.1.2 Đặc điểm
Cũng như các hoạt động đầu tư khác, FDI cũng có những đặc điểm củahoạt động đầu tư nói chung, đó là tính sinh lãi và rủi ro của hoạt động đầu tư Haiđặc điểm này là căn cứ chủ yếu để phân biệt một hoạt động có phải là hoạt độngđầu tư hay không Mục đích của các nhà đầu tư là thu lợi nhuận Vì vậy, khôngphải bất kỳ một hoạt động nào có sử dụng tiền bạc, thời gian và sức lực vào thựchiện một mục tiêu nào đó cũng đều được gọi là đầu tư Chỉ khi nào những hoạtđộng có sử dụng các chi phí đó được thực hiện để thu lợi nhuận thì mới được gọi
Tỷ lệ góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định của
dự án đạt mức tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước quy định Vốn đầu tưđược tính bằng ngoại tệ, do vậy đặc điểm này có liên quan đến vấn đề chính sáchtài chính – tiền tệ các nước tiếp nhận đầu tư và tỷ giá hối đoái
Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án mà họ
bỏ vốn đầu tư Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhàđầu tư trong vốn pháp định của dự án Nếu doanh nghiệp 100% vốn trong vốnpháp định thì doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và
Trang 22cũng do họ quản lý toàn bộ Đặc điểm này là căn cứ phân biệt hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài với các hoạt động đầu tư khác.
Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chiacho các bên theo tỷ lệ góp vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trảlợi tức cổ phần (nếu có)
FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệpmới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổphiếu để thôn tính hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau
1.1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 [13] và Luật Đầu tư năm 2005 [15], các nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn các hình thức đầu tư trực tiếp sau đây:
* Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, bao gồm: Thành lập tổ chức kinh tế 100%
vốn của nhà đầu tư nước ngoài (WFOE) và thành lập tổ chức kinh tế liên doanhgiữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài (EFV)
WFOE là hình thức nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn để thành lập
và điều hành các cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước ngoài và hình thành một phápnhân mới Nhà đầu tư trực tiếp nắm quyền điều hành và quản lý các cơ sở sảnxuất kinh doanh trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ pháp luật nước sở tại Nướcnhận đầu tư cho phép doanh nghiệp thuê đất, thuê nhân công, đào tạo cán bộquản lý, kỹ thuật và tay nghề cho nhân công , toàn quyền điều hành xí nghiệp.Mối quan hệ giữa công ty mẹ và doanh nghiệp ở nước ngoài về cơ bản được thểhiện: Vốn của doanh nghiệp ở nước ngoài được công ty mẹ đảm bảo Lợi nhuậncủa công ty con có thể để lại một phần, một phần được chuyển về công ty mẹ đểthanh toán lợi tức Ngoài ra, công ty mẹ còn nhận các khoản thanh toán về bánthành phẩm, nguyên liệu và thành phẩm do công ty mẹ cung cấp
EFV là một pháp nhân độc lập được hình thành trên cơ sở vốn góp củamột bên trong nước và một bên nước ngoài EFV có thể tồn tại dưới hình thứccông ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Tỷ lệ góp vốn của bên nướcngoài có thể bị giới hạn ở một mức nhất định tùy theo quy định của nước tiếpnhận đối với từng lĩnh vực đầu tư Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,
Trang 23doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tácthành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết giữaChính phủ Việt Nam và chính phủ nước ngoài hoặc là do doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liêndoanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
* Đầu tư theo hình thức hợp đồng, bao gồm: Hợp đồng BCC (hợp tác kinh
doanh), hợp đồng BOT (xây dựng – kinh doanh – chuyển giao), hợp đồng BTO(xây dựng – chuyển giao – kinh doanh), hợp đồng BT (xây dựng – chuyển giao);Nhà đầu tư nước ngoài ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC để hợp tác sảnxuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức kinh doanh kháctrên cơ sở điều kiện đất đai, nhà xưởng của phía nước chủ nhà
Nhà đầu tư nước ngoài ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng
BT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới,
mở rộng, hiện đại hóa và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giaothông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnhvực khác do Thủ tướng Chính phủ quy định
* Đầu tư phát triển kinh doanh, là hình thức nhà đầu tư nước ngoài hiện có
cơ
sở kinh doanh tại Việt Nam thực hiện đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm
* Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư, là hình
thức nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần của các công ty, chi nhánh tại ViệtNam Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số lĩnhvực, ngành nghề do Chính phủ quy định
* Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
Nhà đầu tư nước ngoài được quyền sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánhtại Việt Nam Điều kiện sáp nhập, mua lại các công ty, chi nhánh phải tuân theocác quy định của Luật Đầu tư, pháp luật về cạnh tranh và các quy định khác cóliên quan
Và các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
1.1.1.4 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 24Xét trên bình diện toàn cầu, đầu tư quốc tế luôn cho phép tối ưu hóa việc
sử dụng các yếu tố sản xuất trong phạm vi thế giới trên cơ sở lợi thế so sánhtrong quan hệ kinh tế quốc tế
Đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn FDI góp phần thúc đẩy tăngtrưởng và phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh Cụ thể :
- FDI tăng nguồn vốn, tăng tích lũy cho nền kinh tế và bù đắp lỗ hổng ngoại tệ.
Đối với các nước đang phát triển, cần có nguồn vốn đầu tư lớn để hoànthiện hệ thống cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, thúc đẩy sự phát triển củacác ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.Tuy nhiên, do khả năng tích lũy kém,nguồn vốn đầu tư trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển, nguồn vốnviện trợ nước ngoài (ODA) khá hạn chế, lại thường đi kèm với những điều kiệnkhắt khe FDI có ưu điểm hơn so với các hình thức đầu tư khác là nó không trởthành nợ do nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm đốivới rủi ro, thiệt hại nếu dự án đầu tư không mang lại hiệu quả như mong muốn.Các dự án FDI có tính chất “bén rễ” ở nước sở tại (không dễ rút đi trong thờigian ngắn) nên có những ảnh hưởng mang tính dài hạn đối với địa phương, khuvực nơi dự án triển khai Do vậy, FDI chính là nguồn vốn đầu tư mà hầu hết cácquốc gia mong muốn thu hút [2]
- FDI góp phần thúc đẩy đầu tư trong nước.
Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhận, các dự án FDI thườngtập trung vào cácngành, các lĩnh vực có tiềm năng phát triển nhất của đất nước.Tác động của việcxuất hiện một dự án đầu tư nước ngoài vào ngành, lĩnh vực nào đó sẽ dẫn tới lànsóng đầu tư trong nước vào các ngành, lĩnh vực tương tự Ngoài ra, một dự ánđầu
tư nước ngoài thường đi kèm với việc xây dựng một hệ thống đồng bộ các sảnphẩm phụ trợ đi kèm với nó như các dịch vụ, các sản phẩm đầu vào khác Dovậy, trên cơ sở các dự án đầu tư nước ngoài đã triển khai,sẽ xuất hiện nhiều dự ánđầu tư trong nước khác nhằm phục vụ, bổ trợ cho các dự án đầu tư đó.Như vậy,xét trên một khía cạnh nào đó, các dự án đầu tư FDI có tác động hỗ trợ, dẫn dắtđầu tư trong nước, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Thông qua FDI, chính phủ các nước này có thể chú trọng ưu tiên phát triển các
Trang 25ngành kinh tế mũi nhọn, các ngành kinh tế phù hợp đặc điểm của từng vùng lãnh thổ, các ngành kinh tế phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của nhân dân.
- FDI tạo điều kiện cho nước sở tại tiếp thu kỹ thuật công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
Song hành cùng với nguồn vốn, các nhà đầu tư nước ngoài thường mangtheo các máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến cũng như các thành tựukhoa học – kỹ thuật mới của đến nước đầu tư để phục vụ cho dự án đầu tư Nhờ
có sự thâm nhập này mà khoảng cách về trình độ sản xuất của nước sở tại đượcrút ngắn lại so với các nước phát triển trên thế giới Theo nhiều nghiên cứu thìphần lớn các công nghệ của công ty xuyên quốc gia (TNCs) được chuyển giaosang nước sở tại thông qua các chi nhánh của nó (doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài và doanh nghiệp liên doanh có phần lớn vốn nước ngoài) bao gồm: Nhữngtiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ mới, công nghệ thiết kế và xây dựng,công nghệ quản lý, marketing vv…[4]
- FDI giúp phát triển nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc làm cho nước nhận đầu tư.
Các dự án FDI thường có yêu cầu cao về trình độ chuyên môn, kỹ thuậtđối với đội ngũ cán bộ, công nhân viên làm việc Tuy nhiên, nguồn nhân lực tạicác quốc gia đang phát triển thường không đáp ứng được yêu cầu nêu trên Dovậy, xu hướng tuyển dụng và đào tạo lại tại các doanh nghiệp FDI khá phổ biến.Phần lớn các doanh nghiệp có vốn FDI đều tổ chức các khóa đào tạo nghề tại cácnước sở tại, hoặc gửi lao động đi đào tạo ở nước ngoài Một mặt, doanh nghiệpFDI giúp nước sở tại có được đội ngũ lao động với trình độ chuyên môn cao, cótác phong công nghiệp, mặt khác, nó tạo ra những yêu cầu mới về đào tạo nguồnnhân lực
Sự phát triển của các dự án FDI ở các vùng, miền, địa phương cũng tạo ranhiều việc làm cho lao động tại địa phương đó, bao gồm các việc làm cho dự án
và các dịch vụ khác tương ứng phục vụ dự án
- FDI giúp các nước đang phát triển mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất nhập khẩu và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
Trang 26Hoạt động của doanh nghiệp FDI thúc đẩy thương mại quốc tế Doanhnghiệp phải nhập nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh củamình và đưa các sản phẩm đã qua gia công chế biến ra bán ở thị trường trong vàngoài nước, qua đó đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của nước sở tại Đốivới các nhà đầu tư nước ngoài, xuất khẩu là yếu tố quan trọng giúp họ thu đượclợi nhuận cao, thông qua xuất khẩu những lợi thế so sánh của các yếu tố sản xuấtđược khai thác có hiệu quả hơn Bởi vậy, đẩy mạnh xuất khẩu luôn là ưu tiên đặcbiệt của các doanh nghiệp có vốn FDI Đối với nước sở tại, xuất khẩu là nhân tốquyết định đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Như vậy, tác dụng thúc đẩyxuất khẩu của FDI đã mang lại lợi ích cho cả hai phía.
Bên cạnh một số mặt tích cực thì FDI cũng gây một số tác động tiêu cựcđối với nước nhận đầu tư như: các ngành công nghiệp mới, công nghệ cao và kếtcấu kinh tế có thể bị nước đầu tư kiểm soát Nhiều trường hợp, các nhà đầu tưnước ngoài mang đến nước đang phát triển những máy móc, kỹ thuật công nghệkém tiên tiến, tiêu hao năng lượng nhiều gây ra ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng và làm cạn kiệt tài nguyên Ở thời kỳ đầu tiếp nhận nguồn vốn từ bênngoài, do thiếu kinh nghiệm rất có thể doanh nghiệp của nước chủ nhà sẽ trởthành nơi rửa tiền của tội phạm quốc tế… Ngoài ra, do yêu cầu của công nghệcao và hiện đại cho nên gần đây các công ty xuyên quốc gia (Trans NationalCooperation – TNCs), vốn là những nhà đầu tư chủ yếu vào các nước đang pháttriển, có xu hướng ít sử dụng lao động tại chỗ để hạ giá thành sản phẩm mà thayvào đó họ sử dụng phương thức sản xuất tập trung tư bản nhiều hơn Điều đó gâykhó khăn cho chiến lược việc làm của các nước chủ nhà Hoạt động FDI cũng cóthể là nguyên nhân gia tăng những bất ổn như phân hóa xã hội, thất nghiệp,không đảm bảo an ninh kinh tế, an ninh quốc gia, mất cân đối trong cơ cấu kinh
tế vv… Do vậy, bên cạnh việc thu hút nguồn vốn FDI thì quản lý nguồn vốn FDI
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế
1.1.2 FDI trong ngành du lịch.
1.1.2.1 Sự cần thiết của thu hút FDI vào lĩnh vực du lịch.
Trang 27Theo định nghĩa của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO), du lịch bao gồmtất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích thamquan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí,thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thờigian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư;nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền [6].
