1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và khả năng tham gia của ngành dệt may dệt may việt nam

113 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 305,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chuỗi giá trị toàn cầu hàng dệt may đó, khâu cólợi nhuận cao nhất là thiết kế mẫu, cung cấp nguyên phụ liệu và thương mại.Việt Nam chỉ tham gia vào khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ



LƯƠNG THỊ LINH

CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU

VÀ KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA NGÀNH

DỆT MAY VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-LƯƠNG THỊ LINH

CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU

VÀ KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA NGÀNH

DỆT MAY VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ KTQT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ VĂN HỘI

Hà Nội - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt i

Danh mục bảng iii

Danh mục hình vẽ iv

PHẦN MỞ ĐẦU……… 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU

-10-1.1 Các khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

10 -1.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu

-10-1.1.2 Lý thuyết chuỗi giá trị của Michael E Porter 13

1.1.3 Khái niệm chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 18

1.1.4 Bản chất và nội dung cơ bản của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 22

1.1.4.1 Bản chất của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 22

1.1.4.2 Các “mắt xích” trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 22

1.2 Sự cần thiết của việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu đối với các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa 25

1.2.1 Toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại: cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển 25

1.2.2 Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh

-26-1.3 Kinh nghiệm tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Trung Quốc….31 -1.3.1 Khái quát ngành dệt may Trung Quốc

-31-1.3.2 Sự gia nhập của Trung Quốc trong chuỗi giá trị dệt may Châu Á

-34-1.3.3 Bài học kinh nghiệm

-37-Chương 2 THỰC TRẠNG THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU CỦA VIỆT NAM

Trang 4

-38-2.1 Tổng quan về ngành dệt may của Việt Nam - 38

-2.1.1 Về năng lực, tổ chức sản xuất sản phẩm dệt may xuất khẩu

-38-2.1.2 Tình hình xuất khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam

-39-2.2 Thực trạng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may Việt

Nam 48 -2.2.1 Công đoạn sản xuất và cung ứng nguyên liệu

-48-2.2.2 Công đoạn nghiên cứu, thiết kế sản phẩm

-53-2.2.3 Công đoạn sản xuất/gia công sản phẩm cuối cùng

-55-2.2.4 Công đoạn xuất khẩu sản phẩm

-60-2.2.5 Công đoạn marketing và phân phối

632.3 Đánh giá sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may Việt Nam

65 -2.3.1 Định vị ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

-65-2.3.2 Nguyên nhân của việc ngành dệt may Việt Nam tham gia chưa có hiệu quả trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

-66-2.3.2.1 Thiết bị công nghệ lạc hậu 66

2.3.2.2 Nguyên vật liệu kém chất lượng, phải nhập khẩu nhiều 67

2.3.2.3 Nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ nhưng trình độ chưa cao đặc biệt là thiếu các nhà thiết kế chuyên nghiệp 69

2.3.2.4 Mạng lưới phân phối còn hạn chế, marketing chưa chuyên nghiệp 70

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ VIỆT NAM THAM GIA CÓ HIỆU QUẢ CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU 72 -3.1 Dự báo khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của dệt may Việt Nam - 72 -3.1.1 Phân tích SWOT ngành dệt may Việt Nam 72

-3.1.1.1 Điểm mạnh 72

Trang 5

3.1.1.2 Điểm yếu 73

3.1.1.3 Cơ hội 76

3.1.1.4 Thách thức 77

3.1.2 Phân tích các khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may Việt Nam

-78-3.2 Một số giải pháp đối với ngành dệt may nhằm tham gia có hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu 79

3.2.1 Mạnh dạn đầu tư cho khâu thiết kế sản phẩm 79

3.2.2 Đầu tư quy hoạch phát triển nguồn nguyên liệu và sản xuất nguyên liệu80 -3.2.3 Tăng cường đầu tư cho khâu sản xuất và xúc tiến xuất khẩu

-83-3.2.4 Hoàn thiện mạng lưới phân phối và marketing

-85-3.2.5 Xây dựng các khu cụm công nghiệp dệt may 89

3.3 Kiến nghị đối với nhà nước 91

3.3.1 Xây dựng các Trung tâm tìm kiếm nguồn nguyên liệu 91

3.3.2 Xây dựng trung tâm thông tin 91

3.3.3 Thúc đẩy thương mại điện tử 92

3.3.4 Nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp dệt may nhà nước và thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào thượng nguồn 93

3.3.5 Cải tiến thủ tục hải quan

-93-3.3.6 Cải thiện chính sách thuế

-94-KẾT LUẬN

-95-TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

-97-DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Association of Southeast Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do

GVC Global Value Chain Chuỗi giá trị toàn cầu

MNCs Multi-National Companies Công ty đa quốc gia

MFA Multi-Fiber Arrangemen Hiệp định hàng đa sợi

NIE Newly Industrializing Nền kinh tế công nghiệp hóa mới

Economics

i

Trang 8

Ký hiệu Tiếng Anh Tiếng Việt

OBM Own Brand Manufacturing Sản xuất theo nhãn hiệu riêng

ODM Original Design Sản xuất thiết kế gốc

SWOT Strengths , Weaknesses lược bên trong và bên ngoài (Điểm

Opportunities , Threats mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách

thức)TNCs Trans National Companies Công ty xuyên quốc gia

USD United States Dollar Đô la Mỹ

ii

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 2.1 Cơ cấu doanh nghiệp dệt may năm 2010 38

3 Bảng 2.3 Tóm tắt quan hệ gia công xuất khẩu 56

iii

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

1 Hình 1.1 Mô hình chuỗi giá trị của Michael E Porter 15

2 Hình 1.2 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 21

3 Hình 1.3 Chuỗi giá trị sản xuất hàng dệt may đơn giản 23

4 Hình 1.4 Mô hình nâng cấp ngành trong chuỗi dệt 35

may châu Á

5 Hình 2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt 43

Nam giai đoạn 2006 - 2010Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt

6 Hình 2.2 Nam sang các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản 44

giai đoạn 2006 - 2010

7 Hình 2.3 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 45

của Việt Nam đi các nước năm 2011

iv

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng phát triển mạnh, mỗi nền kinh

tế quốc gia trở thành một bộ phận không tách rời của nền kinh tế toàn cầu và

có xu hướng bị chi phối bởi các tập đoàn kinh tế với mạng lưới dày đặc đượchình thành từ các công ty mẹ đến các các công ty con và chi nhánh của chúngđang có mặt ở rất nhiều quốc gia khác nhau Trên phạm vi quốc tế, các giá trịđược hình thành từ những công đoạn khác nhau của một ngành kinh doanhnào đó trên quy mô quốc tế sẽ trở thành giá trị gia tăng toàn cầu Theo cáchnhìn này, các doanh nghiệp từ nhiều quốc gia trên thế giới sẽ đóng vai trò nhưnhững mắt xích quan trọng và có thể chi phối sự phát triển của chuỗi giá trị.Việc phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quan điểm chuỗigiá trị chính là một phương pháp hữu hiệu để đánh giá tốt nhất năng lực cạnhtranh cũng như vai trò và phạm vi ảnh hưởng của quốc gia trong chuỗi giá trịtoàn cầu

Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho Việt Nam nhiều

cơ hội hoà nhập với nền kinh tế thế giới và ngày càng khẳng định được vị thếcủa mình trên trường quốc tế không chỉ trong lĩnh vực văn hoá chính trị, mà

cả về lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh thế thếgiới hiện nay, chuỗi giá trị toàn cầu là một vấn đề đã được đề cập khá nhiềutrong các kế hoạch và chiến lược phát triển của nền kinh tế, các ngành kinh tế,thậm chí là của các doanh nghiệp Trong thế giới toàn cầu hóa, không còn chỗcho những ý tưởng làm sản phẩm từ A-Z Chuỗi quá trình tạo giá trị toàn cầu

có ba phân khúc: nghiên cứu và phát triển - sở hữu trí tuệ; sản xuất, xây dựngthương hiệu và thương mại Mỗi sản phẩm được tạo ra đều có giá trị bao gồmmột xâu chuỗi mắt xích nhiều giá trị kết nối tạo nên Trong thời hội

1

Trang 12

-nhập, các mắt xích tạo nên giá trị cuối cùng của một sản phẩm đã vượt rangoài biên giới quốc gia - lãnh thổ, hoặc, một sản phẩm thuần túy ra đời tạimột địa phương cụ thể nhưng vẫn mang giá trị toàn cầu.

