1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tieu luan lớp bồi DƯỠNG CHỨC DANH BIÊN tập VIÊN NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN lý NHÀ nước

27 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 155 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiThực tiễn đã chứng minh, đến nay, báo chí nước ta đã có sự trưởng thành và phát triển mạnh mẽ không chỉ ở số lượng, chất lượng. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến hết năm 2014, cả nước có: 845 cơ quan báo chí, 67 đài phát thanh truyền hình; 98 cơ quan báo chí điện tử. Đội ngũ những người làm báo tăng nhanh, từ 25.000 người năm 2005 tăng lên gần 40.000 người năm 2014Sự phát triển của báo chí đã mở ra khả năng to lớn cho việc đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng. Mặt khác, sự phát triển này đã đẩy các cơ quan báo chí phải đối đầu nhau trong cuộc cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt, quyết liệt. Trong cuộc cạnh tranh này, đã có không ít nhà báo, cơ quan báo chí chạy theo lợi ích kinh tế mà buông xuôi chức năng tư tưởng, văn hóa, xa rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, xa rời tôn chỉ, mục đích tờ báo, không tuân thủ qui trình tác nghiệp, phớt lờ qui định đạo đức nghề nghiệp, cho ra mắt công chúng những tác phẩm báo chí thiếu kiểm chứng, thậm chí bịa đặt, chạy theo xu hướng giật gân, câu khách, tập trung quá nhiều vào tiêu cực và tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến thị hiếu và trình độ văn hóa, thẩm mỹ của công chúng. Trong bối cảnh trên làm thế nào để các cơ quan báo chí và những người làm báo, nâng cao được ý thức trách nhiệm trong việc đưa đến công chúng những tác phẩm báo chí thật sự đạt chất lượng, mang tính nhân văn, có ích cho cộng đồng, quốc gia, dân tộc? Đó cũng chính là nỗi trăn trở không chỉ của những người làm báo chân chính và cũng là trăn trở của các cơ quan được giao nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý báo chí Nói một cách khác, thực tiễn đã và đang đặt ra nhu cầu cần phải có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí, giúp cho lĩnh vực này phát triển lành mạnh, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của công chúng. Đây cũng là lý do tác giả đã quyết định chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với báo chí” cho của mình.

Trang 1

LỚP BỒI DƯỠNG CHỨC DANH BIÊN TẬP VIÊN

PHÓNG VIÊN

TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI BÁO CHÍ

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn đã chứng minh, đến nay, báo chí nước ta đã có sự trưởngthành và phát triển mạnh mẽ không chỉ ở số lượng, chất lượng Theo thống kêcủa Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến hết năm 2014, cả nước có: 845 cơquan báo chí, 67 đài phát thanh - truyền hình; 98 cơ quan báo chí điện tử Độingũ những người làm báo tăng nhanh, từ 25.000 người năm 2005 tăng lên gần40.000 người năm 2014

Sự phát triển của báo chí đã mở ra khả năng to lớn cho việc đáp ứngnhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng Mặt khác, sự phát triển này

đã đẩy các cơ quan báo chí phải đối đầu nhau trong cuộc cạnh tranh thông tinngày càng gay gắt, quyết liệt Trong cuộc cạnh tranh này, đã có không ít nhàbáo, cơ quan báo chí chạy theo lợi ích kinh tế mà buông xuôi chức năng tưtưởng, văn hóa, xa rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, xa rờitôn chỉ, mục đích tờ báo, không tuân thủ qui trình tác nghiệp, phớt lờ qui địnhđạo đức nghề nghiệp, cho ra mắt công chúng những tác phẩm báo chí thiếukiểm chứng, thậm chí bịa đặt, chạy theo xu hướng giật gân, câu khách, tậptrung quá nhiều vào tiêu cực và tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến thị hiếu và trình

độ văn hóa, thẩm mỹ của công chúng

Trong bối cảnh trên làm thế nào để các cơ quan báo chí và nhữngngười làm báo, nâng cao được ý thức trách nhiệm trong việc đưa đến côngchúng những tác phẩm báo chí thật sự đạt chất lượng, mang tính nhân văn, cóích cho cộng đồng, quốc gia, dân tộc? Đó cũng chính là nỗi trăn trở không chỉcủa những người làm báo chân chính và cũng là trăn trở của các cơ quan đượcgiao nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý báo chí

Nói một cách khác, thực tiễn đã và đang đặt ra nhu cầu cần phải cónhững giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnhvực báo chí, giúp cho lĩnh vực này phát triển lành mạnh, đáp ứng ngày một