Du lịch hiện được coi là ngành kinh tế có vai trò quan trọng, đem lạinguồn thu nhập đáng kể cho nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển.Nhiều nước như Ai Cập, Hy Lạp, Lebanon, Tây Ban Nha, Thái Lan, Bahamas,phần lớn các hoạt động kinh tế, dịch vụ và việc làm có liên quan mật thiết đếnngành du lịch và phát triển trên cơ sở của hoạt động du lịch Theo thống kê củaUNWTO, từ năm 1950-2008, du lịch toàn cầu liên tục gia tăng và trở thành mộttrong những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới Năm 2008, có 922triệu lượt khách du lịch quốc tế, tăng 1,9% so với năm 2007 với doanh thu lênđến 944 tỷ USD.Tăng trưởng của du lịch không chỉ có tác động tích cực đến cáclĩnh vực có liên quan đến du lịch (ví dụ các dịch vụ hướng dẫn, khách sạn, cácdịch vụ tiện ích khác) mà nó còn có tác động đến những lĩnh vực khác, ví dụ nhưgiao thông vận tải.Thông thường tại những nơi có du lịch phát triển thì hệ thống
cơ sở hạ tầng như đường giao thông, nhà hàng, khách sạn vv… được nâng cấp,tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nhiều tầng lớp trong xã hội, bao gồm cả ngườilao động có tay nghề và không có tay nghề
Tuy nhiên, để ngành du lịch phát triển tốt thì cần đầu tư xây dựng đượccác sản phẩm du lịch hấp dẫn để giữ chân được du khách và có công tác tuyêntruyền, quảng bá cho sản phẩm du lịch đó Một sản phẩm du lịch toàn diện phảibao gồm các yếu tố: tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động trongngành du lịch
-Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhânvăn Tài nguyên thiên nhiên là các yếu tố như rừng, biển, núi non, ao hồ, hangđộng, suối nước nóng vv… mà một quốc gia nhất định sở hữu Một quốc gia cónhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp được coi là quốc gia có tiềm năng về du
Trang 28lịch Tài nguyên nhân văn là các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mà mộtquốc gia nhất định sở hữu Nó thể hiện đời sống vật chất và tinh thần của dân cưquốc gia đó trong suốt chiều dài lịch sử Các giá trị văn hóa vật thể bao gồm các
đồ vật, giấy tờ, các công trình kiến trúc gắn liền với một giai đoạn lịch sử, một sựkiện lịch sử trong quá khứ của nước đó như trống đồng cổ, đàn đá, các văn tự cổ,các đình chùa vv… Các giá trị văn hóa phi vật thể bao gồm các phong tục tậpquán cổ truyền, các giai điệu, câu hát vv… Văn hóa là yếu tố riêng có của mỗiquốc gia, dân tộc, do vậy tại mỗi nước khác nhau có các tài nguyên văn hóa khácnhau và chúng có sức hấp dẫn riêng
- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vậtchất do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra cácsản phẩm dịch vụ và hàng hóa cung cấp làm thỏa mãn nhu cầu của du khách.Chúng bao gồm hệ thống các khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí,phương tiện vận chuyển vv… và đặc biệt nó bao gồm cả các công trình kiến trúc
bổ trợ Tuy nhiên, để đảm bảo việc cung ứng dịch vụ du lịch cho du khách tốt thìngoài những điều kiện đặc trưng về cơ sở vật chất của ngành du lịch như đã nêu
ở trên, còn phải đảm bảo các yếu tố về hạ tầng xã hội như hệ thống đường sá, cầucống, bưu chính viễn thông, điện nước vv… Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cómối quan hệ mật thiết với tài nguyên du lịch vì nó là yếu tố bảo đảm điều kiệncho hoạt động kinh doanh du lịch Tài nguyên du lịch muốn khai thác được thìphải có các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật đi kèm để bảo đảm điều kiệnthuận lợi cho khách du lịch trong quá trình tham quan Cơ sở vật chất kỹ thuậtđược đầu tư phù hợp với tài nguyên du lịch có thể trở thành yếu tố tô điểm thêmcho tài nguyên du lịch [5] Nhiều khi, cơ sở vật chất kỹ thuật được xây dựng đẹp,độc đáo, hấp dẫn lại trở thành tài nguyên du lịch Ở nước ta, có nhiều khu du lịchnổi tiếng, kết hợp hài hòa giữa việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật với tàinguyên du lịch như khu du lịch Hoàng Gia – Bãi Cháy, khu du lịch quốc tế TuầnChâu – Quảng Ninh, khu du lịch Đền Hùng (Phú Thọ), khu du lịch Hòn Tre ởNha Trang (Khánh Hòa), khu du lịch Mũi Né (Phan Thiết) vv…
Trang 29- Lao động trong ngành du lịch bao gồm tất cả những người tham gia vàohoạt động cung cấp dịch vụ du lịch như hướng dẫn viên du lịch, nhân viên điềuhành tua, nhân viên phục vụ, lễ tân khách sạn vv… Đây là những người trực tiếptiếp xúc với du khách, truyền đạt tới du khách hình ảnh về đất nước và con ngườicủa quốc gia, địa phương đó Bên cạnh thái độ phục vụ, cách cư xử, trình độchuyên môn của người làm trong lĩnh vực du lịch là yếu tố quan trọng để đảmbảo chuyến du lịch được diễn ra hoàn hảo, tốt đẹp, để lại ấn tượng tốt và khiến
du khách quay trở lại lần sau
Cả ba yếu tố nêu trên đều có ý nghĩa quan trọng để tạo nên một sản phẩm
