khaiBảng 1.3 Tỷ lệ DN tiến hành cải tiến các quy trình sản xuất 19hiện cóBảng 1.4 Tỷ lệ DN tiến hành cải tiến sản phẩm và đổi mới 20 sản phẩmBảng 1.5 Tỷ lệ DN tiến hành áp dụng các quy t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -NGUYỄN KHẮC TIẾN
ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -NGUYỄN KHẮC TIẾN
ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Đinh Quang Ty
Hà Nội - 2009
Trang 3MỤC LỤC
Trangi
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
PHẦN MỞ ĐẦU……… ……… … ……… …1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 9
1.1 Khái niệm, vai trò của việc đổi mới công nghệ đối với các DN công nghiệp 9
1.1.1 Một số khái niệm 9
1.1.2 Sự cần thiết, vai trò của việc đổi mới công nghệ đối với các DN công nghiệp 12
1.1.3 Những khó khăn, thách thức đặt ra đối với các DN công nghiệp nhỏ và vừa trong việc đổi mới công nghệ 13
1.2 Vấn đề đổi mới công nghệ đối với các DN công nghiệp nhỏ và vừa 16
1.2.1 Nội dung đổi mới công nghệ 16
1.2.2 Phương thức tiến hành đổi mới công nghệ 21
1.2.3 Tiêu chí đánh giá đổi mới công nghệ 25
1.3 Kinh nghiệm nước ngoài và trong nước về việc đổi mới công nghệ đối với các DNNVV 27
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước và nền kinh tế, thành phố ở nước ngoài 27
1.3.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố trong nước 35
1.3.3 Một số vấn đề có giá trị tham khảo cho thành phố Hà Nội 39
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN
HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 41
2.1 Khái quát về các DN công nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội 41
2.1.1 Tình hình chung của các DN công nghiệp nhỏ và vừa 41
2.1.2 Về trình độ công nghệ, máy móc thiết bị 47
2.1.3 Về tình hình đổi mới công nghệ 48
2.2 Thực trạng đổi mới công nghệ trong các DN công nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội 53
2.2.1 Trình độ công nghệ hiện tại của các DN sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ và vừa 53
2.2.2 Nguồn gốc công nghệ hiện tại của các DN sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ và vừa 54
2.2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động gắn kết DN vừa và nhỏ với các cơ sở nghiên cứu 55
2.2.4 Định hướng đổi mới công nghệ trong các DN sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ và vừa 59
2.3 Đánh giá sự tác động và tác dụng của việc đổi mới công nghệ đối với các DN công nghiệp nhỏ và vừa 62
2.3.1 Đánh giá việc ban hành các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ 62
2.3.2 Đánh giá của DN về các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ của Nhà nước 64
2.3.3 Đánh giá hoạt động hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các DN sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ và vừa 65
2.3.4 Những hạn chế, khó khăn trong việc hỗ trợ DN tiến hành hoạt động đổi mới công nghệ 67
2.3.5 Một số vấn đề đặt ra trong việc hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các DN sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ và vừa của Hà Nội 72
Trang 5CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI
CÔNG NGHỆ Ở CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA TẠI HÀ NỘI NHỮNG NĂM TỚI ĐÂY 77
3.1 Một số quan điểm 77
3.1.1 Quan điểm chung về đổi mới công nghệ trong bối cảnh hội nhậpkinh tế quốc tế 77
3.1.2 Đổi mới công nghệ để góp phần nâng cao vị thế nền kinh tế
quốc gia và kinh tế của Hà Nội trước xu thế gia tăng của áp lực cạnh tranhbên trong và bên ngoài 82
3.2 Một số giải pháp 83
3.2.1 Giải pháp chung 83
3.2.2 Giải pháp hỗ trợ đổi mới công nghệ trong các DN sản xuất công
nghiệp quy mô nhỏ và vừa 87
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 6DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Stt Ký hiệu
Nghĩa đầy đủ
1 CIEM Central Institute for Viện Nghiên cứu quản
Economic lý kinh tế Trung ƣơngManagement
đại hóa
4 DNNVV Small and medium Doanh nghiệp nhỏ và
enterprises - SMEs vừa
6 HASMEA Hanoi Association of Hiệp hội Doanh nghiệp
Small and Medium vừa và nhỏ Hà NộiEnterprises
7 MOST Ministry of Science Bộ Khoa học và Công
and Technology nghệ
8 SHTT intellectual property Sở hữu trí tuệ
bị
11 UBND People’s Committee Uỷ ban nhân dân
Trang 7Stt Ký hiệu Nghĩa đầy đủ
12 UNDP United Nations Quỹ phát triển Liên hợp
Programme
13 VCCI Vietnam Chamber of Phòng Thương mại và
Commerce and Công nghiệp Việt NamIndustry
Trang 8khaiBảng 1.3 Tỷ lệ DN tiến hành cải tiến các quy trình sản xuất 19
hiện cóBảng 1.4 Tỷ lệ DN tiến hành cải tiến sản phẩm và đổi mới 20
sản phẩmBảng 1.5 Tỷ lệ DN tiến hành áp dụng các quy trình sản xuất 21
mớiBảng 1.6 Phương thức thực hiện đổi mới công nghệ của các 23
DNBảng 1.7 Các phương thức tiến hành đổi mới công nghệ 25
được DN sử dụng chia theo loại hình sở hữuBảng 1.8 Các phương thức đổi mới công nghệ được doanh 25
nghiệp sử dụng chia theo địa bàn
Bảng 2.2 So sánh trình độ công nghệ của các DN công nghệ 51
Việt Nam với một số nước trong khu vực
Trang 9sách hỗ trợ đổi mới công nghệ của Nhà nước
Trang 10Hình 2.2 Hình thức pháp lý hiện tại của DN 42
Hình 2.5 Trình độ công nghệ hiện tại của các DN 47Hình 2.6 Thực trạng công nghệ tại các DNNVV 49Hình 2.7 Tính đồng bộ của dây chuyền công nghệ trong 51
các DN khảo sát theo loại hình sở hữuHình 2.8 Mức độ hiện đại của máy móc thiết bị trong các 52
DN đƣợc khảo sátHình 2.9 Mức độ hiện đại của dây chuyền công nghệ đƣợc 52
sử dụng trong các DN khảo sát chia theo loạihình sở hữu
Hình 2.10 Trình độ công nghệ hiện tại của các DN sản xuất 53
công nghiệp quy mô nhỏ và vừaHình 2.11 Nguồn gốc công nghệ hiện tại của các DN 54
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tháng 11-2006, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mạithế giới (WTO) Đây là một sân chơi quốc tế lớn, vừa tạo nhiều cơ hội nhưngcũng sẽ đặt ra những thách thức mới cho cả nền kinh tế nói chung và các DNViệt Nam nói riêng Trong môi trường mới này, hệ thống DN Việt Nam,trong đó có các DN trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, muốn đứng vững và chiếnthắng phải đủ sức cạnh tranh Trong số các yếu tố ảnh hưởng đến năng lựccạnh tranh của một DN, công nghệ đóng vai trò cực kỳ quan trọng, là điềukiện tiên quyết để tạo ra chất lượng sản phẩm tốt, năng suất cao, giá thành hạ
- những tiêu chí cơ bản nhất của năng lực cạnh tranh cao
DN vừa và nhỏ là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế thị trường củamỗi quốc gia Chúng thường chiếm tỉ trọng lớn trong cộng đồng DN, tạo việclàm cho phần lớn lao động xã hội, góp phần ổn định chính trị, ổn định nềnkinh tế, đáp ứng những nhu cầu đa dạng của đông đảo người tiêu dùng, tậndụng mọi nguồn lực vào phát triển, có tác động thường xuyên đến môitrường cạnh tranh trong nền kinh tế DNNVV ở Hà Nội cũng có những đặcđiểm chung của DNNVV của Việt Nam; nếu đặt trong quan hệ so sánh khuvực và quốc tế, thì hầu hết còn nhỏ bé, lạc hậu và đang hoạt động trong mộtmôi trường kinh doanh còn nhiều khó khăn, liên quan đến động thái chuyểnđổi của nền kinh tế nước ta hiện nay
Để phát triển đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh phải hội nhập kinh tếquốc tế ngày càng sâu rộng hơn, thì một trong những vấn đề vừa có tính cấpbách, vừa có tính lâu dài là phải củng cố, phát triển, nâng cao sức cạnh tranhcủa các DNNVV Bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của DN,thì việc quan trọng hơn là phải tạo môi trường để chúng phát triển; và ở giaiđoạn các DN này còn non yếu, lúng túng trong quá trình chuyển sang nền
Trang 12kinh tế thị trường, nhất là trước sự cạnh tranh rất khốc liệt hiện nay, cần cónhững biện pháp hỗ trợ phù hợp Trong đó, hỗ trợ đổi mới công nghệ cho cácDNNVV là hết sức cần thiết để trực tiếp tăng cường khả năng cạnh tranh của