Trong ngành dệt may toàn cầu, khâu thiết kế kiểu dáng được làm ở cáctrung tâm thời trang thế giới tại Paris, London, New York… vải được sảnxuất tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…phụ liệu khác được làm tại Ấn

Độ, Thái Lan Khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng được thực hiện ở các nước

có chi phí nhân công thấp như Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia…Saucùng, sản phẩm được đưa trở lại thị trường do các công ty thương mại danhtiếng đảm nhận bán ra Trong chuỗi giá trị toàn cầu hàng dệt may đó, khâu cólợi nhuận cao nhất là thiết kế mẫu, cung cấp nguyên phụ liệu và thương mại.Việt Nam chỉ tham gia vào khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng với lượng giátrị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị Theo ước tính, khoảng 90% doanhnghiệp dệt may của Việt Nam tham gia vào khâu này của chuỗi giá trị dướihình thức gia công Chính vì thế, tuy sản phẩm dệt may của Việt Nam đượcxuất đi nhiều nơi, Việt Nam có tên trong top 10 nước xuất khẩu dệt may lớnnhất thế giới nhưng giá trị thu về rất thấp

Ngành dệt may Việt Nam - một trong những ngành đóng vai trò quantrọng trong tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu và là chìa khoá để giảiquyết việc làm cho người dân Việt Nam, nhưng việc còn đơn thuần chỉ giacông cho nước ngoài, trong khi hầu hết nguyên phụ liệu của ngành dệt mayđều phải nhập khẩu khiến cho ngành dệt may Việt Nam khó có thể phát triểnbền vững Bên cạnh đó, ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may trong nước cònnon yếu dẫn đến sự phụ thuộc vào nguồn cung ứng bên ngoài, giá trị gia tăngtrong mỗi sản phẩm dệt may thấp và dẫn đến hiệu quả xuất khẩu thấp Nguyênnhân là do ngành dệt may Việt Nam vẫn còn tồn tại những điểm yếu

2

Trang 13

-như: công nghiệp phụ trợ kém phát triển, tỷ lệ gia công còn cao, thiếu nguồnnhân lực chất lượng cao, chưa có khả năng cung cấp trọn gói, khả năng thiết

kế thời trang còn hạn chế Từ đó dẫn đến nghịch lý là kim ngạch xuất khẩusản phẩm dẫn đầu, nhưng nhập khẩu nguyên, phụ liệu cũng tăng cao; thudụng nhiều lao động nhưng giá trị gia tăng thấp; sản phẩm công nghiệp chủlực nhưng lại chủ yếu gia công Rõ ràng, ngành dệt may Việt Nam đang ẩnchứa nhiều nghịch lý giữa con số thực hiện và hiệu quả thực tế

Vậy làm thế nào để cải thiện thực trạng trên? Nói cách khác là liệu ViệtNam có khả năng tham gia một cách có hiệu quả vào chuỗi giá trị dệt maytoàn cầu trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhất là khi Việt Nam đã là thành viênchính thức của WTO hay không? Và cần làm như thế nào để thúc đẩy sự thamgia của ngành dệt may Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu? Đóchính là những vấn đề đặt ra cho ngành dệt may Việt Nam và đang cần lờigiải đáp

Việc thực hiện đề tài: “Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và khả năng tham gia của ngành dệt may Việt Nam” chính là nhằm giải đáp các vấn đề

đã nêu ở trên

2 Tình hình nghiên cứu.

Thuật ngữ chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu mới được biết đến ởViệt Nam trong vài năm trở lại đây Do đó, các công trình nghiên cứu vềchuỗi giá trị toàn cầu ở Việt Nam chưa nhiều Về các công trình liên quan đếnchuỗi giá trị toàn cầu gắn với chủ đề tác giả nghiên cứu, có thể kể đến:

1) Nghiên cứu của PGS TS Trần Văn Tùng, “Thay đổi công nghệ để

tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu” Nhà xuất bản Thế giới (2007) với những lý

luận về mạng lưới sản xuất toàn cầu và một số gợi mở cho Việt Nam

trong việc thay đổi công nghệ để tham gia hiệu quả vào mạng lưới sản xuất

3

Trang 14

-toàn cầu;

2) Cuốn sách của G.S Trần Văn Thọ: “Biến động kinh tế Đông Á và con

đường công nghiệp hóa Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2005) với

những nhận định về khả năng thực hiện công nghiệp hóa của Việt Nam thông quaviệc tham gia vào chuỗi giá trị khu vực Đông Á;

3) Báo cáo điều tra Dự án: Phát triển chuỗi giá trị - công cụ gia tăng giá

trị cho sản xuất nông nghiệp của các tác giả - Doris Becker, Phạm Ngọc Trâm

và Hoàng Đình Tú - doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam Đây là Dự án thuộcChương trình Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ liên quan đến phát triển cáctiểu ngành, các chuỗi giá trị Cấu phần hướng tới các tiểu ngành nông nghiệp

và liên kết các hoạt động này với sự tham gia của khu vực tư nhân thông quacác quan hệ hợp tác nhà nước và tư nhân Phương pháp phát triển chuỗi giá trịcủa Chương trình tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp (sản xuất và tiêu thụ cácsản phẩm nông nghiệp) Phương pháp này có tiềm năng to lớn trong tạo việclàm và tăng thu nhập ở nông thôn

4) Bài báo: Tiếp cận chuỗi giá trị cho việc nâng cấp ngành dệt may Việt

Nam của các tác giả: Trương Hồng Trình, Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn

Thanh Liêm, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Bài viết tiếp cậnchuỗi giá trị toàn cầu nhằm giải thích sự chuyển đổi trong hệ thống sản xuất

và thương mại của ngành dệt may trên thế giới Dựa trên mô hình OEM (sảnxuất thiết bị gốc) của các nước Đông Á và các đặc tính của ngành dệt mayViệt Nam, bài viết phân tích và xác định chiến lược nâng cấp ngành là sự dịchchuyển từ sản xuất gia công (chủ yếu nhập khẩu các yếu tố đầu vào) sang môhình sản xuất tích hợp OEM và OBM (đòi hỏi tăng cường các liên kết dọc ởcấp độ khu vực và quốc gia) Ngoài ra, bài viết đề xuất các chính sách nhằm

hỗ trợ nâng cấp quá trình, sản phẩm và chức năng cho mô hình OEM, thay vì

4

Trang 15

-nhắm đến bước nhảy đột phá từ sản xuất gia công sang hệ thống sản xuất địnhhướng xuất khẩu với thương hiệu của nhà sản xuất (OBM).

