Ngày nay, con người là nhân tố chính trong việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội, trong đó tri thức là yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định. Với nhu cầu ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi giáo dục phải có những bước tiến quan trọng nhằm đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước để đáp ứng và đón đầu sự phát triển của đất nước trong sự hội nhập hiện nay. Vật lý là môn khoa học cơ bản gắn liền với thực tiễn, vì vậy trong quá trình dạy học người giáo viên có thể chia sẻ những kiến thức Vật lý nhằm giải quyết các vấn đề thực nghiệm, giải thích các hiện tượng trong cuộc sống. Thông qua quá trình này, tạo điều kiện kích thích sự tò mò, ham hiểu biết của học sinh, từ đó giúp các em từng bước tìm hiểu và nghiên cứu Vật lý. Như Galileo Galile đã từng nói “Chúng ta không thể dạy người ta bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra điều gì đó ngay trong chính bản thân họ”. Vì vậy, quá trình giảng dạy Vật lý ở nhà trường phổ thông không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức của thầy cho trò, mà là quá trình tương tác giữa thầy và trò nhằm đạt đến kiến thức chân lý. Việc cải cách giáo dục đang dần thay đổi, lấy vai trò người học làm trung tâm, nhằm phát triển năng lực bản thân, tự giải quyết vấn đề nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Với phương pháp dạy học mới, giáo viên sẽ định hướng cho học sinh tự tìm hiểu kiến thức, qua đó sẽ khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều, ghi nhớ máy móc của học sinh. Từ đó sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học. Trong xu thế giáo dục hiện nay thì sự kết hợp các phương tiện dạy học, cùng với việc hình thành và rèn luyện kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề là một trong những yếu tố cần thiết trong quá trình dạy học. Xuất phát từ những lý do này tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề và dạy học một số kiến thức chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT” để giúp học sinh tìm hiểu kiến thức chương này một cách sâu sắc hơn, cũng như việc vận dụng các kiến thức liên quan và bên cạnh đó là phát huy tính tích cực học tập và phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
Trang 1CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, con người là nhân tố chính trong việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội, trong đó tri thức là yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định Với nhu cầu ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi giáo dục phải có những bước tiến quan trọng nhằm đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước để đáp ứng và đón đầu sự phát triển của đất nước trong sự hội nhập hiện nay
Vật lý là môn khoa học cơ bản gắn liền với thực tiễn, vì vậy trong quá trình dạy học người giáo viên có thể chia sẻ những kiến thức Vật lý nhằm giải quyết các vấn đề thực nghiệm, giải thích các hiện tượng trong cuộc sống Thông qua quá trình này, tạo điều kiện kích thích sự tò mò, ham hiểu biết của học sinh,
từ đó giúp các em từng bước tìm hiểu và nghiên cứu Vật lý Như Galileo Galile
đã từng nói “Chúng ta không thể dạy người ta bất cứ điều gì Chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra điều gì đó ngay trong chính bản thân họ” Vì vậy, quá trình giảng dạy Vật lý ở nhà trường phổ thông không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức của thầy cho trò, mà là quá trình tương tác giữa thầy và trò nhằm đạt đến kiến thức chân lý