bộ phận DN này, từ đó từng bước phát triển cộng đồng DN lớn mạnh, làmnền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã thấy đượcvai trò của các DNNVV đối với nền kinh tế, đã có những chính sách tạo thuậnlợi cho khối DN này phát triển Tuy nhiên, các chính sách, các giải pháp cũngchỉ mới bước đầu triển khai, chưa đạt được hiệu quả mong muốn, thậm chícòn nhiều mặt bất cập so với nhu cầu thực tế, trong đó có chính sách hỗ trợđổi mới công nghệ đối với các DNNVV Tác động, khuyến khích, hỗ trợ củacác cơ quan quản lý nhà nước đối với các DN nhằm đổi mới công nghệ, nângcao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh còn nhiều mặt bất cập Tìnhhình chung này cũng bộc lộ khá rõ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài “Đổi mới công nghệ trong
các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Hà Nội” được lựa chọn để thực
hiện luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế chính trị
Trang 13mới chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, có xuất phát điểm thấp - mà Việt Nam là một trường hợp điển hình.
Kết quả của những công trình nghiên cứu trong thời gian qua có thể nhận thấy ở một số điểm nổi bật sau:
(i) Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề về vai trò của DNNVV đối với mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế ở Việt Nam
Một số công trình nghiên cứu như: Ban Tuyên giáo Trung ương (2008),
“Vai trò của DNNVV trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta”, Thông tin
tổng hợp, số 26-TT/BTGTW, ngày 04/7/2008; Phạm Văn Hồng (2007), Phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế,
luận án tiến sĩ, Đại học kinh tế quốc dân; Đỗ Trọng Phấn (2002), Phát triển
DNNVV ở nước ta hiện nay, Luận văn tốt nghiệp Lý luận chính trị cao cấp,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Thái Văn Rê (2002), DNNVV
trong phát triển kinh tế - xã hội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh đã làm rõ những khái niệm và vai trò của DNNVVtrong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong những năm gần đây và trướcyêu cầu hội nhập quốc tế
(ii) Phân tích sâu sắc các vấn đề quản lý khoa học công nghệ và đổi mới công nghệ để phát triển doanh nghiệp
Một số công trình nghiên cứu của các tác giả như GS.TS Đỗ Nguyên
Phương (2006), Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý khoa
học và công nghệ địa phương, Đề tài độc lập cấp nhà nước, Ban Khoa giáo
Trung ương; Trần Ngọc Ca (2000), “Quản lý đổi mới công nghệ trong hoạt
động sản xuất của các DN vừa và nhỏ”, NXB Chính trị quốc gia; Thu Nga
(2006), “Lãnh đạo tháo gỡ vướng mắc thúc đẩy phát triển DNNVV”, Tạp chí Xây dựng Đảng số 11-2006; Lê Văn Tri (2007), “Đầu tư cho nghiên cứu
khoa học và đổi mới công nghệ là việc làm sống còn của DN”, Tạp chí Hoạt
động Khoa học, Số tháng 4-2007 (575); Trần Hồng Hà (2006-08), Thực trạng
và giải pháp hỗ trợ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất công
Trang 14nghiệp quy mô nhỏ và vừa, đề tài nghiên cứu cấp ban đảng; Nghiêm Công
(2006) báo cáo chuyên đề “Tổng quan các chính sách của Nhà nước khuyến
khích hoạt động đổi mới công nghệ trong sản xuất giai đoạn 1995-2005”,
Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ, đã tập trung nghiêncứu, tổng hợp, khái quát hoá các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhànước trong công tác quản lý khoa học công nghệ và khuyến khích đổi mớicông nghệ, nâng cao chất lượng, tính cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quảsản xuất trong các DN
(iii) Phân tích có cơ sở thực trạng hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Mặc dù nhiều DN có nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc đổimới công nghệ trong hoạt động của doanh nghiệp, nhưng thực tế việc đầu tưcho khoa học công nghệ và vấn đề đổi mới nó trong các DN còn rất nhiều khókhăn vì nhiều nguyên nhân Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập khá sâusắc đến vấn đề này, như Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) - Bộ Kế
hoạch và Đầu tư (1999), “Báo cáo Nghiên cứu xúc tiến doanh nghiệp công
nghiệp nhỏ và vừa”; Võ Thanh Thu, Cao Thị Việt Hương (2008), “DN vừa
và nhỏ thuộc khu vực dân doanh sau một năm gia nhập WTO”, Tạp chí Cộng
sản - Chuyên đề cơ sở số 14 (2-2008); Lưu Hương (ngày 11/01/2005),
“DNNVV Việt Nam - Sau những con số”, Báo Diễn đàn DN điện tử; Cục Phát
triển DNNVV, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, (11/2005), “Báo cáo kết quảđiều tra
nghiên cứu về nhu cầu thông tin DN của các tỉnh phía Bắc”; Thảo Lê (2006),
“Nhận thức của DN Việt Nam về sở hữu trí tuệ”, Bản tin Sở hữu trí tuệ số 61
(11-2006); Văn phòng Trung ương Đảng (2009), “Một số vấn đề nổi lên
trong hoạt động của DNNVV trong thời gian qua”, Báo cáo số
315-BC/VPTW ngày 21/01/2009 đã đề cập thực trạng công nghệ lạc hậu,những rào cản về cơ chế chính sách thiếu hấp dẫn, chưa khuyến khích DNđầu tư cho công nghệ và đổi mới công nghệ
(iv) Tập trung phân tích và đưa ra các giải pháp thúc đẩy đổi mới công
Trang 15nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Các công trình như Nguyễn Thị Minh Hạnh (2000), “Nâng cao hiệu
quả một số chính sách thuế và tín dụng khuyến khích các DN đổi mới công nghệ”, Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ; Nguyễn Việt
Hoà (2007), Nghiên cứu tác động của cơ chế chính sách công đến việc
khuyến khích DN đầu tư vào khoa học công nghệ, đề tài nghiên cứu cấp bộ,
Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học công nghệ); Hoàng Trọng Cư (1999), Nghiên cứu vấn đề thuế trong hoạt động KH&CN, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ; Nguyễn Thanh Tùng (2000), Nghiên cứu một số vấn đề tín dụng cho hoạt
động KH&CN, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Viện Chiến lược và
Chính sách Khoa học và Công nghệ, đã nghiên cứu tương đối sâu thực trạng
và những khó khăn, bất cập trong việc vận hành chính sách tài chính tín dụng
hỗ trợ các DN đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất Một số công trình khác
như Trần Ngọc Ca (2000), Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một
số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu - triển khai trong các cơ sở ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
bộ, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ; Nguyễn Ngọc
Phúc (2006), Cơ chế gắn các hoạt động nghiên cúu khoa học của các trường
đại học với thực tiễn sản xuất kinh doanh của các DN, Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã đề xuất nhiều giải pháp hỗ trợ đổimới công nghệ đối với các DN Việt Nam theo những cách tiếp cận khác nhau.Nhiều kiến nghị có giá trị được bàn luận và đề xuất đóng góp vào việc tạođiều kiện và hỗ trợ cho DN đổi mới công nghệ để tồn tại và phát triển Nhữngkết quả nghiên cứu trên không chỉ có giá trị về lý luận mà còn rất có ý nghĩa
về mặt thực tiễn, đây thực sự là những tài liệu tham khảo có giá trị cho họcviên trong quá trình hoàn thành luận văn của mình
Bên cạnh việc đạt được nhiều kết quả có giá trị, những công trình nêutrên vẫn còn nhiều nội dung chưa được đề cập hoặc có điều kiện nghiên cứu
Trang 16kỹ lưỡng Có thể nêu lên một số vấn đề như:
- Việc nghiên cứu sâu sắc và đồng bộ về thực trạng và giải pháp tổng thểthúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ trong các DNNVV trên phạm vi cả nướcnói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng còn ít được nghiên cứu
