MỞ ĐẦU Công tác tổ chức và cán bộ là một trong những nhân tố quyết định dẫn đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam. Từ lý luận đến thực tiễn đều cho thấy, sau khi có đường lối chính trị đúng đắn, vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất đối với việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, chính là công tác cán bộ. Đảng ta đã tổng kết và rút ra kết luận: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước theo hướng chuyên nghiệp hoá luôn là một yêu cầu cấp thiết đối với nền hành chính của mọi quốc gia, đặc biệt đối với nền hành chính Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong những năm gần đây, tình trạng một số cán bộ, công chức xin thôi việc, trong đó có nhiều công chức giỏi, có chuyên môn cao và giữ cương vị lãnh đạo, quản lý. Câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao cán bộ, công chức lại xin thôi việc một cách không bình thường như vậy? Giải pháp nào để kiểm soát được tình trạng này và làm sao để thu hút được người tài, người có tâm huyết vào các cơ quan nhà nước? Trả lời cho những câu hỏi này đòi hỏi cần phải có công trình nghiên cứu khoa học một cách công phu, toàn diện, có hệ thống. Để có thể góp phần vào quá trình nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra những giải pháp khả thi nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của đất nước đáp ứng yêu cầu hiện nay, đặc biệt là việc nghiên cứu lý giải những vấn đề liên quan về mặt lý luận và thực tiễn trước hiện tượng cán bộ công chức xin thôi việc, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu vấn đề: Vấn đề cán bộ, công chức xin thôi việc ở nước ta hiện nay, Phương hướng và giải pháp .
Trang 1MỞ ĐẦU
Công tác tổ chức và cán bộ là một trong những nhân tố quyết định dẫn đếnthắng lợi của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam Từ lý luận đến thực tiễn đều chothấy, sau khi có đường lối chính trị đúng đắn, vấn đề có ý nghĩa quyết định nhấtđối với việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, chính là công tác cán bộ.Đảng ta đã tổng kết và rút ra kết luận: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bạicủa cách mạng; công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng
Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước theo hướng chuyênnghiệp hoá luôn là một yêu cầu cấp thiết đối với nền hành chính của mọi quốc gia,đặc biệt đối với nền hành chính Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trong những năm gần đây, tình trạng một số cán bộ, công chức xin thôiviệc, trong đó có nhiều công chức giỏi, có chuyên môn cao và giữ cương vị lãnhđạo, quản lý Câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao cán bộ, công chức lại xin thôi việc mộtcách không bình thường như vậy? Giải pháp nào để kiểm soát được tình trạng này
và làm sao để thu hút được người tài, người có tâm huyết vào các cơ quan nhànước? Trả lời cho những câu hỏi này đòi hỏi cần phải có công trình nghiên cứukhoa học một cách công phu, toàn diện, có hệ thống
Để có thể góp phần vào quá trình nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra những giảipháp khả thi nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của đất nướcđáp ứng yêu cầu hiện nay, đặc biệt là việc nghiên cứu lý giải những vấn đề liênquan về mặt lý luận và thực tiễn trước hiện tượng cán bộ công chức xin thôi việc,
cần thiết phải tiến hành nghiên cứu vấn đề: " Vấn đề cán bộ, công chức xin thôi việc
ở nước ta hiện nay, Phương hướng và giải pháp "
Trang 2CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM CỦA CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức là những người lao động, làm việc trong các cơ quan, tổchức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội Đây là loại lao động đặc biệt,gắn với hoạt động quản lý mọi mặt của đời sống xã hội và phục vụ nhân dân Dạnglao động này đòi hỏi tính chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm cao Sảnphẩm lao động là hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước, xây dựng một xã hội
ổn định, phát triển trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và cung ứng cácnhu cầu cơ bản thiết yếu cho người dân
1.1.1.1 Cán bộ
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh(sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhànước Đặc biệt, Luật cán bộ, công chức cũng xác lập cụ thể cán bộ công tác tại cấp
cơ sở, tại khoản 3 Điều 4: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấpxã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thườngtrực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, ngườiđứng đầu tổ chức chính trị - xã hội
1.1.1.2 Công chức
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
Trang 3chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vịthuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chínhtrị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo,quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương củađơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LÀM CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.2.1 Kỷ luật lao động và các quy định của cơ quan nhà nước các cấp
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong giai đoạn đổi mới đất nước, Nhà nướcViệt Nam đã không ngừng hoàn thiện và thực thi ngày càng có hiệu quả các chínhsách, pháp luật liên quan đến đội ngũ cán bộ, công chức Chính điều này có ảnhhưởng rất quan trọng đến nghề/việc làm của cán bộ, cộng chức
Các chính sách văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam liên quan đến xâydựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức là khá hoàn thiện, thoả đáng so vớiyêu cầu của thực tiễn Do vậy, về cơ bản có ảnh hưởng tích cực đến việc làm củacán bộ, công chức Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng hệ thống chính sách, pháp luậtnày còn chậm đi vào cuộc sống, có độ vênh tương đối lớn so với thực tiễn, chưahội nhập được nhiều so với thế giới, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng nhiều cán bộ, công chức làm việc chưa có hiệu quả cao, một số cán bộ, côngchức khác không yên tâm, xin thôi việc, gây không ít quan ngại cho xã hội và sựlúng túng của không ít cơ quan chức năng?