Việc cải cách giáo dục đang dần thay đổi, lấy vai trò người học làm trung tâm, nhằm phát triển năng lực bản thân, tự giải quyết vấn đề nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội Với phương pháp dạy học mới, giáo viên sẽ định hướng cho học sinh tự tìm hiểu kiến thức, qua đó sẽ khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều, ghi nhớ máy móc của học sinh Từ đó sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học
Trong xu thế giáo dục hiện nay thì sự kết hợp các phương tiện dạy học, cùng với việc hình thành và rèn luyện kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề là một trong những yếu tố cần thiết trong quá trình dạy học Xuất phát từ những lý
do này tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề và dạy học một số kiến thức chương “Chất khí” - Vật lý
10 THPT” để giúp học sinh tìm hiểu kiến thức chương này một cách sâu sắc
hơn, cũng như việc vận dụng các kiến thức liên quan và bên cạnh đó là phát huy
Trang 2tính tích cực học tập và phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
CHƯƠNG II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
I Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
1 Khái niệm về phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học theo định hướng lấy học sinh làm trung tâm Trong đó học sinh học về các chủ đề thông qua các vấn đề có trong thực tiễn và liên quan tới nội dung môn học Làm việc theo nhóm, học sinh xác định những điều đã biết, những điều cần biết, và làm thế nào để có được những thông tin cần biết trong việc giải quyết vấn đề (Answers.com)
Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề là dạy học dựa trên các vấn đề thực tiễn có liên quan đến người học và liên quan đến nội dung học tập đã được quy định trong “chuẩn kiến thức, kỹ năng” Trên cơ sở đó, người học tự chiếm lĩnh tri thức và phát triển các năng lực như lập kế hoạch, tự định hướng học tập, hợp tác, các kỹ năng tư duy bậc cao, kỹ năng sống (PGS.TS Nguyễn Văn Khôi)
2 Ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
a) Ưu điểm
- Phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập
- Người học được rèn luyện các kỹ năng cần thiết
- Người học được sớm tiếp cận những vấn đề thực tiễn
Trang 3- Bài học được tiếp thu vừa rộng vừa sâu, được lưu giữ lâu trong trí nhớ người học
- Đòi hỏi giáo viên không ngừng vươn lên
Một số GV đã và đang vận dụng được các PPDH tích cực trong dạy học; kĩ năng
sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại và ứng dụng CNTT vào việc tổ chức hoạt động dạy học một cách khá hiệu quả
2 Hạn chế
a) Đối với giáo viên
- Hoạt động đổi mới PPDH chưa mang lại hiệu quả cao Truyền thụ tri thức phần lớn vẫn là PPDH truyền thống, một chiều Một bộ phận giáo viên không tích cực đầu tư, cải tiến PPDH, không trau dồi chuyên môn nhằm nâng cao tay nghề Một số giáo viên mặc dù có ý thức đổi mới PPDH nhưng việc thực hiện chỉ mang tính hình thức, đối phó chưa thực sự đem lại hiệu quả mong
muốn
- Trong quá trình dạy học còn nặng về truyền thụ lý thuyết, chưa thật sự được quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp
b) Đối với học sinh
- Về phía học sinh còn thói quen thụ động, ghi nhớ và tái hiện một cách máy móc, rập khuôn, chưa chủ động tìm tòi, khám phá, lười suy nghĩ, ngại phát biểu
Trang 4- Một bộ phận học sinh có ý thức học tập không tốt, lười học, thường xuyên không thuộc bài, không làm bài tập, mất trật tự trong giờ học, vi phạm nội quy
3 Nguyên nhân
- Nhận thức về sự cần thiết đổi mới PPDH, ý thức thực hiện đổi mới của một