5) Hiệp hội Dệt May Việt Nam: Chiến lược Xuất khẩu ngành dệt may

giai đoạn 2006 - 2010 Trong Đề án chiến lược có nội dung về chuỗi giá trị

hàng dệt may Chuỗi giá trị của ngành được sử dụng như một công cụ chínhtrong chiến lược này Phân tích chuỗi giá trị phác thảo một bức tranh toàncảnh về vị trí cụ thể của ngành dệt may Việt Nam so với ngành dệt may củacác nước khác trên thế giới Điểm mạnh và điểm yếu trong mỗi liên kết củachuỗi giá trị cũng thể hiện một quan điểm chiến lược về những hoạt động cầnlàm để bổ sung giá trị vào mỗi liên kết và đạt được những hoạt động có giá trịgia tăng cao hơn

6) Luận văn Thạc sỹ kinh tế: Thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may trong

điều kiện đã là thành viên chính thức của WTO Đề tài khẳng định dệt may

nằm trong hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu do thị trường và người mua chi phối(global value chain driven by marketer) Các nhà bán lẻ lớn hay các nhà bánbuôn đặt hàng cung cấp các sản phẩm với các đặc tính rõ ràng Các công ty cóthương hiệu nổi tiếng kiểm soát hệ thống sản xuất trên phạm vi toàn cầu vàtác động đến lợi nhuận trong mỗi khâu của chuỗi giá trị Trong chuỗi giá trị

đó khâu tạo ra giá trị lợi nhuận cao nằm trong khâu nghiên cứu và phát triển,thiết kế, marketing và chiến lược kết nối các nhà sản xuất trên phạm vi toàncầu và bán các sản phẩm các thị trường tiêu dùng chính Trong hệ thống nàycác doanh nghiệp ở các nước đang phát triển như Việt Nam đóng vai trò sảnxuất sản phẩm cuối cùng cho người tiêu dùng nước ngoài Mặc dù đây là khâuđược đánh giá có giá trị gia tăng thấp nhất nhưng nó lại là khâu quan trọng vàmang lại nhiều công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động ở Việt Nam, là mộttrong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Ngành dệt may có nhiều

cơ hội để phát triển sau khi trở thành thành thành viên chính thức của WTO

5

Trang 16

-vào ngày 11.1.2007 và thực hiện lộ trình cam kết của WTO đối với dệt may.

Ngoài các công trình nêu trên, còn có một số công trình nghiên cứu

khác liên quan đến đề tài như: Bài viết: Tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn

cầu của PGS.TS Nguyễn Thị Hường, ThS.Phạm Thị Thu Thảo; Bài viết: Đầu

tư cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, hướng đến phát triển bền vững ngành dệt may Việt Nam của Hoàng Bích Thu…

7) Các nghiên cứu về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị dệt may:

- Michael E Porter: Competitive Advantage: Creating and Sustaining

Superior Performance.

- Gary Gereffi - Khoa Xã hội học - Đại học Duke Durham, Hoa Kỳ và OlgaMemedovic UNIDO Viện Nghiên cứu chiến lược và Chính sách Kinh tế Vienna,

Áo: The Global Apparel Value Chain: What Prospects for Upgrading by

Developing Countries, United Nation Industrial Development Organzation,Vienna.

Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước ở trên chủ yếu tập trungvào phân tích ở góc độ lý thuyết về chuỗi giá trị (Lợi thế cạnh tranh, Michael

E Porter, Trần Văn Tùng, “Thay đổi công nghệ để tham gia mạng lưới sảnxuất toàn cầu” ) Một số công trình khác đã phân tích tương đối toàn diện vềchuỗi giá trị, nhưng trên góc độ chung, không đi sâu vào một lĩnh vực cụ thểnào Một số công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị trong một số lĩnh vực cụthể, nhưng không liên quan đến lĩnh vực dệt may như: Phát triển chuỗi giá trị

- công cụ gia tăng giá trị cho sản xuất nông nghiệp hoặc một số công trìnhkhác nghiên cứu về chuỗi giá trị trong lĩnh vực điện tử, thủy sản Một số côngtrình nghiên cứu về chuỗi giá trị trong ngành dệt may như đã liệt kê ở trên, lànguồn tư liệu tham khảo rất hữu ích cho tác giả trong việc xây dựng đề cươngnghiên cứu, cũng như trong quá trình triển khai viết luận văn Tuy nhiên, các bàiviết, công trình nghiên cứu chưa phân tích một cách toàn diện, đầy đủ các khíacạnh về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Đồng thời, chưa có sự

Trang 17

-phân tích, làm rõ chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu làm rõ sự cần thiết tham gia chuỗigiá trị dệt may toàn cầu của Việt Nam và thông qua kinh nghiệm của các quốcgia xuất khẩu hàng dệt may để hình thành một số giải pháp để ngành dệt mayViệt Nam tham gia có hiệu quả hơn so với hiện nay vào chuỗi giá trị dệt maytoàn cầu là yêu cầu cần thiết và quan trọng Do vậy, tác giả quyết định chọn

đề tài nghiên cứu nêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu.

Nghiên cứu chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Việt Nam, tìm ra nhữnghạn chế và nguyên nhân để có những giải pháp nâng cao hiệu quả trong việctham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Việt Nam

Với mục tiêu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:

1) Tại sao ngành dệt may Việt Nam cần phải tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu?

2) Hiện nay dệt may Việt Nam đang ở đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu?

3 Cần phải làm gì để thúc đẩy khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của dệt may Việt Nam?

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Để thực hiện được mục tiêu và lý giải được các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ đặt ra của luận văn là:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

- Đánh giá việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Việt Nam hiện nay

- Xây dựng một số giải pháp để Việt Nam tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Trang 18

-4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chuỗi giá trị dệt may toàn cầu vàkhả năng tham gia của ngành dệt may Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chuỗi giá trị là một khái niệm rất rộng, được ứng dụng trong sản xuấtkinh doanh rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề nhưng trong khuôn khổ của luậnvăn này, chuỗi giá trị được giới hạn nghiên cứu trong lĩnh vực dệt may củaViệt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu.

Trước hết luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để phântích sự hình thành các khâu trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, gắn với sựvận động và phát triển của nó Bên cạnh đó, luận văn sử dụng phương phápphân tích hệ thống và coi ngành dệt may như một hệ thống con của Hệ thốngcác ngành trong nền kinh tế quốc dân và có mối quan hệ mật thiết lẫn nhau.Việc phân tích thực trạng chuỗi giá trị dệt may cho thấy những đặc trưngriêng của ngành dệt may để có những giải pháp thích hợp nhằm giúp ngànhdệt may Việt Nam tham gia có hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

Phương pháp so sánh cũng được luận văn sử dụng để làm nổi bật tínhđặc thù trong việc ứng dụng chuỗi giá trị dệt may toàn cầu trong bối cảnh ViệtNam hội nhập kinh tế quốc tế đồng thời phương pháp thống kê, tổng hợpđược sử dụng như là một công cụ phân tích số liệu để minh chứng cho cácvấn đề nghiên cứu

6 Những đóng góp mới của luận văn.

- Luận giải sự cần thiết của việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO

Trang 19

Đánh giá hiện trạng sự tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của ViệtNam, rút ra những hạn chế và nguyên nhân.

- Đề xuất các giải pháp góp phần cho ngành dệt may Việt Nam tham giachuỗi giá trị toàn cầu một cách có hiệu quả

7 Kết cấu nội dung của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 03 chương sau đây:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Chương 2 Thực trạng tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Việt Nam Chương 3 Định hướng và một số giải pháp để Việt Nam tham gia có

hiệu quả chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

9

Trang 20

-Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THAM GIA CHUỖI

GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU

1.1 Các khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

1.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu

Trước khi tìm hiểu về chuỗi giá trị toàn cầu, cần phải làm rõ chuỗi giá trị

là gì?

