Đặc biệt tác giả xin trân trọngcảm ơn sự quan tâm chỉ dạy, sự giúp đỡ tận tình, thân thiện của Phó Giáo sư -Tiến sĩ Phí Mạnh Hồng, người thầy đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quátr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -
NGUYỄN ÁNH PHƯỢNG
CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TÌNH TRẠNG HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ BỎ HỌC Ở HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -
NGUYỄN ÁNH PHƯỢNG
CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TÌNH TRẠNG HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ BỎ HỌC Ở HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 01LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHÍ MẠNH HỒNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa được sử dụng ở bất kỳ công trình khoa học nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồngốc
Tác giả
Nguyễn Ánh Phượng
Trang 4LỜI CẢM ƠNVới tất cả sự thành kính và tình cảm chân thành của người học trò, tác giảxin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trườngĐại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Đặc biệt tác giả xin trân trọngcảm ơn sự quan tâm chỉ dạy, sự giúp đỡ tận tình, thân thiện của Phó Giáo sư -Tiến sĩ Phí Mạnh Hồng, người thầy đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quátrình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin được trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện
Kỳ Sơn; phòng GD&ĐT huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình; cán bộ, giáo viên, các
em học sinh tại các trường Trung học cơ sở; các bậc phụ huynh có con trong
độ tuổi THCS trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình cùng gia đình, bạn
bè, người thân, đã tạo điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu và giúp tác giảhoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu chưa nhiều, mặc dù bản thân đã có nhiều cốgắng, song không tránh khỏi những thiếu sót trong nội dung trình bày luậnvăn Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý chân thành của các nhànghiên cứu khoa học, các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 16 tháng 6 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Ánh Phượng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU iii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Những đóng góp của luận văn 5
6 Cấu trúc của luận văn 5
NỘI DUNG 6
Chương 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Khái quát các công trình nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.2 Cơ sở lý luận 13
1.2.1 Vai trò của giáo dục phổ thông 13
1.2.2 Hiện tượng bỏ học ở học sinh trung học cơ sở và hậu quả của nó 19
1.2.3 Nguyên nhân bỏ học của học sinh phổ thông 26
1.2.4 Kinh nghiệm của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong việc khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh 31
Kết luận chương 1 40
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng 41
2.1.1 Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử 41
2.1.2 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học gắn liền với phương pháp logic và lịch sử 41
2.1.3 Phương pháp phân tích tổng hợp 42
Trang 62.1.4 Các phương pháp nghiên cứu khác 43
2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 43
2.3 Kỹ thuật điều tra và thu thập, xử lý số liệu, tư liệu 44
Kết luận chương 2 47
Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN TÌNH TRẠNG BỎ HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 48
3.1 Thực trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở ở huyện Kỳ Sơn 48
3.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Kỳ Sơn 48
3.1.2 Đánh giá tổng quát về tình hình giáo dục và đặc điểm của các trường THCS trên địa bàn huyện Kỳ Sơn 51
3.1.3 Tình hình bỏ học của học sinh THCS trên địa bàn huyện Kỳ Sơn 58
3.2 Những nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tình trạng bỏ học của học sinh THCS huyện Kỳ Sơn - tỉnh Hòa Bình 62
3.2.1 Nhân tố từ phía xã hội và cộng đồng 62
3.2.2 Nhân tố từ phía nhà trường 65
3.2.3 Nhân tố từ phía gia đình 68
3.2.4 Nhân tố từ phía học sinh 72
3.3 Vai trò của chính quyền và các tổ chức đoàn thể địa phương trong việc khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh THCS trên địa bàn huyện Kỳ Sơn 73
Kết luận chương 3 75
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG BỎ HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH HÒA BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 76
4.1 Một số quan điểm giải quyết vấn đề học sinh bỏ học 76
4.1.1 Căn cứ vào chủ trương của Đảng và Nhà nước về khắc phục tình trạng học sinh bỏ học 76
4.1.2 Căn cứ vào chủ trương của Bộ Giáo dục - Đào tạo về việc xây dựng trường THCS thân thiện, học sinh tích cực 77
Trang 74.1.3 Các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Hòa Bình, UBND huyện Kỳ Sơn về việc
phòng chống tình trạng học sinh bỏ học 78
4.2 Một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh THCS 80
4.2.1 Đối với xã hội và cộng đồng 80
4.2.2 Đối với nhà trường, cán bộ giáo viên 81
4.2.3 Đối với gia đình 89
4.2.4 Đối với bản thân học sinh 89
Kết luận chương 4 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng HS THCS ở Kỳ Sơn trong giai đoạn 2009 -2013 53