- Việc nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành đốivới nhiệm vụ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là hết sức quan trọng.Nhưng các nghiên cứu hầu như chưa làm rõ tầm quan trọng và mức độ ảnhhưởng to lớn của việc nhận thức không đầy đủ đó
- Các giải pháp, cơ chế chính sách hỗ trợ được đề cập khá đầy đủ nhưngđều dàn trải, vẫn mang nặng tính hình thức mà chưa có sức mạnh thực thi, làm chohiệu quả hỗ trợ thấp
Trong khu vực DN vừa và nhỏ, các DN công nghiệp có vai trò nổi bật vìnhững đóng góp vào tiến trình công nghiệp hóa, việc tăng cường đổi mớicông nghệ trong các DN này thường tạo ra giá trị gia tăng cao và giúp nângcao năng lực cạnh tranh của DN và của cả nền kinh tế trong điều kiện hộinhập Từ việc khái quát tình hình nghiên cứu như trên, học viên nhận thấyrằng việc lựa chọn nghiên cứu, đánh giá thực trạng đổi mới công nghệ trongcác DN sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ và vừa ở Hà Nội sẽ góp phần nângcao nhận thức và tìm kiếm các giải pháp hỗ trợ thiết thực cho DN nhỏ và vừa
Hà Nội vững bước và phát triển
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích chính của luận văn là nghiên cứu, khảo sát, làm rõ thực trạngtrình độ công nghệ hiện có của các DN công nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn
Hà Nội; từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần thúc đẩy việcđỏi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnhtranh của các DN này trong giai đoạn sắp tới
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận, khảo cứu kinh nghiệm thực tiễnliên quan trực tiếp tới vấn đề đổi mới công nghệ trong các DN nói chung và
Trang 17các DN công nghiệp có nhỏ và vừa nói riêng;
- Đánh giá, phân tích, làm rõ những mặt được, chưa được, nhữngnguyên nhân tương ứng trong việc đổi mới công nghệ ở các DN công nghiệp nhỏ
và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội những năm gần đây;
- Luận chứng rõ cơ sở khoa học của hệ thống các giải pháp và kiến nghị
sẽ được nghiên cứu và thể hiện trong luận văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
DNNVV của Hà Nội có số lượng đông đảo, thuộc nhiều nhóm ngànhnghề khác nhau như công nghiệp, dịch vụ, thương mại, trong đó các DNhoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại là chủ yếu Những lĩnh vựcnày có nhu cầu không cao đối với việc đổi mới công nghệ Vì vậy, đối tượngluận văn tập trung nghiên cứu là các DNNVV thuộc lĩnh vực sản xuất côngnghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2000 đến năm 2007; từ đó đềxuất một số kiến nghị về phương hướng, quan điểm và giải pháp góp phầnthúc đẩy việc đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vànăng lực cạnh tranh của các DN này trong giai đoạn đến năm 2010 và tầmnhìn đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Để khảo sát đối tượng, thực hiện mục đích và nhiệm vụ đã xác định,luận văn sẽ dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; từ đó sử dụng các phương pháp thích hợpnhư khảo sát thực tế, tập hợp và xử lý các tài liệu, các số liệu tham khảo vàthống kê; phân tích kết hợp với tổng hợp và khái quát hóa; kết hợp lôgic vớilịch sử; đối chiếu, so sánh, sơ đồ hóa…
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ một số khía cạnh lý luận về công nghệ, đổi mới côngnghệ trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế - những vấn đềđặt ra đối với loại hình DN công nghiệp nhỏ và vừa; đúc kết bước đầu kinhnghiệm của một số địa phương trong nước về đổi mới công nghệ ở loại
Trang 182010 và tầm nhìn đến năm 2020.
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới công nghệ ở các
DN công nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Thực trạng đổi mới công nghệ tại các DN công nghiệp nhỏ
và vừa trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 2001 - 2007
Chương 3: Quan điểm và giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ ở các
DN công nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội những năm tới đây
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Khái niệm, vai trò của việc đổi mới công nghệ đối với các DN công nghiệp
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nhìn chung, trên thế giới việc xác định một DN là DNNVV chủ yếu căn
cứ vào hai nhóm tiêu chí phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng.Tiêu chí định tính được xây dựng dựa trên các đặc trưng cơ bản của cácDNNVV như trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độphức tạp của quản lý thấp Tiêu chí định lượng được xây dựng dựa trên cácchỉ tiêu như quy mô, số lượng lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn),doanh thu hoặc lợi nhuận của DN Việc xác định quy mô DNNVV chỉ mangtính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triểncủa một nước, tính chất ngành nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnhthổ nhất định hay mục đích phân loại DN trong từng thời kỳ nhất định Số laođộng có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc số lao độngthường xuyên thực tế của DN Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá trịtài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản (hay vốn) còn lại của DN Cáctiêu chí định lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định quy
mô DN Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác nhau giữacác ngành nghề mặc dù chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định
Ví dụ như Đài Loan chẳng hạn Các DN trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo
có từ 1 tới 200 lao động được coi là DNNVV, trong khi các DN trong ngànhthương mại - dịch vụ có từ 1 đến 50 lao động Nhật Bản, các DNNVV trongngành sản xuất chế tạo có từ 1 đến 300 lao động và số vốn kinh doanh không
Trang 20vượt quá 300 triệu yên, còn các DNNVV trong ngành thương mại dịch vụ có
số lao động không quá 100 người với số vốn kinh doanh không quá 100 triệuyên Ngược lại, Mỹ chỉ có một tiêu chí xác định chung cho các DNNVV là sốlao động không quá 500 người [15]
Ở Việt Nam, trước năm 1998, chưa có một văn bản pháp luật chínhthức nào quy định tiêu chuẩn cụ thể của DNNVV Do đó, mỗi một tổ chức đưa ramột quan niệm khác nhau về DNNVV nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗtrợ hoạt động của tổchức mình
Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ vềtrợ giúp phát triển DNNVV thì “DNNVV là các cơ sở sản xuất kinh doanhđộc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kýkhông quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300người”
Như vậy, theo định nghĩa này, tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế
có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu thức lao động hoặc vốnđưa ra trong Nghị định này đều được coi là DNNVV Các tiêu chí phân loại nàytương đối phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay Tuynhiên việc dùng hai tiêu chí lao động bình quân hằng năm và vốn đăng ký kinhdoanh còn quá chung chung Hai tiêu chí trên chỉ mới thể hiện được quy mô đầuvào mà chưa phản ánh được kết quả tổng hợp thông qua kết quả kinh doanh.Theo tác giả luận văn nếu sử dụng chỉ tiêu lao động nên dựa vào số lao động làmviệc thường xuyên hay số lao động làm việc từ 1 năm trở lên Yếu tố vốn đăng
ký cũng cần xem xét Thực tế cho thấy số vốn đăng ký của các DN khi thành lậpkhác xa so với số vốn thực tế đưa vào kinh doanh Chỉ tiêu doanh số cho thấychính xác hơn quy mô DN, thực trạng hoạt động kinh doanh của các DN Luậnvăn cho rằng chỉ tiêu doanh số hằng năm của các DN sẽ phản ánh chính xác hơnquy mô của DN trong từng giai đoạn thay vì tiêu chí vốn đăng ký Việc sử dụng
cả hai tiêu chí lao động và vốn/doanh thu sẽ khuyến khích các DN vừa sử dụngnhiều lao động lại vừa tập trung tích
Trang 21tụ vốn để phát triển.
