1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội

127 50 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 367,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Phan Thị Thu Hoài

Hà nội, Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫnkhoa học của PGS TS Phan Thị Thu Hoài

Các số liệu được nêu trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Thương Mại,Khoa sau đại học, các thầy giáo, cô giáo đã đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho emtrong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâusắc tới cô Phan Thị Thu Hoài, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo giúp em hoànthành luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình

Em xin được gửi lời cảm đến các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí công chức,viên chức công tác tại Ủy Ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Cục thống Kê, Sở Côngthương thành phố Hà Nội; Sở Kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện

để em có được những thông tin hữu ích phục vụ tích cực trong việc hoàn chỉnh luậnvăn tốt nghiệp Và em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, các bạn bèđồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa học

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian

và nhân thức của bản thân có hạn nên luận văn của em không tránh khỏi nhữngthiếu sót Em rất mong được các thầy cô chỉ bảo, góp ý của các thầy cô để luận văncủa em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Người viết luận văn

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 11

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn: 12

6 Kết cấu đề tài luận văn 12

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ 14

Trang 7

1.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh bán lẻ và doanh nghiệp bán lẻ 14

1.1.1 Khái niệm về hoạt động bán lẻ và doanh nghiệp bán lẻ 14

1.1.2 Đặc điểm của loại hình kinh doanh bán lẻ và doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ 15

1.1.3 Phân loại kinh doanh bán lẻ và doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ 16

1.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ 21

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ 21

1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ 24

1.2.3 Chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ 26

1.2.4 Các công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ 29

1.3.1 Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế 33

1.3.2 Sự thay đổi môi trường văn hóa - xã hội 34

1.3.3 Sự thay đổi môi trường kinh doanh 34

Trang 8

1.3.4 Các yếu tố nội lực của ngành bán lẻ 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

HÀ NỘI 36

2.1 Khái quát về thị trường bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 36

2.1.1 Các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường bán lẻ và những tác động của nó tới thị trường bán lẻ Hà Nội 36 2.1.2 Khái quát tình hình thị trường bán lẻ Hà Nội từ năm 2016 – 2018 39

2.2 Thực trạng sử dụng các cộng cụ quản lý nhà nước vào quản lý hoạt động các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội từ 2016 - 2018 47

2.2.1 Thực trạng sử dụng công cụ chính sách vào quản lý hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 47

2.2.2 Thực trạng sử dụng công cụ pháp luật vào quản lý hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 60

2.2.3 Thực trạng sử dụng công cụ kinh tế vào quản lý hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 70 2.2.4 Thực trạng kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 76

Trang 9

2.3 Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 83

2.3.1 Những kết quả đạt được 83 2.3.2 Tồn tại, hạn chế 85

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QLNN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2025 91

3.1 Quan điểm, định hướng của thành phố Hà Nội 91

3.1.1 Quan điểm của chính quyền Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội 93 3.1.2 Định hướng phát triển trong thời gian tới 94

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 95

3.2.1 Xây dựng, hoàn thiện định hướng, chiến lược phát triển kinh doanh 95

3.2.2 Hoàn thiện hệ thống luật pháp và các chính sách khuyến khích phát triển thị trường bán lẻ trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội 96 3.2.3 Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 99

Trang 10

3.2.4 Nâng cao chất lượng thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 100

3.3 Kiến nghị 101

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 11

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ACFTA Hiệp định thương mại tự do Asean – Trung Quốc

AFTA Khu vực mậu dịch tự do

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á

ATIGA Hiệp định thương mại hàng hóa Asean

BTA Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa KỳCPTPP Hiệp định đối tác toàn diện xuyên Thái Bình Dương

DN Doanh nghiệp

DVPP Dịch vụ phân phối

EU Cộng đồng chung Châu Âu

EVFTA Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt NamFDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

FTA Hiệp định thương mại tự do

M&A Mua bán và sát nhập

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTW Ngân hàng trung ương

TMĐT Thương mại điện tử

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

TP Thành phố

TTTM Trung tâm thương mại

UBND Ủy ban Nhân dân

VAT Thuế giá trị gia tăng

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 13

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức cơ quan Quản lý thị trường thành phố Hà Nội……… 77

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU.

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã trải qua quá trình đổi mới căn bản từchuyển dịch cơ cấu đến tăng trưởng kinh tế.Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế,các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bán lẻ hàng hóa đóng một vai trò quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân Hệ thống phân phối bán lẻ hàng hóa dịch vụ góp phầntích cực vào thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống dân cư

Sau khi mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ trong nước, hệ thống phân phốibán lẻ cũng đã được cơ cấu lại thành các bộ phận riêng biệt như lưu chuyển hànghóa bán lẻ do hệ thống phân phối quốc doanh hoặc ngoài quốc doanh đảm nhiệm vàlưu chuyển hàng hóa bán lẻ do hệ thống phân phối bán lẻ của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài đảm nhiệm; thị trường bán lẻ đang phát triển các kênh bán lẻhiện đại, bán lẻ trực tuyến, bán lẻ đa kênh tích hợp, cửa hàng tiện ích góp phần tạonên sự sôi động của thị trường, đồng thời cũng làm gia tăng áp lực lên các kênh bán

lẻ truyền thống Bên cạnh đó, nhiều nhà bán lẻ nước ngoài, chủ yếu bán lẻ tronglĩnh vực hiện đại như Aeon (Nhật Bản), Lotte (Hàn Quốc), Central Group (TháiLan) đang ngày càng mở rộng thị trường hoạt động tại Việt Nam thông qua cácthương vụ mua bán - sáp nhập để chiếm lĩnh hệ thống phân phối mà các doanhnghiệp bán lẻ trong nước đã gây dựng do họ có lợi thế về nguồn vốn, về công nghệ

và phương pháp quản trị hiện đại Đây là một trong những thách thức lớn cho các

DN bán lẻ Việt Nam đang quen với phong cách hoạt động xưa cũ manh mún, nhỏ

lẻ, trì chệ, chậm đổi mới

Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa – du lịch, kinh tế, khoa học của cảnước, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.Trong 10 năm 2008 - 2018, kinh tế Hà Nội tăng trưởng bình quân 7,41%/năm, gấpgần 1,3 lần mức tăng bình quân chung cả nước là 6%; GRDP năm 2018 tăng 8,56%(theo cách tính mới là 7,37%) so với cùng kỳ năm trước (2017 tăng 8,48%, 2016tăng 8,20%); Bình quân 3 năm 2016-2018 GRDP tăng 8,41% (cách tính mới là7,28%) - cao hơn mức 7,3% của giai đoạn 2011-2015.Trong đó, chỉ tính tổng mức

Trang 15

phân phối dịch vụ đã tăng từ 132.837 tỷ lên 288.955 tỷ đồng (2,18 lần); Kim ngạchxuất khẩu tăng từ 6,9 tỷ USD lên 11,78 tỷ USD (1,7 lần).Tính đến tháng 12 năm

2018, tổng số doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội là 251.269 doanhnghiệp, trong đó các doanh nghiệp xây dựng chiếm khoảng 56%; lĩnh vực kinhdoanh thương mại, dịch vụ bán buôn, bán lẻ chiếm khoảng 38,3%, riêng các doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ bán lẻ có khoảng 2047 doanh nghiệp hiện nay đã đăng

ký kinh doanh và đang hoạt động; 6% là các ngành nghề kinh doanh khác”(trích

nguồn: Báo cáo Kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội)

Hiện nay, quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụbán lẻ ở Việt Nam nói chung và quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻtrên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng là một trong những nội dung lớn, có liênquan đến nhiều chủ thể, đối tượng quản lý

Đối với các doanh nghiệp trong nước, quản lý nhà nước đối với lĩnh vựcthương mại nói chung và ngành bán lẻ nói riêng đã có nhiều thay đổi tương đối phùhợp với nền kinh tế thị trường, bước đầu mang lại những kết quả tích cực cho cácdoanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bán lẻ hàng hóa Tuy nhiên, quản lý nhà nước đốivới các doanh nghiệp bán lẻ hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, tình trạng canthiệp trực tiếp của các cơ quan chức năng vào lĩnh vực kinh doanh còn khá phổ biếnnhưng lại chưa chú trọng đến việc hỗ trợ, khuyến khích, giám sát, kiểm tra quá trìnhhoạt động của các doanh nghiệp; Bản thân các doanh nghiệp chưa có được nhữngvận động, nỗ lực riêng, còn phụ thuộc, chông chờ nhiều vào sự bảo hộ của Nhànước Kể từ sau khi gia nhập WTO và mở cửa thị trường bán lẻ, hệ thống chuỗi bán

lẻ của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp hoạt động trênđịa bàn thành phố Hà Nội nói riêng tuy đã phát triển nhưng thiếu ổn định, thiếu quyhoạch cụ thể và thiếu tính bền vững, dễ bị tổn thương mỗi khi có biến động từ môitrường kinh doanh bên ngoài; công tác tổ chức, quản lý hệ thống phân phối bán lẻcủa các cấp chính quyền còn nhiều hạn chế do thiếu chiến lược và quy hoạch cơ sở

hạ tầng phát triển hệ thống phân phối bán lẻ, chậm ban hành hoặc còn thiếu các

Trang 16

chính sách để phát triển phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại như: siêu thị, cửahàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh, nhượng quyền thương mại…

