1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác quản lý tài chính tại tổng cục dự trữ nhà nước

119 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 243,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển nguồn nhân lực dự trữ quốc gia bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.”Để thực hiện Chiến lược phát tri

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TỪ QUANG PHƯƠNG

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độclập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồngốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đỗ Thị Nguyệt

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện tại trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia

Hà Nội Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Từ Quang Phương đã trực tiếp hướngdẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Thầy đãđem đến cho tôi những kiến thức và giúp tôi có khả năng tổng hợp những tri thứckhoa học, những kiến thức thực tiễn quản lý và phương pháp làm việc khoa họctrong công tác và nghiên cứu Thầy đã góp ý, chỉ bảo trong việc định hướng vàhoàn thiện luận văn

Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo Tổng cục Dự trữ Nhà nước, thủ trưởng các đơn vịthuộc và trực thuộc Tổng cục Dự trữ Nhà nước cùng các đồng nghiệp đã tạo điềukiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và các bạn học viên lớp Cao họcTài chính – Ngân hàng 3 – Khóa 22 đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trìnhhọc tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn./

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH VẼ iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục đích nghiên cứu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Những đóng góp của luận văn 3

5 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC4 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

1.2 Công tác quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính nhà nước 5

1.2.1 Khái quát về cơ quan hành chính nhà nước 5

1.2.1.1 Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước 5

1.2.1.2 Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước 6

1.2.1.3 Phân loại cơ quan hành chính nhà nước 9

1.2.1.4 Kinh phí quản lý hành chính của cơ quan hành chính nhà nước 9

1.2.2 Nội dung, chu trình quản lý tài chính tại các Cơ quan hành chính Nhà nước 11 1.2.2.1 Nội dung quản lý tài chính tại các Cơ quan hành chính nhà nước 11

1.2.2.2 Chu trình quản lý tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước 20

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính Nhà nước 21

1.2.3.1 Nhân tố khách quan 21

1.2.3.2 Nhân tố chủ quan 22

1.2.4 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính, kinh nghiệm quản lý tài chính công tại New zealand và bài học vận dụng cho Việt Nam .24

1.2.4.1 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý tại các cơ quan hành chính 24

Trang 6

1.2.4.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính công tại New zealand và bài học vận

dụng cho Việt Nam 24

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 29

2.1 Quy trình nghiên cứu 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu 30

2.2.1 Phương pháp phỏng vấn 30

2.2.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 32

2.2.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp 32

2.2.4 Phương pháp so sánh 33

2.2.5 Phương pháp thống kê mô tả 34

2.2.6 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 34

2.3 Thiết kế nghiên cứu 34

2.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 34

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin 34

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 35

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC 37

3.1 Khái quát về Tổng cục Dự trữ Nhà nước 37

3.1.1 Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của Tổng cục Dự trữ Nhà nước 37

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dự trữ Nhà nước 39 3.1.3 Các hoạt động nghiệp vụ đặc thù của Tổng cục Dự trữ Nhà nước 43

3.2 Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước giai đoạn 2012-2014 44

3.2.1 Tổ chức và phân cấp về công tác quản lý tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước 44

3.2.2 Nội dung thực hiện công tác quản lý tài chính 46

3.2.3 Công tác quản lý kinh phí 61

3.3 Đánh giá chung công tác quản lý tài chính của Tổng cục Dự trữ Nhà nước 70 3.3.1 Những kết quả đạt được 70

3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 74

Trang 7

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016-2020 81

4.1 Mục tiêu, định hướng hoàn thiện công tác quản lý tài chính 81

4.1.1 Mục tiêu, định hướng hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính nhà nước 81

4.1.2 Mục tiêu, định hướng hoàn thiện công tác quản lý tài chính nội ngành của hệ thống dự trữ nhà nước 82

4.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước 83

4.2.1 Nâng cao hiệu quả, giảm chi phí, thực hành tiết kiệm trong việc sử dụng biên chế 83

4.2.2 Hoàn thiện phương thức cấp phát NSNN theo dự toán được duyệt 84

4.2.3 Hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ và triển khai khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính cho các đon vị trực thuộc và trực thuộc Tổng cục DTNN 85

4.2.4 Phát triển cơ chế cấp phát ngân sách theo kết quả đầu ra 87

4.2.5 Đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý chi NSNN 89

4.2.6 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tài chính 91

4.2.7 Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát công tác tài chính, kế toán 92 4.3 Kiến nghị 93

4.3.1 Đối với nhà nước 93

4.3.2 Đối với Bộ Tài chính 93

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 9

i

Trang 11

ii

Trang 12

DANH MỤC HÌNH VẼ

STT Hình

1 Hình 2.1

2 Hình 3.1

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu

Để duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy nhà nước cần phải có nguồn tàichính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu Cùng với việc huy động nguồn tài chính đểbảo đảm, một vấn đề rất quan trọng đặt ra là phải quản lý chặt chẽ, hiệu quả nguồntài chính phục vụ cho hoạt động của bộ máy Quản lý tài chính là nội dung quantrọng của hoạt động quản lý nhà nước, nó bảo đảm cho việc huy động, phân bổ và

sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính nhằm đạt tới những mục tiêu khác nhau trongtừng thời kỳ của nhà nước

Tăng cường công tác quản lý tài chính là yêu cầu đặt ra cho tất cả các cơ quanđơn vị trong bộ máy nhà nước các cấp, trong đó có hệ thống Tổng cục Dự trữ Nhànước Kinh nghiệm cho thấy bất cứ khi nào và ở đâu quản lý bị buông lỏng cũng làtiền đề cho những bất cập và kém hiệu quả Mặt khác mục tiêu hoạt động của các cơquan đơn vị xét cho cùng là hoàn thành nhiệm vụ chính trị với chi phí thấp nhất haynói cách khác với một lượng ngân sách đảm bảo có hạn, kết quả đạt được là lớnnhất Vì vậy tăng cường công tác quản lý tài chính cũng chính là góp phần thựchiện mục tiêu này

Tổng cục Dự trữ Nhà nước là đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính, một cơ quan hànhchính nhà nước không có nguồn thu, được ngân sách đảm bảo duy trì và hoạt động,mang nhiều tính đặc thù, vừa có hoạt động quản lý nhà nước, vừa có hoạt động muabán hàng hóa như một đơn vị sự nghiệp công ích Với Chiến lược phát triển Dự trữquốc gia đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số

2091/QĐ-TTg ngày 28/12/2012 đã nêu rõ mục tiêu: “Tăng cường tiềm lực dự trữ quốc

gia, đảm bảo đến năm 2015, tổng mức dự trữ quốc gia đạt khoảng 0,8 - 1% GDP và đến năm 2020 đạt khoảng 1,5% GDP Sẵn sàng đáp ứng yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh; phục vụ động viên công nghiệp; đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ

mô, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và thực hiện các

Trang 14

nhiệm vụ cấp bách khác Hiện đại hóa công nghệ bảo quản, nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng công nghệ bảo quản tiên tiến của các nước trong khu vực, phù hợp với điều kiện khí hậu và kinh tế - xã hội của Việt Nam nhằm bảo đảm chất lượng hàng dự trữ quốc gia và nâng cao hiệu quả công tác bảo quản Hoàn chỉnh hệ thống kho dự trữ quốc gia với trang thiết bị hiện đại, quy mô tập trung, đảm bảo hình thành các vùng, tuyến chiến lược phù hợp với điều kiện về kinh tế, quốc phòng của vùng, lãnh thổ Hệ thống thông tin thông suốt trong hoạt động dự trữ quốc gia, bảo đảm tin học hóa 100% quy trình quản lý nghiệp vụ nhập, xuất, bảo quản Phát triển nguồn nhân lực dự trữ quốc gia bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.”

Để thực hiện Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia như đã nêu ở trên thì nguồnlực từ Ngân sách nhà nước bố trí cho công tác quản lý dự trữ nhà nước chắc chắn sẽngày càng tăng so với trước đây, theo đó công tác quản lý tài chính của Tổng cục Dựtrữ Nhà nước cũng cần phải có sự đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp nhằm đảm bảoquản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí tại Tổng cục dự trữ Nhànước trong thời gian tới, đồng thời góp phần quan trọng giúp cho Tổng cục dự trữ Nhànước hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị được nhà nước giao

Vì vậy, để công tác quản lý tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước đáp ứng

được yêu cầu đặt ra thì việc nghiên cứu đề tài “Công tác quản lý tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước” thực sự có ý nghĩa và cần thiết, đặc biệt là về mặt thực tiễn đối với Tổng cục Dự trữ Nhà nước.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài chính đối với các Cơ quan hànhchính Nhà nước trên cơ sở đó đối chiếu với thực trạng công tác quản lý tài chính tạiTổng cục Dự trữ Nhà nước, qua đó đề xuất các giải pháp quản lý tài chính đối vớiTổng cục Dự trữ Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ mà Đảng vàNhà nước giao cho

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 15

- Nghiên cứu quản lý tài chính đối với quy trình lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước.