Chuỗi giá trị nói đến một loạt các hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng Tiếp đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi [24,

tr.4] Định nghĩa này có thể giải thích theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng như sau:

Theo nghĩa hẹp: Một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện

trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt động này

có thể gồm: giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tưđầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi… Tất

cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với ngườitiêu dùng Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuốicùng

Theo nghĩa rộng: Chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do

nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người lắpráp, người cung ứng dịch vụ ) để sản xuất ra bất cứ một hàng hóa hay dịch

vụ nào đó Quy trình sản xuất một sản phẩm và dịch vụ theo một trật tự đầy

đủ các hoạt động tạo giá trị gia tăng cần thiết để đưa sản phẩm chuyển từ khái

Trang 21

-10-niệm đến thiết kế, tìm kiếm nhà cung ứng, chế tạo các bộ phận linh kiện, lắpráp, khai thác thị trường và tiếp thị, phân phối và hỗ trợ cho người tiêu dùngcuối cùng để tạo thành một chuỗi giá trị.

Cách tiếp cận theo nghĩa rộng không xem xét các hoạt động do mộtdoanh nghiệp duy nhất tiến hành, mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược vàxuôi cho đến khi một sản phẩm được sản xuất được kết nối với người tiêudùng cuối cùng

Từ khái niệm trên cho thấy chuỗi giá trị là toàn bộ các hoạt động màcông ty thực hiện khi tạo ra một sản phẩm kể từ khi nó bắt đầu được phátminh đến khi nó được bán ra thị trường cũng như những sản phẩm dịch vụ saubán hàng có liên quan tới sản phẩm đó Những hoạt động trong chuỗi giá trịbao gồm: thiết kế, sản xuất, marketing, phân phối và các dịch vụ cung cấp chokhách hàng cuối cùng Tổng hợp của các hoạt động này tạo nên một chuỗi giátrị Chuỗi giá trị có thể được tạo ra bởi một công ty và cũng có thể được tạo rabởi nhiều công ty khác nhau Các hoạt động trong chuỗi giá trị không chỉ baogồm cả hoạt động sản xuất hàng hóa hữu hình mà còn bao gồm các hoạt độngdịch vụ Một số nhà nghiên cứu chia chuỗi giá trị thành chuỗi giá trị giản đơn

và chuỗi giá trị mở rộng Chuỗi giá trị giản đơn được hiểu như là chuỗi củacác hoạt động cơ bản từ điểm đầu đến điểm cuối của một sản phẩm, ví dụthiết kế, sản xuất, phân phối và tiêu dùng Chuỗi giá trị mở rộng là chuỗi chitiết hóa các hoạt động cơ bản trong chuỗi giá trị giản đơn, mức độ chi tiết hóacác hoạt động cơ bản càng cao càng cho ta thấy sự tham gia của các thànhphần trong chuỗi Nhắc tới chuỗi giá trị, không thể không nhắc tới 3 đặc điểmquan trọng nhất về chuỗi giá trị đó là nó tạo ra liên kết giữa các doanh nghiệp,các khâu trong chuỗi tuân theo một tiêu chuẩn và lợi nhuận được chia sẻ theokhả năng tham gia vào chuỗi của các bên

Trang 22

-11-i Tạo ra liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua làm việc cùng nhautrong chuỗi giá trị Đặc điểm này đòi hỏi những người quản lý chuỗi giá trịphải có chính sách điều phối tốt để đưa ra những quyết định kịp thời quá trìnhvận hành của chuỗi.

ii Trong chuỗi giá trị, tất cả các khâu đều phải được tuân theo một tiêuchuẩn và luôn cần được cải tiến để có thể tăng khả năng cạnh tranh với các chuỗikhác

iii Chuỗi giá trị thành công khi lợi nhuận tạo ra trong chuỗi được chia sẻmột cách hợp lý cho các bên tham gia Như vậy, các bên tham gia vào chuỗigiá trị mới có thêm động lực phát huy hết vai trò của họ trong chuỗi

Trong chuỗi giá trị có thể chia thành ba giai đoạn chính: Thượng nguồngồm các công đoạn nghiên cứu và triển khai (R&D), thiết kế, sản xuất các bộphận linh kiện chính Trung nguồn gồm công đoạn lắp ráp, gia công Hạnguồn là tiếp thị, xây dựng mạng lưới lưu thông, khai thác và tiếp cận thịtrường Ba giai đoạn này kết hợp thành một chuỗi giá trị của một sản phẩm.Thông thường trong chuỗi giá trị của một ngành thì giá trị gia tăng sẽ đượctạo ra nhiều nhất ở khâu R&D và marketing, tiếp đến là khâu thiết kế và phânphối, còn khâu sản xuất, gia công và lắp ráp sẽ tạo ra giá trị gia tăng thấpnhất Chính vì vậy, các nước phát triển có thương hiệu nổi tiếng trên thế giớichỉ tập trung vào các khâu tạo ra giá trị gia tăng cao, còn những khâu tạo ragiá trị gia tăng thấp sẽ được chuyển sang các nước khác, trong đó chủ yếu làchuyển cho các doanh nghiệp của các nước đang phát triển

Chuỗi giá trị có thể diễn ra trong một phạm vi hẹp nhưng cũng có thểdiễn ra ở phạm vi toàn cầu

Chuỗi giá trị của một sản phẩm hay dịch vụ diễn ra qua nhiều nước trên phạm vi toàn cầu thì chuỗi giá trị đó được gọi là chuỗi giá trị toàn cầu [24]

Trang 23

-12-Dự án nghiên cứu kinh doanh quốc tế Việt Nam năm 2005 có định nghĩa

về chuỗi giá trị toàn cầu như sau:

Chuỗi giá trị toàn cầu là mạng lưới toàn cầu của các quá trình lao động, quá trình sản xuất và kết quả cuối cùng là một sản phẩm hoàn chỉnh được tiêu thụ

Khái niệm về chuỗi giá trị kể trên cho thấy có sự tương đồng giữa cáckhái niệm “chuỗi giá trị”, “chuỗi cung ứng” và “mạng sản xuất toàn cầu” Vềbản chất, “chuỗi giá trị” và “chuỗi cung ứng” đều nhắm tới việc tạo giá trị giatăng cho một hoạt động nhất định Nếu các hoạt động đó, vượt ra khỏi phạm

vi biên giới quốc gia thì được hiểu là “chuỗi giá trị toàn cầu” và “chuỗi cung ứng toàn cầu” Điểm khác nhau cơ bản giữa các khái niệm trên là:

- Thước đo trong “chuỗi giá trị” là khả năng tạo giá trị gia tăng cho sảnphẩm trên cơ sở nâng cao giá trị gia tăng trong mỗi “mắt xích” của chuỗi cung cấpsản phẩm cho người tiêu dùng

- Thước đo của “chuỗi cung ứng” là khả năng tiết giảm chi phí cho việc sản xuất và phân phối sản phẩm

- “Mạng sản xuất” nhấn mạnh đến các liên kết bên trong hoặc giữa cácnhóm công ty trong một chuỗi giá trị để sản xuất, phân phối và hỗ trợ tiêu dùng cácsản phẩm cụ thể

1.1.2 Lý thuyết chuỗi giá trị của Michael E Porter

Phương pháp chuỗi giá trị được Michael E Porter đưa ra vào nhữngnăm 1980 trong cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh: Tạo lập và duy trì thành tíchvượt trội trong kinh doanh” xuất bản vào năm 1985, được dịch sang tiếng Việtvào năm 2009 [7, tr.71-106] Khái niệm về giá trị gia tăng trong khuôn khổchuỗi giá trị được coi như là yếu tố để tạo nên và duy trì lợi thế cạnh tranh bềnvững của một tổ chức trong kinh doanh ở thế kỷ 21 Theo Michael E Porter,khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng nhằm giúp các

Trang 24

-13-doanh nghiệp có thể tìm ra các lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm năng) củamình Ông cho rằng, một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một sảnphẩm hay một dịch vụ có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mìnhvới chi phí thấp hơn hoặc chi phí cao hơn nhưng có những đặc tính mà kháchhàng mong muốn Porter đã lập luận rằng, nếu nhìn vào một doanh nghiệpnhư là một tổng thể những hoạt động, những quá trình thì khó, thậm chí làkhông thể, tìm ra được một cách chính xác lợi thế cạnh tranh của họ là gì.Nhưng điều này có thể thực hiện được dễ dàng khi phân tách thành nhữnghoạt động bên trong Theo cách đó, Porter phân biệt rõ giữa các hoạt động cơbản hay những hoạt động chính, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sảnxuất hàng hóa (hoặc dịch vụ) và các hoạt động bổ trợ có ảnh hưởng gián tiếpđến giá trị cuối cùng của sản phẩm.