bộ phận nhỏ cán bộ quản lí, GV còn chưa cao Năng lực của đội ngũ GV về vận dụng PPDH tích cực, sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng CNTT còn hạn chế
4 Giải pháp
Để khắc phục thực trạng này tôi đã áp dụng dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT với những biện pháp sau:
- Những biện pháp kích thích hứng thú học tập của HS trong quá trình giải quyết vấn đề:
+ HS tự tìm hiểu kiến thức của chương và tự tiến hành làm thí nghiệm thông qua sự hướng dẫn của GV
+ HS hoạt động theo nhóm
+ Sử dụng những hình ảnh trực quan, các clip về chất khí có sẵn trên internet
để HS quan sát chuyển động của các phân tử khí
+ Sau mỗi bài học sử dụng bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả của HS
Cách thức tổ chức các hoạt động của từng giai đoạn dạy học
- GV chia lớp học thành các nhóm nhỏ tùy thuộc theo sĩ số HS của lớp thực nghiệm HS sẽ làm việc theo nhóm để giải quyết và đưa ra câu trả lời cho từng yêu cầu hay câu hỏi mà GV đưa ra sau những khoảng thời gian nhất định
- GV sẽ chấm điểm hoạt động của từng nhóm theo các tiêu chí cụ thể
để lựa chọn ra nhóm nào hoạt động tốt nhất, và các cá nhân hoạt động tích cực nhất
Giai đoạn nêu và phát biểu vấn đề: GV cho từng nhóm HS làm thí nghiệm để làm
nảy sinh vấn đề, từ đó phát biểu vấn đề cần giải quyết
Giai đoạn giải quyết vấn đề: GV đưa ra các câu hỏi gợi ý để giúp HS đưa ra được giả
thuyết phù hợp nhất và đề xuất phương án tiến hành kiểm chứng giả thuyết đó Các nhóm HS sẽ lần lượt trình bày ý kiến của nhóm GV nhận xét để đưa ra phương án
Trang 5đúng nhất sau đó cho từng nhóm HS làm thí nghiệm kiểm chứng Từng nhóm HS làm thí nghiệm, thu thập và xử lý số liệu thu được và báo cáo kết quả lại cho GV GV nhận xét kết quả làm việc của các nhóm
Giai đoạn kết luận và vận dụng: GV rút ra kết luận chung và khẳng định lại kiến
thức mới mà HS cần ghi nhớ GV đưa ra các câu hỏi thực tế để HS vận dụng kiến thức vừa ghi nhận để giải thích
III.Thiết kế tiến trình dạy học chương “Chất khí” - Vật lý 10 THPT theo
phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề Tiến trình dạy học bài “Quá trình đẳng nhiệt Định luật Bôi-lơ - Ma-ri-ốt”
theo phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Câu trả lời mong đợi
GV cho HS tìm hiểu một số khái niệm: HS tìm hiểu và ghi nhớ
- Khối khí xác định là khối khí có khối lượng, hay số phân tử khí là xác định, không đổi
- Khối khí xác định có thể tích, áp suất, nhiệt
độ xác định
Trang 6thể tích V và nhiệt độ
tuyệt đối T Chú ý:
T(K) = t0C + 273
- Nghe và phát biểu lại
Giai đoạn nêu và phát biểu vấn đề: HS làm thí nghiệm theo nhóm theo yêu
cầu của GV và phát hiện vấn đề
trạng thái nào của khối
khí không thay đổi,
thông số nào thay đổi
và thay đổi thế nào?
+ Cho HS nhận xét sự
thay đổi giữa áp suất
và thể tích
- Làm thí nghiệm theo nhóm và cử đại diện lần lượt trình bày ý kiến của nhóm mình
Ghi nhận lại
- Nhiệt độ của khối khí trong bơm tiêm không thay đổi Khi nén khí trong bơm tiêm thì thấy thể tích khí giảm, cảm giác nén bơm tiêm khó khăn, có thể là do áp suất khí trong bơm tiêm tăng
- Thể tích khí giảm nhưng áp suất khí lại tăng
Trang 7- GV phát biểu lại vấn
đề: “Trong một quá
trình biến đổi trạng
thái của một khối khí,
khi giữ nhiệt độ T của
với nhau, vậy có biểu
thức toán học nào biểu
thị mối quan hệ này
không?
Giả thuyết: “Khi một
khối khí thay đổi trạng
thái, với T không đổi
nhóm
- HS phối hợp theo nhóm
tìm ra phương án kiểm chứng giả thuyết,
và trình bày ý kiến của nhóm
.