- Nghiên cứu hoạt động đặc thù của Tổng cục Dự trữ nhà nước

- Nghiên cứu, phân tích đánh giá công tác quản lý tài chính của Tổng cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính và rút ra những bài học kinh nghiệm

- Đề ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với Tổng cục Dự trữ Nhà nước trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Công tác quản lý tài chính, chủ yếu nghiên cứu quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về quản lý tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2014

4 Những đóng góp của luận văn

- Tổng hợp một số lý luận chung về cơ quan HCNN và cơ chế tự chủ, tự chịutrách nhiệm tại cơ quan HCNN

- Phân tích một số hoạt động đặc thù của Tổng cục Dự trữ Nhà nước được nhà nước giao khoán kinh phí

- Phân tích những hạn chế, khó khăn khi áp dụng các quy định của nhà nước

về tài chính trong hoạt động của Tổng cục Dự trữ Nhà nước

- Đề xuất một số giải pháp về quản lý tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về công tác quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính

nhà nước

Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu.

Chương 3: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước.

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với Tổng cục

Dự trữ Nhà nước.

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI

CHÍNH TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Từ năm 2006, khi chế độ tự chủ đối với cơ quan hành chính nhà nước ra đời

và được áp dụng cho đến nay, đây là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm của các nhàquản lý, nhà khoa học, các Bộ, ngành, địa phương Đã có nhiều báo cáo sơ kết đánhgiá của Bộ Tài chính, của các đơn vị, địa phương qua từng thời kỳ áp dụng; có một

số bài viết mang tính chất nghiên cứu, trao đổi trong các Tạp chí của một số nhàkhoa học, cán bộ quản lý, như:

- Bộ Tài chính, Bộ nội vụ đã thực hiện việc tổng kết đánh giá 8 năm 2014) triển khai thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 củaChính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinhphí quản lý hành chính đối với cơ quan Nhà nước và một số kiến nghị, giải phápthực hiện trong giai đoạn 2015-2020

(2006 Nguyễn Phương Anh (2008), “Hoàn thiện cơ chế tài chính tại trường ĐHCông Đoàn” Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Đề tài nghiên cứumột số vấn đề lý luận về cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu

và của các trường đại học công lập Phản ánh thực trạng về cơ chế quản lý tài chínhtại trường Đại học Công Đoàn, rút ra ưu, nhược điểm và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị này

- Phạm Lan Hương (2010), “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục ở tỉnh Sóc Trăng”, Luận vănThạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đã đánh giá vàđưa ra một số vấn đề hiệu quả trong hoạt động quản lý chi thường xuyên củaNSNN Tuy nhiên đánh giá này chỉ là một phần trong nhiều nội dung chi thườngxuyên của NSNN hơn nữa chỉ đánh giá trong giới hạn không gian nghiên cứu

- Nguyễn Minh Học (2011): “Tăng cường công tác quản lý tài chính đối với

Trang 17

các trường đại học, cao đẳng do tỉnh Phú Thọ quản lý”, Luận văn thạc sĩ kinh tế,Đại học nông nghiệp Hà nội Luận văn xác định được vai trò của công tác quản lýtài chính của các trường Đại học, Cao đẳng để từ đó đưa ra các giải pháp tăngcường công tác quản lý tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng hiệu quảnhất Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác tài chính, quản

lý tài chính trong Đại học, Cao đẳng, đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chínhtại các trường Đại học, Cao đẳng do tỉnh Phú Thọ quản lý Phân tích các yếu tố ảnhhưởng đến công tác quản lý tài chính tại các trường Đại học, Cao đẳng nói chung

và các trường đại học, cao đẳng do tỉnh Phú Thọ quản lý nói riêng Đề xuất địnhhướng và các giải pháp để tăng cường quản lý tài chính đối với các trường đại học,cao đẳng do tỉnh Phú Thọ quản lý nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạocủa các trường đại học, cao đẳng

- Phạm Hùng (2013): “Tăng cường công tác quản lý tài chính tại trường Đạihọc khoa học - Đại học Thái Nguyên” Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế vàQuản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác quản lý tài chínhđối với các cơ quan hành chính nhà nước một cách có hệ thống, nhất là đối với hệthống Tổng cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính, một cơ quan hành chínhnhà nước mang nhiều tính đặc thù, vừa có hoạt động quản lý nhà nước, vừa có hoạtđộng mua bán hàng hóa như một đơn vị sự nghiệp công ích Song chưa có đề tàinào đề cập tới công tác quản lý tài chính tại Tổng cục DTNN Học viên xin khẳngđịnh đề tài này không bị trùng với đề tài nào khác

1.2 Công tác quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính nhà nước

1.2.1 Khái quát về cơ quan hành chính nhà nước

1.2.1.1 Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước

Cơ quan hành chính nhà nước là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan nhànước, được thành lập theo quy định của pháp luật (Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh) có tổchức và hoạt động theo quyết định của pháp luật; sử dụng quyền lực nhà nước thực thichức năng, nhiệm vụ trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định;

Trang 18

Cơ quan HCNN là một loại cơ quan thuộc quyền lực Hành pháp, được lập

ra để thực thi pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành Thẩm quyền củachúng chỉ giới hạn trong phạm vi chấp hành, điều hành và chịu sự giám sát của cơquan quyền lực cùng cấp;

Hoạt động của cơ quan HCNN mang tính thường xuyên, liên tục và tương đối

ổn định, là cầu nối trực tiếp nhất đưa đường lối, chính sách, pháp luật vào cuộc sống

Tổ chức của cơ quan HCNN có mối quan hệ trực thuộc theo một thứ bậcchặt chẽ (quan hệ mệnh lệnh) tạo thành một hệ thống thống nhất từ trung ươngxuống các cấp ở địa phương;

Chức năng quan trọng và chủ yếu của Cơ quan HCNN là quản lý, điều hànhcác lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội một cách độc lập tương đối trong phạm vimột quốc gia hay một địa phương nhất định

Cơ quan HCNN là thuật ngữ được sử dụng khi nói về "một bộ phận (cơquan) cấu thành của bộ máy HCNN, được sử dụng quyền lực Nhà nước để thựchiện chức năng quản lý, điều hành (chức năng hành pháp) đối với mọi lĩnh vực củađời sống xã hội"

1.2.1.2 Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước

Cơ quan HCNN là một loại cơ quan nhà nước, là một bộ phận cấu thành bộmáy nhà nước Do vậy, cơ quan HCNN cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung củacác cơ quan nhà nước Cụ thể:

Thứ nhất, Cơ quan HCNN hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được

tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ Tính quyền lực nhà nước

thể hiện ở chỗ: Cơ quan HCNN là một bộ phận của bộ máy nhà nước; Cơ quanHCNN nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiệncác quyền và nghĩa vụ pháp lý

Thứ hai, Mỗi cơ quan HCNN đều hoạt động dựa trên những quy định của

pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền nhất định và có những mối quan hệphối hợp trong thực thi công việc được giao Hệ thống cơ quan HCNN có cơ cấu, tổchức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định

Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan HCNN do pháp luật quy

Trang 19

định, đó là tổng thể những quyền và nghĩa vụ cụ thể mang tính quyền lực, được nhànước trao cho để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình, cụ thể: Các cơ quanHCNN tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật; Trongquá trình hoạt động có quyền ban hành các quyết định hành chính thể hiện dướihình thức là các văn bản pháp quy và các văn bản cá biệt; được thành lập theo quyđịnh của Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh hoặc theo quyết định của cơ quan HCNN cấptrên; được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp

và báo cáo hoạt động trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp; Có tính độc lập

và sáng tạo trong tác nghiệp điều hành nhưng theo nguyên tắc tập trung dân chủ,nguyên tắc quyền lực phục tùng