1.1.1.2 Trình độ công nghệ
Công nghệ theo nghiên cứu của APCTT (Trung Tâm chuyển giao côngnghệ châu Á Thái Bình Dương) bao gồm 4 thành phần chính: T là thành phầncông nghệ hiện thân trong phần cứng, trang thiết bị công nghệ, H là thànhphần con người trong công nghệ bao gồm kỹ năng, năng lực sử dụng côngnghệ, I là thành phần thông tin trong công nghệ bao gồm các tài liệu hướngdẫn sử dụng, các bí quyết công nghệ và cuối cùng là O bao gồm năng lựcquản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ Tuy nhiên việc đánhgiá trình độ công nghệ theo các tiêu chí này khá phức tạp, khó áp dụng chocác nước đang phát triển một khi các số liệu thống kê về công nghệ khôngthường xuyên được cập nhật và công nghệ (phần cứng là chủ yếu) khôngđồng bộ và chắp vá Vì vậy, có thể xem xét, tích hợp các chỉ tiêu trên theo 3tiêu chí là tính đồng bộ, tính hiện đại và khả năng tự chủ đối với công nghệ[4]
1.1.1.3 Đổi mới công nghệ
Có một số đổi mới là dựa trên cơ sở công nghệ thí dụ như máy tính cánhân, phun nhiên liệu bằng điện tử Một số đổi mới khác như các sản phẩmmới, dịch vụ bảo vệ và dịch vụ tài chính được hỗ trợ bởi công nghệ mới (cónghĩa là quá trình xử lý số liệu bằng điện tử) Tiêu chuẩn cho sự đổi mớithành công nghệ chính là yếu tố thương mại hơn là yếu tố kỹ thuật Đổi mới
là kết quả của một quá trình có thể xác định như một sự phối hợp các hoạtđộng dẫn đến các sản phẩm mới có thể tiêu thụ được và những dịch vụ hoặcsản xuất mới và hệ thống phân phối Năng lực đổi mới bao hàm tất cả cáchoạt động nhằm nối liền những phát kiến với đổi mới đem lại những biến đổi
về công nghệ, từ những cải tiến có tính chất cơ bản cho đến các cải tiến nhỏđối với công nghệ hiện có
Theo quan điểm của Viện Nghiên cứu phát triển Thái lan, đưa ra năm
1989 thì năng lực đổi mới được đánh giá gồm: Nghiên cứu triển khai, cải tiến
Trang 22lớn đối với sản phẩm; Thay đổi lớn (dây chuyền công nghệ); Phát kiến mới(mức độ sáng chế đưa ra quy trình và sản phẩm hoàn toàn mới) [4].
1.1.2 Sự cần thiết, vai trò của việc đổi mới công nghệ đối với các DN công nghiệp
1.1.2.1 Sự cần thiết phải đổi mới công nghệ
Hầu hết các DN đều nhận thức được trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế như hiện nay, DN của họ cần phải đổi mới công nghệ để nâng cao sứccạnh tranh Kết quả khảo sát của CIEM và UNDP tại Hà Nội và thành phố HồChí Minh năm 2006 cho thấy, các DN đánh giá tất cả các hoạt động đổi mớicông nghệ được nêu là cần thiết và mức độ cho từng hoạt động gần nhưtương đương nhau, dao động trong khoảng từ 2,3 đến 2,6 điểm Xét về tỷ lệ
DN đánh giá, số liệu ở Bảng 1.1 cho thấy, tỷ lệ DN đánh giá cho từng hoạtđộng ở mức độ “cần thiết” và “rất cần thiết” đều đạt trên dưới 90% Tỷ lệ DNđánh giá “không cần thiết” lớn nhất là cho hoạt động nâng cao nguồn nhânlực công nghệ, cũng chỉ đạt 13%, trong đó chủ yếu rơi vào các DN tư nhânngành dệt may [4]
Điều này cho thấy, các DN đã ít nhiều ý thức được tầm quan trọng củacác hoạt động đổi mới công nghệ đối với quá trình sản xuất kinh doanh củahọ
Bảng 1.1: Sự cần thiết tiến hành các hoạt động đổi mới công nghệ trong DN
bị
(tuyển dụng, đào tạo)
Nguồn: [4], Báo cáo của CIEM, 2006.