Các hoạt động chính là những hoạt động hướng đến việc chuyển đổi vềmặt vật lý và quản lý sản phẩm hoàn thành để cung cấp cho khách hàng Hậucần đến và hậu cần ra ngoài là các thành tố quan trọng và then chốt của chuỗigiá trị, đây chính là yếu tố tạo ra “giá trị” cho khách hàng của doanh nghiệp

và mang lại lợi ích tài chính cho công ty Việc tích hợp một cách sâu rộng cácchức năng sản xuất, bán hàng, marketing với hậu cần cũng là một tiêu thứcquan trọng của chuỗi giá trị Các hoạt động bổ trợ cho phép hoặc hỗ trợ cáchoạt động chính Chúng có thể hướng đến việc hỗ trợ một hoạt động chínhcũng như hỗ trợ các tiến trình chính

Cụ thể các hoạt động trong chuỗi giá được minh họa ở hình 1.1

Trang 25

-14-Hình 1.1 - Mô hình Chuỗi giá trị của Michael E Porter

Nguồn: Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior

Performance (Michael E Porter, 2009)Porter phân biệt và nhóm gộp thành năm hoạt động chính:

Hậu cần đến (inbound logistics): Những hoạt động này liên quan đến

việc nhận, lưu trữ và dịch chuyển đầu vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trịnguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sảnphẩm cho nhà cung cấp

Sản xuất: Các hoạt động tương ứng với việc chuyển đổi đầu vào thành

sản phẩm hoàn thành, chẳng hạn như gia công cơ khí, đóng gói, lắp ráp, bảotrì thiết bị, kiểm tra, in ấn và quản lý cơ sở vật chất

Hậu cần ra ngoài (outbound logistics): Đây là những hoạt động kết

hợp với việc thu thập, lưu trữ và phân phối hàng hóa vật chất sản phẩm đếnngười mua, chẳng hạn như quản lý kho bãi cho sản phẩm hoàn thành, quản trịnguyên vật liệu, quản lý phương tiện vận tải, xử lý đơn hàng và lên lịch trình-

kế hoạch

Trang 26

-15-Marketing và bán hàng: Những hoạt động này liên quan đến việc

quảng cáo, khuyến mãi, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ giữacác thành viên trong kênh và định giá

Dịch vụ khách hàng: Các hoạt động liên quan đến việc cung cấp dịch

vụ nhằm gia tăng hoặc duy trì giá trị của sản phẩm, chẳng hạn như cài đặt, sửachữa và bảo trì, đào tạo, cung cấp thiết bị thay thế và điều chỉnh sản phẩm.Các hoạt động bổ trợ được nhóm thành bốn loại:

Thu mua: Thu mua liên quan đến chức năng mua nguyên vật liệu đầu

vào được sử dụng trong chuỗi giá trị của công ty Việc này bao gồm nguyênvật liệu, nhà cung cấp và các thiết bị khác cũng như tài sản, chẳng hạn như:máy móc, thiết bị thí nghiệm, các dụng cụ văn phòng và nhà xưởng Những ví

dụ này minh họa rằng các đầu vào được mua có thể liên hệ với các hoạt độngchính cũng như các hoạt động bổ trợ Đây chính là lý do khiến Michael E.Porter phân loại thu mua như một hoạt động bổ trợ chứ không phải là hoạtđộng chính

Phát triển công nghệ: “Công nghệ” có ý nghĩa rất rộng trong bối cảnh

này, vì theo quan điểm của Michael E Porter thì mọi hoạt động đều gắn liềnvới công nghệ, có thể là bí quyết, các quy trình thủ tục hoặc công nghệ được

sử dụng trong tiến trình hoặc thiết kế sản phẩm Đa phần các hoạt động giá trị

sử dụng một công nghệ kết hợp một số lượng lớn các tiểu công nghệ khácnhau liên quan đến các lĩnh vực khoa học khác nhau

Quản trị nguồn nhân lực: Đây chính là những hoạt động liên quan đến

việc chiêu mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho toàn thểnhân viên trong tổ chức, có hiệu lực cho cả các họat động chính và hoạt động

bổ trợ

Trang 27

-16-Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhìn nhận ở góc độ

tổng quát chính là khách hàng của những hoạt động này Chúng không chỉ hỗtrợ cho một hoặc nhiều các hoạt động chính mà thay vào đó chúng hỗ trợ cho

cả tổ chức Các ví dụ của những hoạt động này chính là việc quản trị, lập kếhoạch, tài chính, kế toán, tuân thủ quy định của luật pháp, quản trị chất lượng

và quản trị cơ sở vật chất Trong các doanh nghiệp lớn, thường bao gồm nhiềuđơn vị hoạt động, chúng ta có thể nhận thấy rằng các hoạt động này đượcphân chia giữa trụ sở chính và các công ty hoạt động Cơ sở hạ tầng chính là

đề tài được bàn cãi nhiều nhất về lý do tại sao nó thay đổi quá thường xuyênđến vậy

Chuỗi giá trị được coi là công cụ hữu hiệu để xác định giá trị được tạo ratrong mỗi khâu của quá trình sản xuất Giá trị biên của công ty phụ thuộc vàocác hoạt động trong chuỗi giá trị của công ty Lợi thế cạnh tranh có thể đượctạo ra bằng cách thay đổi trong các hoạt động trong chuỗi theo nguyên tắc hạthấp chi phí và tạo ra những khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh Muốn tạo

ra sự khác biệt để tăng lợi thế cạnh tranh, Michael E Porter đã chỉ ra nhữngvấn đề chính doanh nghiệp cần quan tâm: các chính sách và quyết định, thờigian thực hiện, mối quan hệ bên trong doanh nghiệp, khả năng hội nhập củadoanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa các hoạt độngtrong chuỗi giá trị, vị trí của doanh nghiệp, khả năng học hỏi của doanhnghiệp,…Phân tích chuỗi giá trị được nhiều doanh nghiệp ứng dụng hiệu quả,mang lại giá trị gia tăng nhiều hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa

Trong những phân tích của Michael E Porter, một lý thuyết khác rộng

hơn, bao hàm phân tích chuỗi giá trị của ông được gọi là Hệ thống chuỗi giá trị Hệ thống chuỗi giá trị bao hàm chuỗi giá trị của doanh nghiệp, chuỗi giá

Trang 28

-17-trị thượng nguồn (liên quan tới những người cung cấp yếu tố đầu vào) vàchuỗi giá trị hạ nguồn (liên quan tới các kênh phân phối và khách hàng).Chuỗi giá trị của doanh nghiệp chỉ là một phần của toàn bộ hệ thốngchuỗi giá trị Doanh nghiệp cố gắng tạo ra giá trị gia tăng bên trong doanhnghiệp theo liên kết chiều dọc là chưa đủ bởi những giá trị gia tăng còn đượctạo ra ở bên ngoài doanh nghiêp theo một liên kết chiều ngang Chính nhữngliên kết theo chiều ngang đã tạo ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp của nướcnhận đầu tư, giúp họ “chen chân” vào mạng lưới sản xuất toàn cầu của công

ty xuyên quốc gia Tuy nhiên, liên kết chuỗi tức là doanh nghiệp phải đồngsức, đồng lòng, nếu vẫn giữ quan điểm “mạnh ai nấy làm” thì sẽ không thểthành công và mô hình liên kết chuỗi không phát huy được hiệu quả Chuỗiliên kết đòi hỏi tinh thần hợp tác rất cao của mỗi doanh nghiệp thành viên