Thứ ba, Về mặt thẩm quyền thì cơ quan HCNN được quyền đơn phương ban

hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn bản đó có hiệu lực bắt buộc đốivới các đối tượng có liên quan; cơ quan HCNN có quyền áp dụng các biện pháp cưỡngchế đối với các đối tượng chịu sự tác động, quản lý của cơ quan HCNN

Ngoài những đặc điểm chung nói trên, cơ quan HCNN còn có những đặcđiểm riêng như sau:

Một là, Cơ quan HCNN có chức năng quản lý HCNN, thực hiện hoạt động chấp

hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong khi đó các cơ quan nhànước khác chỉ tham gia vào hoạt động quản lý trong phạm vi, lĩnh vực nhất định Vídụ: Quốc hội là cơ quan lập pháp; Toà án là cơ quan xét xử; Viện kiểm sát nhân dân là

cơ quan kiểm sát Chỉ các cơ quan HCNN thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trêntất cả các lĩnh vực: quản lý nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về văn hoá, quản lýnhà nước về trật tự an toàn xã hội, Được nhà nước giao cho các công cụ “pháp lý”

để quản lý các đơn vị như công ty, nhà máy, xí nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế; tronglĩnh vực giáo dục có trường học; trong lĩnh vực y tế có bệnh viện;

Hai là, Cơ quan HCNN nói chung là cơ quan chấp hành, điều hành của cơ

quan quyền lực nhà nước

Thẩm quyền của các cơ quan HCNN chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt độngchấp hành, điều hành Hoạt động chấp hành, điều hành hay còn gọi là hoạt độngquản lý HCNN là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan HCNN Điều đó có

Trang 20

nghĩa là cơ quan HCNN chỉ tiến hành các hoạt động để chấp hành Hiến pháp, Luật,Pháp lệnh, Nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước trong phạm vi hoạt độngchấp hành, điều hành của nhà nước.

Các cơ quan HCNN đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào cơ quanquyền lực nhà nước, chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lựcnhà nước cấp tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan đó

Các cơ quan HCNN có quyền thành lập ra các cơ quan chuyên môn để giúpcho cơ quan HCNN hoàn thành nhiệm vụ

Ba là, Cơ quan HCNN là hệ thống cơ quan có mối liên hệ chặt chẽ, thống

nhất Cơ quan HCNN là một hệ thống cơ quan được thành lập từ trung ương đến

cơ sở, đứng đầu là chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chứctheo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạtđộng nhằm thực thi quyền quản lý HCNN

Hầu hết các cơ quan HCNN đều có hệ thống các đơn vị cơ sở trực thuộc Cácđơn vị, cơ sở của bộ máy HCNN là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thầncho xã hội Ví dụ Bộ Tài chính có các đơn vị thuộc và trực thuộc như các Vụ, Tổngcục, Cục,…; Ủy ban nhân dân Tỉnh có các Sở, Ban ngành,…

Bốn là, Hoạt động của cơ quan HCNN mang tính thường xuyên, liên tục và

tương đối ổn định, là cầu nối đưa đường lối, chính sách pháp luật vào cuộc sống

Tất cả các cơ quan HCNN có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là mối quan

hệ trực thuộc trên - dưới, trực thuộc ngang - dọc, quan hệ chéo, tạo thành một hệthống thống nhất mà trung tâm chỉ đạo là Chính phủ

Năm là, Cơ quan HCNN có chức năng quản lý nhà nước dưới hai hình thức

là ban hành các văn bản quy phạm và văn bản cá biệt trên cơ sở Hiến pháp, Luật,Pháp lệnh và các văn bản của các cơ quan HCNN cấp trên nhằm chấp hành, thựchiện các văn bản đó Mặt khác trực tiếp chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, hoạt độngcủa các cơ quan HCNN dưới quyền và các đơn vị cơ sở trực thuộc của mình

Cơ quan HCNN là chủ thể cơ bản, quan trọng nhất của Luật hành chính

Tóm lại, cơ quan HCNN là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực

thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi

Trang 21

thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành và tham gia chínhyếu vào hoạt động quản lý nhà nước, có cơ cấu tổ chức và phạm vi theo luật định.

1.2.1.3 Phân loại cơ quan hành chính nhà nước

Hiện nay, có nhiều cách phân loại cơ quan HCNN trong đó có hai cách phânloại chủ yếu Đó là phân loại theo tính chất hoạt động và phân loại theo cấp dự toán

Phân loại theo tính chất hoạt động gồm các cơ quan quản lý nhà nước (các

cơ quan lập pháp, cơ quan HCNN và cơ quan tư pháp) và các đơn vị sự nghiệp cóvai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ công cho xã hội (giáo dục, y tế,văn hóa, thể thao, khoa học công nghệ, sự nghiệp kinh tế, …); các tổ chức xã hội (tổchức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức

xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, …)

Phân loại theo cấp dự toán, các cơ quan hành chính trong cùng một ngànhtheo hệ thống dọc được thống nhất tổ chức thành các đơn vị dự toán các cấp: Đơn

vị dự toán cấp 1, đơn vị dự toán cấp 2 và đơn vị dự toán cấp 3

1.2.1.4 Kinh phí quản lý hành chính của cơ quan hành chính nhà nước

Nguồn kinh phí để duy trì hoạt động của các cơ quan HCNN chủ yếu là từNgân sách Nhà nước cấp Ngoài ra, một số cơ quan HCNN do tính đặc thù cònđược phép thu và để lại sử dụng một số khoản thu phí, lệ phí, thu khác hoặc đượcgiao khoán một số chi phí hoạt động chuyên môn nếu quản lý tiết kiệm được bổsung nguồn kinh phí Cụ thể:

 Kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp, gồm:

- Kinh phí chi thường xuyên giao thực hiện chế độ tự chủ: Là kinh phí chicho các hoạt động mang tính thường xuyên, Thủ trưởng đơn vị được quyền tự chủ

tự chịu trách nhiệm, bao gồm:

+ Chi thanh toán cho cá nhân: Tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, cáckhoản đóng góp theo lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản thanh toánkhác cho cá nhân theo quy định

+ Chi thanh toán dịch vụ công cộng, thuê mướn, vật tư văn phòng, thông tin,tuyên truyền, liên lạc

Trang 22

+ Chi hội nghị, công tác phí trong nước, các đoàn đi công tác nước ngoài và đón các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam.

+ Các khoản chi đặc thù phát sinh thường xuyên hàng năm theo chức năng, nhiệm vụ đã được cơ quan có thẩm quyền phân bổ, giao dự toán thực hiện

+ Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện làm việc; sửa chữathường xuyên tài sản cố định (ngoài kinh phí sửa chữa lớn, mua sắm tài sản cố địnhgiao tại kinh phí chi thường xuyên không giao thực hiện chế độ tự chủ)

+ Các khoản chi phục vụ công tác thu phí, lệ phí theo quy định đối với các đơn vị có chế độ thu phí, lệ phí được cấp có thẩm quyền cho phép

+ Các khoản chi có tính chất thường xuyên khác

- Kinh phí thường xuyên giao không thực hiện chế độ tự chủ: Là nhữngkhoản chi phục vụ nhiệm vụ của cơ quan HCNN theo sự phê duyệt của cơ quanquản lý cấp trên Gồm:

+ Chi sửa chữa lớn, mua sắm tài sản cố định

+ Chi đóng niên liễm cho các tổ chức quốc tế, vốn đối ứng các dự án theo hiệp định (nếu có)

+ Chi thực hiện các nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao

+ Chi thực hiện các nhiệm vụ đặc thù đến thời điểm lập dự toán chưa xácđịnh được khối lượng công việc, chưa có tiêu chuẩn, chế độ định mức quy địnhcủa cơ quan có thẩm quyền

+ Kinh phí thực hiện tinh giản biên chế

+ Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia

+ Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

+ Kinh phí nghiên cứu khoa học, kinh phí sự nghiệp kinh tế, kinh phí sự nghiệpmôi trường, kinh phí sự nghiệp bảo đảm xã hội, kinh phí sự nghiệp khác theo quy địnhtừng lĩnh vực (nếu có), kinh phí thực hiện các nội dung không thường xuyên khác

+ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo dự án được phê duyệt

 Các khoản phí, lệ phí được để lại đơn vị: Mức thu phí, lệ phí, tỷ lệ nguồnthu được để lại sử dụng cho đơn vị, nội dung chi được thực hiện theo quy định của

Trang 23

cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật: Thu từ viện trợ, vay, kinh phí ủng hộ của cá nhân, tổ chức khác…