Trang 41.2.2 Tiền lương và thu nhập trong nền kinh tế thị trường
Vấn đề việc làm nói chung và việc làm của đội ngũ cán bộ, công chức nóiriêng chịu sự ảnh hưởng bởi vấn đề tiền lương và thu nhập trong nền kinh tế thịtrường Khi điều kiện tiền lương và thu nhập không được thoả mãn, tất yếu nó sẽảnh hưởng tiêu cực đến việc làm của cán bộ, công chức, trong đó có hiện tượng xinthôi việc của một bộ phận cán bộ, công chức Điều này có thể được lý giải thôngqua tác động của hai quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường là:
1.2.2.1 Quy luật cung - cầu
Quy luật cung - cầu là một nội dung cơ bản của khoa học kinh tế Hiệntượng cán bộ, công chức xin thôi việc ở Việt Nam hiện nay là hiện tượng mangtính quy luật cung - cầu Khi xác định nghề cán bộ, công chức như là một nghềtrong xã hội và bản thân lao động của cán bộ, công chức cũng là một loại lao động
có tính chất hàng hoá trên thị trường (có thể được xác định là một loại hàng hoáđặc biệt) Như vậy, khi có những nghề mới, môi trường làm việc mới hấp dẫn, phùhợp với nhu cầu và khả năng của lao động cán bộ, công chức, tất yếu họ sẽ dịchchuyển Vấn đề còn lại là vai trò của Nhà nước phải thực thi chính sách làm saocho nghề/việc làm của cán bộ, công chức luôn là một trong những nghề được bảođảm tốt trong xã hội để mỗi cán bộ, công chức có thể lao động, cống hiến và gắn
bó suốt đời Muốn vậy trước hết phải trả lương và tạo ra các thu nhập chính đángphù hợp với tình hình đất nước và các quy luật của nền kinh tế thị trường
1.2.2.2 Quy luật cạnh tranh
Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường Nó được biểu hiện cụ thểbởi tính ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, sự tác động lẫn nhau củanhiều tư bản, chi phối hành động của từng người sản xuất Khi thực hiện nền kinh
tế thị trường, sức lao động là một loại hàng hoá và lao động của cán bộ, công chức
Trang 5là loại lao động có tính hàng hoá chất lượng cao, đặc biệt Việc xin thôi việc củamột bộ phận cán bộ, công chức trong thời gian vừa qua chính là sự tác động củakinh tế thị trường, mà cụ thể là quy luật cạnh tranh về sức lao động có chất lượngcao giữa khu vực nhà nước và khu vực phi nhà nước Với tinh thần đó, chúng takhông thể ngăn cản tình trạng cán bộ, công chức xin thôi việc thông qua các mệnhlệnh hành chính, hay sự kêu gọi có tính chất đạo đức và lý tưởng Chúng ta chỉ cóthể giữ cán bộ, công chức - những người có tài đức, hết lòng phụng sự nền hànhchính của đất nước thông qua các chính sách có tính đến ảnh hưởng của quy luậtcạnh tranh của nền kinh tế thị trường, tức là phải thực sự nhìn nhận sức lao độngcủa họ là một loại hàng hoá bị chi phối bởi quy luật thị trường Người làm việc tốtđược lương cao, xứng đáng, còn đối với người làm không tốt phải chịu lương thấp
và bị đào thải Chúng ta cần thừa nhận sự cạnh tranh về sức lao động, người laođộng có quyền đòi hỏi sự trả công lao động xứng đáng do họ bỏ ra là một yếu tốthúc đẩy cá nhân, toàn xã hội nỗ lực làm việc, không ngừng tự đào tạo nâng caochất lượng lao động của mình
Từ thực tế một bộ phận cán bộ, công chức thôi việc cho thấy sự cạnh tranhthu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đang đặt ra cho các nhà quản lý nguồn nhânlực trong khu vực nhà nước gặp nhiều thử thách khó khăn Như vậy, trong tiếntrình thực hiện kinh tế thị trường và hội nhập ngày càng sâu rộng, nền hành chínhcủa Việt Nam cần thường xuyên rà soát, điều chỉnh linh hoạt tổ chức, hoạt độngcủa mình nhằm thực hiện có hiệu quả chiến lược kinh tế - xã hội trong từng giai
đoạn phát triển
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XIN THÔI VIỆC CỦA CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trang 62.1.1 Về quy mô và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức
Theo quy định của Luật cán bộ, công chức 2008, cán bộ, công chức từ cấphuyện trở lên được quy định thành mục riêng so với và cán bộ công chức cấp cơ
sở Thực trạng hai nhóm cán bộ này:
* Đội ngũ cán bộ cấp huyện/quận/thị xã, tỉnh/ thành, trung ương
Số lượng đội ngũ cán bộ, công chức đang chiếm khoảng 2% dân số, cứkhoảng hơn 40 người dân thì có một công chức hoặc cán bộ quản lý, phục vụ Sovới thế giới, tỷ lệ này thật đáng để suy nghĩ, trong khi hiện nay con số này lại có xuhướng gia tăng cho dù chúng ta đã cố gắng rút gọn nhiều đầu mối
Về bằng cấp đạt được, nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức từ cấp huyệntrở lên được đào tạo khá bài bản và với tỷ lệ phần lớn là có trình độ chuyên mônđào tạo cao Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu độc lập thì giữa bằng cấp đạt được
và thực tế kiến thức, kỹ năng làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang có mộtkhoảng cách tương đối lớn
Cơ cấu về trình độ lý luận chính trị và quản lý hành chính: còn một tỷ lệ khálớn cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên chưa qua đào tạo về lý luận chính trịhoặc quản lý hành chính Tuy nhiên, nếu liên hệ với cơ cấu trình độ chuyên mônđào tạo của cán bộ, công chức rõ ràng việc tăng tỷ lệ cán bộ, công chức được trang
bị trình độ về lý luận chính trị và quản lý hành chính cũng chưa thể chắc chắn sẽlàm cho cán bộ, công chức đạt sự chuyên nghiệp hoá
Cơ cấu về trình độ ngoại ngữ và tin học: Phần lớn cán bộ, công chức mớichỉ đạt trình độ B về cả tin học và ngoại ngữ(cho dù chỉ là hình thức trên văn bằnggiây tờ, thực tế khả năng sử dụng của cán bộ, công chức sẽ có khoảng cách thấphơn) Thực tế cho thấy trong quá trình cải cách hành chính và hội nhập quốc tế vấn
Trang 7đề sử dụng tin học và ngoại ngữ của cán bộ, công chức Việt Nam đang có sự bấtcập rất rõ ràng.
Cơ cấu cán bộ, công chức theo chuyên môn: Thực tế này cho thấy không có
sự khác nhau nhiều lắm giữa về cơ cấu chuyên môn, ngạch trong đội ngũ cán bộ,công chức giữa khối trung ương và khối địa địa phương Tuy vậy, lợi ích vật chất
và tinh thần giữa ngạch công chức và khối công tác của cán bộ, công chức đang cókhoảng cách với sự bất cập rất lớn Chẳng hạn, một số nghiên cứu cho thấy, tâm lýcán bộ công chức không muốn công tác ở trong bộ máy của Đảng, đoàn thể hoặccác khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn
Cơ cấu lãnh đạo, độ tuổi và đảng viên: mặc dù chủ trương là trẻ hoá cán bộ,nhưng thực tế tỷ lệ cán bộ, công chức ở ngưỡng về hưu vẫn đang chiếm tỷ lệ lớn.Đặc biệt, cơ cấu lãnh đạo là đảng viên gần như chiếm tỷ lệ tuyệt đối, chính điềunày sẽ dẫn đến tình trạng tiêu chí đảng viên là tiêu chí bao chùm, và có có thể làquyết định nhất trong vấn đề quy hoạch đề bạt lãnh đạo Như vậy, sẽ rất khó thuhút được nhân tài, người có tâm huyết vào làm việc trong bộ máy hành chính củanhà nước
* Đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn(cấp cơ sở)
Có thể sơ lược về thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ở ViệtNam theo mô tả của một số cơ cấu xã hội như sau:
Cơ cấu về trình độ học vấn của cán bộ, công chức cấp cơ sở: so với cán bộ,công chức cấp huyện trở lên đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ở nước ta đang
có trình độ học vấn thấp khá nhiều Đây chính là một trở ngại lớn trong việc cảicách hành chính cấp cơ sở của Việt Nam hiện nay
Cơ cấu về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tin học của cán bộ, công chứccấp cơ sở: Còn nhiều cán bộ, công chức cấp cơ sở chưa được đào tạo về chuyên
Trang 8môn, đặc biệt ở các khu vực miền núi, vùng sâu xa, tỷ lệ cán bộ công chức đượcđào tạo về trình độ chuyên môn còn rất thấp.