du lịch hoàn thiện Các tài nguyên du lịch là yếu tố sẵn có của một quốc gianhưng nó chỉ có giá trị nếu được công chúng biết tới, được sắp xếp và tổ chức bàibản, khoa học Do vậy, cần có vốn đầu tư để tổ chức các tài nguyên du lịch vàthực hiện công tác tuyên truyền, quảng bá cho chúng Cơ sở vật chất kỹ thuật dulịch là yếu tố không thể thiếu trong sản phẩm du lịch hiện đại Tuy nhiên, đầu tưcho cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cần lượng tiền rất lớn mà không phải quốc gianào cũng có đủ nội lực để thực hiện Việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng caotrong ngành du lịch cũng là một yêu cầu quan trọng trong việc xây dựng sảnphẩm du lịch hiện đại nhưng lại không chỉ cần có tiền vốn mà cần có kinhnghiệm quản lý thực tế Tại các quốc gia đang phát triển, khi nguồn vốn đầu tư từkhu vực nhà nước đang phải dành ưu tiên cho phát triển các lĩnh vực khác, khuvực tư nhân lại yếu kém thì vốn FDI chính là nguồn lực quan trọng để xây dựng
và phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đem lại nguồn thungoại tệ lớn cho đất nước
Về cơ bản, FDI vào ngành du lịch là một bộ phận của FDI của một nềnkinh tế nói chung, do vậy FDI trong du lịch có những đặc điểm và vai trò củaFDI nói chung Cụ thể trong lĩnh vực du lịch, vai trò của FDI thể hiện ở nhữngmặt sau :
Một là, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành du lịch Đây là đặc
điểm dễ nhận biết nhất và quan trọng nhất vì hầu hết các dự án vốn FDI tronglĩnh vực này thường tập trung đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như các
Trang 30khách sạn cao cấp, resort, sân gôn và các khu vui chơi giải trí vv… Vốn FDI khiđầu tư vào lĩnh vực này đã góp phần giải quyết những thiếu hụt về tài chính màquốc gia nhận đầu tư không có đủ khả năng chi trả Đồng thời, các nhà đầu tưnước ngoài cũng xây dựng các công trình phụ trợ như hệ thống đường sá trong
và ngoài khu du lịch Với nguồn vốn đầu tư hùng hậu và sự đầu tư bài bản, sựhiện diện của nguồn vốn FDI góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch,nâng cao giá trị của địa điểm du lịch, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đa dạng hơn
và cao cấp hơn của khách du lịch trong và ngoài nước
Hai là, đem đến phương thức quản lý và cách tiếp cận và xây dựng sản phẩm du lịch hiện đại Cùng với nguồn vốn đầu tư vào ngành du lịch, các nhà
đầu tư nước ngoài đem đến phương thức tiếp cận và quản lý du lịch hiện đại Đểđảm bảo tối đa hóa lợi nhuận, các dự án đầu tư du lịch được quản trị theo một hệthống khoa học, từ việc xây dựng, bố trí địa điểm, cảnh quan cho đến thiết kế sảnphẩm du lịch Việc áp dụng những kỹ năng khoa học vào xây dựng và phát triểnsản phẩm du lịch góp phần làm địa điểm du lịch đó trở nên hấp dẫn hơn Đâycũng là những mô hình quản lý tốt để các nhà đầu tư trong nước học tập theo.Sức lan tỏa của các mô hình phát triển du lịch thành công có vốn FDI còn kéotheo việc phát triển các dự án đầu tư của các nhà đầu tư trong nước vào lĩnh vựctương tự, góp phần cho ngành du lịch có thêm động lực phát triển
Ba là, tạo hình ảnh cho du lịch nước nhận đầu tư, tạo sức cạnh tranh và thu hút với đối với du khách nước ngoài, đem lại nguồn thu ngoại tệ Việc thu hút
vốn FDI vào du lịch có tác dụng hai chiều: một mặt, nhà đầu tư nước ngoài đemvốn hoàn thiện cơ sở hạ tầng, quản trị, phát triển sản phẩm du lịch như đã nêu ởtrên Mặt khác, để phát triển dự án du lịch thì bản thân các nhà đầu tư nước ngoàicũng tham gia vào quá trình quảng bá, giới thiệu về sản phẩm và tiềm năng dulịch nước đó đối với du khách ở thị trường nước ngoài – tức là nhà đầu tư sau khihoàn tất công việc đầu tư thì tự tìm khách hàng cho mình Việc này không chỉ cótác động tích cực đến địa điểm và dự án du lịch đó mà còn tạo cơ hội cho hìnhảnh của du lịch nước được đầu tư lan xa trong bạn bè quốc tế
Trang 31Bốn là, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, tạo việc làm cho lực lượng lao động tại địa phương, bao gồm cả lực lượng làm trong ngành du lịch và
ngoài ngành du lịch Cùng với việc xây dựng các dự án du lịch, các nhà đầu tưnước ngoài cần một lực lượng lao động lớn và đa dạng: lao động xây dựng vàquản lý công trình thi công, đội ngũ hướng dẫn viên, phục vụ vv… Trong đó, yêucầu quan trọng nhất là đội ngũ nhân viên làm công tác chuyên môn du lịch phải
có nghiệp vụ vững vàng và ngoại ngữ tốt Thông thường, sinh viên từ các cơ sởđào tạo trong nước tại các quốc gia đang phát triển nói chung thường không đápứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng Hầu hết các nhân viên được tuyển vàophải đào tạo lại Quá trình này một mặt tạo nguồn nhân lực tốt hơn cho chính cơ
sở kinh doanh du lịch đó, mặt khác khi những người này rời khỏi nơi làm việc
đó, họ có thể đem kiến thức, kinh nghiệm truyền thụ ra bên ngoài Nhờ vậy,nguồn nhân lực du lịch của nước được đầu tư ngày càng hoàn thiện