1.1.3 Khái niệm chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Trước đây ngành may mặc toàn cầu đặc trưng bởi rất nhiều nước xuấtkhẩu do hệ thống quota MFA tạo ra, nhưng mức độ tập trung xuất khẩu đangtăng nhanh Chuỗi cung ứng hàng may mặc được đánh dấu bằng sự chuyênmôn hóa đáng kể theo nước Các nước có thu nhập cao hơn thường thống lĩnhcác lĩnh vực cần đầu tư vốn nhiều hơn, trong khi các nước có thu nhập thấphơn tập trung vào lĩnh vực cần nhiều lao động Lĩnh vực cần nhiều lao độngnhất là sản xuất may mặc, sau đó là dệt (sợi và vải) Những lĩnh vực cần vốnđầu tư lớn nhất như sản xuất xơ sợi nhân tạo và chế tạo thiết bị là thượngnguồn, nơi mà các hàng rào ngày càng cao hơn Do các nước phát triển giàuhơn và lương tăng, lợi thế so sánh trong sản xuất bị mất dần đi và phải chuyểntrọng tâm sang các sản phẩm có giá trị cao hơn hoặc sang các sản phẩm chếtạo với sự tập trung lao động thấp hơn

Trang 29

-18-Việc phân công lao động giữa các nước tại những mức độ phát triểnkhác nhau hình thành nên sự nâng cấp công nghiệp trong chuỗi giá trị maymặc Ở Châu Á các nước được nhóm theo trục dọc theo mức độ phát triểntương đối của mình, Nhật Bản đứng đầu, Trung Quốc và Ấn Độ ở mức giữa,các nước Bangladesh, Cambodia, Việt Nam đứng cuối.

Đầu tiên, các nước có xu hướng tiến bộ từ các lĩnh vực có giá trị giatăng thấp lên cao trong chuỗi theo thời gian Điều này cho thấy tầm quantrọng của việc xem xét toàn bộ các bước giá trị gia tăng trong quá trình sảnxuất nguyên liệu, cấu kiện, hàng thành phẩm, dịch vụ liên quan và thiết bị hơn

là chỉ xem xét sản phẩm cuối cùng Thứ hai là có sự phân công lao động khuvực trong chuỗi giá trị may mặc, nơi các nước có mức độ phát triển khác nhautạo thành một hệ thống thang bậc nhiều lớp với vai trò xuất khẩu khác nhau(ví dụ Mỹ thường đưa ra thiết kế sản phẩm và đơn hàng lớn, Nhật Bản cungcấp thiết bị may, các nền kinh tế công nghiệp hóa mới nổi tại Đông Á (NIEs)cung cấp vải, và các nền kinh tế Châu Á khác có mức lương thấp như TrungQuốc, Indonesia, Việt Nam may hàng may mặc) Sự nâng cấp công nghiệpxảy ra khi các nước thay đổi vai trò của mình trong hệ thống thang bậc xuấtkhẩu đó Cuối cùng là các nền kinh tế tiên tiến như Nhật Bản và NIEs Đông Ákhông muốn rời xa ngành này khi hàng thành phẩm của họ trong chuỗi đã trởnên chín muồi, theo mô hình “vòng đời sản phẩm”, nhưng họ lại đầu tư vốndựa trên kiến thức sản xuất và hệ thống phân phối của mình, do vậy chuyểndịch sang những giai đoạn giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi may mặc

Vậy chuỗi giá trị dệt may toàn cầu được hiểu như thế nào?

Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu được hiểu là các công đoạn của quá trình sản xuất sản phẩm hàng may mặc trong chuỗi giá trị từ khâu khai thác, sản xuất nguyên liệu, thiết kế, gia công - sản xuất thành phẩm rồi phân phối tới

Trang 30

-19-các nhà bán buôn, bán lẻ…có sự tham gia của -19-các doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia trên thế giới.

Cụ thể đối với ngành dệt may toàn cầu, khâu thiết kế kiểu dáng được làm

ở các trung tâm thời trang thế giới tại Paris, London, New York… vải đượcsản xuất tại Trung Quốc, phụ liệu khác được làm tại Ấn Đô Khâu sản xuất sảnphẩm cuối cùng được thực hiện ở các nước có chi phí nhân công thấp như ViệtNam, Trung Quốc, Campuchia…Sau cùng, sản phẩm hoàn chỉnh được đưa tới cácthị trường để tiêu thụ và do các công ty thương mại danh tiếng đảm nhận khâuphân phối đến người tiêu dùng Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu được thể hiện ởhình 1.2

-20-Nguyê

n liệu

Sợi tự

nhiê n:

Trang 31

Các công ty dệt

Sản xuất Vải

ngu yên

(đa n len, liệu

dệt, hồ) (ké o sợi)

H ó

a d ầ u

Sợi tổn g hợp

C á c

y ế u

t ố s ả n x

Hệ thống sản xuất

Trang 32

Hệ thống

xuất khẩu

C ác n hà bá n lẻ

Hệ thống cửa hàng đặc biệt

Hệ thống cửa hàng chuyên dụng

Chuỗi bán buôn

Chuỗi bán lẻ

Hệ thống mark eting

Hình 1.2 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Nguồn: The international competiveness of Asian economies in the apparel commodity

chain (Gereffi, 2002)

21

Trang 33

1.1.4 Bản chất và nội dung cơ bản của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

1.1.4.1 Bản chất của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Sản phẩm dệt may là một chuỗi giá trị bị ảnh hưởng bởi người mua, điềunày có nghĩa là những khách hàng quốc tế (bán lẻ hoặc những công ty pháttriển thương hiệu) thường có vị thế trội hơn trong chuỗi giá trị Chuỗi giá trịtoàn cầu hướng theo người mua bao gồm các nhà bán lẻ lớn, các nhàmarketing, các nhà sản xuất có thương hiệu mạnh có vai trò then chốt trongviệc hình thành mạng lưới sản xuất tập trung ở các nước xuất khẩu khác nhautrên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Mô hình này làđặc trưng chung của các ngành thâm dụng lao động, sản xuất hàng tiêu dùngnhư dệt may, da giầy, đồ chơi, Trong hệ thống này các nhà thầu của thế giớithứ ba chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm cuối cùng cho người tiêu dùngnước ngoài Các nhà bán lẻ lớn hay các nhà bán buôn đặt hàng cung cấp cácsản phẩm với các đặc tính rõ ràng Điều này có thể lý giải như sau:

Do sản xuất quá nhiều sản phẩm dệt may và người mua có thể tiến hànhlựa chọn và mua sản phẩm từ vài ngàn nhà máy sản xuất ở trên nhiều nước, cảnước phát triển và đang phát triển Theo ước tính thì công suất cung ứng hàngmay mặc hiện nay của thế giới cao hơn gấp hai lần so với nhu cầu thực tế;Các nhà bán lẻ hàng may mặc hay các công ty có thương hiệu có vai trò quyếtđịnh về xu hướng thời trang trong mỗi mùa bằng cách thảo luận và thỏa hiệpvới nhau về màu sắc và mẫu mốt cho các mùa thời trang