Bảng 3.2: Tổng số học sinh hao hụt ở các khối lớp. 55
Bảng 3.3: Số HS TN THCS giai đoạn 2009 - 2013 58
Bảng 3.4: Chất lượng giáo dục 2 mặt năm học 2012 -2013 59
Bảng 3.5: Học sinh bỏ học trong giai đoạn 2009 - 2013 60
Bảng 3.6: Tình hình học sinh bỏ học năm học 2012 - 2013 62
Bảng 3.7: Khảo sát mức độ đánh giá của các giải pháp 64
Bảng 3.8: Nghề nghiệp của bố mẹ và tình trạng bỏ học 65
Bảng 3.9: Tỷ lệ học sinh bỏ học theo hoàn cảnh gia đình 66
Bảng 3.10: Nguyên nhân học sinh bỏ học nhìn từ phía cán bộ, giáo viên 67 Bảng 3.11: Những biểu hiện của học sinh có nguy cơ bỏ học 68
Bảng 3.12: Nguyên nhân học sinh bỏ học nhìn từ phụ huynh học sinh 69 Bảng 3.13: Những khó khăn của gia đình khi cho con đi học 70
Bảng 3.14: Những yếu tố duy trì việc học của học sinh 70
Bảng 3.15: Nguyên nhân học sinh bỏ học nhìn từ phía học sinh 72
Trang 10DANH MỤC BIỂU
Biểu 1.1 : Vị trí trường THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân Biểu 3.1: Tổng số học sinh THCS từ năm học 2009 - 2010 đến 2012 - 2013 Biểu 3.2: Tổng số HS hao hụt từ năm học 2009 - 2010 đến năm học 2011
- 2012
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, dưới tác động mạnh mẽ củacuộc cách mạng Khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt sự phát triển như vũbão của công nghệ thông tin đã làm cho nền kinh tế thế giới đang có nhữngbiến đổi sâu sắc và nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực của đời xã hội Sự rađời và phát triển của nền kinh tế tri thức đã trở thành xu thế tất yếu khách quancủa nền kinh tế thị trường Khi mà tri thức trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp và là yếu tố hàng đầu quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế củacác quốc gia thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục chính làđòn bẩy quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Thực tế cho chúng
ta thấy, trong thời kỳ lao động thủ công là chủ yếu thì các yếu tố lao động vàđất đai đóng vai trò là động lực của sự phát triển Nhưng đến thời kỳ cáchmạng công nghiệp, lao động, vốn, kỹ thuật và phương pháp quản lý được xem
là những yếu tố chủ chốt của tăng trưởng kinh tế Trong thời đại của cuộc cáchmạng khoa học công nghệ hiện đại, với sự tiến đến nền văn minh trí tuệ, tiếnđến các "xã hội thông tin", trong đó "thông tin" trở thành nguồn tài nguyênquan trọng để thúc đẩy sự phát triển của xã hội thì vai trò của giáo dục ngàycàng quan trong và cần thiết hơn bao giờ hết
Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, để hội nhập vàonền kinh tế chung của thế giới thì vấn đề đào tạo nguồn nhân lực là một trongnhững yếu tố then chốt luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Mặt khác, ViệtNam theo đuổi phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, để đảm bảophát triển theo hướng tiến bộ đòi hỏi phải đảm bảo công bằng cơ hội cho mọingười, một trong những điều đó là đảm bảo công bằng trong giáo dục, đặc biệt
là giáo dục phổ cập đối với người nghèo để khắc phục nghèo đói di truyền,nghèo đói vĩnh viễn, tiến tới xóa đói giảm nghèo Để thực hiện
Trang 12được mục tiêu đó cần phải đảm bảo tỷ lệ trẻ em đến trường cao, đặc biệt là trẻ
em ở bậc phổ cập giáo dục Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đã đạt đượctrong sự phát triển của ngành giáo dục, thì vẫn còn đó không ít những khókhăn, thách thức đòi hỏi phải tìm hướng giải quyết Một trong số những tháchthức đó là tình trạng bỏ học của trẻ em Đặc biệt, là tình trạng bỏ học của họcsinh THCS đang trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội.Tình trạng học sinh bỏhọc là một dấu hiệu cho thấy yêu cầu công bằng trong giáo dục bị vi phạm.Phát triển giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo là cơ
sở để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồnvốn văn hoá cho đồng bào các dân tộc Công bằng trong giáo dục là việc đảmbảo cơ hội học tập, cơ hội đến trường cho tất cả mọi người, từ miền xuôi đếnmiền ngược, từ trẻ em bình thường đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khănhay thuộc diện chính sách được Nhà nước và cộng đồng tạo điều kiện, hỗ trợ
để học tập. “Việc một bộ phận dân cư không thể theo đuổi bậc học cao đã khiếncho việc giải quyết vấn đề chất lượng nguồn nhân lực con người gặp khó khănhơn” [17] Do đó, việc cải thiện tình trạng bỏ học của học sinh THCS ở ViệtNam là rất cần thiết
Cũng như một số địa phương khác, ở Huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình tìnhtrạng học sinh bỏ học là một yếu tố đáng lưu tâm Theo số liệu thống kê nămhọc 2009 - 2010 trên địa bàn huyện Kỳ Sơn có 59 học sinh bỏ học ở độ tuổiTHCS, chiếm 3,19% so với số lượng học sinh cùng độ tuổi Trong những nămgần đây, được sự quan tâm hỗ trợ đặc biệt của Đảng và Nhà nước, các cấp banngành, tỷ lệ học sinh bỏ học có giảm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao Tính đến nămhọc 2012-1013, trên địa bàn huyện Kỳ Sơn số học sinh độ tuổi THCS bỏ học là
39 học sinh chiếm 2,37% Các xã có số trẻ em nghỉ học nhiều như Hợp Thịnh,Độc Lập, Yên Quang Như vậy có thể thấy rằng, việc
Trang 13tồn tại tỷ lệ học sinh THCS bỏ học không nhỏ thực sự trở thành một vấn đềkhiến cho ai có tâm huyết với giáo dục không khỏi băn khoăn, trăn trở.