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì cơ chế quản lý nhànước của các cấp chính quyền còn tương đối lỏng lẻo, chứa đựng nhiều kẽ hở chonhững hành vi khuất tất của cả các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp dothiếu một hệ thống tổ chức quản lý hoàn chỉnh, chưa có các quy định cụ thể hoặc làquy định riêng hoặc quy chế quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp kinh doanhdịch vụ bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung và trên địa bànthành phố Hà Nội nói riêng Điều này đã tạo ra kẽ hở để các doanh nghiệp thực hiệncác hành vi chuyển giá, trốn thuế gây nên hiện tượng các doanh nghiệp vẫn khai lỗnhưng vẫn tiếp tục xin mở rộng kinh doanh, và các cơ quan quản lý nhà nước vẫn

cứ tiếp tục cấp phép hoạt động…

Xuất phát từ tình hình thực tế khách quan, nhằm hoàn thiện công tác quản lýnhà nước đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn

thành phố Hà Nội, cao học viên đã lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối với

hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề

tài luận văn tốt nghiệp chuyên ngành quản lý kinh tế cho mình

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan.

Nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ, quản lý các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ ở Việt Nam, đặc biệt là việc quản lý cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thương mại nói chung và bán

lẻ hiện đại nói riêng ở Việt Nam hiện nay còn khá khiêm tốn Thị trường bán lẻđược đánh giá là phát triển tương đối nhanh, đáp ứng được nhu cầu ngày càngphong phú đa dạng của người tiêu dùng, góp phần quan trọng vào sự phát triển vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội Khu vực kinh tế tư nhân tuy chiếm tỷ trọng lớnnhưng doanh thu tăng chậm trong khi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàiđang tăng mạnh

Trang 17

Công tác quản lý điều hành của nhà nước về thị trường bán lẻ còn nhiều mặtchưa tốt, chưa kịp thời, còn nặng tình trạng phát triển thị trường bán lẻ tự phát, mất cânđối, thiếu ổn định, dễ bị tổn thương mỗi khi có biến động khách quan từ bền ngoài.

Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đều đề cập tới việc cần có bàn tay củaNhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý điều chỉnh hoạtđộng kinh doanh của thị trường cũng như quản lý nhà nước đối với các doanhnghiệp kinh doanh bán lẻ hiện đại Một số nghiên cứu tiêu biểu mà cao học viên đãtham khảo và thống kê Cụ thể như sau:

2.1 Vấn đề quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp

Nguyễn Pháp (1992), “Quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp”, Nhà xuấtbản Nông Nghiệp tác giả đã đưa ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việcquản lý kinh doanh các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước; hoặc tác giả Nguyễn Pháp, Vũ Huy Từ (1998),“Vai trò quản lý nhà nước đốivới các loại hình doanh nghiệp” cũng đi sâu vào nhấn mạnh vào lĩnh vưc sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp cần thiết phải có sự quản lý, điều tiết, can thiệpcủa Nhà nước Tuy nhiên tác giả Vũ Huy Từ đã chỉ ra những yêu cầu cần phải đổimới trong công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế

Nguyễn Thế Quyền (2009), “Giải pháp tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lýnhà nước đối với các doanh nghiệp”, thì chỉ ra những điểm không phù hợp trongcông tác quản lý nhà nước về các chính sách hiện hành đối với các khu vực kinh tế

mà cụ thể là khu vực doanh nghiệp quốc doanh và khu vực doanh nghiệp ngoàiquốc doanh Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lư đối với các doanh nghiệp như: một là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật quản lý doanhnghiệp; hai là, đổi mới phương thức hoạt động của các cơ quan quản lý; ba là, nângcao trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ quản

lý thực thi nhiệm vụ

Vũ Xuân Bình (2005), “Quản lý doanh nghiệp – Nhiệm vụ trọng tâm củaquản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam” –Trích trong cuốn “Đảng Cộng sản Việt

Trang 18

Nam với công tác cải cách bộ máy hành chính và cổ phần hóa doanh nghiệp nhànước”, Nhà xuất bản Lao Động Tác giả đi phân tích, đánh giá kết quả họat độngcủa các loại hình doanh nghiệp hiện có tại Việt Nam như doanh nghiệp quốc doanh,doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trên cơ

sở đó đề xuất những ý kiến góp phần nâng cao hiệu quản quản lý nhà nước đối vớicác doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam

Ngô Tuấn Anh (2005), “Những chuyển biến về quan niệm mô hình tổ chứcdoanh nghiệp trong thế kỷ XXI”, Tạp chí kinh tế và Phát triển Tác giả cho rằng,trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự chuyển biến của môitrường kinh doanh cũng ngày càng thay đổi để phù hợp với thực tế khách quan Do

đó các doanh nghiệp cần phải chú ý đến các yếu tố cạnh tranh toàn cầu, phát triểncông nghệ, quan tâm nhiều hơn nữa nhu cầu của khách hàng Để làm được điều đó,các doanh nghiệp cần phải làm cho bộ máy quản lý của mình gọn nhẹ, linh hoạt,sáng tạo để phù hợp với thực tiễn

2.2 Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Trần Xuân Hải (2006),“Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với cácdoanh nghiệp FDI”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo Trong bài viết, tác giả nêu cao vaitrò của quản lý nhà nước trong các hoạt động kinh doanh đối với các doanh nghiệpFDI như duy trì sự ổn định nền kinh tế vĩ mô; khuyến khích các thành phần kinh tếtham gia vào đầu tư kinh doanh; tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi và bìnhđẳng Ngoài ra, tác giả còn đưa ra những yêu cầu đòi hỏi trong quá trình hoạt độngcác doanh nghiệp phải tôn trọng quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường và

Kỷ cương của Chính phủ với quy luật khách quan của nên kinh tế thị trường phảiđồng hành cùng nhau Chính phủ đưa ra các biện pháp, chính sách để điều tiết nềnkinh tế vĩ mô, yêu cầu phải tuân theo các quy luật khách quan của nền kinh tế thịtrường.Tuy nhiên hiện nay Việt Nam chưa có một hệ thống tổ chức hoàn chỉnh,chưa có các qui định cụ thể để quản lý, kiểm soát các doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài sau khi được cấp phép đầu tư và đi vào hoạt động

Trang 19

Vũ Xuân Bình (2009), “Phân cấp quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tưtrực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Giáo dục lýluận trang 35 – 39 Tác giả đi sâu nghiên cứu quá trình quản ly, kiểm soát hoạt độngcủa các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam và tìm ra những thành công và hạn chế Đặcbiệt trong đó nhấn mạnh hạn chế từ bộ máy của cơ quan quản lý nhà nước Trong

đó các Bộ, ngành ban hành chính sách còn thiếu tính đồng bộ, thiếu thông tin,nhanh thay đổi; Các chương trình vận động xúc tiến đầu tư còn manh mún, chưa cónhiều chương trình mang tầm quốc gia; quy mô phân cấp quản lý còn nhiều bất cập,chưa phù hợp, thiếu tính linh hoạt…Đối với các cơ quan quản lý địa phương thìmang tính cục bộ, thiếu đi sự phối kết hợp với cơ quan chuyên môn cấp trên hoặcban hành những quy định vượt ngoài khuôn khổ dẫn đến xảy ra những hành vi cạnhtranh không lành mạnh Bên cạnh đó thì hầu hết các địa phương còn đang thiếu một

cơ chế quản lý phù hợp

Lê Thị Thanh Thúy (2013), “Công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư trựctiếp nước ngoài ở tỉnh Quảng Ngãi” Tạp chí Khoa học Xã hội miền Trung số 26.Tác giả đã nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với quản lý đầu tư trực tiếpnước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi và chỉ ra rằng: Mặc dù các dự án FDI ở đây đã bổsung một nguồn vốn lớn vào phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế cảu tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, công tácquản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài còn tồn tạinhiều vấn đề như thủ tục hành chính rườm rà; công tác kiểm tra, giám sát hoạt độngcủa các doanh nghiệp FDI còn nhiều hạn chế; hiện nay mới chỉ có những dự án tầmtrung đầu tư mà chưa thu hút được những dự án chất lượng cao về công nghệ đầu tưvào; chính sách thuế cũng còn rất nhiều bất cập…