1.1.4.2 Các “mắt xích” trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Chuỗi giá trị có thể được thực hiện trong phạm vi một khu vực địa lý

hoặc trải rộng trong phạm vi nhiều quốc gia và trở thành chuỗi giá trị toàn

cầu (Global value chain) Theo cách nhìn này, các doanh nghiệp từ nhiều

quốc gia trên thế giới sẽ đóng vai trò như những mắt xích quan trọng và có

Trang 34

-22-thể chi phối sự phát triển của chuỗi giá trị Việc phân tích hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp theo quan điểm chuỗi giá trị chính là một phươngpháp hữu hiệu để đánh giá tốt nhất năng lực cạnh tranh, cũng như vai trò vàphạm vi ảnh hưởng của quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu Đối với ngànhdệt may, quan hệ theo chiều dọc của ngành này được biểu hiện dưới dạngchuỗi giá trị đơn giản theo hình vẽ sau:

Hình 1.3 Chuỗi giá trị sản xuất hàng dệt may đơn giản

Nguồn: Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên kết của doanh nghiệp

may xuất khẩu ở Việt Nam (Nguyễn Thị Đông 2011)

Trong chuỗi giá trị trên, các giai đoạn sản xuất nguyên liệu, kéo sợi, dệt vải,nhuộm, in vải được gọi là nguồn nguyên liệu đầu vào Đây cũng chính là cácngành công nghiệp phụ trợ và có liên quan chặt chẽ đến ngành cắt may Còn cácgiai đoạn cắt may, phân phối hàng may được coi là các công đoạn sản xuất vàphân phối sản phẩm Công đoạn này có vai trò tác động ngược trở lại các côngđoạn đầu và được coi là “động lực” thúc đẩy các công đoạn đầu phát triển Trongthực tế, mặc dù không nhất thiết cần phải phát triển tất cả các khâu trong hệthống sản xuất dệt may một cách đồng đều, song nếu tạo ra được mối liên hệ hữu

cơ giữa các khâu trong những điều kiện sẵn có thì sẽ có tác động rất lớn trongviệc đảm bảo tính chủ động, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăngsức cạnh tranh của sản phẩm dệt may trên thị trường trong nước và thế giới.Trong chuỗi giá trị dệt may nêu trên, sự liên kết giữa ngành dệt và ngành mayđược coi là một trong những liên kết quan trọng bởi vì:

Trang 35

-23 Sự liên kết giữa khâu dệt và khâu may có thể góp phần nâng cao chấtlượng nguyên liệu các doanh nghiệp may do ngành dệt có thể bám sát hơn nhu cầucủa ngành may về các loại nguyên liệu.

- Việc tăng cường liên kết dệt may sẽ tạo điều kiện giảm chi phí do giảmchi phí trung gian, hạ giá thành sản phẩm may, tăng sức cạnh tranh của hàng maymặc do tỉ lệ nội điạ hoá được nâng cao

- Liên kết dệt - may giảm bớt nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu nước ngoài, nâng cao giá trị gia tăng, góp phần tăng ngân sách quốc gia

- Liên kết dệt - may góp phần tạo điều kiện cung cấp vải sợi ổn định, chủđộng cho may hàng xuất khẩu Thực tế nhiều nước cho thấy, việc nhập khẩu vảisợi và phụ liệu khiến các doanh nghiệp gặp nhiều bất lợi, không chủ động đượctiến độ sản xuất cũng như thời gian giao hàng Có nhiều doanh nghiệp, do vải vàphụ liệu nhập khẩu bị chậm trễ, chịu chi phí bổ sung cao do vận chuyển bằngđường hàng không để đảm bảo thời gian giao hàng và giữ chữ tín với đối tác Đồngthời, đây cũng là cơ hội để nâng cao tỉ lệ nội địa hoá trong nước, đẩy mạnh pháttriển ngành công nghiệp dệt

- Liên kết dệt - may tạo điều kiện mở rộng thị trường ngành dệt, từ đótăng qui mô sản xuất để đạt lợi thế về qui mô, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranhcủa hàng dệt, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng tích lũy để tiếp tục tái đầu

tư cho công nghệ mới nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành may

Nhìn chung chuỗi giá trị dệt may toàn cầu được chia làm 6 công đoạn cơ bản: 1) Công đoạn cung cấp sản phẩm thô, bao gồm: các sợi tự nhiên và nhân tạo… 2) Công đoạn sản xuất các sản phẩm đầu vào, sản phẩm của công đoạn

này chỉ và sợi, vải do các công ty dệt đảm nhận

3) Công đoạn thiết kế mẫu sản phẩm

4) Công đoạn sản xuất do các công ty may đảm nhận

5) Công đoạn xuất khẩu: do các trung gian thương mại đảm nhận

6) Cuối cùng là công đoạn maketing và phân phối

Trang 36

-Chuỗi giá trị là quá trình biến một sản phẩm, dịch vụ phát triển từ ýtưởng qua nghiên cứu thử nghiệm đến sản xuất rồi đến tay người tiêu dùng vàcuối cùng là dịch vụ bán hàng và sau bán hàng Mỗi một công đoạn trên tùythuộc tính chất của mỗi hàng hóa và dịch vụ làm một cách có hệ thống Cáchoạt động bao gồm hàng loạt các hãng khác nhau đảm trách, tạo thành mộtmạng lưới sản xuất, lắp ráp dịch vụ nằm rải rác trên khắp thế giới tạo ra chuỗigiá trị toàn cầu Dệt may nằm trong hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu do thịtrường và người mua chi phối Trong chuỗi giá trị đó khâu tạo ra giá trị lợinhuận cao nằm trong khâu nghiên cứu và phát triển, thiết kế, marketing vàchiến lược kết nối các nhà sản xuất trên phạm vi toàn cầu và bán các sảnphẩm ở các thị trường tiêu dùng chính.

1.2 Sự cần thiết của việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu đối với các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa

1.2.1 Toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại: cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển

Xu thế toàn cầu hoá có tác động đến tất cả các nước, đặc biệt là nhữngnước đang phát triển, và điều đó dẫn đến sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữacác nước ngày càng chặt chẽ, do đó các nước dù giàu hay nghèo, dù lớn haynhỏ, cũng phải tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nếu nhưkhông muốn bị đánh bại trong cuộc chiến toàn cầu của nền kinh tế

Do các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hoá và dịch vụ dịch chuyển tự

do từ nước này sang nước khác nên sự phân công lao động ngày càng sâu sắc vàdiễn ra trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên các chuỗi giá trị toàn cầu

Từ thực tế này, một loạt vấn đề mới đặt ra trong chính sách thương mại

và đầu tư Trong đó, có đối sách của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trước xu thếcủa thời đại, hoặc tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá hay đứng ngoài tiến

Trang 37

-25-trình ấy Tham gia vào tiến -25-trình toàn cầu hoá, tiến cùng thời đại tuy thách thức

là rất lớn, nhưng cơ hội cũng rất nhiều Không tham gia vào tiến trình ấy, trởthành người ngoài cuộc sẽ bị phân biệt đối xử trong tiếp cận thị trường về hànghoá, dịch vụ và đầu tư, sẽ rất khó khăn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là trong bối cảnh thế giới đangdiễn ra cuộc cách mạng kỹ thuật - công nghệ lần thứ 3; và từ đó, dẫn đến lànsóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế lần thứ 3 Mà sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ởmỗi nước sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các nước

1.2.2 Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh

Hội nhập quốc tế thúc đẩy tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (Global ValueChain-GVC) GVC cho phép các công đoạn của chuỗi đặt tại những địa điểm(quốc gia) có khả năng đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất Đến nay,nhiều công trình nghiên cứu kinh tế đã đi đến kết luận là: lợi ích khi trở thànhmột bộ phận của GVC đem lại có thể gấp 10-20 lần nếu chỉ do quá trình tự dohoá thương mại đem lại Đối với các doanh nghiệp tại các nước đang pháttriển, trở thành bộ phận của GVC là một yếu tố rất quan trọng để tiếp nhậncông nghệ cao

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang vận hành theo mô hình chuỗigiá trị toàn cầu Nghĩa là mỗi một quốc gia trở thành một mắt xích trong việcchế tạo ra các bộ phận hợp thành một sản phẩm hàng hóa hoàn chỉnh để cóthể tận dụng hết các thế mạnh của nhau Vì thế Việt Nam cần phải làm gì để

có thể tham gia được nhiều vào "dòng thác" này? Vậy hàng dệt may ViệtNam sẽ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu như thế nào?