Xuất phát từ những lý do trên mà tác giả đã mạnh dạn tìm hiểu đề tài “Cơ
sở kinh tế - xã hội của tình trạng học sinh trung học cơ sở bỏ học ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình”, nhằm góp phần tìm hiểu thêm về hành vi bỏ học của học
sinh THCS cũng như nguyên nhân dẫn đến hiện trạng đó, làm cơ sở cho việc
đề xuất một số biện pháp khắc phục
Lựa chọn đề tài, tác giả tiếp cận vấn đề dưới góc độ kinh tế nói chung vàkinh tế chính trị nói riêng, trong đó đầu tư cho giáo dục được coi là một trongnhững kênh đầu tư quan trọng nhất để phát triển nguồn nhân lực, đồng thờiviệc đảm bảo công bằng trong giáo dục được xem như là điều kiện thiết yếu đểđảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập tương lai Hơn nữa, khi xem xéthiện tượng bỏ học ở đối tượng mà luận văn nghiên cứu, tác giả sẽ cố gắng cắtnghĩa vấn đề dưới lát cắt của một hiện tượng kinh tế tổng hợp bằng việc phântích, so sánh giữa lợi ích và chi phí học tập có liên quan đến quyết định bỏ họccủa học sinh
Nghiên cứu đề tài, tác giả cố gắng trả lời câu hỏi sau : Thực trạng bỏ họccủa học sinh trung học cơ sở trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình hiệnnay? Nguyên nhân nào chi phối tình trạng bỏ học nói trên? Các giải pháp,chính sách cần áp dụng để cải thiện tình hình trong thời gian tới?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào phân tích và xác định các nguyên nhân chính chiphối hiện trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn huyện KỳSơn, tỉnh Hòa Bình hiện nay để trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp khả thinhằm hạn chế tình hình này
Trang 14* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên luận văn đi vào thực hiện những nhiệm vụ cụthể sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan tình trạng bỏ học của họcsinh nói chung
- Mô tả, phân tích và đánh giá thực trạng bỏ học của học sinh trung học
cơ sở trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Xác định các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng bỏ học của học sinh THCS trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình nói trên
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Luận văn kết hợp các phương pháp cụ thể như: phương pháp logic - lịch
sử phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp khảo sát thực tế, điềutra phỏng vấn, phương pháp hệ thống, phương pháp tổng hợp và phân tích,phân tích chi phí - lợi ích, phương pháp so sánh, phương pháp quan sát,
Trang 155 Những đóng góp của luận văn
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về học sinh bỏ học nói chung và bỏ học của học sinh trung học cơ sở nói riêng
Phân tích đánh giá thực trạng đồng thời chỉ ra những nguyên nhân củatình trạng học sinh trung học cơ sở bỏ học trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnhHòa Bình
Đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn huyện Kỳ Sơn thời gian tới
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được kết cấu làm 4 chương
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Tác động của cơ sở kinh tế - xã hội đến tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
Chương 4 Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở ở huyện Kỳ Sơn trong thời gian tới
Trang 16NỘI DUNGChương 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Khái quát các công trình nghiên cứu trên thế giới
Giáo dục là con đường giúp cho hầu hết các quốc gia đang phát triểnthoát khỏi đói nghèo, là việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng của mỗiđất nước Cùng với xu thế quốc tế hóa và hội nhập toàn cầu thì nhân tố conngười ngày càng được coi trọng và đóng vai trò quyết định đối với sự pháttriển của quốc gia Không chỉ riêng đối với Việt Nam mà đối với tất cả cácnước trên thế giới đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Giáo dục quan trọng
là vậy, tuy nhiên tình trạng bỏ học của trẻ em vẫn diễn ra ở nhiều nơi, nhiềunước trên thế giới Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề này dưới nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu là:
Nghiên cứu của UNESCO (1980), trên tạp chí A Statislical study of
Trendsand Patterns in Repetiuon and Dropout có bài “Wastage in Primary and
General Secondary Education”, đã chỉ ra rằng ở cấp độ quốc gia, tỷ lệ nhập
học của trẻ em được coi là chỉ số để đánh giá sự phát triển của quốc gia và có
tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế Từ năm 1990, tỷ lệ học hết tiểu học trên thếgiới đã có sự cải thiện đáng kể Các nước có mức thu nhập trung bình nhưMalaysia, Mehico có tỷ lệ nhập học ở cấp tiểu học đạt gần 100%, còn các nước
có thu nhập thấp như Kenya và Yemen chỉ đạt dưới 70% [45]
Nghiên cứu của UNICEF (2010) được trình bày trong “Báo cáo phân
tích tình hình trẻ em tỉnh Điện Biên”, chỉ ra rằng khi tỷ lệ nhập học ngày càng
cải thiện thì việc học sinh bỏ học đang là một trong những vấn đề mà hầu nhưtất cả các nước đang phát triển phải đối mặt Điều này không những có ảnh