Trang 231.1.2.2 Vai trò của việc đổi mới công nghệ
Về đổi mới công nghệ trong sản xuất công nghiệp, thực tế cho thấy trình
độ lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấp, lao động còn dư thừa, vốn còn hạnchế Đổi mới công nghệ luôn được coi là yêu cầu, nhiệm vụ hàng đầu của các
DN, doanh nhân; phải kết hợp nhiều trình độ công nghệ, vừa vận dụng côngnghệ sẵn có và từng bước cải tiến, nâng cao, vừa cố gắng tranh thủ công nghệmới, lựa chọn từng mặt, từng khâu trong mỗi ngành, mỗi cơ sở có khả năngtiến thẳng vào công nghệ hiện đại Hầu hết các DN đều nhận thức được vaitrò quan trọng của công nghệ và đổi mới công nghệ trong việc nâng cao năngsuất, nâng cao sức cạnh tranh của DN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tếnhư hiện nay và có thái độ tương đối tích cực khi đánh giá sự cần thiết phảiđổi mới công nghệ Tuy nhiên, đánh giá mức độ cần thiết giữa các hoạt độngcủa DN chưa có sự khác biệt đáng kể và điều này đặt ra câu hỏi phải chăng
DN chưa xác định được rõ hoạt động nào là cấp thiết nhất trong hoàn cảnhcủa mình mà mới nhận thức các nhu cầu đổi mới công nghệ một cách kháchung chung
Mặt khác, đổi mới công nghệ còn là phương thức cơ bản để bảo đảm sửdụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư; là biện pháp chính yếu để các DNgiảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành, nâng caochất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm
1.1.3 Những khó khăn, thách thức đặt ra đối với các DN công nghiệp nhỏ và vừa trong việc đổi mới công nghệ
1.1.3.1 Quy mô vốn đầu tư thấp, thiếu vốn
DNNVV gặp nhiều khó khăn về vốn để sản xuất và mở rộng sản xuấtmức độ thiếu vốn không giống nhau Thị trường cung ứng vốn cho DNNVV,chủ yếu là thị trường tài chính không chính thức Chủ DN thường phải vayvới lãi suất cao, vay vốn của thân nhân bạn bè, ít được tiếp cận với vốn tíndụng chính thức của hệ thống ngân hàng
Vẫn theo kết quả điều tra của CIEM năm 2006, ở Hà Nội, Hải Phòng và
Trang 24Đồng Nai có 44,29% số DN và 68,57% số công ty trong tổng số được điều tranêu khó khăn về vốn Theo điều tra của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hộithì ở miền Đông Nam Bộ có 69% số DN vừa và 47,9% số DN nhỏ trong tổng
số được điều tra nêu khó khăn về vốn [4]
1.1.3.2 Mức độ lệ thuộc vào công nghệ cũ, lạc hậu
Thực trạng hiện nay, xét về trình độ công nghệ đang sử dụng phần lớnlạc hậu từ 2 - 4 thế hệ, hệ thống công nghệ thiết bị có từ nhiều nguồn nên chắp
vá Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chủ yếu như mức tiêu hao nguyên vật liệugấp 1,5 - 2 lần so với mức trung bình của thế giới [15] Trang thiết bị và côngnghệ rất đa dạng, thủ công, bán cơ khí, cơ khí, tự động, song phần lớn là thủcông và cơ khí Phương thức ứng dụng công nghệ chủ yếu là cải tiến côngnghệ sao chép (nhái) theo hàng ngoại, còn ít công nghệ được nghiên cứu triểnkhai hoặc nhập khẩu bằng thương mại một cách đồng bộ Sự thay đổi côngnghệ của các DNNVV phần lớn diễn ra từ những năm 1990 Thời điểm này,các DN gặp nhiều khó khăn cản trở, do thị trường công nghệ truyền thống từLiên Xô, Đông Âu tan rã, việc tiếp cận công nghệ hiện đại chủ yếu từ cácnước khác chưa tiếp cận kịp, song quá trình đổi mới công nghệ vẫn phải thựchiện bằng nhiều phương thức khác nhau Điều này đã góp phần tích cực vàoviệc chống xuống cấp tài sản cố định, tăng năng suất lao động và hiệu quả sảnxuất - kinh doanh Phương thức đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ khá
đa dạng, thông qua các hình thức như nhập khẩu qua biên giới (tiểu ngạch),quà tặng, quà biếu của thân nhà từ nước ngoài gửi về, buôn bán phi mậu dịchthông qua các tổ chức của nước trung gian, thiết bị thải loại của các DN lớn.Phương thức tiếp nhận, chuyển giao như vậy có mặt tích cực là đáp ứng kịpthời yêu cầu đổi mới công nghệ của DNNVV, nhưng nó lại không giải quyếtđược một cách cơ bản và đồng bộ, mà chủ yếu mang tính tự phát, kém hiệuquả
Trình độ trang thiết bị, máy móc và công nghệ của DNNVV nói chung làyếu kém và lạc hậu Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị rất thấp, ngay tại thành phố
Trang 25Hồ Chí Minh - trung tâm công nghiệp lớn nhất của cả nước cũng chỉ đạtkhoảng 10% năm tính theo vốn đầu tư.
Nhiều DNNVV sử dụng thiết bị thải loại của DN nhà nước, thiết bị chếtạo trong nước hoặc tự thiết kế tạo với trình độ thiết kế và gia công thấp.Đáng chú ý là trang thiết bị và công nghệ của DNNVV phổ biến thiếu trang bị
xử lý môi trường như tiếng ồn, chất thải rắn, chất thải lỏng, khí đốt nênthường gây ô nhiễm môi trường xung quanh rất nặng, ảnh hưởng tới sứckhoẻ người lao động và nhân dân trong vùng
và kỹ năng quản trị kinh doanh yếu, thiếu cơ bản và rất lúng túng trước sựbiến động của thị trường hiện nay
1.1.3.4 Vấn đề thị trường
Thị trường rộng lớn của DNNVV đang bị thu hẹp lại do sức mua củanông dân quá thấp; do hàng hoá nhập lậu qua biên giới không thể nào kiểmsoát đã làm giảm thị phần của DNNVV; do khả năng cạnh tranh của hàng hoá
Trang 26của DN này lại rất yếu, do công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề của người laođộng và trình độ quản trị kinh doanh yếu Khả năng tiêu thụ hàng trong nước
đã khó, xuất khẩu lại càng khó Qua số liệu điều tra ở Hà Nội, Hải Phòng vàĐồng Nai thì có tới 26,4% số DN tư nhân và 37,6% số công ty tư nhân trongtổng số DN tư nhân gặp khó khăn về thị trường [15] Chính vì thế đầu tư sảnxuất công nghiệp có xu hướng giảm, còn đầu tư của DNNVV có xu hướngchuyển mạnh sang lĩnh vực buôn bán, dịch vụ
1.1.3.5 Hiệu quả kinh doanh, tốc độ tăng trưởng
Đây là kết quả tổng hợp của bốn mặt hạn chế nêu trên Hiệu quả kinhdoanh của các DNNVV nhìn chung rất thấp Tất nhiên, hiệu quả hoạt độngcủa DNNVV là phải tính đến hiệu quả kinh tế xã hội
1.2 Vấn đề đổi mới công nghệ đối với các DN công nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1 Nội dung đổi mới công nghệ
Nội dung đổi mới công nghệ bao gồm nghiên cứu và triển khai; cải tiếncác quy trình sản xuất hiện có; cải tiến sản phẩm; áp dụng các quy trình sảnxuất mới; thiết kế hoặc đưa ra các sản phẩm mới và các hoạt động khác
Việc tiến hành đổi mới công nghệ ở các DN là rất khác nhau về quy mô đầu
tư, loại hoạt động và tính chất của các hoạt động đó Thật vậy, theo báo cáo kếtquả khảo sát do CIEM tiến hành trong năm 2006 về đổi mới công nghệ tại các
DN công nghiệp Việt Nam, hầu hết các DN được phỏng vấn đều ưu tiên tiếnhành một hoặc một số hoạt động đổi mới công nghệ tuỳ vào khả năng tài chính
và tình hình sản xuất kinh doanh của DN Xét về số lượng DN tiến hành thì bứctranh là tương đối khả quan Có thể thấy những hoạt động có tác động trực tiếpđến quá trình sản xuất, kinh doanh của DN như cải tiến quy trình sản xuất/sảnphẩm và đổi mới quy trình sản xuất/sản phẩm được các DN chú ý đầu tư hơn.Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu triển khai trong chừng mực nào đó cũng đãđược chú ý thích đáng nhằm hỗ trợ hiệu quả cho các hoạt động trực tiếp trên,đặc biệt là ở nhóm các DN nhà nước và DN có vốn đầu tư
Trang 27nước ngoài Ngoài ra, qua trao đổi với một số DN được biết, việc đổi mớicông nghệ ở các DN phần nhiều liên quan đến đầu tư vào trang thiết bị, máymóc (phần cứng) nhiều hơn là liên quan đến phần mềm như các hệ thốngquản lý thông tin, quản lý chất lượng, các phần mềm thiết kế, giám sát hoạtđộng sản xuất, v.v…
1.2.1.1 Nghiên cứu và triển khai
Nghiên cứu triển khai là hoạt động được ít DN tiến hành nhất trong sốcác hoạt động đổi mới công nghệ (67 DN), tuy nhiên tỷ lệ này cũng cho thấyhoạt động nghiên cứu triển khai ở cấp DN đã có sự cải thiện hơn trước đây[4] Điều này phản ánh năng lực nghiên cứu triển khai của các DN còn hạnchế Về lý thuyết, hoạt động nghiên cứu triển khai được các DN thực hiệnbao gồm nghiên cứu nhằm đổi mới sản phẩm/quy trình sản xuất, hay nghiêncứu để tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm hoặc nâng cấp công nghệ quytrình sản xuất nhập ngoại cho phù hợp với điều kiện cụ thể Tuy nhiên, trênthực tế các DN hiện nay tiến hành nghiên cứu triển khai đa phần phục vụ mụcđích ứng dụng, vận hành công nghệ hơn là đổi mới công nghệ
Bảng 1.2: Số lượng và tỷ lệ DN tiến hành nghiên cứu triển khai
Nguồn: [4], Báo cáo của CIEM, 2006.