Thực tế cho thấy mỗi sản phẩm được tạo ra đều có giá trị bao gồm mộtxâu chuỗi mắt xích nhiều giá trị kết nối tạo nên Trong thời hội nhập, các mắtxích tạo nên giá trị cuối cùng của một sản phẩm đã vượt ra ngoài biên giới

Trang 38

-26-quốc gia - lãnh thổ, hoặc, một sản phẩm thuần túy ra đời tại một địa phương

cụ thể nhưng vẫn mang giá trị toàn cầu

Những mắt xích liên kết tạo nên chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó mỗinước, mỗi nền kinh tế nắm một đoạn trong chuỗi giá trị Chúng ta không thểđòi hỏi miếng bánh lợi ích từ hội nhập sẽ được chia đều Các nước đưa vốncông nghệ vào các nước đang phát triển để đầu tư, khai thác tài nguyên, sứclao động sẽ nhận phần to hơn Những nước đang phát triển đi sau như ViệtNam sẽ được phần bé hơn trong cuộc chia đó, nhưng ít còn hơn không có gì.Nếu các nước đang phát triển như Việt Nam không lựa chọn mục tiêu sốngcòn là phải vươn lên cạnh tranh ở hai phân khúc tạo giá trị gia tăng cao thìkhoảng cách với các nước phát triển sẽ ngày một xa

Chen chân vào các mắt xích giá trị toàn cầu không phải là công việc quácao xa, mà là sự thúc ép từng ngày đối với các cấp vạch chính sách và cácdoanh nghiệp Với khoảng hơn 3500 doanh nghiệp, trong đó đa số có quy môvừa và nhỏ với những hạn chế về khả năng tài chính, trình độ công nghệ, taynghề của đội ngũ lao động, trình độ quản lý và cả uy tín thương hiệu, cácdoanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc cạnhtranh với các tập đoàn dệt may lớn trên thế giới Việc tham khảo và rút kinhnghiệm từ các nền kinh tế khác khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu nói chung

và chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may nói riêng là một việc cần thiết.Dệt may Việt Nam cũng như những ngành kinh tế khác đứng trước vận hội vàthách thức của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Nhằm nâng caokhả năng cạnh tranh, mở rộng thị phần đòi hỏi các doanh nghiệp trong ngànhphải liên kết với nhau tạo ra Tập đoàn kinh tế mạnh Năng lực cạnh tranh củaquốc gia sẽ mạnh lên, nếu có nhiều doanh nghiệp nắm được những “mắt xích”trong chuỗi giá trị toàn cầu, không phân biệt đó là khâu thiết kế, sản xuất, lắpráp, vận chuyển, phát triển thương hiệu hay phân phối nhưng ít nhất không thể

Trang 39

-27-quanh quẩn trong cái “xưởng gia công khổng lồ” Không phải các doanhnghiệp Việt Nam không nhận thức được ý nghĩa, cơ hội và thách thức trongviệc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu Điều mà các doanh nghiệp Việt Nammong đợi đó là một chính sách phát triển đồng bộ với những phương thức hỗtrợ phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp và thôngqua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Trong một thế giới cạnh tranhtoàn cầu ngày càng khốc liệt, các quốc gia đã trở nên quan trọng hơn, chứkhông phải kém quan trọng đi Vì cơ sở của sự cạnh tranh đã dịch chuyểnngày càng nhiều sang sự tạo ra và mô phỏng kiến thức, cho nên vai trò củaquốc gia đã tăng lên Lợi thế cạnh tranh được tạo ra và duy trì thông qua mộtquá trình địa phương hóa cao độ Tất cả những khác biệt về giá trị, văn hóa, cơcấu kinh tế, định chế và lịch sử của các nước đều đóng góp cho sự thành công

về cạnh tranh Đây là những khác biệt đáng kể trong các kiểu hình của khảnăng cạnh tranh tại mọi quốc gia; không một quốc gia nào có thể hay sẽ cókhả năng cạnh tranh tại mọi hay thậm chí phần lớn các ngành Cuối cùng, cácnước thành công trong các ngành cụ thể bởi vì môi trường nội địa của cácnước đó hướng về tương lai nhất, năng động nhất và thách thức nhất

Theo Michael E Porter, một nền kinh tế chỉ thành công khi nó khai thácđược những thuận lợi và nhờ đó nâng cấp được các lợi thế cạnh tranh củamình - một cách liên tục Như vậy cũng có nghĩa là phải đổi mới liên tục, trên

cả cấp độ vi mô của doanh nghiệp lẫn cấp độ vĩ mô của Chính phủ Ở nhiềunước đang phát triển như Việt Nam, các nguồn lực tự nhiên và lao động rẻ cóthể là một mặt sáng của viên kim cương theo Mô hình của Michael E Porter,nhưng nó chỉ có thể tận dụng để nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia tronggiai đoạn phát triển ban đầu Giáo sư Michael E Porter đã từng khuyên ViệtNam “cần giảm bớt phụ thuộc vào lợi thế nhân công giá rẻ” mà “cần chuyển

Trang 40

-28-từ một nền kinh tế dựa trên lợi thế về lao động giá rẻ sang nền kinh tế có năngsuất và chất lượng lao động cao”.

Ở giai đoạn hiện nay tăng cường lợi thế cạnh tranh quốc gia chủ yếu làđổi mới công nghệ và phương thức quản lý, sản xuất những sản phẩm giá trị giatăng bằng các công nghệ tiên tiến tương đương với thế giới Việc đổi mới côngnghệ và quản lý chủ yếu thông qua: (i) quan hệ phối hợp giữa các doanh nghiệptrong cùng ngành hàng; (ii) quan hệ đối tác và phối hợp giữa các ngành hàng liênquan; (iii) các chính sách thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trong các ngành hàng chủlực, khuyến khích gia tăng nguồn cung cấp công nghệ và dịch vụ quản lý

Để có thể đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn này, tư duy quản lýphải là “tư duy giá trị gia tăng”, hay nói khác đi là “tư duy hiệu quả” nhằmtăng tỷ trọng giá trị mà Việt Nam thu được và giữ lại được cho mình trongtổng giá trị xuất khẩu Muốn vậy, cần phải phân tích chuỗi giá trị quốc tế(international value chain) của từng nhóm sản phẩm chủ lực, tìm cách khaithác có hiệu quả chuỗi giá trị để giành phần lớn hơn cho các khâu thuộc chuỗigiá trị quốc gia (national value chain)

Với xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, đặc biệt là kèm theo xu hướngphân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, để có thể duy trì mộtcách ổn định vị trí trên thị trường quốc tế, một doanh nghiệp, một ngành haymột quốc gia khó có thể tồn tại một cách độc lập Việc tham gia vào chuỗi giátrị toàn cầu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tận dụng được thế mạnh củamình, trong so sánh tương đối với những chủ thể khác, nhằm tăng hiệu quảsản xuất, tăng giá trị gia tăng, từ đó tăng năng lực cạnh tranh của các chủ thểnày

Ngày đăng: 11/10/2020, 19:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w