Trang 17hưởng trực tiếp đến kết quả của việc phổ cập hóa giáo dục cấp tiểu học mà còn
là một sự lãng phí nguồn lực và tăng số người mù chữ Trong các nước đôngdân số, tỷ lệ nhập học cao đồng thời tỷ lệ bỏ học ở các nước này cũng cao [38].Như vậy, do điều kiện và chính sách kinh tế - xã hội khác nhau, một số nướccũng đã đạt được những mục tiêu đề ra đối với giáo dục Song bên cạnh đó,nhiều nước cũng đã không đạt được mục tiêu đó Các quốc gia sẽ phải đươngđầu với các vấn đề về bỏ học của học sinh ở các cấp học trong từng giai đoạnphát triển của mình Điều này được các nhà nghiên cứu quan tâm, tùy theocách tiếp cận và từng lĩnh vực nghiên cứu mà có những lý giải về nguyên nhân
bỏ học của học sinh
Năm 2008, trong bài báo “Socioeconomic determinants of primary
school dropout”, Okumu, Ibrahim M.; Nakajjo; Alex and Isoke, Doreen đã
phân tích các yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến tình trạng bỏ học của họcsinh tại Uganda Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như giới tính,mức học phí, giới tính của chủ hộ không có ý nghĩa tác động đến tỷ lệ bỏ họccủa học sinh, mà cho ra rằng các biến số như: quy mô gia đình, trình độ họcvấn của cha mẹ, địa vị kinh tế của gia đình là những nhân tố quan trọng tácđộng đến cơ hội tiếp tục học tập của trẻ em Ngoài ra còn các yếu tố liên quanđến văn hóa, niềm tin, thái độ cha mẹ cũng đóng vai trò quan trọng đối với việchọc tập của trẻ em Đặc biệt, hoàn cảnh bất lợi về kinh tế - xã hội vừa lànguyên nhân, vừa là hậu quả của tình trạng bỏ học di truyền [42]
Nghiên cứu của N K Mohanty thông qua mối quan hệ giữa nhân khẩuhọc với việc lập kế hoạch giáo dục đã cho thấy, việc xây dựng và thực hiệnmục tiêu nâng cao tỷ lệ nhập học và chất lượng giáo dục trong phát triển giáodục cần phải tính đến các yếu tố nhân khẩu như cấu trúc giới tính và độ tuổicủa dân cư Giữa nhân khẩu học và kế hoạch giáo dục có liên quan mật thiếtvới nhau và là hai yếu tố quan trọng để nâng cao tỷ lệ nhập học của trẻ em
Trang 18vàchất lượng giáo dục Khi tỷ lệ nhập học cao vượt quá khả năng đầu tư chogiáo dục thì hiệu quả của hệ thống giáo dục từ quan điểm kinh tế và chất lượnggiáo dục từ quan điểm của ngành giáo dục sẽ bị giảm Tỷ lệ nhập học của trẻ
em không chỉ là chỉ số của sự phát triển mà còn liên quan đến những vấn đềchủ yếu như hệ thống cơ sở trường học, khoảng cách địa lý và những nhân tốkhác như khả năng kinh tế của gia đình cũng mong muốn hướng tới phát triểngiáo dục của cha mẹ [43]
Nghiên cứu về tình trạng bỏ học ở Ấn Độ của Stelios N Georgiou(2007), trên cơ sở số liệu thống kê khá đầy đủ theo các năm và theo đặc điểmkinh tế - xã hội cơ bản như đô thị, nông thôn, giới tính đã chỉ ra xu hướng và sốhọc sinh bỏ học theo từng nhóm tuổi và khối lớp Kết quả nghiên cứu cho thấy,
có khoảng 20% học sinh tiểu học và 11% học sinh trung học bỏ học năm 1978,chủ yếu là học sinh lớp 1 Và đặc biệt là theo nghiên cứu này thì tình trạng bỏhọc của trẻ em gái chiếm tỷ lệ cao hơn so với trẻ em trai do nhiều nguyên nhânkhác nhau trong đó nguyên nhân cơ bản là hiện tượng tảo hôn đã dẫn tới tìnhtrạng học sinh bỏ học nhiều [43]
Nghiên cứu của EL Daw A Suliman ở Ai Cập năm 2000, cho thấy tìnhtrạng bỏ học của trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi chiếm tới 16% Trong
đó, tình trạng bỏ học của trẻ em gái cao hơn gấp đôi so với tỷ lệ bỏ học của trẻ
em trai Nguyên nhân của tình trạng này ngoài do chi phí giáo dục cao, trường
xa còn liên quan đến phong tục tập quán, địa vị của người phụ nữ, điều kiệnkinh tế của gia đình, trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ [44]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu liên quan đến tình trạng học sinh
bỏ học trên thế giới đều xuất phát từ những chính sách, trình độ phát triển,phong tục tập quán truyền thống, thói quen và đặc trưng văn hóa của từngnhóm xã hội khác nhau Bên cạnh những nguyên nhân khách quan còn nhữngnguyên nhân chủ quan như chất lượng của giáo viên, nội dung chương trình,
Trang 19phương pháp giảng dạy, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị dạy học Trong đó, đặc biệt quan trọng và có tác động trực tiếp đến tình trạng này là thái độ và hành
vicủa cha mẹ đối với việc đi học của trẻ em Song, điều này lại phụ thuộc vàohai yếu tố chủ yếu là mức thu nhập gia đình, nhận thức, hành vi ứng xử của cha
mẹ đối với việc học của trẻ em Tùy theo góc độ nghiên cứu khác nhau mà cáctác giả đã chỉ ra những nguyên nhân khác nhau Để nâng cao tỷ lệ nhập học vàhạn chế tình trạng bỏ học của học sinh, ngoài việc đầu tư cơ sở vật chất và pháttriển quy mô trường học còn phụ thuộc vào chính sách dân số, chính sách pháttriển nguồn nhân lực, tâm lý và thái độ của cha mẹ và cộng đồng đối với quátrình học tập của trẻ Các chính sách, giải pháp thường được đưa ra để ngănchặn tình trạng bỏ học của trẻ em như xây dựng trường học, cải cách chươngtrình sách giáo khoa, khuyến khích vật chất và tinh thần đối với học sinh… đềuchỉ phát huy tác dụng khi gắn với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng địaphương, từng nhóm xã hội, cá nhân cha mẹ mà hộ gia đình nơi mà trẻ em đangsống Yếu tố quan trọng nhất và quyết định trực tiếp nhất đối với mức độ đihọc của trẻ là thái độ và hành vi của cha mẹ học sinh đối với việc học của con.Nhưng điều này lại phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình và điều kiện kinh tế - xãhội Việc xác định ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội đến tình trạng đihọc của học sinh là vấn đề cần đáng được quan tâm xem xét và nghiên cứu sâuhơn