Như trên đã trình bày, hoạt động nghiên cứu triển khai đã được các DNchú ý đầu tư, tuy nhiên mức độ và mục đích rất khác nhau theo ngành và theoloại hình sở hữu
Trang 28Kinh nghiệm của một số công ty cho thấy, nếu không có quá trìnhnghiên cứu nhằm nâng cao khả năng tiếp thu công nghệ thì dù có nhập thiết bịhiện đại cũng không đạt hiệu quả mong muốn Chẳng hạn, nghiên cứu triểnkhai đi đôi với việc nhập dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị để sản xuấtmặt hàng đĩa CD, VCD tại Công ty cổ phần Đức Việt; hay để sản xuất thựcphẩm sạch tại Công ty Trung Thành, v.v
Có thể nhận thấy một số DN nhà nước lớn thực hiện nghiên cứu triểnkhai chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật đã có của thếgiới để “bắt kịp” và không bị tụt hậu, đồng thời nghiên cứu nhằm phục vụ, hỗtrợ cho việc sử dụng hiệu quả các thiết bị công nghệ mới nhập Một số DN cóquy mô nhỏ hơn thì thực hiện nghiên cứu triển khai chủ yếu nhằm phát triểnmột số thiết bị tự chế chuyên dùng hoặc cải tiến nhỏ/nâng cấp các thiết bị sẵn
có Đối với các DN tư nhân, nghiên cứu triển khai là hoạt động ít được đầu
tư nhất trong số các hoạt động đổi mới công nghệ và mức độ ưu tiên mà các
DN tư nhân đánh giá cho hoạt động này thấp nhất so với các hoạt động khác.Một thực tế tại nhiều DN tư nhân có quy mô nhỏ là: để tiết kiệm chi phísản xuất, các DN này tinh giản tối đa lực lượng lao động gián tiếp Cơ cấu tổchức của họ hầu như không có phòng kỹ thuật/công nghệ; đội ngũ kỹ sưchuyên ngành cũng rất mỏng thậm chí có DN không có kỹ sư nào Các DNnày cho rằng, họ không đủ khả năng về nhân lực cũng như tài chính, cơ sở hạtầng để tiến hành hoạt động nghiên cứu triển khai trong hoàn cảnh của DN và
DN sử dụng các nguồn khác để phục vụ đổi mới công nghệ (nếu cần thiết)
1.2.1.2 Cải tiến các quy trình sản xuất hiện có
Mặc dù không phải là hoạt động được DN đánh giá là cần thiết nhất,nhưng cải tiến các quy trình sản xuất (bao gồm: cải tiến về công nghệ, về máymóc, về phương pháp sản xuất, thay thế nguyên vật liệu, v.v.) là hoạt động có
tỷ lệ DN tiến hành nhiều nhất (91 trên tổng số 100 DN) [4] Điều này là dođầu tư cho hoạt động cải tiến quy trình sản xuất hiện có ít tốn kém hơn so vớiviệc đầu tư mới máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, trong khi vẫn có
Trang 29đóng góp tích cực trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năngsuất, sản xuất ra các sản phẩm cải tiến hoặc/và sản phẩm mới.
Một số DN quan niệm rằng bất cứ sự can thiệp nào đó dù lớn hay nhỏvào máy móc thiết bị, quy trình công nghệ hiện có trong DN cũng được coi làcải tiến, ngay cả việc thay thế một vài chi tiết rất nhỏ, đôi khi tác động khôngđáng kể đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, cũng được coi là hoạt động cảitiến Thực tế này thường diễn ra ở các DN tư nhân quy mô sản xuất nhỏ
Bảng 1.3: Tỷ lệ DN tiến hành cải tiến các quy trình sản xuất hiện có
là một yêu cầu khách quan đối với các DN, đặc biệt là các DN sản xuất hàngtiêu dùng (như vải, hàng may mặc, hoá mỹ phẩm, sơn, v.v.) nhằm đa dạnghoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo sự thay đổi của các yếu
tố ngoại cảnh như môi trường, thời tiết, thời trang, v.v Đây chính là lý do
các DN thường xuyên tiến hành các hoạt động này
Xét theo loại hình sở hữu, cũng giống như các hoạt động khác, các DN
tư nhân có tỷ lệ DN tiến hành cải tiến sản phẩm và đổi mới sản phẩm thấphơn so với hai khối còn lại Điều này có thể được xem xét từ hai khía cạnh
Trang 30Thứ nhất, phần lớn các DN tư nhân, ngoại trừ một số trường hợp điển hình,
thường có quy mô sản xuất nhỏ, mang tính gia đình, sản phẩm phục vụ mộtphân khúc thị trường riêng (chẳng hạn ở nông thôn) nên đa dạng hoá sảnphẩm không phải là yêu cầu cấp thiết so với vấn đề về chất lượng và giá
thành sản phẩm Thứ hai, các DN tư nhân thường thiếu vốn để kinh doanh
cũng như đầu tư cho đổi mới công nghệ Vì vậy, nếu so sánh với hai khối cònlại, các DN tư nhân ít tiến hành các hoạt động đổi mới công nghệ hơn
Bảng 1.4: Tỷ lệ DN tiến hành cải tiến sản phẩm và đổi mới sản phẩm
1.2.1.4 Áp dụng các quy trình sản xuất mới
Hoạt động áp dụng các quy trình sản xuất mới được 74 DN tiến hành trongtổng số 100 DN được khảo sát Ở một số DN, việc áp dụng các quy trình sảnxuất mới thường được thực hiện với tính chất là mở rộng sản xuất kinh doanhnhiều hơn là đổi mới công nghệ Có nghĩa là việc đầu tư mới các dây chuyềncông nghệ ở DN hoặc nhằm nâng cao sản lượng của sản phẩm hiện có (như tạiCông ty Cổ phần cơ khí công nghiệp, đầu tư thêm dây chuyền công nghệ sảnxuất khí công nghiệp tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay trị giá 39.290 tỷ đồngvới công suất lớn gấp đôi dây chuyền sản xuất hiện có), hoặc phát triển các sảnphẩm mới, có thể cùng chủng loại với các sản phẩm hiện thời, cũng có thể là mộtmặt hàng hoàn toàn khác (như trường hợp của Công ty dệt vải công nghiệp hay
Trang 3120
Trang 32trình sản xuất mới theo kiểu thay thế hoàn toàn các trang thiết bị, máy móc,dây chuyền công nghệ hiện có vì điều này đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn [4].