Trang 3

tốt hơn nhu cầu của công chúng Đây cũng là lý do tác giả đã quyết định chọn

đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với báo chí” cho của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế, chỉ ra những mặt bấtcập từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhànước đối với báo chí

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, sẽ tập trung những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề quản lý báo chí

- Khảo sát đánh giá những mặt tồn tại trọng công tác quản lý nhà nước

về báo chí hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

về báo chí trong thời gian tới

3 Đối tượng nghiên cứu

tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước về báo chíhiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Tiểu luận dựa trên cơ sở nhận thức luận về tư tưởng Hồ Chí Minh đốivới báo chí; lý luận về báo chí; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam và qui định pháp luật của Nhà nước về báo chí

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, khảo sát, phân tích,tổng hợp, từ đó rút ra những kết luận khoa học, đề xuất giải pháp nâng caohiệu quả quản lý nhà nước về báo chí hiện nay

5 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

5.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nhận diện rõ hơn từ thựctrạng quản lý nhà nước về báo chí hiện nay

Trang 4

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Tiểu luận có giá trị tham khảo về mặt thực tiễn quản lý nhà nước vềbáo chí hiện nay, từ đó giúp ích cho việc kiện toàn hoạt động quản lý nhànước về lĩnh vực này, giúp cho báo chí phát triển lành mạnh chuyên nghiệp

và hiện đại

6 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa tiểu luận gồm 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nước đối với

bao chí

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà

nước về báo chí

Trang 5

Chương1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁO CHÍ

1.1 Quản lý Nhà nước đối với báo chí

1.1.1 Khái niệm quản lý Nhà nước đối với báo chí

Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống

xã hội, là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổchức xã hội, là diễn đàn của nhân dân lao động Báo chí không chỉ làm nhiệm

vụ thông tin mà còn thực hiện công tác tuyên truyền làm cho các hoạt động xãhội phát triển theo định hướng của nhà cầm quyền và bình ổn xã hội Như vậybáo chí cũng là hình thức hoạt động cần sự quản lý của Nhà nước

Nói đến quản lý Nhà nước đối với báo chí là nói đến những hoạt độngcủa bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí được ổn định vàphù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội Với vai trò là thiết chế trungtâm trong hệ thống chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo chocông dân được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền về tự

do ngôn luận, tự do báo chí Nhà nuớc có trách nhiệm điều tiết để đảm bảobáo chí phát triển, đáp ứng các nhu cầu về thông tin của nhân dân, đóng gópvào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đấu tranh chống các thếlực thù địch lợi dụng chính sách tự do ngôn luận, tự do báo chí để đưa ra cácluận điệu sai trái, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” gây mất an ninhchính trị và trật tự trong nước

Hay nói cách khác, “Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí cũng nhưbất kỳ một dạng quản lý xã hội nào khác, là dạng quản lý công vụ quốc giacủa bộ máy Nhà nước - là công việc của bộ máy hành pháp Nó là sự tác động

có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật, trên cơ sở quyền lực Nhà nướcđối với các quá trình xã hội và hoạt động báo chí do các cơ quan có thẩm

Trang 6

quyền trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thựchiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội,thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của công dân”

1.1.2 Các nguyên tắcquản lý nhà nước đối với báo chí

Các hoạt động của báo chí xét trên hình diện chung có ảnh hưởng rấtlớn đến đời sống xã hội Vì vậy, muốn đảm bảo được các hoạt động này đivào khuôn khổ đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật, chúng ta cần có nhữngnguyên tắc quản lý phù hợp Sau đây là những nguyên tắc cơ bản trong quản

lý Nhà nước đối với báo chí

1.1.2.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân

Tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí là mộtnguyên tắc hiến định

Điều 2, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 quy định: “Nhà nướctạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự

do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình” VàĐiều 4 luật này cụ thể hóa như các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận nhưsau: “Được thông tin qua báo chí về mọi mặt của tình hình đất nước và thếgiới; tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin, bài,ảnh và tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức,

cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin; phátbiểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng vàthực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối vớicác tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên củacác tổ chức đó”

Để đảm bảo nguyên tắc này, Nhà nước cần phải luôn tạo ra những cơchế pháp lý phù hợp với các loại hình hoạt động báo chí nhằm phục vụ tốtnhất nhu cầu của đông đảo quần chúng nhân dân Bên cạnh đó, Nhà nước

Trang 7

cũng cần đề ra một phương thức hướng các hoạt động báo chí tuân thủ phápluật, nhằm tạo điều kiện tốt để các cơ quan chức năng Nhà nước thuận lợi hơntrong việc quản lý.