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Giáo dục là một trong những mục tiêu cơ bản để phát triển kinh tế - xãhội của mỗi quốc gia Ở nước ta, phát triển giáo dục được Đảng và Nhà nướccoi là quốc sách hàng đầu Vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Luật Giáo dục (2005),quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân Mọi công dân
Trang 20không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa
vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập” [9]
Sau đổi mới năm 1986, ở Việt Nam với sự chuyển biến từ nền kinh tếtập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã đặt ra nhiều vấn đề trong việcphát triển nguồn nhân lực mà cốt lõi là phát triển giáo dục Những thành tựuđạt được trong phát triển kinh tế xã hội, sự ổn định chính trị làm cho thế và lựcnước ta lớn mạnh lên nhiều so với trước Sự đóng góp về nguồn lực của nhànước và nhân dân cho phát triển giáo dục ngày càng được tăng cường Hơnnữa, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ trên thếgiới có thể làm cho khoảng cách kinh tế và tri thức giữa Việt Nam và các nướcngày càng lớn hơn, nước ta có nguy cơ bị tụt hậu xa hơn Hội nhập quốc tế, đặcbiệt là sau sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO khôngchỉ tạo cho giáo dục cơ hội phát triển mà còn chứa đựng nhiều hiểm họa, đặcbiệt là nguy cơ xâm nhập của những giá trị văn hóa và lối sống xa lạ làm xóimòn bản sắc dân tộc Ngoài trọng tâm đào tạo con người với đầy đủ năng lực
và phẩm chất, thì vấn đề bỏ học của học sinh trung học cũng ngày càng đượcĐảng, Nhà nước và các tổ chức ban ngành quan tâm Mặc dù, nghiên cứu vềtình trạng bỏ học của trẻ em ở Việt Nam mới bắt đầu thu hút được sự quan tâmcủa các nhà khoa học sau đổi mới 1986, nhưng đến nay đã đạt được một sốthành tựu đáng kể
Trước tiên phải kể đến công trình “Vùng núi phía Bắc Việt Nam – Một
số vấn đề môi trường và kinh tế - xã hội” của Lê Trọng Cúc và A Terry Rambo
năm 2001 Nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng của phong tục tập quán, quan điểmcủa một nhóm DTTS có ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục Kết quả khảosát chỉ ra rằng, đối với vùng sâu, vùng xa miền núi phía Bắc tỷ lệ mù chữ caokhông chỉ do chất lượng dịch vụ giáo dục yếu mà còn do tâm lý,
Trang 21quan niệm của người dân tộc coi việc biết chữ không mang lại giá trị trực tiếptrong đời sống hàng ngày [12].
Tiếp đến là nghiên cứu của Bauleh B và những người khác năm 2002.Khi phân tích riêng một nhóm DTTS cụ thể, công trình đã chỉ ra sự khác biệt
về giới trong việc tiếp cận cơ hội học tập Kết quả khảo sát cho thấy, mức độchênh lệch về tỷ lệ nhập học giữa học sinh nam và nữ của người dân tộc Mônglên tới 20% [6]
Năm 2006, “Phân tích giới trong khảo sát về mức sống các hộ gia đình
ở Việt Nam” của Lee A., đã chỉ ra rằng tỷ lệ nhập học của các em gái người
Kinh cao hơn 10% so với các em gái người DTTS (71% so với 61%) Điều nàycho thấy số lượng các em gái có tỷ lệ nhập học thấp hơn các em nam trong sốhọc sinh DTTS [28]
Năm 2007, khi nghiên cứu về vấn đề bất bình đẳng trong giáo dục và kếtquả học tập tại Việt Nam, Donald B Holsirger đã chỉ ra nguyên nhân hiệntượng bỏ học của trẻ em Việt Nam là do sự bất bình đẳng trong tiếp cận dịch
vụ giáo dục Tại hội thảo “Giáo dục so sánh lần thứ nhất: Phát triển giáo dục sosánh ở Việt Nam”, ông cho rằng, “mức độ không bình đẳng trong phân phối cơhội giáo dục ở một địa phương càng cao thì kết quả học tập của học sinh nơi đócàng thấp; mức độ không bình đẳng tăng thì điểm trung bình của học sinhgiảm” [14] Như vậy, khi kết quả học tập của học sinh thấp sẽ gây ra tâm lýchán học cho học sinh làm học sinh bỏ học nhiều hơn
Nghiên cứu vấn đề này ở cấp vĩ mô phải kể đến công trình “Nghiên cứu
về nguyên nhân bỏ học của trẻ em Việt Nam, Hà Nội 11/2010” do Đặng Thị
Hải Thơ thuộc tổ chức UNICEP tại Việt Nam tiến hành Nghiên cứu đã đưa racác nhân tố tác động đến tình trạng bỏ học của trẻ em là những nhân tố từ phíagia đình, nhân tố từ phía nhà trường, nhân tố từ phía xã hội và cộng đồng, nhân
tố xuất phát từ bản thân trẻ Tuy nhiên đó chỉ là những nhân tố
Trang 22chủ quan chi phối tình trạng bỏ học của trẻ em Bên cạnh đó còn có nhữngnhân tố đặc thù ảnh hưởng đến tình trạng này như: điều kiện kinh tế - xã hội, vịtrí địa hình, thu nhập, phong tục tập quán, tâm lý, chính sách đó là những hạnchế mà tác giả đã chưa nêu lên được trong quá trình nghiên cứu.