Cơ cấu về trình độ lý luận chính trị; quản lý hành chính và an ninh quốcphòng của cán bộ, công chức cấp cơ sở: Nếu so với đội ngũ cán bộ, công chức cấphuyện trở lên thì đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở được đào tạo về trình độ lýluận chính trị, quản lý hành chính, an ninh quốc phòng còn rất thấp, trong khi đónhiều nghiên cứu cho thấy cấp cơ sở là cấp mà cán bộ, công chức phải xử lý trựctiếp cùng lúc nhiều loại công việc khác nhau
Cơ cấu độ tuổi của cán bộ, công chức cấp cơ sở: công chức cấp cơ sở đang
có xu hướng được trẻ hoá so với cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử Tuynhiên, xu hướng chung cho thấy cán bộ, công chức cấp cơ sở đang tập trung ởnhóm có độ tuổi: trên dưới “ngưỡng về hưu Nếu so sánh với cấp huyện trở lên, độingũ cán bộ công chức cấp cơ sở đang có xu hướng già hoá nhiều hơn
Cơ cấu đảng viên và chưa đảng viên của cán bộ, công chức cấp cơ sở: Sovới cấp huyện/tỉnh và trung ương tỷ lệ cán bộ là đảng viên ở cấp cơ sở có giảm đôichút, tuy nhiên nhìn về cơ cấu này chúng ta vẫn có cảm nhận là chúng ta vẫn chưathực sự coi trọng việc đưa người ngoài Đảng, nhưng có đủ đức tài vào làm việctrong bộ máy hành chính của đất nước
Cơ cấu về thâm niên; thời gian công tác và nguồn cán bộ, công chức cấp cơsở: Số cán bộ có thâm niên công tác giữ chức vụ hiện tại chủ yếu đội ngũ cán bộ,công chức cấp cơ sở có thâm niên công tác dưới 10 năm là chủ yếu, điều này chothấy sự thiếu ổn định trong việc sử dụng cán bộ, công chức ở cấp cơ sở Đội ngũcán bộ, công chức cấp cơ sở đang bị lệ thuộc quá nhiều vào chế độ dân bầu vànguồn bổ sung từ cán bộ về hưu, mất sức
Trang 9Từ sự phân tích một số cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức ở 4 cấpcủa Việt Nam cho thấy đã có nhiều chuyển biến tích cực trên các phương diện sốlượng và chất lượng so với những năm trước đây Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ratrong bối cảnh cải cách nền hành chính đáp ứng yêu cầu mới trong quá trình pháttriển, hội nhập của đất nước, đội ngũ cán bộ, công chức của Việt Nam hiện nayđang gặp phải không ít sự bất cập, hạn chế
2.1.2 Một số vấn đề đặt ra đối với công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay
Việt Nam đã có những chuyển biến quan trọng về nhận thức, quan điểm tưtưởng, được thể hiện trong cơ chế, chính sách, luật pháp từ khâu tuyển dụng, bố trí,
sử dụng, đào tạo và quản lý, từng bước đã đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước Tuy nhiên, có thể nhận thấy, thực trạng đội ngũ cán bộ, côngchức từ trung ương đến cấp cơ sở của Việt Nam hiện nay đang đặt ra một số vấn đềnhư sau:
Một là, mặc dù tính chuyên nghiệp, sự ổn định được đề cao, tuy nhiên đếnnay đội ngũ cán bộ, công chức chưa vươn lên được là bao Trình độ và năng lựccủa đội ngũ cán bộ, công chức chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, còn bất cậphẫng hụt về nhiều mặt: tri thức và năng lực quản lý nhà nước về xã hội, kinh tế thịtrường, pháp luật, hành chính, kỹ năng thực thi công vụ cũng như khả năng vậndụng khoa học công nghệ hiện đại, nhất là tin học, ngoại ngữ trong thực thi nhiệm
vụ còn rất hạn chế
Hai là, lực lượng cán bộ, công chức khá đông đảo, đầy đủ, tuy nhiên khôngmạnh Chất lượng đội ngũ chưa đồng đều, trình độ năng lực thực tế chưa tươngxứng với văn bằng, chứng chỉ Tinh thần trách nhiệm, ý thức nghề nghiệp và tổchức kỷ luật của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn yếu, phong cáchlàm việc chậm đổi mới; tinh thần phục vụ nhân dân chưa cao; tệ quan liêu tham