Do vậy, thu hút FDI vào phát triển du lịch tại các quốc gia đang phát triển
có tiềm năng về du lịch như Việt Nam là yêu cầu cấp thiết
1.1.2.2 Những lĩnh vực đầu tư của FDI vào du lịch.
Trong giai đoạn mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cũng nhưnhiều ngành dịch vụ khác, du lịch là một ngành kinh tế mở và được khuyến khíchđầu tư phát triển Các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào tất cả các lĩnh vựccủa ngành du lịch, đảm bảo phù hợp với quy định của nước sở tại Theo WTO,dịch vụ du lịch bao gồm: Dịch vụ khách sạn và nhà hàng; Dịch vụ lữ hành vàđiều hành tua du lịch; Dịch vụ hướng dẫn viên du lịch; Các dịch vụ khác
Trong cam kết gia nhập WTO, căn cứ vào pháp luật Việt Nam, thực tiễnphát triển của ngành du lịch và các cam kết quốc tế trước đó của Việt Nam vớicác quốc gia và tổ chức khác, Việt Nam đã cam kết thực hiện mở cửa cho các nhàđầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụđại lý lữ hành và điều hành tua du lịch, không cam kết mở cửa dịch vụ hướngdẫn viên du lịch Cụ thể :
Trang 32Đối với lĩnh vực khách sạn và nhà hàng, Việt Nam không hạn chế tiếp cậnthị trường và hạn chế đối xử quốc gia.
Đối với dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tua du lịch, về các điều khoảnhạn chế tiếp cận thị trường, Việt Nam chỉ cho phép các nhà cung cấp dịch vụnước ngoài thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam, không cho phép thành lậpdoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp thành lập chi nhánh tại ViệtNam Việt Nam không hạn chế vốn nước ngoài và đối tác Việt Nam trong liêndoanh Về các điều khoản hạn chế đối xử quốc gia, Việt Nam không hạn chếngoại trừ: Hướng dẫn viên du lịch trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiphải là người Việt Nam; Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư nướcngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ Inbound (đưa người nước ngoài vào ViệtNam du lịch) và lữ lành nội địa đối với khách du lịch vào Việt Nam như mộtphần của dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam, không cam kết dịch vụOutbound (đưa người Việt Nam và người nước ngoài cư trú và làm việc tại ViệtNam ra nước ngoài du lịch) Tuy nhiên, kể từ ngày 10/8/2009, Chính phủ ViệtNam đã cho phép doanh nghiệp liên doanh thực hiện dịch vụ Outbound
Ngoài ra, theo điểm 2, điều 6, luật Du lịch năm 2005 [14], cũng như nhàđầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài được hưởng ưu đãi về đất đai, tàichính, tín dụng khi tham gia đầu tư trên các lĩnh vực sau :
a) Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch;
b) Tuyên truyền, quảng bá du lịch;
c) Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch;
d) Nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm du lịch mới;
đ) Hiện đại hoá hoạt động du lịch;
e) Xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị
chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao và khu du lịch quốc gia;
Trang 33g) Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm sử dụng lao động, hàng hoá và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xoá đói, giảm nghèo.
Như vậy, các nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư vào tất cả các lĩnhvực thuộc ngành du lịch ở Việt Nam, trừ những lĩnh vực đã nêu trên
1.1.2.3 Những nhân tố tác động tới FDI vào du lịch.
* Hệ thống chính sách và luật pháp về thu hút FDI.
Chính sách bảo đảm, ưu đãi và khuyến khích đầu tư là một trong nhữngcông cụ có vai trò “đòn bẩy” hay là “chất xúc tác” trong việc tạo lực hút FDI vàhướng tới đạt mục tiêu kinh tế - xã hội chung của một nước Sự đầy đủ, hợp lý,hữu hiệu và nhất quán, lâu dài của chính sách sẽ là sức hút mạnh mẽ dòng vốnđầu tư trực tiếp vào nước chủ nhà Ngược lại, nó cũng có thể trở thành rào cảnđối với sự lưu chuyển dòng vốn FDI nếu chính sách chồng chéo, không đồng bộ
và thiếu nhất quán, các thủ tục hành chính rườm rà gây khó khăn cho các nhà đầu
tư nước ngoài trong việc đi lại, giao dịch, xin cấp phép, giải quyết các khiếu kiện.Tính hiệu lực của các chính sách ở nước nhận đầu tư cũng ảnh hưởng rất lớn đếnkhả năng thu hút FDI Những bảo đảm, cũng như những ưu đãi khuyến khíchFDI của chính sách tại nước chủ nhà phải thể hiện được sự minh bạch, cụ thể vàphải được pháp chế hóa Nếu việc thực hiện luật pháp không nghiêm thì nhà đầu
tư nước ngoài sẽ cảm thấy bị đe dọa về quyền lợi và không cảm thấy an toàn khiđầu tư vào lĩnh vực đó
Các chính sách kinh tế có ảnh hưởng lớn tới FDI bao gồm chính sáchthương mại, chính sách thuế, các quy định về chuyển lợi nhuận, các quy định vềbảo vệ môi trường, duy trì và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, cảnh quanthiên nhiên của từng vùng miền… Các chính sách này có ảnh hưởng lớn tới cácquyết định đầu tư vào từng địa bàn của các tỉnh, thành phố, đặc biệt đối với cácnhà đầu tư vào ngành du lịch Do đặc thù riêng của ngành, việc thu hút các nhàđầu tư để nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành nhưng vẫn phải giữ gìn bản
Trang 34định trở thành mối quan tâm của các nhà đầu tư vào lĩnh vực du lịch Ngoài ra,các quy định về quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, thuế, chuyển lợi nhuận
và các yêu cầu khác về hoạt động cũng như các chính sách khuyến khích đầu tưFDI cũng rất quan trọng, tác động mạnh đến các quyết định của nhà đầu tư [5]
Trên phạm vi cả nước cũng như đối với từng ngành kinh tế, việc cụ thểhóa các chính sách, hệ thống pháp luật, các quy định pháp lý của nhà nước đốivới hoạt động FDI thông qua các quyết định, văn bản quy định của ngành du lịch
và của các địa phương, các văn bản hướng dẫn đối với hoạt động FDI sẽ giúp chocác nhà đầu tư tạo được niềm tin và hoàn thành nhanh chóng các thủ tục đầu tư.Chiến lược phát triển Du lịch của ngành cũng có tác động tới các chính sách ưutiên, hướng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các địa bàn trọng điểm đangcần phát triển cũng như đầu tư vào phát triển các dịch vụ du lịch cần thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài [6]
* Tình hình chính trị và các điều kiện an toàn đối với du khách.