Luận án tiến sĩ xã hội học: “Các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học
của trẻ em vùng Tây Bắc hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương năm
2012 đã dựa vào nền tảng kiến thức và lý thuyết xã hội học giáo dục, cụ thể là
lý thuyết bỏ học của Morrow, lý thuyết xã hội học, quan điểm tộc người đểnghiên cứu vị trí vai trò và sự biến đổi của giáo dục trong xã hội hiên đại Theo
đó, luận án cũng đã đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến mục tiêu phát triểngiáo dục trong đó có mục tiêu giảm tỷ lệ bỏ học của trẻ em nói chung và củatrẻ em người dân tộc vùng Tây Bắc nói riêng Tuy nhiên, luận án đưa ranguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học là do những nhân tố bên ngoài vànhững nhân tố bên trong hệ thống giáo dục dưới góc độ xã hội học nên chưaphân tích khía cạnh chi phí - lợi ích của hiện tượng đi học
Đề tài: “Khảo sát tình hình lưu ban, bỏ học của học sinh 2 trường vùng
ven Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Đặng Văn Minh, Viện Nghiên cứu
giáo dục, năm 1992 đã tiến hành nghiên cứu tại hai trường: Trường THCSĐặng Trần Côn và Trường Cấp II, III Võ Văn Tần (năm học1990 – 1991) Đềtài đã đánh giá thực trạng và chỉ ra những nguyên nhân bỏ học của học sinh tạihai trường này Thông qua thông tin mà tác giả đã thu thập và khảo sát, tác giả
đã nêu lên những nguyên nhân chủ quan, cũng như khách quan khiến học sinh
bỏ học, những nguyên nhân từ phía bản thân học sinh, gia đình, nhà trường và
xã hội Từ đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặntình trạng bỏ học
Đề tài nghiên cứu Khoa học & Công nghệ của viện Khoa học giáo dục
Việt Nam, năm 2008: “Các giải pháp nhằm giảm thiểu học sinh bỏ học ở cấp
Trang 23tiểu học” do nhóm nghiên cứu: Chủ nhiệm đề tài - NGƯT.TS Đặng Huỳnh
Mai; Thư ký- ThS Nguyễn Thị Lụa; Thành viên: ThS Lê Tiến Thành, ThS.Đặng Tự Ân, PGS.TS Nguyễn Lộc, Trần Đình Thuận thực hiện Đề tài đã tổngquan tình hình lưu ban và bỏ học ở một số nước trên thế giới cho thấy các nướcđang phát triển có tỷ lệ học sinh bỏ học cao hơn nhiều so với các nước pháttriển Kết quả này cho thấy, trình độ phát triển kinh tế - xã hội là một trongnhững nguyên nhân có ảnh hưởng tới tình trạng bỏ học của học sinh Qua đó,nhóm nghiên cứu đã phân tích thực trạng bỏ học tại một số địa phương như:Lạng Sơn, Điện Biên, Nghệ An, Quảng Ngãi, Đắc Lắc, Bình Thuận, Thành phố
Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Vĩnh Long, và nêu ra các nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng bỏ học của trẻ em dưới nhiều góc độ khác nhau Từ đó, các tác giả đưa racác nhóm giải pháp để khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh tiểu học theocác nhóm nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, Đề tài nghiên cứu của nhóm tácgiả mới chỉ đánh giá thực trạng bỏ học của học sinh tiểu học theo đánh giá chủquan mà nhóm đã điều tra, khảo sát ở 9 tỉnh điển hình mà nhóm đã chọn khảosát
Trong điều kiện giới hạn về thời gian và phương tiện tra cứu, tác giả chỉ
có thể khái lược được một số nghiên cứu nêu trên Nguồn tư liệu tác giả thuthập được chủ yếu từ một số các đề tài nghiên cứu cách đây và một số thôngtin liên quan đến vấn đề bỏ học của học sinh THCS hiện nay được lấy từ cácbài báo, dữ liệu trên internet Qua đó, cũng có thể nhận định rằng, tình hìnhnghiên cứu vấn đề bỏ học của học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêngchưa thực sự nhiều
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Vai trò của giáo dục phổ thông
Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của xã hội loài người Bản chất củagiáo dục là truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người từ
Trang 24thế hệ này qua thế hệ khác Vai trò của giáo dục ngày càng tăng lên cùng với sựphát triển của xã hội loài người, mặc dù ngay từ thời cổ đại các nhà triết học,giáo dục học, sử gia đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của nó.
GD là một hiện tượng xã hội có lịch sử lâu đời và tồn tại song hành cùngvới sự phát triển của xã hội loài người GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời
là một trong những nhân tố đánh dấu nấc thang trình độ văn minh của các thờiđại trong lịch sử
Giáo sư Hà Thế Ngữ đã tổng kết những thành tựu của các nhà tư tưởng
trước đây và đưa ra khái niệm về giáo dục Ông viết: Giáo dục là quá trình
đào tạo con người có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người [30].
Trong sách “Giáo dục học” Phạm Viết Vượng đã đưa ra định nghĩa:
“Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến bộ” [41].
Giáo dục được hiểu là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, có hệthống, nhằm tạo ra sức mạnh có tính đa dạng về thể chất và tinh thần của conngười, đáp ứng được những nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Giáo dục còn là quátrình hình thành cho con người những tri thức khoa học về thế giới quan, lýtưởng, đạo đức, thái độ, thẩm mỹ, trên cơ sở đó, hình thành nhân sinh quan, pháttriển đức, trí, thể, mỹ của từng con người cụ thể Bên cạnh đó, GD có sứ mệnhcao cả là rèn luyện nhân cách cho từng cá nhân ở từng đối tượng cụ thể, làm chomỗi con người trở thành những chủ thể có kỹ năng và bản lĩnh khi đối diện vớinhững vấn đề đặt ra của thế giới và của bản thân Họ sẽ hiện diện
Trang 25trong môi trường sống không chỉ bằng kiến thức, trí nhớ mà cả sự lựa chọn về
đạo đức và hệ thống giá trị Như vậy, theo nghĩa chung nhất Giáo dục là quá
trình truyền đạt và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người bước vào lao động và sinh hoạt xã hội;
là một nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người trong xã hội.