2.3 Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Trang Thị Tuyết (2006), “Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đốivới doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Tác giả nhận mạnh đến nhữngkhó khăn trong công tác quản lý nhà nước đối các doanh nghiệp nhà nước Các cơquan quản lý nhà nước tùy tiện trong việc quan lý các doanh nghiệp này Ngoài ra,

Trang 20

một số cơ quan quản lý nhà nước còn thâm nhập vào nội tình của doanh nghiệp, tácđộng cào chính sách cũng như quá trình hoạt động của doanh nghiệp để tạo lợi íchcho bản thân Bên cạnh đó, bộ máy quản lý của các doanh nghiệp ngày tương đốicồng kềnh; quyền lực vẫn do nhà nước nắm giữ và điều tiết Yếu tố này đã làm tăngchi phí cho bộ máy quản lý doanh nghiệp, gây cản trở cho sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa quá trình điều hành doanh nghiệp.

Nguyễn Thế Quyền (2009), “Giải pháp tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lýnhà nước đối với các doanh nghiệp”, Tạp chí Quản lý Nhà nước Số 3 Bài viết chỉ

ra những điểm bất hợp lý trong hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanhnghiệp mà nhà nước làm chủ sở hữu Thứ nhất, việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhànước tiến hành chưa đúng lộ trình và tương đối chậm; Những doanh nghiệp đượctiến hành cổ phần hóa nhưng thực chất vẫn không thay đổi chế độ sở hữu trong cácdoanh nghiệpbiểu hiện cụ thể là trong quá trình chuyển đổi các các doanh nghiệpnhà nước, hầu hết các doanh nghiệp này không được cổ phần hóa mà được chuyểnthành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của nhà nước dẫn đến cơ chếquản lý có đổi mới nhưng vẫn chưa thực sự phù hợp, quá trình thực hiện thiếu tínhthống nhất, chưa có sự phối hợp giúp đỡ doanh nghiệp giải quyết khó khăn trongquá trình cổ phần hóa

2.4 Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại

Vụ Chính sách Thị trường trong nước - Bộ Thương mại (năm 2001), “Các

loại hình kinh doanh văn minh hiện đại, định hướng quản lý nhà nước đối với siêu thị ở Việt Nam”, đề tài nghiên cứu cấp Bộ Trong đề tài nghiên cứu, Nhóm tác giả

tập trung nghiên cứu sâu về các loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại và đề ra địnhhướng quản lý nhà nước đối với loại hình này, nhưng hoàn toàn chưa đề cập đếncông tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ, đặc biệt làkinh doanh dịch vụ phân phối hàng hóa bán lẻ hiện đại và quản lý nhà nước đối vớihoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp phân phối hàng hóa bán lẻ hiện đại

Viện Nghiên cứu Thương mại (năm 2005), “Thực trạng và giải pháp phát

triển hệ thống siêu thị của nước ta hiện nay”, đề tài nghiên cứu cấp Bộ Đề tài chỉ

Trang 21

tập trung nghiên cứu sâu về một loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại, đó là hệ thốngsiêu thị và đề ra giải pháp phát triển cho loại hình kinh doanh siêu thị mà chưa cónghiên cứu toàn diện về hoạt động kinh doanh dịch vụ phân phối hàng hóa bán lẻcũng như quản lý nhà nước đối với lĩnh vực dịch vụ này và hoạt động của các doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ phân phối hàng hóa bán lẻ nói chung và kinh doanh dịch

vụ phân phối hàng hóa bán lẻ hiện đại nói riêng

Phạm Hữu Thìn (năm 2008), “Giải pháp phát triển các loại hình tổ chức bán

lẻ văn minh, hiện đại ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ Viện Nghiên cứu thương mại –

Bộ Công Thương Tác giả đã hệ thống lại cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, đánhgiá về các loại hình tổ chức kinh doanh đối với các hình thức kinh doanh dịch vụphân phối bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi màkhông đề cập tới quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ phân phối hàng hóa bán lẻ hiện đại cũng như chưa đi sâu vào đề xuấthoàn thiện chính sách phát triển DVPP hàng hóa bán lẻ nói và phân phối hàng hóabán lẻ hiện đại

Viện Nghiên cứu thương mại (năm 2009), “Hoàn thiện môi trường kinh

doanh nhằm phát triển dịch vụ bán buôn, bán lẻ của Việt Nam”, đề tài nghiên

cứu cấp Bộ.Nhóm tác giả đã đi sâu nghiên cứu tổng quan về dịch vụ bán buôn,buôn lẻ ở Việt Nam, đánh giá thực trạng, những thành tựu, hạn chế của cơ chếquản lý nhà nước trong việc tạo môi trường kinh doanh đối với các doanh nghiệpkinh doanh dịch vụ bán buôn, bán lẻtừ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện môitrường kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực dịch vụ này theo một

số tiêu chí chủ yếu từ góc độ thuận lợi hóa thương mại cho thương nhân, nhưngchưa đi sâu nghiên cứu dịch vụ bán lẻ từ các góc độ cơ cấu dịch vụ phân phốibán lẻ, chính sách mặt hàng, chính sách và cơ chế quản lý giá cả, quản lý thịtrường theo địa bàn lãnh thổ và các thiết chế quản lý đối với lĩnh vực dịch vụphân phối bán lẻ hiện nay

Trang 22

2.5 Về các giải pháp hoàn thiện quản lý doanh nghiệp bán lẻ

Nguyễn Thế Quyền (2009), “Giải pháp tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lýnhà nước đối với các doanh nghiệp”, Tạp chí Quản lý Nhà nước số 3 Qua quá trìnhtìm hiểu và nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp Một là, tiếp tục hoànthiện pháp luật về quản lý đối với các doanh nghiệp; Hai là, đổi mới phương thứchoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước; Ba là, nâng cao trình độ chuyên môn,

ý thức trách nhiệm và đạo đức, phẩm chất của các cán bộ, công chức làm công tácquản lý đối với các doanh nghiệp

Nguyễn Quốc Tuấn (2005), “Tăng cường quản lý nhà nước đối với cácdoanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa”, Tạp chí Lý luận Chính trị số 9 Tác giả đãchỉ ra một số nhiệm vụ cần phải làm Thứ nhất, Nhà nước cần có chính sách tạođiều kiện để các công ty cổ phần được huy động vốn rộng rãi từ nhiều nguồn; Thứhai, ban hành đồng bộ, thống nhất các chính sách về lao động và giải quyết thỏađáng lao động dôi dư sau cổ phần hóa; Thứ ba, Nhà nước cần có văn bản pháp quyhướng dẫn thực hiện Luật doanh nghiệp phù hợp với các DN nhà nước sau khi đãđược tái cơ cấu

Hoàng Xuân Hoa (2011), “Nâng cao vai trò quản lý và điều hành của Nhànước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài”, Tạp chí Quản lý nhà nước Bàiviết nhấn mạnh giải pháp kiện toàn hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp FDI Một là, nâng cấp bộ máy quản lý, giảm cồng kềnh, thiếu đồng

bộ giữa các bộ phận liên quan, dẫn đến làm giảm chất lượng quản lý; Hai là, xâydựng một hệ thống hoàn chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật, các phương phápkiểm tra và giám sát tài chính, quản lý ngoại hối đối với hoạt động của các doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Nguyễn Đông Phong (2008), “Các giải pháp phát triển cho các doanh nghiệp

kinh doanh bán lẻ hiện đại trong nước”, Tạp chí Phát triển Kinh tế tác giả đã chỉ ra

những tiêu chí yêu cầu cần đạt được trong quá trình xây dựng quy hoạch ngànhthương mại đến năm 2020 của các tỉnh, thành phố trong cả nước Trong đó, thứnhất, cần chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở phục vụ kỹ thuật thương mại vừa đảm

Trang 23

bảo thực hiện văn minh thương mại và hiệu quả kinh doanh tạo điều kiện cho doanhnghiệp trong nước chiếm những vị trí thuận lợi trong kinh doanh nhằm giữ vững vịtrí của mình trên thị trường nội địa; thứ hai, Nhà nước khuyến khích các doanhnghiệp quy mô lớn mua, sáp nhập những cửa hàng nhỏ để phát triển hệ thống bán lẻhiện đại đủ sức cạnh tranh trên thị trường; thứ ba là đẩy mạnh liên kết giữa cácdoanh nghiệp tạo sức mạnh cạnh tranh bền vững trên chính thị trường trong nước.