Tình hình chính trị, hòa bình ổn định là tiền đề cho sự phát triển kinh tế,chính trị,văn hóa, xã hội của một đất nước Một quốc gia mặc dù có nhiều tàinguyên về du lịch nhưng ở đó luôn xảy ra những bất ổn về chính trị như bạoloạn, xung đột vũ trang, đảo chính quân sự, khủng bố vv hoặc thường xuyênxảy ra các dịch bệnh, các tệ nạn xã hội vv làm xấu đi tình hình chính trị và hòabình, đe dọa đến sự an toàn của du kháchthì sẽ không có điều kiện để phát triểnkinh doanh du lịch và cũng không thu hút được khách du lịch
Kinh nghiệm thu hút FDI của một số quốc gia cho thấy, nếu nền chính trị củamột nước ổn định sẽ khuyến khích FDI đầu tư vào và ngược lại, sự bất ổn về chínhtrị sẽ gây ra nhiều rủi ro cho các nhà đầu tư nước ngoài khiến nguồn vốn này bị thuhẹp Nếu một nước có chiến tranh hay nội chiến, làm giảm giá trị đồng tiền quốc gia
và có thể gây ảnh hưởng đến nền an ninh tài chính – tiền tệ quốc gia thì nhà đầu tưnước ngoài sẽ khó tránh được những tổn thất và thiệt hại về tài sản, dự án đầu tư khóthực hiện, tỷ lệ hoàn vốn không chắc chắn, việc cung ứng hàng hóa dịch vụ và nhânlực cho dự án đầu tư cũng không được đảm bảo, buộc các
Trang 35trung lập và nền hòa bình ổn định như Thụy Sĩ, Áo, Thụy Điển… thường có sứchấp dẫn đối với khách du lịch Ngược lại, ở những nước có nền chính trị, hòabình bất ổn, hay có những biến cố như cách mạng, đảo chính quân sự, sự pháttriển của du lịch bị hạn chế, nhiều khi bị phá hủy [6]
Tình hình an ninh, trật tự xã hội (các tệ nạn xã hội và bộ máy bảo vệ anninh, trật tự xã hội, nạn khủng bố), lòng hận thù của dân bản xứ đối với một dântộc nào đó (thường xuất phát từ các nguyên nhân tôn giáo, lịch sử đô hộ), các loạibệnh dịch như tả, lị, dịch hạch, sốt rét vv cũng ảnh hưởng lớn đến tâm lý củakhách du lịch Nếu tại quốc gia đó thường xuyên xảy ra các vấn đề về an ninhtrật tự, dịch bệnh thì không thể thu hút khách du lịch và nhà đầu tư nước ngoàicũng không muốn đầu tư vào đó
Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có môitrường chính trị ổn định nhất trong khu vực châu Á Đó là điều kiện rất thuận lợi
để Việt Nam có thể tăng cường thu hút FDI Sự ổn định chính trị của Việt Nam làmột trong những yếu tố hấp dẫn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam để nghỉngơi, tham quan Đây là một lợi thế của ngành du lịch Việt Nam trong việc thuhút FDI vào phát triển các dịch vụ du lịch Khi lượng du khách tăng lên các nhucầu về dịch vụ mới có điều kiện nâng cao hơn
* Môi trường kinh tế (tình hình và xu hướng phát triển của đất nước)
Môi trường kinh tế được thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấungành và cơ cấu vùng từ đó tạo ra tính hấp dẫn về thị trường và sức mua, cơ cấuchi tiêu khác nhau đối với các thị trường hàng hóa khác nhau Môi trường kinh tếcũng bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và cơ cấu chi tiêu của ngườitiêu dùng
Đối với bất kỳ nhà đầu tư nào ngay từ giai đoạn nghiên cứu thị trường đểchuẩn bị cho kế hoạch đầu tư đều tính đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, quan tâmđến sức mua và việc phân bổ thu nhập để mua sắm các loại hàng hóa và dịch vụkhác nhau Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nơi tiếp nhận vốn đầu tư cao, quy
mô thị trường tiêu dùng sản phẩm lớn, các nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng raquyết định đầu tư và ngược lại Quy mô thị trường ở quốc gia hay địa phương
Trang 36tiếp nhận vốn đầu tư quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp quy mô đầu tư củacác doanh nghiệp Đối với các nhà đầu tư vào lĩnh vực du lịch, ở những thànhphố trọng điểm có cơ sở hạ tầng phát triển, tỷ lệ đầu tư FDI cao hơn ở những địaphương có sự phát triển kinh tế chậm, quy mô thị trường nhỏ bé Vì vậy, ở nhữngnước hay địa phương có tốc độ phát triển kinh tế cao sẽ có lợi thế trong việc thuhút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc ởmức độ lớn vào tình hình và xu hướng phát triển kinh tế ở đó Tình hình và xuhướng phát triển kinh tế của một đất nước được phân tích và đánh giá thông quachỉ số về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Đánh giá sức mạnh của nền kinh tếthông qua số liệu tuyệt đối về GDP (giá trị bao nhiêu) và xu hướng phát triển củaGDP (tăng bao nhiêu %) Theo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế thuộc Hộiđồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc, một đất nước có thể phát triển du lịchnếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch.Nếu một nước phải nhập một khối lượng lớn hàng hóa để trang bị cho cơ sở vậtchất kỹ thuật và để đảm bảo việc phục vụ khách du lịch thì việc cung ứng vật tưhàng hóa sẽ hết sức khó khăn Ngành du lịch sử dụng khối lượng lớn lương thực,thực phẩm, nhất là thực phẩm chế biến đường, thịt, sữa, đồ hộp, công nghiệp chếbiến rượu bia, thuốc lá vv Do vậy, sự phát triển của công nghiệp nhẹ, nôngnghiệp và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, nội ngoại thương và hệthống bán lẻ, phân phối cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển củangành du lịch