Số liệu ở Bảng 1.5 cho thấy, không có sự khác biệt lớn giữa tỷ lệ DN dệtmay và hoá chất tiến hành áp dụng các quy trình sản xuất mới Xét theo loạihình sở hữu, các DN tư nhân vẫn đi sau cùng về tỷ lệ DN tiến hành áp dụngcác quy trình sản xuất mới Trong khi đó, xét theo địa bàn, các DN ở Hà Nộivẫn đi sau các DN ở thành phố Hồ Chí Minh trong việc áp dụng các quy trìnhsản xuất mới
Bảng 1.5: Tỷ lệ DN tiến hành áp dụng các quy trình sản xuất mới
Nguồn: [4], Báo cáo của CIEM, 2006
1.2.1.5 Thiết kế hoặc đưa ra các sản phẩm mới và các hoạt động khác
Về các hoạt động đổi mới công nghệ khác, trong quá trình phỏng vấn,
một số DN nêu các hoạt động như: mời các chuyên gia giảng dạy, tập huấn vềcác kiến thức chuyên ngành, tiến hành thăm quan, tham gia các hội chợ, triểnlãm, tham khảo các tài liệu chuyên ngành; tìm kiếm nguyên liệu mới, thưởngcho các sáng kiến, v.v Tuy nhiên, các hoạt động này không nằm trong phạm
vi đổi mới công nghệ mà liên quan nhiều đến nghiên cứu thị trường sản phẩm
và công nghệ
1.2.2 Phương thức tiến hành đổi mới công nghệ
Thông thường các DN kết hợp một số phương thức để quá trình đổi mớicông nghệ đạt hiệu quả, tuy nhiên vẫn mang tính tương đối khép kín, chủ yếu
Trang 33là mua công nghệ từ nước ngoài vốn được cho là có hiệu quả nhanh nhất, vàbắt chước thiết kế lại theo mẫu; sự liên doanh liên kết với bên ngoài đã cónhưng còn ít Theo số liệu ở Bảng 1.6, hiện nay, phương thức được các DN
sử dụng nhiều nhất để tiến hành đổi mới công nghệ là: mua công nghệ từnguồn nước ngoài (56% trong số 100 DN được khảo sát) và bắt chước thiết
kế lại theo mẫu (52%) Các DN đã chú ý hợp tác với các cơ quan khoa họctrong nước (31% số DN được khảo sát) và ít nhiều đã mua công nghệ từnguồn trong nước (22% số DN được khảo sát) và đây là một dấu hiệu đángmừng cho sự phát triển của thị trường công nghệ ở Việt Nam
Thực tế, ít có DN nào chỉ sử dụng một trong số các phương thức được hỏi
để tiến hành đổi mới công nghệ mà thường kết hợp giữa một vài phương thức để
có được kết quả như mong muốn Trong đó, tự tổ chức nghiên cứu triển khaithường được tiến hành đi kèm với việc mua công nghệ mới nhằm nâng cao hiệuquả ứng dụng và vận hành công nghệ Số các DN tự nghiên cứu triển khai trongnội bộ DN hay số DN có quan hệ hợp tác với các cơ quan khoa học trong nước
và số DN mua công nghệ từ nguồn trong nước đã có nhưng chưa nhiều DNchưa chú ý liên kết, hợp tác với các cơ quan khoa học trong nước và nếu có thìphần nhiều ở các DN nhà nước và do phía cung chủ động tiếp cận Mối quan hệgiữa các DN thuộc các thành phần sở hữu khác nhau còn hạn chế, do đó chưaphát huy được tác động tràn từ các DN có vốn đầu tư nước ngoài vốn ưu việt vềtrình độ công nghệ, đổi mới công nghệ cũng như kỹ năng quản lý Hoạt động tự
tổ chức nghiên cứu và triển khai trong nội bộ DN cũng được khá nhiều các DN
sử dụng để thực hiện đổi mới công nghệ, tuy nhiên đổi mới ở đây phần nhiềuliên quan đến các cải tiến nhỏ về sản phẩm và quy trình sản xuất (39%) Phươngthức ít được các DN sử dụng nhất bao gồm thuê tư vấn trong nước (5%).Nguyên nhân một phần là do các DN chưa có thói quen thuê tư vấn trong cáckhâu của quy trình chuyển giao công nghệ, phần khác là do hoạt động của các tổchức môi giới trung gian trong nước còn thiếu và yếu cả về năng lực lẫn tổ chức
và pháp lý, do đó chưa tạo
Trang 34được lòng tin cho các DN Thiếu các tổ chức trung gian môi giới trong việcmua bán công nghệ cũng là một trong những nguyên nhân làm cho thị trườngkhoa học - công nghệ ở Việt Nam chưa phát triển.
Bảng 1.6: Phương thức thực hiện đổi mới công nghệ của các DN
Nguồn: [4], Báo cáo của CIEM, 2006
Kết quả khảo sát ở hai ngành hoá chất và dệt may, các DN hoá chất sửdụng nhiều phương thức hơn trong khi các DN dệt may chủ yếu là mua côngnghệ từ nước ngoài và bắt chước thiết kế lại theo mẫu
Trang 35Hình 1.1: Phương thức thực hiện đổi mới công nghệ trong các DN chia theo ngành
Nguồn: [4], Báo cáo của CIEM, 2006
Xét theo hình thức sở hữu, số liệu ở Bảng 1.7 cho thấy các DN thuộchình thức sở hữu khác nhau có xu hướng sử dụng các phương thức để tiếnhành đổi mới công nghệ ở các mức độ khác nhau Các DN nhà nước có xuhướng sử dụng nhiều phương thức hơn, đã hợp tác với các cơ quan khoa họctrong nước Tuy nhiên, sự hợp tác này đôi khi do phía cơ quan khoa học trongnước chủ động tiếp cận, liên hệ với DN mời hợp tác hơn là DN tự chủ độngtìm đến các cơ quan khoa học
Trong khi đó, các DN tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài sử dụngkết hợp ít phương thức hơn Mua công nghệ từ nguồn nước ngoài và bắtchước, thiết kế lại theo mẫu là hai phương thức chủ yếu được sử dụng ở các
DN tư nhân Sở dĩ như vậy vì đây là hai hoạt động đổi mới công nghệ mangtính kinh tế nhất trong hoàn cảnh khó khăn về vốn của các DN nhà nước
Trang 36Bảng 1.7: Các phương thức tiến hành đổi mới công nghệ được DN sử dụng chia theo loại hình sở hữu
Nguồn: [4], Báo cáo của CIEM, 2006
Bảng 1.8: Các phương thức đổi mới công nghệ được DN sử dụng chia theo địa bàn
Nguồn: [4], Báo cáo của CIEM, 2006
Xét theo loại hình sở hữu, ngoài phương thức mua công nghệ từ nguồnngoài nước được hầu hết các DN thuộc các hình thức sở hữu khác nhau sửdụng, các DN nhà nước sử dụng kết hợp nhiều phương thức hơn so với cácnhóm DN còn lại Các DN tư nhân chủ yếu sử dụng phương thức bắt chướcthiết kế lại theo mẫu vì phương thức này ít tốn kém, phù hợp với điều kiệncủa họ Trong khi đó, với năng lực vốn và công nghệ, các DN có vốn đầu tưnước ngoài chủ yếu tiến hành nghiên cứu triển khai trong nội bộ DN
1.2.3 Tiêu chí đánh giá đổi mới công nghệ
1.2.3.1 Cải tiến các quy trình sản xuất hiện có
Cải tiến thường xuyên các quy trình sản xuất là một yêu cầu khách quan
Trang 37đối với các DN nhằm giảm thiểu chi phí, tối ưu hoá lợi nhuận, v.v
1.2.3.2 Cải tiến sản phẩm và đổi mới sản phẩm
Việc thường xuyên tiến hành cải tiến sản phẩm và đưa ra sản phẩm mới
là một yêu cầu khách quan đối với các DN, đặc biệt các DN sản xuất hàngtiêu dùng (như vải, hàng may mặc, hoá mỹ phẩm, sơn, v.v ) nhằm đa dạnghoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo sự thay đổi của các yếu