p V =const
- Dùng bình kín chứa khí
- Dùng một xilanh chứa một khối khí xác định, trong xi lanh có một pit-tông có thể di chuyển để thay đổi thể tích và áp suất của khối khí Có thể giữ cố định vị trí của pit-tông bằng cách dùng chốt
Trang 8số liệu, và so sánh kết quả với các nhóm khác
Rút ra kết luận
- Nối áp kế với xilanh
- Dùng xilanh có gắn thang đo độ cao h của khối khí khi biết tiết diện
S của xilanh có thể đo được V = hS (xilanh đồng tiết diện)
- Tiến hành thí nghiệm + Kéo pit-tông lên, dùng nút cao su bịt lại để nhốt
1 lượng khí xác định vào trong xilanh
Đo p1 , h1
+ Nén pit-tông lại rồi vặn khóa giữ nguyên vị trí của pit-tông Đo p2, h2
+ Kéo pit-tông lên rồi vặn khóa giữ nguyên vị trí của pit-tông Đo p3, h3
+ Ghi số liệu vào bảng, nhận xét sự tăng giảm của V và p, tính pV
Giai đoạn kết luận và vận dụng: HS rút ra kết luận và GV khẳng định lại nội
dung kiến thức mới
- GV khẳng định lại
sự đúng đắn của giả
thuyết và rút ra kết
luận cho HS: “Trong
quá trình biến đổi
trạng thái của một khối
- Ghi nhớ
Trang 9tượng trong tự nhiên
hay trong cuộc sống
+ Câu hỏi: Tại sao một
+ Trả lời: Khi chiếc ống đựng nước nổ thì áp suất nước nhanh chóng giảm xuống
Khi bình đựng khí nổ, thể tích khí tăng nhanh chóng, áp suất giảm nên các mảnh vỡ sẽ thu được vận tốc lớn và gây ra sức cộng phá lớn
Trang 10Tiến trình dạy học bài “Quá trình đẳng tích Định luật Sác-lơ” theo
phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Câu trả lời mong đợi Giai đoạn làm nảy sinh vấn đề và phát biểu vấn đề: GV cho HS làm thí
nghiệm theo nhóm và phát biểu vấn đề
- GV cho HS làm thí
nghiệm: bỏ lần lượt 1
bình kín chứa không khí
vào chậu nước lạnh, và
chậu nước nóng; yêu
cầu HS nhận xét về sự
thay đổi của các thông
số trạng thái của khối
khí trong bình
(Có thể HS sẽ không
nhận ra sự thay đổi của
áp suất, GV gợi ý cho
- Làm thí nghiệm theo nhóm, vận dụng kiến thức cũ để phát hiện ra vấn đề
- Khi bỏ bình kín vào nước lạnh thì thể tích bình không đổi, nhiệt độ khí trong bình giảm, áp suất giảm
- Tương tự khi bỏ bình kín vào nước nóng thì thể tích bình không đổi, nhiệt độ khí tăng, áp suất tăng
không nguy hiểm?
xilanh Trong khi nén
pit- tông lại dùng tay
bịt đầu kia của xilanh,
Trang 11tỷ lệ thuận với nhiệt độ
trong khi giữ thể tích
của khối khí không đổi
không?”
Ghi nhận
Giai đoạn giải quyết vấn đề: GV hướng dẫn các nhóm HS đề xuất giả thuyết,
phương án thí nghiệm kiểm chứng
- GV hướng dẫn HS đề
xuất giả thuyết: p tăng
tỷ lệ thuận với V, vậy có
biểu thức nào biểu thị
mối quan hệ này không?
Giả thuyết: khi giữ thể
tích của một khối khí
không đổi trong quá
trình biến đổi trạng thái
- Làm sao để thay đổi
- HS thảo luận theo nhóm, đưa ra giả thuyết
T =
- Dùng một bình kín không co giãn (có thể là bình thủy tinh) để chứa khí
- Nhúng bình kín vào bình nước nóng hoặc nước lạnh, và dùng nhiệt
kế đo nhiệt độ của các
Trang 12- Dùng áp kế gắn vào bình
- Tiến hành thí nghiệm + Dùng tay kéo pit-tông lên, sau đó dùng nút cao
su bịt lại để nhốt 1 lượng khí xác định vào trong xilanh Lúc này đo được áp suất p1 , và nhiệt độ lượng khí trong xilanh bằng nhiệt độ phòng T1 (đo bằng nhiệt kế)
+ Nhúng xilanh vào bình nước lạnh, đo được nhiệt đô T2 và áp suất p2
+ Nhúng xilanh vào nước nóng, đo được nhiệt độ T3 và áp suất p3
+ Ghi số liệu vào bảng, nhận xét sự thay đổi giữa p và T, và kiểm tra biểu thức
P const
T =
Trang 13Giai đoạn kết luận và vận dụng: GV kết luận lại nội dung kiến thức mới cho
HS và đưa ra các câu hỏi thực tế để HS vận dụng kiến thức vừa học để giải
thích
- GV kết luận lại kiến
thức mới: “Trong quá
trình biến đổi trạng thái
của một lượng khí xác
định, khi thể tích không
đổi thì áp suất và nhiệt
độ ỷ lệ thuận với nhau,
hay P const
T =
- GV thông báo đây là
nội dung định luật
đời sống, giải thích hiện
tượng trong clip thí
- Trả lời câu hỏi 1: Khi đặt bình gas ở nơi có nhiệt
độ cao thì áp suất khí trong bình gas tăng dễ gây nổ
Trang 14Tiến trình dạy học bài “Phương trình trạng thái của khí lý tưởng Quá trình đẳng áp” theo phương pháp dạy học nêu và giải
Hoạt động của GV Hoạt động của GV Câu trả lời mong đợi
GV phân biệt cho HS sự khác biệt giữa khí thực và khí lý tưởng
thái đều thay đổi ta có tìm
được mối liên hệ tổng quát
cho cả 3 thông số trạng
thái không?”