Ngoài ra, tỷ trọng dân đang trong độ tuổi lao động cũng có ý nghĩa nhấtđịnh đối với khả năng thu hút đầu tư nước ngoài trong ngành du lịch vì đây làngành cần có hàm lượng lao động lớn
* Môi trường văn hóa xã hội
Bên cạnh các yếu tố về chính trị, luật pháp, điều kiện tự nhiên, kinh tế,yếu tố văn hóa xã hội cũng có tác động không nhỏ đến việc thu hút FDI vào pháttriển du lịch
Trang 37Một quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người cao, trình độ văn hóacủa người dân cao và họ có nhiều thời gian nhàn rỗi thì người dân nước đó cónhu cầu nhiều hơn về đi du lịch và sử dụng các sản phẩm du lịch Đây là yếu tốthúc đẩy sự phát triểncủa ngành du lịchvà tạo ra sức hấp dẫn đối với các nguồnvốn đầu tư vào du lịch nói chung, nguồn vốn FDI nói riêng.
Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để
họ có thể tham gia du lịch Khi lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịchluôn là người tiêu dùng của nhiều loại dịch vụ, hàng hóa và xu hướng của conngười khi đi du lịch là chi tiêu rộng rãi hơn Để biến nhu cầu đi du lịch nói chungthành nhu cầu có khả năng thanh toán thì người dân phải có thu nhập cao Người
ta đã xác lập được rằng mỗi khi thu nhập của nhân dân tăng thì sự tiêu dùng dulịch cũng tăng theo, đồng thời có sự thay đổi về cơ cấu tiêu dùng du lịch theohướng hướng tới các dịch vụ cao cấp hơn, hoàn hảo hơn Một quốc gia có nềnkinh tế phát triển, đảm bảo cho nhân dân có mức sống cao, một mặt, có điều kiệnsản xuất ra nhiều của cải vật chất và có khả năng phát triển du lịch trong nước;mặt khác, có thể gửi khách du lịch ra nước ngoài Những nước có nền kinh tếphát triển, có thu nhập đầu người cao như Mỹ, Canada, Pháp, Thụy Sĩ, Anh, Ý,Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Bỉ, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng là những nước có vị tríquan trọng trong phát triển du lịch thế giới
Trình độ văn hóa chung của một dân tộc được đánh giá chính theo hệ
thống và chất lượng của giáo dục, đào tạo,sự phát triển của các phương tiệnthông tin đại chúng, các sách báo, văn nghệ, các hoạt động phim ảnh, ca hát,nhạc, kịch vv Nếu một quốc gia có trình độ văn hóa được nâng cao thì động cơ
đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt, lòng ham hiểu biết và mong muốnlàm quen với các nước xa gần cũng tăng Mặt khác, nếu trình độ văn hóa chungcủa một đất nước cao, thì đất nước đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục
vụ khách du lịch một cách văn minh và làm hài lòng khách du lịch đến đó
Theo Robert W.Meintosh thì giữa trình độ văn hóa của người chủ gia đình
và tỷ lệ du lịch của họ có mối quan hệ nhất định Có thể thấy mối quan hệ đó qua
số liệu ở bảng sau:
Trang 38Bảng 1.1: Trình độ văn hóa của người chủ gia đình và tỷ lệ đi du lịch Trình độ văn hóa của người chủ gia đình
Chưa có trình độ trung học
Có trình độ trung học
Có trình độ cao đẳng
Có trình độ đại học
Nguồn: Theo Robert W.Meintosh 1995[5]
Muốn thực hiện một cuộc hành trình du lịch đòi hỏi con người phải có
thời gian Do vậy, thời gian rỗi của nhân dân là điều kiện tất yếu phải có để con
người tham gia vào hoạt động du lịch Thời gian rỗi của nhân dân ở từng nướcquy định trọng Bộ luật Lao động hoặc theo hợp đồng lao động được ký kết.Phúclợi xã hội của một quốc gia cũng được thể hiện qua quỹ thời gian rỗi mà ngườidân nước đó được hưởng ngoài thời gian tham gia lao động sản xuất Một quốcgia phát triển, năng suất lao động cao thì người dân nước đó sẽ có quỹ thời gianrỗi dài hơn và họ có nhiều khả năng tham gia vào du lịch hơn Nhà đầu tư nướcngoài khi xem xét đầu tư vào lĩnh vực du lịch của một quốc gia nhất định cũngquan tâm nhiều đến yếu tố này
Hiện nay, thời gian lao động tối đa trong ngày tại hầu hết các quốc gia trênthế giới không vượt quá 8 tiếng, tức là thời gian ngoài giờ làm việc (16 tiếng) chiếmphần lớn hơn trong quỹ thời gian một ngày Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu conngười sử dụng hợp lỹ quỹ thời gian và có chế độ lao động đúng đắn Với chế độ làmviệc 5 ngày một tuần ở nhiều nước, số thời gian rỗi tăng lên và đó là điều kiện thực
tế để tổ chức hợp lý du lịch và nghỉ ngơi cho nhân dân lao động Thời gian rỗi còntăng được bằng cách giảm thời gian của các công việc khác ngoài giờ làm việc Vídụ: có thể giảm thời gian mua hàng, thời gian làm việc gia đình vv Như vậy, đểtăng thời gian rỗi, phải có cơ cấu thời gian ngoài giờ làm việc hợp lý Điều này cóthể thực hiện được nếu mạng lưới thương nghiệp được mở rộng, mạng lưới phục vụcông cộng, giao thông, y tế, hành chính được tổ chức và quản lý tốt Những quốc gia