1.2.2 Nội dung, chu trình quản lý tài chính tại các Cơ quan hành chính Nhà nước

1.2.2.1 Nội dung quản lý tài chính tại các Cơ quan hành chính nhà nước

1.2.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước

Quản lý về tài chính đối với cơ quan HCNN là việc Nhà nước ban hành cácchính sách, chế độ tài chính đối với các cơ quan HCNN và chỉ đạo, điều hành việc

tổ chức thực thi các chính sách đó cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiện cácchính sách đề ra nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội đặt ra

Đặc điểm của quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước bao gồm:

- Nhà nước ban hành hệ thống các nguyên tắc, luật pháp, chính sách, chế độ

về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơquan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước

- Nhà nước bảo đảm cung cấp các nguồn tài chính cần thiết, kịp thời cho các

cơ quan HCNN để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao một cách liên tục

- Nhà nước thực hiện phân cấp quản lý tài chính cho các cơ quan HCNN theohướng tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của cơ quan HCNNnhằm khuyến khích các đơn vị tăng cường tính chủ động, sáng tạo cung ứng dịch vụcông cho xã hội với chất lượng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội

- Nhà nước tổ chức quản lý về tài chính đối với cơ quan HCNN thông qua hệthống các cơ quan quản lý chức năng về tài chính, bao gồm các cơ quan chủ quảncủa cơ quan HCNN (Bộ, Ngành, các cấp chính quyền) và thông qua hệ thống các cơquan quản lý nhà nước về tài chính (Các vụ chức năng thuộc Bộ Tài chính, Kho bạcNhà nước, Thuế, Hải Quan, …)

Quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước nhằm đảm bảo:

- Quản lý các khoản chi tiêu trong cơ quan HCNN tiết kiệm, hiệu quả Mọiquyết định chi tiêu ngân sách phải được xem xét trên cả hai khía cạnh: hiệu quả xã

Trang 24

hội và hiệu quả kinh tế.

- Các khoản chi phải tuân theo chế độ, định mức do Nhà nước ban hành, đảm bảo chi tiêu tiết kiệm, đúng mục đích

- Quản lý và khai thác các nguồn kinh phí được giao để bảo đảm cung ứng dịch vụ công ngày càng đảm bảo chất lượng

- Nguồn kinh phí hoạt động, các khoản thu - chi của cơ quan HCNN phảiphù hợp với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nướctrong từng thời kỳ

- Quản lý tài chính trong các cơ quan HCNN phải bảo đảm nguyên tắc côngkhai, minh bạch, tạo điều kiện cho công tác kiểm tra, giám sát về các quyết địnhthu, chi

1.2.2.1.2 Các nội dung quản lý tài chính nội bộ đối với cơ quan hành chính nhà nước

Quản lý tài chính nội bộ đối với cơ quan HCNN bao gồm các nội dung sau đây:

Thứ nhất, Nhà nước ban hành các chính sách, chế độ tài chính áp dụng cho các cơ

quan HCNN và ban hành hệ thống pháp luật về chính sách, chế độ tài chính.Xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật về chính sách, chế độ tài chính Nhà nướcthực hiện quản lý xã hội bằng luật pháp Luật pháp vừa là công cụ, vừa là biện phápnâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước Pháp luật do Nhà nước quy định, buộccác cơ quan HCNN theo ý chí của Nhà nước – người ban hành các chính sách, chế

độ tài chính Pháp luật quy định về chính sách chế độ tài chính, các nguyên tắc quản

lý, sử dụng và xử lý tài chính buộc cá nhân và cơ quan quản lý nhà nước đối với tàichính công đều phải tuân thủ Quản lý tài chính công theo pháp luật được thực hiện

ở hầu hết các nước trên thế giới

Nội dung này đòi hỏi Nhà nước cần phải thực hiện vai trò chủ thể quản lýđối với các cơ quan HCNN bằng những văn bản được thể chế hóa bằng pháp luậtmột cách thống nhất, đồng bộ và nhất quán, ổn định và rõ ràng Chỉ có như vậy mớihướng được toàn bộ hoạt động của các cơ quan HCNN đi đúng quỹ đạo của chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội đã được xác định, mới tạo ra được những điều kiện

Trang 25

để thu hút, tổ chức, hướng dẫn quần chúng và toàn bộ các cơ quan HCNN hoạtđộng theo đúng pháp luật.

Thứ hai, Nhà nước xây dựng và ban hành cơ chế quản lý tài chính đối với các

cơ quan HCNN Cơ chế tài chính cho các cơ quan HCNN ra đời trong quá trình thựchiện tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng điều hành các đơn vị sự nghiệpdịch vụ công để hoạt động theo cơ chế riêng, phù hợp, có hiệu quả; xóa bỏ cơ chế cấpphát tài chính theo kiểu xin - cho Trong những năm qua, Nhà nước đã từng bước đổimới cơ chế tài chính đối với cơ quan HCNN theo hướng ngày càng phân cấp quản lýtài chính nhiều hơn cho cơ quan HCNN Ngày 17/10/2005, Chính phủ đã ban hànhNghị định số 130/2005/NĐ-CP quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụngbiên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước

Đây là bước tiến mới trong việc tăng cường phân cấp quyền và nghĩa vụ, mởrộng quyền tự chủ cho các cơ quan HCNN Cơ chế quản lý tài chính mới giúp cácđơn vị chủ động điều hành công việc, tự quyết định và chịu trách nhiệm về tàichính, tài sản của đơn vị mình, chủ động sắp xếp bộ máy tổ chức và đội ngũ CBCC,hợp lý, chất lượng, hiệu quả Tạo điều kiện cho các đơn vị phát triển, thực hiện tiếtkiệm chi tiêu, thực hiện phân phối thu nhập cho CBCC theo kết quả lao động nângcao chất lượng phục vụ

Thứ ba, Nhà nước bảo đảm cung cấp các nguồn tài chính cần thiết cho các

cơ quan HCNN để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đề ra.

Trước đây, kinh phí NSNN cấp cho các cơ quan HCNN chi tiết theo mục chicủa mục lục NSNN Trong quá trình chi tiêu, các cơ quan HCNN không thể sử dụng

“sai” mục đích Khoản chi nào đã được ấn định vào mục nào thì: không được chi vượthạn mức của ngay chính mục đó; không được điều chỉnh từ mục này sang mục khác vàhết năm ngân sách nếu không sử dụng hết thì phần hạn mức thừa sẽ bị hủy bỏ

Cơ chế “hạn mức kinh phí” nhằm khắc phục tình trạng sử dụng kinh phí khôngđúng mục đích và tình trạng tồn đọng kinh phí ngân sách ở các đơn vị Tuy nhiên, donhiều nguyên nhân khách quan (chất lượng dự toán thấp, không lường hết được nhữngbiến động của thực tiễn, … nên dẫn đến tình trạng nhiều đơn vị thừa

Trang 26

hạn mức kinh phí ở mục này nhưng lại thiếu ở mục khác, …) Vì vậy nhiều đơn vị

đã cố sử dụng hết trong năm (chạy kinh phí cuối năm) bằng mọi cách Hoặc là đơn

vị sử dụng và quyết toán kinh phí NSNN theo thực tế phát sinh và tìm mọi cách để

có chứng từ hợp lý hóa theo đúng mục đích để có thể thanh, quyết toán được Hoặc

là đơn vị thực hiện chi ngân sách theo đúng thực tế phát sinh và sau đó xin điềuchỉnh dự toán cho phù hợp với thực tế đã chi để được chấp nhận thanh, quyết toánđặc biệt là các khoản chi hội nghị, tổng kết, điện thoại, … Do đó, kinh phí ngânsách bị sử dụng lãng phí, hiệu quả thấp, nhiều khoản chi ngân sách bị sử dụng saimục đích hoặc lãng phí

Hiện nay, thực hiện Luật NSNN hiện hành, việc điều hành ngân sách theo dựtoán được giao, hủy bỏ hình thức hạn mức kinh phí Việc áp dụng phương thức cấpphát mới đã đơn giản hóa thủ tục hành chính, loại bỏ được các khâu trung giankhông cần thiết, nâng cao quyền chủ động của đơn vị