1.1.2.2 Nguyên tắc đảm bảo quyền thụ hưởng thành quả hoạt động

báo chí một cách bình đẳng của tất cả công dân

Bằng hoạt động của mình, báo chí đã góp phần đáng kể vào việc ổnđịnh chính trị, phát triển kinh tế và định hướng dư luận xã hội một cách tíchcực Ở nước ta, pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với báo chí là công cụkhá quan trọng nhằm bảo tồn, phát triển nền văn hóa dân tộc hiện đại, nhânvăn; tiếp thu tinh hoa văn hóa và tiến bộ về khoa học, công nghệ của nhânloại, đảm bảo cho quá trình hội nhập môi trường thông tin, báo chí toàn cầuđược nhanh chóng và thành công Với điều kiện đó, hoạt động báo chí ngàynay có những tiến bộ rõ rệt và đáp ứng khá tốt nhu cầu thông tin của mọingười dân quan tâm Tất cả thành quả này của báo chí cần được phổ cập đếntoàn thể các đối tượng thụ hưởng khác nhau trong xã hội Đây được xem nhưmột nguyên tắc biểu hiện tính nhân văn sâu sắc với mục tiêu nâng cao chấtlượng dân trí Để cụ thể hóa nguyên tắc này, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sungnăm 1999 đã quy định: “Nhà nước có chính sách hỗ trợ ngân sách, tạo điềukiện cho xuất bản, phát hành báo chí đến với nhân dân các vùng có điều kiệnkinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khókhăn, đến với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”

1.1.2.3 Kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng việc tôn trọng tự do báo chí, tự do ngôn luận làm trái pháp luật

Từ khi ra đời cho đến ngày nay, báo chí luôn có những ảnh hưởng nhấtđịnh đến tình hình an ninh chính trị của một quốc gia và cả quốc tế bởi tínhquần chúng của nó Nhất là ngày nay, vấn đề tôn trọng quyền tự do báo chí, tự

do ngôn luận trên báo chí luôn được đặt ra và xem như quyền cơ bản của conngười mà các thể chế chính trị và hình thức nhà nước buộc phải tôn trọng Ýthức được vấn đề này, các thế lực thù địch và ngoại bang luôn tìm cách lợi

Trang 8

dụng báo chí và các diễn đàn nhân dân làm cơ sở cho việc chống phá Nhànước ta, chống phá công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, chống phá sựnghiệp đại đoàn kết nhân dân Đây là những hành vi vô cùng nguy hiểm làmthiệt hại đến lợi ích cả một quốc gia dân tộc Cho nên, Nhà nước ta luôn luôn

đề ra kim chỉ nam cho hoạt động của mình trước tình hình lợi dụng đó là kiênquyết đấu tranh và đấu tranh đến cùng để chống lại các hành vi đầy mưu đồnày Vì vậy, trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp 1992, Luật Báo chí sửa đổi, bổsung năm 1999 một mặt khẳng định sự tôn trọng quyền tự do báo chí củacông dân, mặt khác đã tạo ra hành lang pháp lý ngăn chặn triệt để những âmmưu này khi quy định: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ phápluật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế,cản trở báo chí, nhà báo hoạt động Không ai được lạm dụng quyền tự do báochí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước,tập thể và công dân” Đây được xem như quan điểm chung nhất nhằm nghiêmcấm việc lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí để pháhoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước, kích động bạo lực và tuyêntruyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước;chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc; gây rối trật tự công cộng, xâm phạm đếntính mạng, sức khỏe, danh dự, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ côngdân, hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.Mọi hành vi vi phạm đều được xử lý theo đúng quy định của pháp luật

1.1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý Nhà nước đối với báo chí

Cách mạng Tháng 8 thành công, Đảng và Nhà nước ta đã chăm lo xâydựng hệ thống văn bản pháp lý tạo cơ sở cho việc quản lý Nhà nước đối vớibáo chí Ngày 10-10-1945, Hồ Chủ tịch đã ra sắc lệnh về việc duy trì tạm thờicác luật lệ hiện hành, nhưng nêu rõ: “Những điều khoản trong các luật cũđược tạm thời giữ lại do sắc lệnh này, chỉ thi hành khi nào không trái vớinguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính phủ dân chủ cộng hòa”