có chính sách về quỹ thời gian nghỉ ngơi cho người dân tốt thì có khả năng thu hútvốn đầu tư nước ngoài tốt hơn [6]
Trang 39* Môi trường tự nhiên (Điều kiện về tài nguyên du lịch)
Môi trường tự nhiên của một nước bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiênảnh hưởng đến đầu vào cần thiết và có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh
du lịch, vì vậy cũng tác động đến tâm lý của nhà đầu tư
Một quốc gia, một vùng dù có nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội pháttriển cao, nhưng không có các tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triểnđược du lịch Tiềm năng về kinh tế là vô hạn, song tiềm năng về tài nguyên dulịch là có hạn, nhất là đối với tài nguyên thiên nhiên – những cái mà thiên nhiênchỉ ban cho một số vùng và một số nước nhất định Tài nguyên du lịch có thể dothiên nhiên tạo ra, có thể do con người tạo ra Vì vậy, có thể phân các tài nguyên
du lịch làm hai nhóm: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn
a) Tài nguyên thiên nhiên
Các điều kiện về môi trường tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyênthiên nhiên về du lịch bao gồm địa hình đa dạng; khí hậu ôn hòa; động, thực vậtphong phú, giàu nguồn tài nguyên nước và vị trí địa lý thuận lợi
Địa hình ở một nơi thường chế định cảnh đẹp và sự đa dạng của phongcảnh ở nơi đó Đối với du lịch, điều kiện quan trọng nhất là địa phương phải cóđịa hình đa dạng và có những đặc điểm tự nhiên như: biển, rừng, sông, hồ, núi…Khách du lịch thường ưa thích những nơi nhiều rừng, đồi, núi, biển, đảo…thường không thích những nơi địa hình và phong cảnh đơn điệu mà họ cho là tẻnhạt và không thích hợp với du lịch
Những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa thích Nhiềucuộc thăm dò đã cho kết quả là khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh,quá ẩm hoặc quá nóng, quá khô, nơi quá nhiều gió Mỗi loại hình du lịch đòi hỏinhững điều kiện khí hậu khác nhau Ví dụ, khách du lịch nghỉ biển thường thíchnhững nơi điều kiện khí hậu như số ngày mưa tương đối ít, số giờ nắng cao, nhiệt
độ ban đêm không cao, nhiệt độ nước biển ôn hòa và ban ngày không có gió
Thực vật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du lịch chủ yếunhờ sự đa dạng và số lượng nhiều rừng, nhiều hoa vv Nếu thực vật phong phú
và quý hiếm thì sẽ thu hút được cả khách du lịch văn hóa với lòng ham tìm tòi,
Trang 40nghiên cứu thiên nhiên Đối với khách du lịch, những loại thực vật không có ởđất nước của họ thường có sức hấp dẫn mạnh Ví dụ, khách du lịch châu Âuthường thích đến những nơi có rừng rậm nhiệt đới, nhiều cây leo, cây to và cao.
Động vật cũng là một trong những nhân tố có thể góp phần thu hút khách
du lịch Nhiều loài động vật quý hiếm là đối tượng để nghiên cứu
Các nguồn tài nguyên nước mặt như: ao, hồ, sông, ngòi, đầm… vừa tạođiều kiện để điều hòa không khí, phát triển mạng lưới giao thông vận tải nóichung, vừa tạo điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch nói riêng Cácnguồn nước khoáng là tiền đề không thể thiếu được đối với việc phát triển du lịchchữa bệnh Tính chất chữa bệnh của các nguồn nước khoáng đã được phát triển
từ thời Đế chế La Mã Ngày nay, các nguồn nước khoáng đóng vai trò quyết địnhcho sự phát triển của du lịch chữa bệnh Những nước giàu nguồn nước khoángnổi tiếng là: cộng hòa liên bang Nga, Bungari, Cộng hòa Séc, Pháp, Ý, Đức…
Điều kiện về vị trí địa lý bao gồm các yếu tố như địa điểm du lịch nằmtrong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồngửi khách du lịch ngắn Khoảng cách này có ý nghĩa quan trọng đối với các nướcnhận khách du lịch Nếu nước nhận khách ở xa điểm gửi khách điều đó ảnhhưởng đến khách trên hai khía cạnh: khách du lịch phải chi thêm tiền cho việc dichuyển và rút ngắn thời gian lưu lại ở nơi du lịch vì thời gian đi lại mất nhiều.Hiện nay, ngành vận tải đã phát triển tương đối toàn diện, là yếu tố tích cực hỗtrợ cho hoạt động du lịch Tuy nhiên, khoảng cách về địa điểm du lịch vẫn là trởngại đối với khách du lịch quần chúng có thu nhập không cao Ngược lại, đối vớikhách du lịch có khả năng thanh toán cao và có tính hiếu kỳ, khoảng cách xa cóthể tạo ra sức hấp dẫn đối với họ
b) Tài nguyên nhân văn
Giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặctrưng cho sự phát triển của du lịch ở một địa điểm, một vùng hoặc một đất nước.Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu vàmục đích khác nhau của chuyến du lịch Đây cũng là đặc điểm được các nhà đầu
tư nước ngoài quan tâm