Thứ tư, Nhà nước chỉ đạo và điều hành việc triển khai thực hiện các cơ chế,

chính sách tài chính tại các cơ quan HCNN Thông qua các cơ quan chức năng, Nhànước thực hiện việc chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động tài chính tại các cơ quanHCNN Việc triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách tài chính tại cơ quan HCNNđược thể hiện rõ nét trong quy trình ngân sách Cơ quan HCNN căn cứ vào quyđịnh hiện hành để lập dự toán thu, chi của đơn vị mình gửi cơ quan quản lý cấp trêntrực tiếp, kèm theo thuyết minh chi tiết nêu rõ căn cứ tính toán từng khoản thu, chi;

dự toán phải lập đúng biểu mẫu quy định, đúng mục lục NSNN và đúng thời hạnquy định Sau khi nhận được quyết định giao dự toán thu, chi NSNN từ cấp có thẩmquyền, cơ quan HCNN phải tổ chức thực hiện dự toán thu, chi được giao theo chế

độ, tiêu chuẩn, định mức nhà nước quy định Tất cả các đơn vị dự toán phải thựchiện nghiêm túc các quy định về công tác kế toán và quyết toán NSNN Báo cáoquyết toán của đơn vị được lập sau khi kết thúc công tác khóa sổ kế toán cuối ngày31/12 và kết thúc thời gian chỉnh lý kế toán 31/1 năm sau Báo cáo quyết toán phảitheo đúng biểu mẫu và thời hạn quy định Tham gia vào quá trình quản lý thực thicác chính sách, chế độ tài chính tại các cơ quan HCNN có cơ quan chủ quản cấp

Trang 27

trên của đơn vị, cơ quan tài chính các cấp, Kho bạc Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước.

Thứ năm, tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách,

chế độ và cơ chế tài chính tại các cơ quan HCNN

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát tài chính đối với cơ quan HCNN nhằmnâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ NSNN, xóa bỏ tình trạngnhiều đầu mối thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với các cơ quan HCNN Công táckiểm tra, giám sát tài chính bảo đảm chất lượng, độ tin cậy của các thông tin kinh tế

- tài chính của đơn vị được cung cấp qua báo cáo tài chính và các báo cáo khác,kiểm tra sự tuân thủ các cơ chế tài chính, các chế độ chính sách của Nhà nước liênquan đến tình hình thu, chi của đơn vị; kiểm tra và đánh giá hiệu quả của việc chitiêu NSNN trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao tại đơn vị; xây dựng báocáo về kết quả kiểm tra, tình hình xử lý các vi phạm đã được phát hiện trong quátrình kiểm tra, giám sát

1.2.2.1.3 Yêu cầu phải quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước

Quản lý tài chính tại các Cơ quan hành chính Nhà nước có vai trò rất quantrọng trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính quốc gia nói chung vànguồn vốn Ngân sách Nhà nước nói riêng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiệnchức năng, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, theo đó Nhà nước đặt ra một loạt cácyêu cầu mang tính nguyên tắc trong quản lý để đảm bảo tối ưu trong công tác quản

lý đối với các cơ quan này, cụ thể:

+ Bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả:

Do thực tế nguồn lực tài chính luôn có hạn, nhưng nhu cầu chi thì thường lớnhơn rất nhiều, do đó trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính cầnphải tính toán để sao cho với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả cao nhất, đócũng chính là mục tiêu của quản lý tài chính

+ Tuân thủ chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu:

Chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu trong lĩnh vực quản lý tài chính

do Nhà nước ban hành được xây dựng trên những nguyên tắc nhất định, mang tínhkhoa học và có tính đến điều kiện khả năng ngân sách có thể đáp ứng; đồng

Trang 28

thời là sự cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực này.Chính vì vậy, việc chấp hành nghiêm các chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mứcchi tiêu là yêu cầu đầu tiên để đảm bảo thực hiện nguyên tắc thống nhất và đảm bảocông bằng trong quản lý của Nhà nước đối với các Cơ quan HCNN Ngoài ra, đócũng là căn cứ để hình thành cơ chế quản lý tài chính nhằm sử dụng tiết kiệm, cóhiệu quả nguồn lực tài chính Từ việc thực hiện cơ chế quản lý cho đến việc vậndụng các quy định cụ thể trong hoạt động tài chính, các đơn vị phải đảm bảo đượctính hiệu quả trong phân bổ và sử dụng nguồn lực, không vi phạm kỷ luật tài chính.

+Quản lý chặt chẽ theo từng nguồn kinh phí và chi tiết theo từng nội dung chi:

Để đảm bảo hoạt động, mỗi cơ quan đơn vị tuỳ từng loại hình mà có nhiều nguồnkinh phí khác nhau: nguồn NSNN cấp, nguồn thu từ phí, lệ phí, nguồn đi vay, nguồn tàitrợ, viện trợ, … do vậy, trong quản lý tài chính đòi hỏi phải chi tiết theo từng nguồnkinh phí sử dụng cho từng loại hình hoạt động nhằm đáp ứng được yêu cầu về cân đốithu chi nguồn tài chính, tạo điều kiện cho người quản lý điều hành được các hoạt độngtài chính, hạn chế được sự lãnh phí, không hiệu quả trong quản lý nguồn kinh phí Mặtkhác, trong quá trình thực hiện, do nội dung chi liên quan đến nhiều lĩnh vực khácnhau, mức chi được xác định theo từng đối tượng về quy mô, tính chất hoạt động, dovậy đòi hỏi phải quản lý chi tiết theo từng nội dung chi cụ thể

+ Phân cấp hợp lý và mở rộng tự chủ cho đơn vị sử dụng ngân sách:

Việc thực hiện phân cấp mạnh cho các đơn vị sử dụng ngân sách cũng đang làmột xu hướng tất yếu trong bối cảnh đổi mới quản lý tài chính công như hiện nay.Tuy nhiên, việc phân cấp phải được thực hiện theo lộ trình thích hợp, có tính đếnviệc nâng cao năng lực quản lý tài chính cho các đơn vị và vẫn đảm bảo được sựquản lý, giám sát, định hướng của Nhà nước đối với lĩnh vực này Nội dung phâncấp phải tạo điều kiện phát huy mọi khả năng, tính năng động, tự chủ, tự chịu tráchnhiệm của người đứng đầu đơn vị và dựa trên nguyên tắc: Đảm bảo tính thống nhấttrong quản lý Nhà nước; tập trung dân chủ; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, khảnăng chuyên môn và tài chính của đơn vị; từng bước giảm dần bao cấp từ Nhànước; thực hiện công khai, dân chủ; đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa

vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật

Trang 29

+ Có sự kết hợp với Kho bạc Nhà nước và kết hợp giữa các bộ phận chức năng trong quản lý:

Kho bạc Nhà nước là cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ quản lý về quỹNSNN, do vậy có nhiệm vụ trực tiếp thanh toán mọi khoản chi NSNN Kho bạc Nhànước có nhiệm vụ kiểm soát mọi khoản chi NSNN và có quyền từ chối thanh toán đốivới khoản chi sai chế độ và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Kho bạc Nhànước chỉ thực hiện thanh toán các khoản chi NSNN khi có đủ các điều kiện: Đã cótrong dự toán chi NSNN được cấp có thẩm quyền giao; nội dung chi đúng chế độ, tiêuchuẩn, định mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định; được thủ trưởngđơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền chuẩn chi

Thực hiện yêu cầu này, tất cả các đơn vị đều phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhànước, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Kho bạc Nhà nước trong quá trình rút dự toán,thanh toán và quyết toán kinh phí Mặt khác, do mọi hoạt động của bất kỳ cơ quan, đơn

vị nào cũng liên quan đến tài chính, tài sản, do vậy phải có sự phối kết hợp đồng bộgiữa các cơ quan quản lý chức năng, chuyên môn, như vậy mới đáp ứng được các yêucầu của nhiệm vụ và công tác quản lý tài chính mới thực sự mang lại hiệu quả

+ Công khai, minh bạch:

Để đảm bảo sử dụng kinh phí hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí, tham ô, thamnhũng, tăng cường sự giám sát, đòi hỏi trong công tác quản lý tài chính luôn phảithực hiện công khai, minh bạch Công khai tài chính đồng thời cũng là biện phápnhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, tập thể người lao động vànhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụngvốn, tài sản Nhà nước; huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhândân theo quy định của pháp luật; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi viphạm chế độ quản lý tài chính

Việc công khai tài chính theo quy định được thực hiện thông qua các hìnhthức: Công bố trong các kỳ họp thường niên của cơ quan; Phát hành ấn phẩm, Niêmyết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan, đơn vị; Thông báo bằng văn bản đếncác cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan; Đưa lên trang thông tin điện tử; Thông