tố ngoại cảnh như môi trường, thời tiết, thời trang, v.v Đây chính là lý docác DN thường xuyên tiến hành các hoạt động này
1.2.3.3 Áp dụng các quy trình sản xuất mới
Ở một số DN, việc áp dụng các quy trình sản xuất mới thường đượcthực hiện với tính chất là mở rộng sản xuất kinh doanh nhiều hơn là đổi mới côngnghệ Có nghĩa là việc đầu tư mới các dây chuyền công nghệ ở DN hoặc nhằmnâng cao sản lượng của sản phẩm hiện có, hoặc phát triển các sản phẩm mới, cóthể cùng chủng loại với các sản phẩm hiện thời, cũng có thể là một mặt hàng hoàntoàn khác Ít có sự áp dụng các quy trình sản xuất mới theo kiểu thay thế hoàn toàncác trang thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ hiện có vì điều này đòi hỏi vốnđầu tư rất lớn
1.2.3.4 Khả năng nghiên cứu triển khai
Hoạt động nghiên cứu triển khai được các DN thực hiện bao gồm nghiêncứu nhằm đổi mới sản phẩm/quy trình sản xuất, hay nghiên cứu để tạo ra côngnghệ sản xuất sản phẩm hoặc nâng cấp công nghệ quy trình sản xuất nhậpngoại cho phù hợp với điều kiện cụ thể Tuy nhiên, trên thực tế các DN hiệnnay tiến hành nghiên cứu triển khai đa phần phục vụ mục đích ứng dụng, vậnhành công nghệ hơn là đổi mới công nghệ, cải tiến lớn đối với sản phẩm
Trang 381.3 Kinh nghiệm nước ngoài và trong nước về việc đổi mới công nghệ đối với các DNNVV
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước và nền kinh tế, thành phố ở nước ngoài
1963, Luật Cơ bản về DNNVV của Nhật Bản được ban hành Số lượngDNNVV liên tục tăng lên trong những năm 1970-1990 Sự sụt giảm số lượngDNNVV trong những năm 1990 đã dẫn đến sự ra đời của Luật Cơ bản vềDNNVV năm 1999, quy định các vấn đề cơ bản về quản lý và hỗ trợ các dự
án nâng cấp kỹ thuật, trợ giúp về thông tin, tư vấn về quan hệ xuất - nhậpkhẩu và hợp tác với nước ngoài Tính đến năm 1998, số lượng DNNVVchiếm tỷ trọng 99,7% tổng số DN ở Nhật Bản, thu hút 72,7% tổng số lao động
Ngoài Luật Cơ bản về DNNVV, Nhật Bản đã xây dựng hệ thống luậtkhuyến khích phát triển DNNVV, tập trung vào các mục tiêu chủ yếu: Thúc đẩy
sự tăng trưởng và phát triển của các DNNVV, tăng cường lợi ích kinh tế và xãhội của các nhà DN và người lao động tại DNNVV, hỗ trợ tính tự lực và khắcphục các bất lợi của DNNVV Hệ thống các luật bao gồm: Các luật tạo thuận lợicho thành lập DN mới; các luật trợ giúp DNNVV đổi mới trong kinh
Trang 39doanh, hỗ trợ vốn, trợ giúp công nghệ; luật xúc tiến các hệ thống phân phốitrợ giúp cho DNNVV tăng sức cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ thông quacông nghệ thông tin và xúc tiến các khu vực bán hàng.
Ngoài việc chú trọng tăng cường khung pháp luật cho việc trợ giúpDNNVV, về mặt tổ chức, năm 1980, cộng đồng các DNNVV Nhật Bản đượcthành lập với các hoạt động chính như hướng dẫn, chỉ đạo và đề ra các chínhsách tài trợ cho các dự án phát triển; hỗ trợ đào tạo cán bộ công nhân viên chocác DNNVV thông qua các viện, trường đào tạo của Cộng đồng các DNNVVNhật Bản; hỗ trợ các thông tin quốc tế và cải tiến công nghệ kỹ thuật đối vớicác DNNVV; xây dựng hệ thống tương trợ sản xuất - kinh doanh và tươngtrợ ngăn ngừa phá sản đối với DNNVV
1.3.1.2 Xinh-ga-po
Đảo quốc Xinh-ga-po có số lượng DNNVV chiếm 99% số DN đượcthành lập Trong ngành công nghiệp có 80% DN là DNNVV Hằng năm,Chính phủ cũng dành một khoản kinh phí để tài trợ cho các DNNVV, cácdoanh nhân được đào tạo một cách căn bản để tiếp cận các thông tin mới vềcông nghệ, tiếp thu công nghệ mới và hệ thống quản lý tiên tiến (phát triểnnguồn nhân lực), nâng cấp các ngành công nghiệp địa phương, đó là nhữngnhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của DNNVV
Sau 30 năm triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ, năm 1990 Chính phủ đãthành lập “Hội đồng phát triển DN” (bao gồm các nghị sĩ quốc hội, các chủkinh doanh nổi tiếng, ban lãnh đạo các công ty xuyên quốc gia, các viện sĩ)nhằm mục đích đề ra các sáng kiến phát triển DNNVV
Năm 2003, Xinh-ga-po đưa ra Chương trình cung cấp 3 lĩnh vực hỗ trợlớn, bao gồm: hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ nhân lực; các khuyến khích và hỗ trợtài chính; phát triển các thị trường hải ngoại Thông qua đó, tạo khả năng chocác DN địa phương tiếp cận với các nhân tài R&D ở các viện nghiên cứu, tạocầu nối giữa DN với viện nghiên cứu Hỗ trợ các DN địa phương nâng cấp,tăng cường và mở rộng hoạt động
Trang 40Tổchức Phát triển, tiêu chuẩn và cải tiến nước ngoài Xinh-ga-po(SPRING) đã phát triển một khung đổi mới công nghệ gồm ba chiến lượcthen chốt cho DNNVV để khắc phục các bất cập ở phía cầu và phía cung.SPRING áp dụng cách tiếp cận dùng động lực thị trường để hỗ trợ, theo đó,chỉ hỗ trợ những lĩnh vực nào không thể áp dụng được các công cụ của thịtrường SPRING cũng thúc đẩy các năng lực, thể chế và kết cấu hạ tầng hiện
có thông qua các quan hệ đối tác với những nhà cung cấp dịch vụ công nghệkhác nhau để cùng tạo điều kiện thuận lợi nhằm đưa công nghệ đến được vớiDNNVV, nhận dạng các nhu cầu của họ và giúp họ thực hiện các chươngtrình nâng cấp công nghệ
Xinh-ga-po đã tạo dựng được một khung khổ tin cậy và hiệu quả về sởhữu trí tuệ (SHTT), hỗ trợ tăng cường bộ máy pháp lý về SHTT và các cơ chếthực thi, thúc đẩy nhận thức và phát triển năng lực SHTT, tăng cường uy tínquốc tế Thành công của Xinh-ga-po trong các nỗ lực này được phản ánh ở vịtrí xếp hạng quốc tế của Xinh-ga-po được nâng lên trong lĩnh vực bảo hộ sởhữu trí tuệ và quyền tác giả (Bảng 1.9)
Bảng 1.9: Xếp hạng quốc tế của Xinhgapo trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Nguồn: [59], www.hasmea.org
Báo cáo của Cơ quan tư vấn rủi ro kinh tế chính trị năm 2004 đã xếpXinh-ga-po ở vị trí đầu bảng trong số 12 nước châu Á về công tác bảo hộquyền sở hữu trí tuệ Xinh-ga-po triển khai nhiều chính sách liên quan đến sởhữu trí tuệ, thành lập Quỹ Thương mại hoá công nghệ, giúp giảm bớt rủi rocho các công ty khi phát triển các công nghệ mới Các công ty có thể bán giấyphép sử dụng các công nghệ này và đưa các sản phẩm ra thị trường nhanhchóng hơn