Vũ Văn Hùng (2009), “Giải pháp từ phía nhà nước nhằm phát triển các siêuthị bán lẻ Việt Nam”, Tạp Chí Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương số 253 Tác giả đã

đề xuất một số giải pháp để phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của các siêu thị bán

lẻ trong nước thời kỳ hội nhập bằng chính sự can thiệp tích cực từ phía nhà nước.Một số giải pháp cụ thể như: Một là, xây dựng quy hoạch phát triển tổng thể kết cấu

hạ tầng thương mại; hai là, nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý nhà nước; ba là,thực hiện hỗ trợ từ ngân sách Trung ương; bốn là, có chính sách khuyến khích pháttriển kết cấu hạ tầng thương mại phù hợp với điều kiện phát triển, hội nhập

2.6 Khoảng trống trong nghiên cứu.

Qua nghiên cứu, tham khảo các đề tài khoa học, các bài viết đăng trên tạp chíkhoa học về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ bán lẻhàng hóa cao học viên đã nhận ra một số khoảng trống cần tiếp tục bổ sung, hoànthiện và làm rõ trong quá trình nghiên cứu về hoạt động quản lý nhà nước đối vớihoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ mà cụ thể là các doanh nghiệp bán lẻ ở địabàn thành phố Hà Nội Một số khoảng trống cụ thể như sau:

Một là, hầu hết đều chưa nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ vấn đềquản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ nói chung và bán lẻ hiện đại nóiriêng trong thời gian qua

Hai là, các nghiên cứu chưa mang tính hệ thống, đầy đủ, chi tiết về quản lýnhà nước đối với các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI đang hoạtđộng trên thị trường Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp FDI hoạt động tronglĩnh vực bán lẻ hiện đại nói riêng

Trang 24

Ba là, chưa có các đề xuất giải pháp cụ thể về chiến lược, lộ trình liên kết,hợp tác nhằm khai thác tối đa lợi ích của quản lý nhà nước giúp các doanh nghiệpphát triển phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bốn là, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước đối vớicác doanh nghiệp bán lẻ riêng cho địa bàn thành phố Hà Nội

Vì vậy, đề tài luận văn “Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanhnghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội” không trùng lắp với các công trình đãnghiên cứu và công bố trước đây

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Luận văn tập trung nghiên cứu hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạtđộng của các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được những mục tiêu trên, luận văn cần phải hoàn thành các nhiệm vụnghiên cứu cụ thể sau:

Nghiên cứu một số vấn đề cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với hoạtđộng của các doanh nghiệp bán lẻ ở một số lĩnh vực nhất định

Nghiên cứu, phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệpbán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua, đánh giá những thành tựu đã đạtđược, những hạn chế cần khắc phục trong quản lý nhà nước đối với hoạt động củacác doanh nghiệp bán lẻ hiện nay

Đề xuất các giải phápđể hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanhnghiệp bán lẻ tại thành phố Hà Nộitrong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ trênđịa bàn thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 25

Do hạn chế về mặt thời gian và năng lực nghiên cứu, đề tài luận văn giới hạnphạm vi nghiên cứu như sau:

* Về mặt nội dung:

Luận văn chỉ nghiên cứu hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanhnghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ bán lẻ trong nước và doanh nghiệp kinh doanhdịch vụ bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động kinh doanh trên địa bànthành phố Hà Nội (các hình thức kinh doanh cụ thể như siêu thị và trung tâmthương mại, chuỗi cửa hang, bách hóa…), không nghiên cứu về quản lý nhà nướcvới hoạt động kinh doanh thương mại điện tử của các doanh nghiệp bán lẻ

* Thời gian:đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các

doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bán lẻ tại Hà Nội từ 2016 – 2018, đề xuất giảipháp cho thời gian tới, đến năm 2025

* Về không gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các hoạt động quản lý nhà

nước đối với doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn:

Trong quá trình nghiên cứu, cao học viên đã sử dụng một số phương pháp đểnghiên cứu các vấn đề của đề tài luận văn Cụ thể như sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Cao học viên đã nghiên cứu những tàiliệu tham khảo, các giáo trình để kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có làm cơ sở lýluận, kinh nghiệm thực hiện trọng quá trình thực hiện đề tài của mình

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng phương pháp phân tích và tổnghợp số liệu, thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu, kết quả khảo sát thực địa

và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện chính sách quản lýnhà nước đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ bán lẻ

- Phương pháp so sánh: được sử dụng để đánh giá thực trạng, so sánh chínhsách và phương thức quản lý đối với các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà Nội

6 Kết cấu đề tài luận văn.

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì phần nội dung của luận văn được

Trang 26

chia làm 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động của cácdoanh nghiệp bán lẻ

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanhnghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanhnghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Trang 27

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA

CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ 1.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh bán lẻ và doanh nghiệp bán lẻ.

1.1.1 Khái niệm về hoạt động bán lẻ và doanh nghiệp bán lẻ.

Hiện nay trên đang có rất nhiều những quan điểm khác nhau về hoạt độngbán lẻ.Theo Khoản 8, Điều 3 Nghị định số 23/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hànhngày ngày 12/02/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bánhàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định thìBán lẻ là hoạt động bán

hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng”(Nguồn: Nghị định số

23/2007/NĐ-CP)

Tại Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/4/2007 của Bộ Kế hoạch Đầutưquy định về nội dung, hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam định nghĩa: Bán lẻchính là việc bán lại nhưng không làm biến đổi hàng hóa bao gồm cả hàng hóa mới

và hàng hóa đã qua sử dụng cho cộng đồng để phục vụ tiêu dùng cho cá nhân hoặc

hộ gia đình tại các chợ truyền thống, hợp tác xã mua bán, các cửa hàng, quầy hàng,

siêu thị, trung tâm thương mại, nhà đấu giá, các trung tâm thương mại.”(Nguồn:

Quyết định số 337/QĐ-BKH)

Theo định nghĩa của Philip Kotler thì bán lẻ là mọi hoạt động bán hàng hóahay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng cho mục đích cánhân hoặc tổ chức mà không mang tích thương mại.Và bất kỳ một tổ chức nào làm

công việc kinh doanh bán lẻ cũng là một tổ chức bán lẻ(nguồn: giáo trình Marketig

căn bản, 2006).

Tại Khoản 1, Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa: Doanh nghiệp

là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đượcđăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các mục đích thực

Trang 28

hiện các hoạt động kinh doanh Những doanh nghiệp nào thực hiện kinh doanh bán

lẻ thì được gọi là doanh nghiệp bán lẻ(nguồn: Luật doanh nghiệp năm 2005).

Theo tác giả thì khái niệm bán lẻ chính là việc các tổ chức, cá nhân cung cấphàng hóa, dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng bằng bất cứ hình thức nào,

ở bất kỳ đâu mà không có phân biệt đối tượng mua bán, sử dụng.Doanh nghiệp kinhdoanh bán lẻ là một doanh nghiệp chuyên cung cấp hàng hóa, dịch vụ đến tận tayngười tiêu dùng cuối cùng mà không phân biệt hình thức, số lượng, cách thức vàphương tiện

1.1.2 Đặc điểm của loại hình kinh doanh bán lẻ và doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ.