Trang 30

báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc đối tượng được tiếp nhận thông tin côngkhai Ngân sách Nhà nước có quyền chất vấn cơ quan, tổ chức, đơn vị về các nộidung công khai Người có trách nhiệm thực hiện công khai phải trả lời chất vấn vềcác nội dung đã được công bố công khai Việc trả lời chất vấn phải được thực hiệnbằng hình thức trả lời trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi tới người chất vấn, tuỳ theohình thức chất vấn và nội dung chất vấn

Để thực hiện tốt các yêu cầu mang tính nguyên tắc trong quản lý tài chính tạicác Cơ quan HCNN, Nhà nước đã nghiên cứu và đặt ra một số phương pháp quản

lý tài chính để các Cơ quan HCNN thực hiện như: quản lý theo dự toán, quản lýtheo phương thức khoán kinh phí, quản lý theo kết quả đầu ra,

1.2.2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính tại các Cơ quan hành chính Nhà nước

Việc quản lý tài chính trong các cơ quan HCNN trước hết phải phù hợp vớinhững điều kiện hoàn cảnh cụ thể tại mỗi cơ quan Nhưng dù cơ quan đó thuộc loạihình nào thì việc quản lý tài chính cũng phải tuân thủ theo một số nguyên tắc quản

lý tài chính sau:

- Đảm bảo các khoản chi thường xuyên của cơ quan phải tuân theo chế độ, địnhmức, tiêu chuẩn của nhà nước quy định hoặc theo chế độ, định mức, tiêu chuẩn

chi tiêu nội bộ đã được duyệt để tổ chức đó hoạt động liên tục và hiệu quả

- Trách nhiệm quản lý tài chính của các cơ quan HCNN thuộc người đứng đầu

cơ quan

- Trong quá trình quản lý tài chính tại các cơ quan HCNN cần phải tôn trọng

dự toán năm được duyệt Trong trường hợp cần điều chỉnh dự toán, phải được cơquan có thẩm cho phép điều chỉnh để đảm bảo cho cơ quan HCNN hoàn thành tốtnhững chức năng và nhiệm vụ của mình

Tổ chức bộ máy trực tiếp quản lý tài chính trong các cơ quan HCNN baogồm: Lãnh đạo cơ quan, Trưởng phòng tài chính kế toán, Phòng tài chính kế toán,Trưởng các phòng, bộ phận trong cơ quan hành chính nhà nước

Ban Lãnh đạo cơ quan HCNN là những cá nhân phải chịu trách nhiệm trực

Trang 31

tiếp trước cơ quan quản lý cấp trên và trước pháp luật về các quyết định của mìnhtrong quá trình quản lý tài chính của cơ quan HCNN Trong đó người thủ trưởngđơn vị là chủ tài khoản, người trực tiếp đưa ra các quyết định quản lý việc huyđộng và sử dụng nguồn lực tài chính trong đơn vị.

Thủ trưởng đơn vị tổ chức thực hiện công tác hạch toán kế toán, thống kê,quản lý tài sản theo đúng quy định của pháp luật, phản ánh đầy đủ, kịp thời toàn bộcác khoản thu chi của đơn vị trong sổ kế toán và thực hiện các quy định về chế độthông tin, báo cáo hoạt động sự nghiệp của đơn vị theo quy định hiện hành Đồngthời thủ trưởng đơn vị cũng là người thường xuyên phải kiểm tra giám sát công táctài chính kế toán, quản lý tài sản trong đơn vị nhằm chống thất thoát, lãng phí vànâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính trong đơn vị

Trưởng phòng Tài chính kế toán là cá nhân phải chịu trách nhiệm trước Lãnhđạo và cơ quan quản lý cấp trên về toàn bộ hoạt động tài chính kế toán của tổ chức.Trưởng phòng phải trực tiếp bố trí nhân lực điều hành công tác của phòng Tài chính kếtoán, tổ chức điều hành bộ máy kế toán đảm bảo thực hiện đúng cơ chế tự chủ tàichính, quản lý các khoản thu cũng như xây dựng các định mức chi và quản lý cáckhoản chi phát sinh trong cơ quan hành chính, thực hiện công tác kế toán và xây dựngbáo cáo kế toán theo qui định của pháp luật, thực hiện việc phân tích giám sát các hoạtđộng tài chính của cơ quan hành chính Bên cạnh đó ngày càng thực hiện tốt hơn chứcnăng tư vấn tham mưu cho lãnh đạo về hoạt động tài chính, đề xuất các phương án sửdụng tiết kiệm hiệu quả các khoản chi và tăng các khoản thu của cơ quan HCNN

Phòng Tài chính kế toán dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trưởng phòng chịutrách nhiệm thực hiện công tác kế toán từ việc lưu trữ chứng từ kế toán đến việchạch toán vào sổ kế toán và xây dựng các báo cáo kế toán, thực hiện việc lập dựtoán các khoản thu chi, quản lý việc thực hiện các khoản thu chi tài chính cũng nhưtoàn bộ vật tư tài sản trong cơ quan HCNN

Bên cạnh đó trưởng các phòng hay bộ phận trực thuộc cơ quan HCNN cũngcần thiết phải phối hợp với phòng tài chính kế toán có trách nhiệm thực hiện đúngcác quy định của pháp luật, các quy chế nội bộ có liên quan đến các khoản thu hay

Trang 32

những khoản chi tài chính hay việc quản lý và sử dụng vật tư, tài sản của cơ HCNN.

1.2.2.2 Chu trình quản lý tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước

Chu trình quản lý tài chính trong cơ quan HCNN bao gồm việc quản lý từ khâulập dự toán, phân bổ, giao dự toán, hạch toán kế toán, báo cáo quyết toán và thanh tra,kiểm tra Việc quản lý tài chính được thực hiện theo đúng các quy định hiện hành củaNhà nước, ngoài ra các đơn vị thực hiện tự chủ còn phải đảm bảo một số nội dung sau:

1.2.2.2.1 Về lập dự toán

Hàng năm, căn cứ vào các văn bản hướng dẫn lập dự toán của Bộ Tài chính

và hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên, căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm

vụ của năm trước và dự kiến cho năm kế hoạch, cơ quan thực hiện chế độ tự chủlập dự toán ngân sách theo đúng quy định, trong đó xác định và thể hiện rõ dự toánchi ngân sách đề nghị giao thực hiện chế độ tự chủ và dự toán chi ngân sách giaokhông thực hiện chế độ tự chủ; có thuyết minh chi tiết theo nội dung công việc, gửi

cơ quan chủ quản cấp trên hoặc cơ quan tài chính cùng cấp Cơ quan chủ quản cấptrên tổng hợp gửi cơ quan tài chính cùng cấp

1.2.2.2.2 Về thẩm tra, phân bổ và giao dự toán chi NSNN

Căn cứ dự toán chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, cơ quan chủquản cấp trên (đơn vị dự toán cấp 1) phân bổ và giao dự toán chi NSNN cho các cơquan thực hiện chế độ tự chủ chi tiết theo hai phần: Phần dự toán chi thường xuyêngiao thực hiện chế độ tự chủ và phần dự toán chi thường xuyên giao không thựchiện chế độ tự chủ

Đối với cơ quan không có đơn vị dự toán trực thuộc, căn cứ vào dự toán chingân sách được cấp có thẩm quyền giao, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ phân bổ

dự toán được giao theo hai phần: Phần dự toán chi thường xuyên giao thực hiện chế

độ tự chủ và phần dự toán chi thường xuyên giao không thực hiện chế độ tự chủ,gửi cơ quan tài chính cùng cấp để thẩm tra theo quy định

+ Dự toán chi thường xuyên giao thực hiện chế độ tự chủ được giao và phân

bổ vào một nhóm mục chi của mục lục NSNN - Nhóm mục các khoản chi khác

+ Dự toán chi thường xuyên giao không thực hiện chế độ tự chủ được giao và

Trang 33

phân bổ vào 4 nhóm mục chi theo quy định hiện hành.