Đầu tư phát triển GD là một tư tưởng chiến lược của Đảng và Nhà nước,bản thân tư tưởng đó qua mỗi giai đoạn được phát triển, mở rộng phong phú cả
về hình thức và nội dung Phát triển GD chính là để đào tạo nguồn nhân lực cóchất lượng cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Những kinh nghiệm được rút
ra từ thực tiễn thực hiện xây dựng và phát triển đất nước chúng ta thấy đượcvai trò quan trọng của sự nghiệp GD
Trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng ở Việt Nam mà nhiều nước trênthế giới, kể cả những nước đang phát triển cũng như các nước có nền kinh tếphát triển đều nhấn mạnh chính sách phát triển dựa vào GD&ĐT, dựa vào khoahọc và công nghệ Có thể nói, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội
và truyền thống văn hoá giáo dục mà mỗi nước có những đặc điểm về cơ cấu
hệ thống, loại hình đào tạo, phân chia thời gian các bậc học, yêu cầu chất lượngcủa người học ở các cấp học khác nhau Nhưng nhìn chung, hệ thống GD cácnước đã và đang phát triển theo hướng hiện đại hoá và xu hướng hội nhậpGD&ĐT và kinh tế - xã hội giữa các nước, khu vực và toàn thế giới
Ở Indonexia, ngoài hệ thống GD nhà trường, họ còn coi trọng các loạihình GD ngoài nhà trường; ở gia đình; xã hội; các doanh nghiệp; các trườngĐại học mở với nhiều chương trình đa dạng phục vụ phát triển cộng đồng vàmọi tầng lớp xã hội
Ở Thái Lan, Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện
Trang 26chính sách đa dạng hoá các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật,
tổ chức nhiều loại hình nghề nghiệp chính quy và phi chính quy để thích ứngnhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong quá trình CNH đất nước
Đối với Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc đặt ra chiến lược: Làm chođất nước giàu mạnh thông qua khoa học và giáo dục Giáo dục phải thực hiện
ba điều hướng tới đó là: Giáo dục phải hướng tới hiện đại hoá, hướng tới thếgiới, hướng tới tương lai Chính sách phát triển giáo dục của Trung Quốc hiệnnay có thể khái quát: Đầu tư chi phí cao cho giáo dục phải được coi là chínhsách quốc gia hàng đầu, đầu tư cho giáo dục phải được xem như đầu tư pháttriển cho sản xuất; Phát triển giáo dục chuyên nghiệp theo hướng đáp ứng nhucầu nhân lực đủ chuẩn, phát triển giáo dục theo hoàn cảnh địa phương; Đảmbảo sự tham gia rộng rãi của cộng đồng vào việc quản lý giáo dục và đầu tưcho giáo dục
Nhật Bản đã đạt được những thành tựu “khổng lồ” về mặt kinh tế - khoahọc công nghệ, chủ yếu là do nước Nhật đã phát huy cao độ, mạnh mẽ nội lựccủa toàn dân tộc, thông qua chính sách GD&ĐT Từ năm 1971, Nhật Bản đãthành lập Bộ Giáo dục và thành lập hệ thống GD mới Hệ thống GD đã đề rachính sách: Đối với các trường Tiểu học bắt buộc thì sự “bình đẳng” là nguyêntắc tối cao Còn đối với các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc tàinăng là cao nhất Quan điểm này không những xoá bỏ sự bất bình đẳng trong
xã hội về GD, mà còn tạo ra sự phát triển tiềm năng của con người
Trong thời đại ngày nay các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam,đều ghi nhận và thừa nhận vị trí, vai trò to lớn của GD đối với sự phát triển của
xã hội loài người, đối với việc hình thành phát triển nhân cách và phẩm giácon người Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước về phát triểngiáo dục được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc củaĐảng lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII, Nghị quyết Hội nghị
Trang 27trung ương II (khoá VIII), Đại hội lần thứ IX, lần thứ X, lần thứ XI là: Phát
huy truyền thống hiếu học của dân tộc;xây dựng nền giáo dục hiện đại của dân, do dân và vì dân; giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội; giáo dục là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững.
Như vậy, chúng ta thấy được tầm quan trọng của GD trong sự phát triểncủa nhân loại Với chủ trương phát triển GD của Đảng và Nhà nước coi GD làquốc sách hàng đầu đã và đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các
Vụ, Viện, các Ban ngành của Bộ GD&ĐT và các ban ngành có liên quan.Nhiều chuyên gia có tâm huyết đã có những bài viết, công trình nghiên cứuxung quanh vấn đề vị trí và vai trò của GD đối với sự phát triển; Phạm Minh
Hạc tiếp tục khẳng định: Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước
mà là của toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục [22].