Một là, hàng hóa bán lẻ là hàng hóa không quay lại thị trường Xét về mặtphương diên lý thuyết thì loại hình kinh doanh bán lẻ là việc các cơ sở bán lẻ báncác loại hàng hóa phục vụ mục đích tiêu dùng cuối cùng cho các cá nhân hoặc hộgia đình Các loại hàng hóa này được người tiêu dùng mua về không vì mục đíchthương mại

Hai là, loại hình bán lẻ và các doanh nghiệp bán lẻ kinh doanh các mặt hàngphục vụ nhu cầu thường ngày của khách hàng Do đó các cơ sở này thường xuyên

mở cửa tất cả các ngày trong tuần, thời gian kéo dài đến tận đêm khuya, các mặthàng kinh doanh là các loại hàng hóa thông dụng hàng ngày nên có tốc độ quayvòng nhanh, giá bán cũng cao hơn nhiều so với giá của nhà cung cấp, nhưng lại đápứng được sự thuận tiện trong quá trình tiêu dùng cho bản thân và gia đình các đốitượng khách hàng Ở Việt Nam hiện nay đã và đang tồn tại rất nhiều những doanhnghiệp, các cơ sở cũng như các loại hình kinh doanh bán lẻ thông qua các chợtruyền thống, các cơ sở kinh doanh hộ gia đình, cửa hàng tiện tích, các siêu thị, cáctrung tâm thương mại Ở các tỉnh lẻ, việc kinh doanh bán lẻ hàng hóa tồn tại chủyếu ở các chợ truyền thống, các cơ sở kinh doanh hộ gia đình và một số ít là cácdoanh nghiệp kinh doanh qua các trung tâm thương mại Ngược lại ở thành phố,nhất là thành phố Hà Nội thì các loại hình kinhdoanh bán lẻ lại tồn tại chủ yếu ở các

Trang 29

doanh nghiệp thông qua các chuỗi cửa hàng, siêu thị, các trung tâm thương mại,một số ít tồn tại dưới dạng chợ truyền thống và các cơ sở kinh doanh hộ gia đình.

Ba là, các doanh nghiệp bán lẻ hàng hóa phần lớn kinh doanh theo hướnghiện đại ở một số loại hình như: kinh doanh tại các cửa hàng chuyên doanh, các cửahàng bách hóa tổng hợp, các siêu thị, các tổ hợp, các trung tâm thương mại với quy

mô lớn, trang thiết bị hiện đại, vượt trội hơn hẳn so với loại hình kinh doanh truyềnthống và tại các cơ sở kinh doanh hộ gia đình

Bốn là, các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hàng hóa thường có chiến lượckinh doanh rõ ràng được biểu hiện ngay ở các chương trình, hoạt động bán hàng đểthúc đẩy hoạt động kinh doanh như bán các loại hàng hóa theo đúng tiêu chuẩnnhưng với giá thấp hơn trong phạm vi cho phép làm giảm định mức lợi nhuậnnhưng lại tăng khối lượng tiêu thụ, hoặc kết hợp các nguyên tắc bán hàng theoCatalog và những nguyên tắc bán hàng hạ giá để tiêu thụ được nhiều chủng loạihàng hóa có nhãn hiệu bán chạy với mức phụ giá cao

Năm là, các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hàng hóa thương rất đa dạng vềchủng loại, phong phú về hình thức, linh hoạt về vị trí Các hình thức kinh doanh cóthể trao đổi mua bán thông thường ngay tại cơ sở kinh doanh; có thẻ bán lẻ theo đơnđơn đặt hàng qua bưu điện, qua điện thoại hoặc qua internet; bán hàng qua các máy

tự động; phục vụ các đơn hàng có chiết khấu hoặc bán hàng tại các điểm bán hànglưu động… Các loại hình kinh doanh có thể là mạng lưới công ty, các hợp tác xãmua bán, hoặc các tập đoàn kinh doanh bán lẻ… Và các doanh nghiệp kinh doanhbán lẻ hàng hóa thường tập trung ở trung tâm các tỉnh, thành phố, các khu đô thi,các thành phố lớn như thành phố Hà Nội

1.1.3 Phân loại kinh doanh bán lẻ và doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ.

a Các loại hình kinh doanh bán lẻ.

Hoạt động bán lẻ được nghiên cứu dưới hiều góc độ khác nhau Do đó phânloại hoạt động bán lẻ cũng được xác định ở các tiêu chí khác nhau như tiêu chí bán

lẻ xác định hình thức bán hàng hoặc xác định theo đối tượng bán hàng Trong phạm

vi nghiên cứu của luận văn, cao học viên chỉ tập trung nghiên phân cứu loại kinh

Trang 30

doanh bán lẻ theo hình thức bán hàng và tập trung vào loại hình bán lẻ hiện đại thựchoạt động kinh doạnh tại các cửa hàng, chuỗi của hàng hay siêu thị, đại siêu thị màkhông nghiên cứu tới các loại hình kinh doanh bán lẻ ảo khác như thương mại điện

tử, sàn giao dịch, điện thoại, catologe…

Căn cứ vào tiêu chuẩn hình thức bán hàng thực thì ở Việt Nam hiện nay đã

và đang tồn tại song hành hai loại hình kinh doanh bán lẻ đó là kênh bán lẻ hiện đại

và kênh truyền thống Với đặc điểm của các doanh nghiệp bán lẻ hàng hóa phần lớnkinh doanh theo hướng hiện đại, do đó kênh bán lẻ hiện đại có xu hướng phát triểnnhanh và chiếm ưu thế trong việc thu hút khách hàng mua sắm với hai tiêu chí đó là

sự tiện lợi và điểm đến của khách hàng Các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hànghóa thường được phân loại theo ba mô hình kinh doanh chính đó là: mô hình hướngtới tự tiện lợi, mô hình hướng tới điểm đến và mô hình bán lẻ kết hợp cả sự tiện lợi

và điểm đến của khách hàng

Với mô hình sự tiện lợi nhằm cung cấp cho khách hàng sự tiện lợi về các mặthàng thuộc nhu cầu thiết yếu cũng như các sản phẩm tiện ích tại các địa điểm thuậntiện mà khách hàng có thể dễ nhìn thấy, dễ tiếp cận với một không gian vừa phải,không cần thiết phải rộng lớn như những các siêu thị hay các trung tâm thương mại.Đặc trưng của loại hình này đó là chuỗi cửa hàng tiện lợi Circle K, Vinmart, Co.opFood, HaproFood…

Khác với mô hình tiện lợi, mô hình điểm đến thường không nhất thiết phảinằm tại vị trí tiện lợi mà cần tạo ra điểm khác biệt hoặc là một lý do nào đó để thuhút người mua tìm đến, chẳng hạn ở một địa điểm xa trung tâm thành phố, hàng hóađược bán với giá rẻ hoặc bán hàng chuyên biệt, độc quyền, hoặc nơi nào đó kháchhàng có thể mua sắm và vui chơi cả ngày Đặc điểm của mô hình điểm đến là cómặt bằng rộng rãi, bán đủ các loại mặt hàng hoặc những mặt hàng chuyên biệt Đặctrưng của các mô hình này chính là các đại siêu thị hyper market, shopping mall…

Với mô hình kết hợp cả hai yếu tố tiện lợi và điểm đến của khách hàng Để

có mô hình kinh doanh phù hợp, đạt hiệu quả với từng đối tượng khách hàng cũng

Trang 31

như các mặt hàng kinh doanh, các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hàng hóa thường

tổ chức kinh doanh dưới một số loại hình cụ thể như:

Một là các loại hình cửa hàng hiện đại, kinh doanh tổng hợp hoặc chuyêndoanh có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng cũngnhư đáp ứng được các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình

độ quản lý, tổ chức kinh doanh, có phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằmthỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng Đặc trưng của loại hình này

là các siêu thị

Hai là mô hình đại siêu thị với đặc điểm quy mô lớn về không gian và hànghóa để thảo mãn mọi nhu cầu mua sắm của khách hàng trong một lần theo phươngthức tự phục vụ Đặc trưng của đại siêu thị là ngoài cơ sở vật chất trang thiết bịhàng hóa do bản thân chủ đại siêu thị trực tiếp quản lý thì trong đại siêu thị còn cónhiều các cửa hàng tổng hợp và chuyên doanh khác, do đó trong đại siêu thị yêu cầucần phải có hệ thống kho hàng, bãi đỗ xe đủ lớn để phục vụ mục đích kinh doanh,ngoài ra việc vận chuyển, xếp dỡ hàng phải được tối ưu và sử dụng các phương tiện

cơ giới để giảm tối thiểu sức lao động của con người Các doanh nghiệp bán lẻ kinhdoanh theo mô hình này thường lựa chọn địa điểm kinh doanh ngoài khu vực cáctrung tâm đô thị hay thành phố lớn, các trung tâm thương mại để hưởng lợi thế vềkhông gian nhưng đây lại là mô hình bán lẻ có sức cạnh tranh mạnh về giá cả, đưalại lợi ích về mặt kinh tế cho khách hàng dựa vào quy mô kinh doanh và hiện đạihóa trang thiết bị