Khi rút dự toán từ Kho bạc Nhà nước, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ phảighi rõ nội dung chi thuộc nguồn kinh phí được giao thực hiện chế độ tự chủ

1.2.2.2.3 Về hạch toán kế toán và quyết toán

Đối với các khoản chi thực hiện chế độ tự chủ được hạch toán vào các mụcchi của mục lục NSNN theo quy định hiện hành Khoản chi trả thu nhập tăng thêmcho CBCC hạch toán vào mục 6400 - Các khoản thanh toán khác cho cá nhân;khoản chi khen thưởng, hạch toán vào Mục 6200 - Tiền thưởng; khoản chi phúc lợi

và trợ cấp thêm ngoài những chính sách chung cho những người tự nguyện về nghỉviệc trong quá trình tổ chức sắp xếp lại lao động, hạch toán vào mục 6250 - Phúc lợitập thể, của mục lục NSNN, …

1.2.2.2.4 Về công tác thanh tra, kiểm tra

Đối với các khoản chi thực hiện chế độ tự chủ, thường xuyên được kiểm tra

và thanh tra theo kế hoạch

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính Nhà nước

1.2.3.1 Nhân tố khách quan

- Điều kiện tự nhiên: Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau,

do vậy cần phải có những thiết kế, kiến trúc phù hợp với điều kiện tự nhiên ở nơi đầu

tư vốn đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản Chẳng hạn, ở địa phương hay xảy ra

lũ lụt thì các các khoản chi NSNN tập trung và xây dựng đê kè và tu sửa đê, khi xâydựng công trình phải tránh mùa mưa bão và có những biện pháp hữu hiệu tránh thiệthại xảy ra nhằm đảm bảo chất lượng công trình; hoặc địa phương có nhiều đồi núi, dốcthì chú ý đầu tư giao thông thuận lợi để có thể phát triển kinh tế,

- Cơ chế, chính sách và các quy định của nhà nước về quản lý chi NSNN

Một trong những nhân tố từ cơ chế, chính sách của nhà nước ảnh hưởng lớn nhấtđến công tác quản lý tài chính của các cơ quan HCNN đó là cơ chế tài chính, Chính sáchkinh tế - xã hội, Chiến lược và các chính sách phát triển đối với các cơ quan HCNN:

+ Cơ chế quản lý tài chính có thể hiểu là hệ thống các nguyên tắc, luật định,

Trang 34

chính sách về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các cơ quan có liênquan Cơ chế quản lý tài chính có vai trò quan trọng đối với hoạt động của các cơquan HCNN, nó có tác động quyết định đến phương thức tồn tại và vận động củacác hoạt động tài chính trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quanmình Sự tác động đó diễn ra theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Nếu cơ chế

đó phù hợp, hỗ trợ, bổ sung cho nhau, phát huy mặt tích cực, hạn chế khuyết điểmthì nó sẽ thúc đẩy hoạt động quản lý phát triển Ngược lại, nếu cơ chế đó mâuthuẫn, không phù hợp thì nó sẽ trở thành nhân tố kìm hãm, triệt tiêu sự phát triểncủa hoạt động quản lý trong cơ quan, đơn vị

+ Chính sách kinh tế - xã hội chính là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, giảipháp công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hộinhằm giải quyết các vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theođịnh hướng mục tiêu tổng thể của nhà nước Mỗi chính sách được xây dựng nhằmvào một mục tiêu cụ thể Thông qua công cụ này nhà nước định hướng hành vi củacác chủ thể kinh tế xã hội để cùng hướng tới mục tiêu chung, xác định những chỉdẫn chung, vạch ra phạm vi hoặc giới hạn cho quá trình ra quyết định của các chủthể kinh tế - xã hội Qua đó hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên vàothực hiện mục tiêu chung Đồng thời, định hướng việc huy động, phân bổ và sửdụng các nguồn lực để giải quyết các vấn đề một cách kịp thời và có hiệu quả

+ Chiến lược và các chính sách phát triển đối với các cơ quan HCNN: Côngtác quản lý tài chính của các cơ quan HCNN một phần phụ thuộc vào chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước đối với các cơ quan HCNN và sự nhận thức đổimới cơ chế quản lý của nhà nước trong từng giai đoạn Trong thời gian qua, Đảng

và Nhà nước ta luôn coi trọng phát triển nền hành chính, đẩy mạnh cải cách nềnhành chính nói chung và đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói riêng Điều đó thểhiện ở các Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

về vấn đề này, qua đó các cơ chế quản lý đối với hoạt động của cơ quan HCNN đềuđược cải tiến cho phù hợp với tình hình mới

1.2.3.2 Nhân tố chủ quan

Trang 35

- Năng lực quản lý của người Lãnh đạo: Lãnh đạo cơ quan HCNN là nhân tố

có vai trò quan trọng, có ý nghĩa định hướng toàn bộ quá trình quản lý tài chính của

cơ quan HCNN Lãnh đạo cơ quan HCNN có chức năng chỉ đạo toàn diện mọi mặtcông tác, trong đó có công tác tài chính, người chỉ huy, đồng thời là chủ tài khoản

có vai trò trọng yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của công tác quản lý nóichung và chất lượng quản lý tài chính nói riêng

- Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tài chính: Đây là một trong những chủthể thực hiện chức năng quản lý tài chính Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩmchất đạo đức của họ là yếu tố quyết định chất lượng quản lý tài chính Không thể cóquá trình quản lý hiệu quả nếu bản thân các chủ thể quản lý không nắm chắc nghiệp

vụ, không quán triệt sâu sắc chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhànước, càng không thể là người thiếu bản lĩnh chính trị và đạo đức suy đồi Ngàynay, công tác quản lý không thể mãi dựa vào kinh nghiệm mà cần cập nhật cácphương pháp và nghệ thuật quản lý hiện đại để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao củacông tác quản lý

- Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán: Công tác thanh tra, kiểm tra,kiểm

toán: Đây là yếu tố không thể thiếu, là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý.Thông qua thanh tra, kiểm tra, kiểm toán giúp cho cơ quan quản lý nắm chắc được quátrình vận động của hoạt động tài chính, đánh giá đúng bản chất sự việc, phát hiện cáctồn tại, sai phạm từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời, giúp cho hoạt động nhịpnhàng, đúng hướng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao

- Công nghệ quản lý tài chính: Việc ứng dụng công nghệ tin học vào trongcuộc sống ngày nay đã và đang thực sự chứng tỏ vai trò không thể thiếu được của

nó Thực tế đã chứng minh với việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong công tácquản lý chi NSNN ở địa phương sẽ giúp tiết kiệm được thời gian xử lý công việc,đảm bảo được tính chính xác, nhanh chóng và thống nhất về mặt dữ liệu, tạo tiền đềcho những quy trình cải cách về mặt nghiệp vụ một cách hiệu quả Chính vì lẽ đó

mà công nghệ tin học là một trong những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệuquả quản lý chi NSNN hiện đại trên địa bàn địa phương

Trang 36

1.2.4 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính, so sánh kinh nghiệm quản lý tài chính công tại New zealand và bài học vận dụng cho Việt Nam.

1.2.4.1 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý tại các cơ quan hành chính

Thứ nhất, như đã trình bày ở trên, nguồn kinh phí đảm bảo hoạt động của

các cơ quan HCNN chủ yếu là từ NSNN NSNN là công cụ tài chính quan trọng của

Nhà nước Quản lý chi NSNN là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo các khoản chiNSNN được thực hiện tiết kiệm, hợp lý theo đúng chính sách, chế độ, phục vụ tốtcho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ Dovậy, quản lý tài chính đối với các cơ quan HCNN, chủ yếu là quản lý chi NSNN tạicác cơ quan HCNN là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động, tránh tìnhtrạng lãng phí, thất thoát trong bố trí và sử dụng ngân sách, thực hiện công khai,minh bạch NSNN

Thứ hai, quản lý tài chính của cơ quan HCNN có vai trò cân đối giữa việc

hình thành, tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng các yêu cầuhoạt động (các khoản chi) của cơ quan đó Nguồn lực tài chính là nền tảng, là cơ sở

để đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, tăng cường cơ sở vật chất và góp phần quantrọng để cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động Quản lý tài chínhhiệu quả sẽ góp phần đảm bảo nguồn tài chính cần thiết để các cơ quan HCNN thựchiện tốt các nhiệm vụ được giao theo đúng đường lối, chính sách, chế độ của Nhànước, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác của mỗi CBCC

Thứ ba, quản lý tài chính đối với các cơ quan HCNN góp phần tuân thủ hành

lang pháp lý đối với quá trình tạo lập và sử dụng nguồn tài chính; nó được xâydựng trên quan điểm thống nhất và hợp lý, từ việc xây dựng các định mức, tiêuchuẩn, lập kế hoạch đến các quy định về cấp phát, kiểm tra, kiểm soát quá trình chitiêu tài chính, nhằm đạt được mục tiêu của kinh tế vĩ mô