Trang 10nhũng, sách nhiễu người dân chưa được ngăn chặn kịp thời gây bức xúc trong xãhội, là trở ngại lớn cho công cuộc cải cách, làm giảm hiệu lực của bộ máy nhànước
Ba là, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu trướcmắt và lâu dài; tình trạng hẫng hụt giữa các thế hệ cán bộ, công chức trong mỗi cơquan, đơn vị còn phổ biến; thiếu đội ngũ cán bộ, nòng cốt kế cận có trình độchuyên môn cao và các chuyên gia hoạch định chính sách ở các cấp Cơ cấu xã hội
về độ tuổi, giới tính của cán bộ, công chức đang có nhiều bất cập; cơ cấu cán bộlãnh đạo là đảng viên và không đảng viên còn nhiều bất hợp lý Đặc biệt, ở nhữngvùng sâu, vùng xa và miền núi, hải đảo, đại bộ phận cán bộ, công chức yếu về nănglực, trình độ chuyên môn, thiếu nguồn nhân lực bổ sung vào bộ máy hành chínhđang diễn ra khá trầm trọng
Bốn là, việc bố trí cán bộ, công chức ở nhiều cơ quan, đơn vị chưa có tỷ lệphù hợp với đặc điểm, tính chất và yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi loại cơquan, tổ chức nhà nước Tiêu chuẩn chức danh chuyên môn, nghiệp vụ các ngạchcông chức đã được sửa đổi, bổ sung, tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung chưa mangtính đồng bộ và phù hợp với đặc điểm, yêu cầu cụ thể của từng loại công chứctrong các lĩnh vực khác nhau
Năm là, cơ chế quản lý, sử dụng và chế độ chính sách đối với cán bộ, côngchức mặc dù đã được cải thiện, tuy nhiên còn nhiều bất hợp lý, chưa đáp ứng đượcđòi hỏi của thực tiễn Chính sách đãi ngộ, mức trả lương chưa thực sự có sức hấpdẫn theo cơ chế thị trường, do vậy chưa tạo được động lực khuyến khích đội ngũcán bộ, công chức đề cao trách nhiệm, phấn đấu rèn luyện nâng cao phẩm chất đạođức, năng lực công tác, đặc biệt chưa thu hút được người tài tham gia vào nền công
vụ
Trang 11Sáu là, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chậm được đổi mới,cải tiến, chưa gắn với yêu cầu xây dựng một đội ngũ công chức chuyên nghiệp,hiện đại, phục vụ nhu cầu của sự nghiệp đổi mới Nội dung đào tạo bồi dưỡng vẫnnặng về hình thức tiêu chuẩn bằng cấp, chưa chú trọng bồi dưỡng nâng cao nănglực thực hành và không gắn bó với chức trách, nhiệm vụ của từng loại cán bộ, côngchức Phương thức đào tạo chưa chú trọng khuyến khích tính tích cực của ngườihọc Năng lực trình độ đội ngũ giảng viên không đồng đều, còn thiếu kiến thứcthực tiễn, kỹ năng sư phạm hạn chế, khả năng sử dụng công cụ phương pháp hiệnđại còn nhiều bất cập Hệ thống các cơ sở đào tạo chưa được tổ chức phân cấp hợp
lý, chồng chéo về nội dung chương trình, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêucầu giảng dạy
2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XIN THÔI VIỆC Ở VIỆT NAM
2.3.1 Tác động của các quy luật trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốctế
Có thể nói, nhân tố đầu tiên cần phải tính đến và mang tính chất vĩ mô đóchính là do tác động của các quy luật trong nền kinh tế thị trường trong bối cảnhtoàn cầu hoá Quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tếngày càng mở ra nhiều cơ hội về nơi làm việc để người lao động lựa chọn, tạo nênnhững thách thức về cạnh tranh “chất xám” Các tổ chức, doanh nghiệp trong cáckhu vực ngoài nhà nước tìm nhiều cách thức linh hoạt để thu hút công chức cónăng lực về làm việc Đồng thời, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đòi hỏitạo lập và phát triển đồng bộ các loại thị trường, trong đó có thị trường lao động.Thực tế trong những năm đổi mới, ngày càng phát triển các dòng dịch chuyển laođộng giữa thành thị và nông thôn, giữa các khu vực của nền kinh tế… Nền kinh tếngày càng mang đậm dấu ấn của những nhân tố mới phát triển rất năng động đó là