Ba là hệ thống các cửa hàng tiện lợi Đây là mô hình kinh doanh hiện đạinhưng có quy mô nhỏ, hàng hóa, dịch vụ kinh doanh chủ yếu là những thứ gần gũi,thiết yếu với cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của các cá nhân do đó thời gian kinhdoanh trong ngày thường kéo dài và liên tục các ngày trong tuần

Bốn là hệ thống các cửa hàng bách hóa Mô hình kinh doanh này thường có

cơ sở kinh doanh tương đối lớn, đa dạng về hàng hóa sản phẩm cũng như chủng loạikinh doanh, phong cách phục vụ khách hàng chu đáo nhưng giá cả hàng hóa thườngcao hơn do tính chất độc quyền của các loại hàng hóa dịch vụ kinh doanh Vị trí của

Trang 32

các cơ sở này thường được đặt ở các trung tâm mua sắm lớn tại các tỉnh, thành phố.Đây cũng là một hình thức bán lẻ theo chuỗi của các doanh nghiệp kinh doanh bán

lẻ hàng hóa nhưng lại không giống với siêu thị vì đối với các loại cửa hàng này chỉchuyên bán hàng những mặt hàng có thương hiệu, diện tích bán hàng được chiathành nhiều điểm bán hàng khác nhau và cho thuê kinh doanh theo từng nhãn hàngriêng biệt

Năm là mô hình cửa hàng tạp hóa Đây là mô hình thu nhỏ của cửa hàngbách hóa nhưng là cơ sở bán lẻ các nhóm mặt hàng khác nhau để phục vụ nhu cầuthiết yếu hàng ngày của các cá nhân, hộ gia đình, phần lớn các mặt hàng được bán ởđây đều rẻ, tiện lợi và thân thiện với người tiêu dùng

Sáu là các trung tâm mua sắm Mô hình này là cơ sở bán lẻ tập trung do chủđầu tư xây dựng theo quy hoạch chung cho cả một dự án Tùy thuộc vào quy môquy hoạch chung của từng dự án cũng như các tiêu chí như vị trí, diện tích quyhoạch, phạm vi thị trường, số lượng khách hàng để người ta phân biệt các loại hìnhtrung tâm mua sắm hay quy hoạch phạm vi các trung tâm mua sắm Đối với nhữngtrung tâm mua sắm lớn, quy mô của trung tâm có thể bao gồm cả đại siêu thị, siêuthị, cửa hàng bách hóa, rạp chiếu phim, cửa hàng chuyên biệt để đáp ứng nhu cầutiêu dùng của đại đa số khách hàng như mua sắm, vui chơi, giải trí, thể thao, làmđẹp… Các trung tâm mua sắm này thường do chính chủ đầu tư hoặc được giao chomột nhà quản lý trực tiếp quản lý và điều hành để đảm bảo tính chuyên nghiệp trongviệc cung ứng các dịch vụ về cơ sở hạ tầng, sắp xếp nơi bán hàng, trưng bầy hànghóa, tổ chức tuyên truyền quản bá, xúc tiến thương mại, sử dụng chung các thiết bị,kiểm soát chất lượng hàng hóa, đảm bảo an ninh…

Bẩy là các trung tâm thương mại Đây là loại hình kinh doanh thương mạihiện đại, đa chức năng bao gồm tổ hợp các loại hình kinh doanh, thường bố trí tậptrung trong các công trình kiến trúc liền kề, đáp ứng được các tiêu chuẩn về cơ sở

hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật, trình độ quản năng lực tổ chức quản lý kinh doanhcũng như các phương thức hoạt động đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp và thỏa mãn nhu cầu hàng, dịch vụ của khách hàng

Trang 33

Tám là các chuỗi cửa hàng bán lẻ Loại hình kinh doanh bán lẻ này được tiêuchuẩn hóa và vận hành theo hệ thống, có thương hiệu, kiến trúc công nghệ, trangthiết bị hàng hóa rõ ràng Các doanh nghiệp điều hành đóng vai trò quyết định trongquản lý các chiến lược kinh doanh, nguồn hàng cung ứng cũng như quyết định cácchính sách bán hàng, chính sách giá cả cho tất cả các cửa hàng trong toàn hệ thống.

b Phân loại doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ.

Ở nước ta hiện nay mô hình doanh nghiệp bán lẻ tồn tại rất phong phú, cócác quy mô và hình thức khác nhau và luôn có những đổi mới để phù hợp với điềukiện phát triển kinh tế để đáp ứng được với nhu với nhu cầu đa dạng của kháchhàng Để phân loại các doanh nghiệp bán lẻ ta có thể căn cứ vào một số đặc điểmnhư mức độ cung ứng dịch vụ, số lượng danh mục sản phẩm, mức giá tương đối và

mô hình tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp hoặc có thể phân loại doanh nghiệpcăn cứ vào quy mô, hình thức pháp lý, mức độ ứng dụng trang thiết bị hiện đại vàokinh doanh

Căn cứ vào quy mô tả có thể phân loại thành doanh nghiệp siêu nhỏ, doanhnghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn

Căn cứ vào hình thức, cơ sở pháp lý ta có thể phân loại doanh nghiệp thànhcác loại như: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh,Doanh nghiệp tư nhân và Doanh nghiệp nhà nước

Căn cứ vào mức độ ứng dụng trang thiết bị hiện đại vào quản lý, ta có thểcăn cứ vào mức độ số hóa của quy trình, hàng hóa và kênh phân phối để phân loạicác doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hàng hóa thành 03 dạng cơ bản

Loại doanh nghiệp bán lẻ truyền thống Đây là các doanh nghiệp có hoạtđộng bán lẻ tại các địa điểm cố định có các cửa hiệu độc lập như các cửa hàng tạphoá, các cửa hàng chuyên dụng, siêu thị, trung tâm thương mại, Những nhà bán lẻtruyền thống luôn có địa điểm cố định để thu hút được một lượng khách lớn muasắm thường xuyên, ổn định với số lượng hàng hóa phong phú, đáp ứng được phầnlớn các nhu cầu thiết yếu của khách hàng, nhất là nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và

hộ gia đình

Trang 34

Loại doanh nghiệp bán lẻ trực tuyến là việc các doanh nghiệp sử dụng mộthoặc phối hợp nhiều công cụ bán lẻ trực tuyến như website thương mại điện tử,mạng xã hội, sàn giao dịch thương mại điện tử làm phương tiện tiếp cận kháchhàng, tổ chức hoạt động kinh doanh bán lẻ Bên cạnh những phương tiện thời đạicông nghệ số, các doanh nghiệp bán lẻ trực tuyến cũng cần phải hoàn thiện các quytrình tiếp nhận đơn hàng, vận chuyển, thanh toán để có thể đáp ứng nhu cầu ngàycàng phong phú, đa dạng của khách hàng.

Loại doanh nghiệp bán lẻ truyền thống có ứng dụng thương mại điện tử lànhóm các doanh nghiệp vừa có cửa hàng thực để kinh doanh bán lẻ truyền thốngvừa có kênh bán hàng trực tuyến Những doanh nghiệp này kinh doanh bán lẻ trênnhiều kênh phân phối, kết hợp cả truyền thống và trực tuyến nhằm tận dụng tối đanhững lợi thế của cửa hàng truyền thống và phát huy tối đa ưu thế của kênh bánhàng online Các doanh nghiệp bán lẻ truyền thống có ứng dụng thương mại điện tửhiện nay đang hoạt động cụ thể như Walmart, Lotte, Nguyễn Kim, Thế giới diđộng…

1.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ.

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ.

Dưới góc độ khoa học, khái niệm về quản lý có nhiều cách tiếp cận khácnhau Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích củacác chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm điều hành và sử dụng có hiệu quảnhất các nguồn lực, thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiệnmôi trường luôn thay đổi

Quản lý nhà nước là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, làmột yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội Quản lý nhà nước là một dạngquản lý đặc biệt mang tính chất thực hiện quyền lực của nhà nước, là sự tác động có

tổ chức qua việc thiết lập các mối quan hệ xã hội, hình thành các tổ chức để hoạtđộng theo đúng mục tiêu nhà nước đã đề ra Xã hội phát triển càng cao thì vai trò

Trang 35

quản lý nhà nước càng lớn, phạm vi quản lý càng rộng, nội dung quản lý càng phứctạp Quản lý nhà nước được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước từ cơ quanlập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp để tác động đến các đối tượng đượcquản lý thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, các công cụquản lý.