Suy nghĩ và thảo luận
- Có thể tìm được
Giai đoạn giải quyết vấn đề: GV hướng dẫn HS suy luận bằng lý thuyết để tìm
ra giả thuyết, từ đó tìm phương án kiểm chứng giả thuyết
- GV gợi ý để HS sử dụng
kiến thức cũ để tìm ra giả
thuyết: làm cách nào để
biết được mối quan hệ
tổng quát giữa các thông
số trạng thái đặc trưng cho
hai trạng thái khác nhau?
Trang 15lượng khí được biểu diễn
như thế nào trên một hệ
+ Có thể cho khối khí biến
đổi trạng thái thông qua
những quá trình đã biết
được không?
- GV hướng dẫn cho HS
biểu diễn các quá trình
biến đổi đó theo 2 cách để
GV kết luận lại kết quả thu
được về mối quan hệ giữa
các thông số trạng thái
theo 2 cách: trong quá
Một số nhóm thực hiện theo cách 1, các nhóm còn lại làm theo cách 2
- Biểu diễn bằng 1 điểm
- Có nhiều cách biến đổi trạng thái khác nhau
- Cho khối khí biến đổi trạng thái quá quá trình đẳng nhiệt
- Phương án: giữ áp suất của khối khí không đổi, thay đổi nhiệt độ của khối khí và khảo sát sự thay đổi của thể tích theo nhiệt độ
Trang 16trình biến đổi trạng thái bất
- GV đưa ra hệ quả của
biểu thức trên: Nếu trong
+ Dùng một xilanh kín, có pit- tông có thể di chuyển được, khi áp suất khí trong xilanh bằng với áp suất khí quyển thì pit- tông sẽ tự di chuyển tới vị trí cân bằng (ta không cần điều chỉnh pit-tông)
+ Nhúng xilanh vào nước lạnh hoặc nước nóng (nhiệt
độ của nước nóng và nước lạnh khác với nhiệt độ phòng) Pit-tông sẽ di chuyển
để giữ cho áp suất luôn cân bằng với áp suất khí quyển (có thể gắn áp kế vào xilanh để điều chỉnh xilanh
để áp kế chỉ đúng 1 giá trị) + Dùng nhiệt kế
+ Gắn vào xilanh một thước
đo độ cao của không khí trong xilanh, tiết diện S của xilanh đã biết V = hS Tiến hành thí nghiệm + Xilanh chứa một lượng khí xác định Ta đo được áp suất, thể tích và nhiệt độ khí lúc đó
p1, V1, T1
+ Nhúng xilanh vào nước nóng, pit-tông dịch chuyển,
Trang 17+ Đo nhiệt độ của khối khi
- Các nhóm tiến hành làm thí nghiệm, xử lý kết quả và rút ra kết luận
- Vẽ đồ thị và nhận
xé
p2=p1, đo được V2, T2 + Nhúng xilanh vào nước lạnh, pit-tông dịch chuyển,
p3=p1,đo được V3, T3
+ Ghi số liệu vào bảng, nhận xét
Giai đoạn kết luận vấn đề và vận dụng: GV kết luận lại nội dung kiến thức
HS cần nắm, và đưa ra một vài vận dụng cho HS
- GV kết luận lại nội dung
kiến thức: trong quá trình
biến đổi trạng thái bất kỳ