Trang 9

Và cũng từ thời điểm này, vấn đề hoạt động báo chí, ngôn luận rất đượcNhà nước ta quan tâm Vì vậy, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà được thành lập, Hiến pháp đầu tiên 1946 ra đời đã ghi nhận quyền tự dobáo chí, tự do ngôn luận của công dân Đến Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980,Hiến pháp 1992 đều quy định về tự do báo chí, ngôn luận; không ai được xâmphạm đến quyền này của nhân dân và cũng nghiêm cấm việc lợi dụng quyền

tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân

Tính đến nay đã có gần 50 văn bản được Nhà nước ta ban hành liênquan đến báo chí như: Sắc lệnh 41 ngày 29-3-1946 về chế độ kiểm duyệt báochí; Sắc lệnh số 282 ngày 14-12-1956 về chế độ báo chí, Luật số 100/SL-L-

002 ngày 20-5-1957 quy định chế độ báo chí (Luật Báo chí 1957); Nghị định

số 197/TTg ngày 9-7-1957 quy định chế độ và quyền lợi của người làm báochuyên nghiệp và Nghị định số 298/TTg ngày 9-7-1957 quy định chi tiết thihành Luật Báo chí năm 1957; Nghi định số 133/HĐBT ngày 20-4-1992 củaHội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí về các mặt; Chỉthị 63/CT-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí-xuất bản; Nghị định số 384/HĐBT về tăng cường công tác quản lý báo chí-xuất bản; Thông tư số 131/TT-VP ngày 20-11-1990 của Bộ Văn hóa - Thôngtin hướng dẫn thi hành Nghị định 384/HĐBT và có điều chỉnh một số tiêuchuẩn nghiệp vụ của chức danh viên chức báo chí, Bộ luật Hình sự 1999, Bộluật Dân sự 1995… Mặc dù các văn bản này không đồng bộ và mang tính phổquát, thể hiện các quan điểm khác nhau của Nhà nước ta đối với báo chí trongtừng giai đoạn lịch sử khác nhau nhưng phần nào đã đặt ra một cơ sở pháp lý

để các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lýNhà nước đối với báo chí của mình

Ngày 28-12-1989, Quốc hội thông qua Luật Báo chí và ngày 2-1-1990,Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Luật Báo chí nước Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thay thế Luật Báo chí năm 1957 Đến ngày

Trang 10

12-6-1999, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật Báo chí và có hiệu lực đến ngày nay.

Luật Báo chí năm 1990 vừa kế thừa những nguyên tắc đúng đắn củaLuật Báo chí năm 1957, vừa bổ sung và hoàn thiện một bước luật pháp củaNhà nước ta về báo chí Luật Báo chí năm 1990 cũng phản ánh những thayđổi to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của nước ta trong sự nghiệp đổi mới

do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo

Song song đó, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 51/2002/NĐ-CPngày 26-4-2002 quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí; Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật Báo chí Trong nghị định này, đã đi sâu vào quy địnhmột số điểm mới của Luật Báo chí hiện hành

Nhìn chung, hai văn bản pháp luật hiện hành này đã khắc phục đượcmột số nhược điểm của các văn bản trước, định hình cho chức năng quản lýbáo chí bằng các cơ sở pháp lý rất cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ

1.1.4 Cơ quan quản lý Nhà nước đối với báo chí

Ở Việt Nam, việc xác định cơ quan quản lý Nhà nước đối với báo chímang tính lịch sử, bởi lẽ từ khi ra đời, nước ta đã 4 lần ban hành Hiến pháp:gồm Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 Mỗikhi Hiến pháp mới ra đời, cơ cấu tổ chức, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mỗi

cơ quan Nhà nước sẽ có những thay đổi cơ bản Chính vì vậy mà qua mỗi thời

kỳ, cơ quan quản lý Nhà nước đối với báo chí cũng có sự thay đổi cả về têngọi lẫn phạm vi thẩm quyền quản lý Ở đây chúng ta không thể đi ngược lạilịch sử để đi tìm hiểu cơ quan quản lý Nhà nước đối với báo chí qua từng thời

kỳ khác nhau mà chỉ tìm hiểu cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước đốivới báo chí từ Hiến pháp 1992 và Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999đến hiện nay

Theo quy định của Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung 1999, các cơ quan quản

lý Nhà nước về báo chí ở Trung ương và địa phương được quy định như sau:

1- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí

Trang 11

2- Bộ Văn hoá - Thông tin ( Nay là Bộ Thông tin và Truyền thông)chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí.

3- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vinhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước vềbáo chí theo quy định của Chính phủ

Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ,

cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin đểthực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về báo chí

4- Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiệnquản lý Nhà nước về báo chí trong phạm vi địa phương theo sự phân cấp củaChính phủ"

Như vậy ở Trung ương, cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước đốivới báo chí là Chính phủ và Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Thông tin vàTruyền thông) Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước đối với báo chí trênphạm vi cả nước bằng việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến báochí Với cương vị là người người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

sẽ thực hiện một số nhiệm vụ quản lý của mình liên quan đến báo chí trên cơ

sở đệ trình của Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyềnthông) để kịp thời giải quyết các vấn đề cấp bách quan trọng vượt quá thẩmquyền của Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông)

Riêng đối với báo chí, Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Thông tin vàTruyền thông) có các trách nhiệm và quyền hạn:

+ Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch mạng lưới báo chítrong cả nước, văn phòng đại diện cơ quan thường trú ở nước ngoài của các

cơ quan báo chí Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

+ Quản lý các loại hình báo chí trong cả nước bao gồm báo in, báo nói,báo hình, báo điện tử, thông tấn và thông tin trên mạng;

+ Chủ trì giao ban báo chí, quản lý thông tin của báo chí theo quy địnhcủa pháp luật về báo chí;

Trang 12

+ Thực hiện chế độ phát ngôn cung cấp thông tin cho báo chí theo phâncấp và ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ;

+ Ban hành quy chế tổ chức hội thi về báo chí;

+ Quy định về báo lưu chiểu, quản lý kho lưu chiểu báo chí quốc gia;+ Cấp, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động báochí; giấy phép xuất bản đặc san, số phụ, phụ trương, chương trình đặc biệt,chương trình phụ; thẻ nhà báo; cấp phép cho báo chí xuất bản ở nước ngoàiphát hành tại Việt Nam;

+ Quy định về việc hoạt động của báo chí và nhà báo trong cả nước,phối hợp với các cơ quan có liên quan quản lý hoạt động của báo chí ViệtNam liên quan đến nước ngoài và hoạt động báo chí của người nước ngoài, tổchức nước ngoài tại Việt Nam;

+ Thỏa thuận về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng Biên tập, Phó TổngBiên tập, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc các

cơ quan báo chí;

+ Quy định tiêu chuẩn, chuyên môn, nghiệp vụ người đứng đầu cơquan báo chí

Ở địa phương, trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với báo chí thuộc về

Uỷ ban Nhân dân các cấp tỉnh theo sự phân cấp của Chính phủ Đây là các cơquan Nhà nước có sự can thiệp một cách trực tiếp, sâu sắc nhất đối với việcquản lý Nhà nước đối với báo chí thông qua các Sở Thông tin - Truyền thông

và các bộ phận trực thuộc

1.1.5 Ý nghĩa của việc quản lý Nhà nước đối với báo chí

Báo chí với tư cách là công cụ quan trọng về công tác tư tưởng, chínhtrị của Đảng, với sự đa dạng của các loại hình báo chí và những lợi thế riêng

có, báo chí hoàn toàn có khả năng đóng góp rất tích cực, có hiệu quả vào sựnghiệp giữ vững và tăng cường sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước.Trong những năm qua, hoạt động của báo chí nước ta đã và đóng góp rất lớncho sự phát triển và hội nhập thế giới trên mọi lĩnh vực Song song đó vẫn

Trang 13

còn tồn đọng nhiều vấn đề phát sinh cần sự điều chỉnh sâu sắc của các cơquan chuyên trách

Quản lý Nhà nước đối với báo chí là một chức năng thật sự cần thiếtcủa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Nó đáp ứng nguyện vọng của đông đảoquần chúng nhân dân trong xã hội Bới lẽ vấn đề tự do báo chí và tự do ngônluận trên báo chí là một nhu cầu có thực của xã hội, nó đánh giá tiêu chuẩnphát triển về các quyền tự nhiên mang tính nhân bản trong toàn xã hội Nhucầu về tự do báo chí, ngôn luận sẽ vẫn còn tiếp tục tiếp diễn và có ảnh hưởngrất lớn đến tình hình trị an, trật tự xã hội của đất nước Bên cạnh dó, trên bìnhdiện quốc tế, các thông tin mà báo chí cung cấp cũng như các hoạt động liênquan đến báo chí cũng có những ảnh hưởng nhất định đến vấn đề an ninhchính trị của toàn cầu

Với thực trạng như thế, quản lý Nhà nước đối với báo chí sẽ có các ýnghĩa to lớn khi vừa đảm bảo được trật tự an ninh, an toàn xã hội vừa đảmđảm bảo tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của côngdân Ngoài ra trước tình hình xuyên tạc của các thế lực thù địch, quản lý Nhànước đối với báo chí sẽ làm cho báo chí hoạt động và phát triển theo đúng chủtrương của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đấu tranh tích cực, làm thất bạicác âm mưu sử dụng diễn đàn của nhân dân cho chiến lược diễn biến hòa bìnhtrên phương diện thông tin đại chúng và văn hóa xã hội

Ngày đăng: 12/10/2020, 00:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w