Ở mỗi quốc gia đều có các hình thức quản lý riêng để phù hợp với đặc điểmtình hình thực tế Nhưng tựu chung lại thì quản lý nhà nước đều mang tính quyềnlực đặc biệt được biểu hiện qua các mệnh lệnh đơn phương, chỉ có nhà nước mới cóquyền ban hành luật, thực thi pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi ngườiđều sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật, bình đẳng trước pháp luật

Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ

là một phần trong quản lý nhà nước về kinh tế Quản lý nhà nước đóng vai trò đặcbiệt quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung và với doanh nghiệpnói riêng Thông qua các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà nước chỉ đạo

và quản lý, điều hành các hoạt động kinh tế trên mọi lĩnh vực khác nhau của nềnkinh tế quốc dân và ở mọi thành phần kinh tế bởi các cơ quan hành pháp Hay nóicách khác, quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động của nhà nước vào các hoạtđộng của toàn bộ nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng bằng hệ thốngpháp luật, các công cụ quản lý, các chính sách, chế tài về kinh tế để thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng,

ổn định tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của đất nước

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là sự tác động có chủ đích, có tổchức bằng quyền lực và pháp luật của Nhà nước thông qua một hệ thống các chínhsách kinh tế, các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế lên hệ thống các doanhnghiệp trong nền kinh tế quốc dân để sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực phục

vụ cho phát triển kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã

đề ra

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp bán lẻ nói riêng, thị trường bán lẻnói chung là việc các cơ quan Nhà nước xây dựng, ban hành các khuôn khổ, quy

Trang 36

định của pháp luật để thị trường hoạt động, dựa trên các cơ sở pháp lý để tiến hànhgiám sát, quản lý các hoạt động của thị trường Quản lý nhà nước đối với các doanhnghiệp bán lẻ là việc nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách,nguyên tắc, quy định và các biện pháp cần thiết để tiến hành quản lý, giám sát hoạtđộng của các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường nhằm đảm bảo thị trường bán lẻphát triển bền vững, hiệu quả, phục vụ mục tiêu nhất định trong phát triển kinh tếcủa nền kinh tế quốc dân.

Chủ thể quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp bán lẻ là các cơ quan quản lýnhà nước mà trong đó Quốc hội là cơ quan lập pháp thông qua và ban hành Luậthoạt động để tạo lập căn cứ pháp lý cho quản lý Chính phủ là cơ quan hành pháp,ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành luật, các Quyết định cụ thể hóa các vănbản dưới luật và tổ chức các cơ quan chuyên môn để thực hiện chức năng quản lýnhà nước Ở một số nước trên thế giới, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Kếhoạch và Đầu tư là cơ quan trực tiếp thay mặt Chính phủ thực hiện chức năng quản

lý nhà nước đối với thị trường bán lẻ cũng như quản lý doanh nghiệp bán lẻ

Các cơ quan nhà nước quản lý các doanh nghiệp, tổ chức tham gia đầu tư,kinh doanh trên thị trường bán lẻ bao gồm doanh nghiệp trong nước và doanhnghiệp có vốn nước ngoài trên thị trường Việt Nam nhằm đảm bảo cho thị trườnghoạt động công bằng, hiệu quả, công khai và minh bạch; bảo vệ quyền lợi hợp phápcủa các doanh nghiệp, người tiêu dùng, những người trực tiếp tham gia vào thịtrường để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Để quản lý thị trường bán lẻ nói chung, doanh nghiệp bán lẻ nói riêng, về cơbản, các cơ quan quản lý nhà nước cần thực hiện những nội dung chính như:

Một là, ban hành các văn bản qui phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực thươngmại, bán lẻ

Hai là, trực tiếp giám sát việc thực hiện tuân thủ pháp luật của các đối tượngtrực tiếp tham gia vào thị trường cũng như xử lý những hành vi vi phạm pháp luậttrong lĩnh vực này

Trang 37

Ba là, các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp tham gia điều tiết thị trườngthông qua các hoạt động như cấp phép, phê duyệt giấy phép đầu tư, kinh doanh củacác doanh nghiệp bán lẻ

1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ.

Quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng phát triển kinh tế - xã hội của mỗiquốc gia, duy trì ổn định chính trị, tạo lập môi trường pháp luật ổn định, chính sáchthuế khóa hợp lý, khuyến khích doanh nghiệp phát triển, hạn chế tối đa tác động xấu

từ khủng hoảng, giảm thất nghiệp…Theo các học thuyết về kinh tế cơ chế thịtrường không phải luôn biến động và tiềm ẩn những yếu tố nguy hiểm, dễ dàngxuất hiện tình trạng thất bại của thị trường gây ảnh huởng tiêu cực tới phát triểnkinh tế của quốc gia Nếu không có sự can thiệp kịp thời của nhà nước, bản thân thịtrường không có khả năng tự phục hổi mà cần phải có sự điều tiết từ bàn tay vô hìnhcủa nhà nước Đây là lý do căn bản nhất, cần thiết phải có sự giám sát, điều hànhmọi hoạt động kinhdoanh cũng như phát triển kinh tế xã hội của các cơ quan quản

lý nhà nước

Nhà nước là người đứng ra để bảo vệ công bằng cho các đối tượng tham giathị trường thông qua việc đưa ra các chính sách như chính sách tín dụng, chính sáchtiền tệ, chính sách thuế nhưng tuyệt đối không phải là người trực tiếp tham giahay can thiệp vào các hoạt động kinh tế của các xí nghiệp, các tập đoàn, các tổchức Và không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, vai trò của nhà nước trong việc quản lýcác doanh nghiệp còn thể hiện ở khía cạnh ổn định xã hội thông qua phân phối lạithu nhập quốc dân Muốn giải quyết tôt vấn đề xã hội thì phát triển của nền kinh tế

là yếu tố then chốt, liên quan đến mọi quyết định của nhà nước, do đó mục tiêu tốicao của hoạt động quản lý nhà nước chính là phát huy tối đa hiệu quả của nền kinh

tế quốc gia

Quản lý nhà nước góp phần thúc đẩy sự phát triển hợp pháp, đúng hướng cáchoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường bán lẻ Hoạtđộng bán lẻ là phân phối hàng hóa những mặt hàng thiết yếu tới tay người tiêu dùng

Trang 38

như lương thực, thực phẩm, các mặt hàng tiêu dùng, dụng cụ, vật liệu, thiết bị phục

vụ nhiều mặt trong đời sống sinh hoạt và làm ăn của xã hội…Nếu sự vận hành củamạng lưới phân phối không suông sẻ, thì sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sốngkinh tế, làm nảy sinh những vấn đề mất công bằng và xung đột trong xã hội, làmmất an ninh trật tự Nếu quản lý nhà nước định hướng tốt cho hệ thống phân phốihàng hóa bán lẻ sẽ mở rộng được lưu thông phân phối, lưu chuyển hàng hóa và dịch

vụ trên thị trường nội địa, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, phục vụ cho sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phongphú, đa dạng trong xã hội

Quản lý nhà nước giúp định hướng, đảm bảo sự phát triển hiệu quả, bìnhđẳng cho các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ trong quá trình tham gia thị trườngtrong thời kỳ hội nhập kinh tế Hiện nay, Việt Nam đã và đang tham gia hội nhậpsâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, thị trường nội địa trở thành là mảnh đất màu mỡgiành cho các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hàng hóa Nhưng sau khi mở cửahoàn toàn, các doanh nghiệp Việt kinh doanh bán lẻ hàng hóa dường như đang gặprất nhiều khó khăn thách thức, những bất cập hạn chế do các doanh nghiệp này phầnlớn mới được thành lập, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh còn ít, vốn nhỏ, sự liênminh liên kết trong khối doanh nghiệp nội còn yếu, sự cạnh cạnh tranh khốc liệttheo cơ chế thị trường giữa các doanh bán lẻ trong nước với nhau, giữa các doanhnghiệp nước ngoài với doanh nghiệp nước ngoài và giữa các doanh nghiệp nướcngoài với các doanh nghiệp trong nước cũng gây ra cho các doanh nghiệp nội địanhững tổn thương nặng nề Do đó quản lý nhà nước là tấm lá chắn bảo vệ cho cácdoanh nghiệp nội, là bàn tay vô hình để tạo lập môi trường phát triển cho các doanhnghiệp, nhất là các doanh nghiệp trong nước, ban hành các chính sách tạo sự cạnhtranh lành mạnh, chống lại việc mua bán và sáp nhập M&A hạn chế sự độc quyềntrên thị trường và các hình thức gian lận như chuyển giá để trốn thuế

Các doanh nghiệp tham gia vào thị trường kinh doanh bán lẻ hàng hóathường có mục đích, quyền lợi trái ngươc nhau hoặc triệt tiêu nhau Mỗi doanhnghiệp đều cố gắng tối đa hóa lợi ích của mình bằng mọi cách dẫn đến họ có những

Trang 39

hoạt động đa dạng, phức tạp để cạnh tranh lẫn nhau tạo động lực mạnh mẽ cho thịtrường phát triển Khi sự cạnh tranh quá lớn dễ dẫn đến những hành vi gian lận gâybất ổn cho thị trường Nhà nước là chủ thể quản lý, quản lý thị trường bán lẻ nóichung, doanh nghiệp bán lẻ nói riêng để bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp phápcủa các nhà đầu tư, dung hoà lợi ích của các chủ thể tham gia trên thị trường, đảmbảo tính ổn định tương đối của thị trường, giúp người tiêu dùng yên tâm khi có mộtchủ thể trung lập, không vì mục tiêu lợi nhuận đứng ra quản lý, giám sát, hạn chếtối đa các tiêu cực để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của họ.