1.2.4.2 So sánh kinh nghiệm quản lý tài chính công tại New zealand và bài học vận dụng cho Việt Nam

Trang 37

Bắt đầu từ thập niên 1970 và 1980, nhiều nước phát triển đã bắt đầu thực hiện cáccuộc cải cách về quản lý tài chính công, cụ thể là cải cách quản lý tài chính trong các cơquan HCNN để nâng cao kết quả hoạt động của các cơ quan này, thông qua việc tăngcường tính hiệu quả, hiệu suất và chất lượng các dịch vụ công Mặc dù có nhiều biến thểtùy thuộc vào quốc gia và bối cảnh chính trị, quản lý chi NSNN ở các nước có chung đặcđiểm chính là tăng cường kiểm soát chặt chẽ của chính quyền trung ương nhằm mục tiêutiết kiệm ngân sách; đẩy mạnh phân cấp trong quản lý ngân sách, cho phép các đơn vị sửdụng ngân sách được chủ động và linh hoạt hơn trong việc phân bổ lại các nguồn kinh phítrong phạm vi các khoản mục ngân sách; lập, phân bổ dự toán NSNN đối với các cơ quanHCNN theo hướng dựa trên kết quả đầu ra, tăng cường mở rộng các hệ thống thông tin tàichính được tin học hóa để tạo thuận lợi cho trách nhiệm giải trình, …

New Zealand là một trong số ít các nước tiên phong trong việc áp dụng thànhcông cơ chế lập ngân sách theo kết quả đầu ra Đối với New Zealand việc lập ngânsách theo kết quả đầu ra được dựa trên mô hình “tác nhân đứng đầu” mà tại đó các

Bộ trưởng được coi như là các “nhà lãnh đạo” và các cơ quan thực hiện được coi

là các tác nhân và các khoản chi ngân sách phải nhất thiết gắn với những sảnphẩm, những kết quả cụ thể đạt được

Ở New Zealand, một cơ quan độc lập có thể có tới 150 sản phẩm đầu ra Cácđịnh mức ngân sách được xác định bằng các mức sản phẩm Chi phí cho các sảnphẩm đầu ra được xác định dựa trên cơ sở chi phí đầu vào Cách tính toán và sốlượng phân loại sản phẩm chưa cho phép quá trình thực hiện ngân sách một cáchđầy đủ theo sản phẩm đầu ra

Thực tế cải cách tài chính công ở New Zealand đã cho thấy những yêu cầu

về dữ liệu, quản lý hành chính, giao dịch của việc thực hiện một hệ thống ngânsách theo kết quả đầu ra là rất lớn và chứa đựng cả hệ thống ngân sách dồn tích,các phương pháp đánh giá chi phí đầy đủ, đàm phán trong ký kết hợp đồng giữacác Bộ trưởng và các nhà quản lý, những sự kiểm soát chặt chẽ về kết quả Ngoài

ra, một kinh nghiệm quý báu khác là mặc dù những thử nghiệm bước đầu chưa đạtđược như ý muốn nhưng lý thuyết quản lý theo kết quả đầu ra cũng đã mở ra một

Trang 38

trong những hướng quan trọng về đổi mới quản lý tài chính công Những điều kiện

cơ bản khi tiến hành quản lý theo kết quả đầu ra là phải xác định được khối lượngdịch vụ công cần cung cấp, mức độ phức tạp của chúng, các định mức về kinh tế,

kỹ thuật, lao động và tài chính, kết quả dự kiến, phải xây dựng được hệ thống vănbản pháp lý cần thiết, xác định trách nhiệm, quyền hạn của người cung cấp dịch

vụ, khi thực hiện chúng Đây là những mục tiêu quan trọng của đổi mới tài chínhcông, đó là đạt được hiệu quả cao về Kinh tế - xã hội

Từ kinh nghiệm thực tế của New zealand vận dụng về công tác quản lý tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước đối với Việt Nam

Nguồn kinh phí sử dụng tại các cơ quan hành chính nhà nước chủ yếu lànguồn ngân sách Chính vì vậy việc quản lý tài chính tại các cơ quan hành chínhnhà nước chủ yếu là quản lý chi Ngân sách Nhà nước đảm bảo sử dụng tiết kiệm,hiệu quả Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện phân bổ ngân sách dựa trên yếu tố đầuvào, gắn với các nội dung cụ thể song so với cách thức quản lý tài chính công củaNew zealand, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

- Luật Ngân sách nước ta hiện nay chưa thực sự đẩy mạnh phân cấp quản lýNgân sách Nhà nước cho các địa phương, cho các đơn vị sử dụng ngân sách theohướng gắn quyền hạn với trách nhiệm New zealand đã có sự phân định rõ phạm vi,nội dung và trách nhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan thực hiện sự quản lý Nhànước, cơ quan trực tiếp quản lý, sử dụng ngân sách và các cá nhân liên quan Bởi vìquyền sở hữu và quyền sử dụng ngân sách thường là tách khỏi nhau, nhưng trongquá trình quản lý và sử dụng luôn có sự đan xen quyền hạn, trách nhiệm giữa cáccấp, các cơ quan với nhau Ở nước ta, việc xác định quyền hạn, nghĩa vụ và tráchnhiệm của các cấp, các cơ quan, các cá nhân chưa được rõ ràng nên việc quy tráchnhiệm cho một cơ quan, một cá nhân trong việc quản lý và sử dụng Ngân sáchkhông hiệu quả, lãng phí, … thường khó khăn Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục phânđịnh cụ thể hơn về nghĩa vụ, trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan, cá nhân thìviệc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước sẽ tránh được lãng phí, thất thoát và đảmbảo nâng cao hiệu quả trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 39

- New zealand đã áp dụng phương thức lập, phân bổ ngân sách trong khuôn khổchi tiêu trung hạn và quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra Đây là phương thức quản

lý tiên tiến đã được nhiều nước tiếp cận, trong đó có cả những quốc gia có nền

kinh tế phát triển và cả những nước đang phát triển Phương pháp quản lý ngânsách theo đầu ra trong thời gian trung hạn cho phép các nhà quản lý tại các cơ quanhành chính nhà nước chủ động hơn trong điều hành ngân sách, đồng thời phải chịutrách nhiệm về đầu ra và kết quả hoạt động của mình, yêu cầu ngân sách được sửdụng hiệu quả, công khai, minh bạch

- Công tác kiểm toán, kiểm tra, giám sát và xây dựng chế tài xử lý vi phạm trongquá trình quản lý, sử dụng Ngân sách tại các cơ quan hành chính nhà nước ở Newzealand rất được coi trọng Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, cơ chế chính sách, cácnước còn thông qua cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý vi phạm nghiêm khắc

để đảm bảo cho việc quản lý, sử dụng Ngân sách tại các cơ quan này có hiệu quả, đúngchế độ quy định Từ thực tế cho thấy Việt Nam muốn đảm bảo quản lý và sử dụngkinh phí có hiệu quả, cần cải thiện chất lượng các phương thức và công cụ kiểm tra,giám sát; đồng thời cần quy định cụ thể nghĩa vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các

cơ quan, các cá nhân thực hiện công tác kiểm toán, kiểm tra, giám sát

- Cơ quan quản lý nhà nước tại New zealand được xây dựng đồng bộ, cóchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng và không có sự chồng chéogiữa các bộ phận, từ đó kinh phí tại các cơ quan này được quản lý và sử dụng cóhiệu quả Để vận dụng nước ta cần phải tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệthống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương và trongtừng cơ quan, đơn vị, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và trách nhiệm của mỗi cơ quan, cá nhân một cách rõ ràng và không có sựchồng chéo, các cơ quan cũng cần được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, được bố trícác cán bộ có đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Tóm lại: Từ cơ sở lý luận về quản lý tài chính nội bộ tại các cơ quan HCNN

được trình bày ở trên, có thể thấy, hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các cơquan HCNN là một yêu cầu bắt buộc và cần thiết nhằm đảm bảo xây dựng được cơ

Trang 40

chế quản lý, sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn kinh phí NSNN tại các cơ quannày để từ đó thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao theo đúng đường lối, chính sách,chế độ quy định Quản lý tài chính hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo duy trì hoạt động

và tăng cường công tác quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước,tránh tình trạng lãng phí, thất thoát trong bố trí và sử dụng ngân sách, thực hiệncông khai minh bạch ngân sách nhà nước

Ngày đăng: 11/10/2020, 19:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w