1.2.3 Chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ.

a Chức năng định hướng sự phát triển.

Định hướng phát triển kinh tế là Nhà nước quyết định trước nhiệm vụ, nhữngmục tiêu, những chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong khoảng thời gian tươngđối dài từ 5 năm, 10 năm hoặc xa hơn, giúp các doanh nghiệp xây dựng mục tiêu pháttriển kinh doanh cụ thể cho doanh nghiệp của mình trong ngắn hạn cũng như xâydựng các mục tiêu lâu dài, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đặc biệt

là thời kỳ mới tạo lập kinh tế thị trường, các tổ chức kinh tế được tự chủ kinhdoanh, nhưng không thể nắm đầy đủ và chính xác tình hình và xu hướng vận độngcủa thị trường, do đó thường chạy theo thị trường một cách bị động, dễ xảy ra thua

lỗ, thất bại, gây đổ vỡ, thiệt hại chung cho nền kinh tế Khi Nhà nước định hướngnền kinh tế phát triển theo quỹ đạo và mục tiêu đã được khẳng định ra và hướng dẫncác nhà kinh doanh, các tổ chức kinh tế hoạt động theo đúng đường lối, đảm bảo ổnđịnh, hiệu quả cho từng doanh nghiệp và toàn thể nền kinh tế Nhà nước định hướng

và hướng dẫn thông qua kế hoạch, chính sách và các công cụ quản lý vĩ mô, đồngthời sử dụng có trọng điểm các nguồn tài chính tập trung và lực lượng dự trữ, pháttriển vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, khai thông các quan hệ bang giao, làmchỗ dựa cho các tổ chức và cá nhân trong hoạt động kinh doanh trong nước và nướcngoài Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, nhà nước chủ yếu sử dụng

Trang 40

phương pháp tác động hướng dẫn thay cho can thiệp trực tiếp như trước đây,phương pháp này vừa đảm bảo tính tự chủ sáng tạo của các cơ sở kinh tế vừa đảmbảo tính tự chủ sáng tạo của các cơ sở kinh tế vừa đảm bảo đạt mục tiêu chung,đồng thời tôn trọng các quy luật của thị trường, khai thác tốt nhất mọi tiềm năng và

cơ hội, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội lớn hơn

b Chức năng tạo lập môi trường kinh doanh.

Môi trường cho sự phát triển kinh tế nói chung và tạo lập môi trường kinhdoanh cho các doanh nghiệp và các doanh nghiệp bán lẻ nói riêng là tổng thể cácyếu tố và điều kiện khách quan, chủ quan có mối liên hệ mật thiết với nhau, có ảnhhưởng trực tiếp hay gián tiếp đến việc phát triển kinh tế cũng như hiệu quả kinhdoanh của các doanh nghiệp và quyết định đến hiệu quả kinh tế của đất nước Tạolập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp phát triển tức là tạo lập môitrường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường chính trị, môi trường văn hóa – xãhội, môi trường sinh thái, môi trường kỹ thuật; môi trường dân số, môi trường quốc

tế Khi môi trường kinh doanh thuận lợi sẽ là điểm tựa cho phát triển của nền kinh

tế nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là những điềukiện cần thiết để các chủ thể kinh tế yên tâm bỏ vốn vào kinh doanh và kinh doanhthuận lợi, ổn định, hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế đất nước, ngược lại sẽ kìmhãm, cản trở nền kinh tế phát triển

Để tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh, bằng quyềnlực của mình nhà nước cần phải đảm bảo sự ổn định về chính trị và an ninh quốcphòng, mở rộng các quan hệ đối ngoại trong đó có quan hệ kinh tế đối ngoại Tiếpđến là xây dựng và thực thi nhất quán các chính sách kinh tế - xã hội theo hướng đổimới và có chính sách dân số hợp lý Ngoài ra, Nhà nước cũng cần xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật, xây dựng mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giaothông, điện, nước, thông tin, dự trữ quốc gia để đảm bảo điều kiện cơ bản cho hoạtđộng kinh tế có hiệu quả; xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc và kế thừa tinh hoa văn hóacủa nhân loại; xây dựng một nền khoa học – kỹ thuật, công nghệ tiên tiến cần thiết,

Ngày đăng: 11/10/2020, 21:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
52. Ngọc Lâm: Dung lượng thị trường nội địa tăng mạnh, tổng mức bán lẻ 2015 cán mốc 150 tỷ USD, trong sách: “Kinh tế 2015-2016: Việt Nam và thế giới”, Thời báo kinh tế Việt Nam, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế 2015-2016: Việt Nam và thế giới
74. “Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta”, Đề tài cấp Bộ của Bộ Công thương, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhànước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta
16. Bộ Công thương (2016), Kênh bán lẻ hiện đại: tiếp sức hàng Việt, Báo Công Thương Khác
17. Lê Tấn Bửu, Bùi Thanh Tráng: Hoạt động tại kênh bán lẻ hiện đại ở Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 265, 2012 Khác
18. Mai văn Bửu, Đỗ Hoàng Toàn, Giáo trình Quản lý Nhà nước về kinh tế, NXB Đại Học Kinh tế Quốc Dân, 2008 Khác
19. Trần Văn Chánh: Điều kiện vĩ mô để phát triển các loại doanh nghiệp trong cơ chế thị trường: Nghiên cứu phát triển, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 31- 1993 Khác
20. Bảo Châu, Nguyễn Đức Diệp: Một số ý kiến về hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá ở nước ta, Tạp chí Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội số 54 – 2010 Khác
21. Phan Kim Chiến: Phân biệt và kết hợp tốt chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 60 – 2002 Khác
22. Nguyễn Văn Chiển: Thi hành Luật Doanh nghiệp – thành tựu và những bài học về quản lý nhà nước, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 164 – 2004 Khác
23. Nguyễn Cúc: Thể chế Nhà nước đối với một số loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, 2003 Khác
24. Diễn Đàn Doanh Nghiệp (2015), Sau một tháng triển khai luật doanh nghiệp: đột phát trên giấy, rào cản thực thi Khác
25. Phương Dung: Phát triển thị trường trong nước, nhận diện dung lượng và thị phần, trong sách: Kinh tế 2013-2014: Việt Nam và thế giới, Thời báo kinh tế Việt Nam, 2014 Khác
26. Nguyễn Thị Dung: Giải pháp phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam năm 2015, Tạp chí Tài chính, số tháng 5, kỳ 1 – 2015 Khác
27. Trương Quang Dũng: Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh tại thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 145 – 2008 Khác
28. Trương Quang Dũng: Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Công nghiệp, số kỳ 1 tháng 3 – 2008 Khác
30. Thái Dương: Thị trường bán lẻ Việt Nam giai đoạn mới: Cạnh tranh và hợp tác, Tạp chí Thuế nhà nước, số 42 – 2008 Khác
31. Đặng Đức Đam (2002): Phân cấp quản lý nhà nước về kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
32. Trần Đào: Thương mại bán lẻ sau giờ G, Tạp chí Kinh tế và dự báo 33. Nguyễn Duy Đạt: Thấy gì qua hoạt động M & A trên thị trường bán lẻ ở Việt Nam, tạp chí Kinh tế và dự báo, số 12 – 2015 Khác
34. Phạm Tiến Đạt: Quản lý nhà nước về M & A trên thế giới, Tạp chí Tài chính, số 5 -2010 Khác
35. Nguyễn Điển: Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Tạp chí Kinh tế và dự báo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w