Điểm qua tình hình GD một số nước trong khu vực để thấy rằng, các quốcgia trong khu vực cũng như trên thế giới đã có sự nhận thức tương đồng vềgiáo dục, coi giáo dục là con đường để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoahọc công nghệ
GD được coi như là một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội, nó vừa nằmtrong lĩnh vực thuộc hình thái ý thức xã hội, kiến trúc thượng tầng, vừa nằmtrong các mối quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất thuộc hạ tầng cơ sở Sự tồn tại
và phát triển của GD chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế-xã hội và ngượclại, với chức năng của mình, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc tái sảnxuất sức lao động xã hội; khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm năng sáng tạocủa mỗi con người, tạo ra môi trường cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 28Quá trình hội nhập với các trào lưu đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục đangdiễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi cho các nước có thể nhanhchóng tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiệnđại, tận dụng các kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển làm thu hẹpkhoảng cách phát triển giữa các nước trong khu vực và trên thế giới Hợp tácquốc tế được mở rộng tạo điều kiện tăng đầu tư của các nước, các tổ chức quốc
tế và các doanh nghiệp nước ngoài, tăng nhu cầu tuyển dụng lao động qua đàotạo, tạo thời cơ để phát triển giáo dục
“Giáo dục là con đường giúp cho hầu hết các quốc gia đang phát triểnthoát khỏi đói nghèo, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bịnguồn nhân lực có chất lượng của mỗi đất nước và tạo cơ hội học tập cho mỗingười dân Xây dựng một xã hội học tập và giáo dục suốt đời trở thành nhu cầucủa người dân ở các quốc gia” [22, tr68].Thật vậy, trong suốt quá trình pháttriển của nhân loại, đặc biệt trong giai đoạn gần đây khi nền kinh tế tri thức làlựa chọn của hầu hết các quốc gia, kể cả những nước có nền kinh tế phát triểnnhư Mỹ, Anh, Australia, Đức, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc
Giáo dục đóng vai trò rất quan trọng, là nhân tố "chìa khóa của sự tiến bộ xãhội", là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Biểu hiện:
Thứ nhất, giáo dục được coi là động lực phát triển kinh tế và xã hội Sứcmạnh của giáo dục là nâng cao thu nhập, nâng cao năng suất và thúc đẩy côngbằng xã hội Vì vậy, mở rộng giáo dục ở tất cả các cấp là quan trọng đối vớicác nước nghèo và người nghèo bởi vì nó là công cụ mạnh mẽ nhất cho một xãhội thoát khỏi đói nghèo (Ngân hàng Thế giới, 1999)
Thứ hai, giáo dục đào tạo là biểu hiện tiên quyết thúc đẩy kinh tế pháttriển, giáo dục chính là cách để tích lũy vốn con người Đó là nguồn lực quantrọng đảm bảo sự phát triển bền vững của các quốc gia Đặc biệt, trong nềnkinh tế tri thức, vốn con người càng có vai trò quan trọng hơn nữa đối với
Trang 29tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, giúp tạo ra năng suất lao động ngàycàng cao đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Thứ ba, giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội hiện đại.Cùng với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thế giới dưới tác động mạnh
mẽ của cuộc cách mạng Khoa học công nghệ hiện đại thì nguồn nhân lực càng
có vai trò quan trọng và cần thiết, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đểthích ứng với sự thay đổi, phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình hộinhập quốc tế Sự tích lũy kiến thức và quá trình ứng dụng khoa học công nghệhiện đại vào quá trình sản xuất đòi hỏi người lao động phải có trình độ taynghề, chuyên môn kỹ thuật Do vậy, năng lực và kỹ năng lao động là một trongnhững điều kiện cần thiết để người lao động thành công và điều này được thểhiện thông qua giáo dục
Thứ tư, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo.Đối với người nghèo, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sức lao động Vì vậy,thu nhập của người nghèo thấp, một phần cũng là do lao động của họ kém hiệuquả, phần còn lại là do phân biệt đối xử Khi đó, giáo dục đem lại kiến thức,quan điểm và kỹ năng cho người lao động nghèo để giúp họ nâng cao năngsuất lao động và giúp họ có cơ hội tìm được việc làm ở những khu vực có mứcthu nhập cao hơn Và cũng từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào các quátrình xã hội một cách bình đẳng hơn
Thứ năm, giáo dục là một trong những công cụ đảm bảo cho sự bình đẳng
và công bằng xã hội Trong một xã hội phát triển lành mạnh, việc mọi người đượcbình đẳng và công bằng về cơ hội giáo dục là một trong những điều kiện thiết yếu
để thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập ở tương lai
1.2.2 Hiện tượng bỏ học ở học sinh trung học cơ sở và hậu quả của nó Trong
hệ thống giáo dục quốc dân, trường THCS được thu nhận trẻ từ 11 đến 15 tuổi
và có từ lớp 6 đến lớp 9 THCS là cấp học nối liền bậc Tiểu
Trang 30học và bậc trung học phổ thông Học sinh ở lứa tuổi THCS với đặc điểm tâm lý
cơ bản là đang vươn lên làm người lớn Đây là đặc điểm khiến cho nhữngngười làm công tác giáo dục ở bậc THCS phải có những phẩm chất năng lựcriêng biệt Trường THCS gắn liền với địa bàn dân cư xã (thị trấn) và được sựgiúp đỡ tạo điều kiện của chính quyền địa phương
Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Mục tiêu của giáo dục THCS quy định trong Luật giáo dục (2005) là:
"Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của
Trang 31giáo dục tiểu học, có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [9].
Nội dung giáo dục THCS là: Giáo dục THCS phải củng cố, phát triểnnhững nội dung đã học ở tiểu học, đảm bảo cho học sinh những hiểu biết phổthông cơ bản về tiếng việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học xãhội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, có những hiểu biết tốithiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp
Tại điều 3, Điều lệ trường THCS, THPT nhiều cấp, nhiệm vụ và quyềnhạn của trường THCS được quy định như sau: Tổ chức giảng dạy, học tập vàcác hoạt động giáo dục khác của chương trình giáo dục phổ thông Quản lýgiáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán
bộ nhân viên Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường,quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Thực hiện kếhoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng Huy động, quản lý, sử dụngcác nguồn lực cho hoạt động giáo dục, phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức
và cá nhân trong hoạt động giáo dục Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vậtchất, trang thiết bị theo quy định của nhà nước Tổ chức cho giáo viên, nhânviên, học sinh tham gia hoạt động xã hội Tự đánh giá chất lượng giáo dục vàchịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm địnhchất lượng giáo dục Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy địnhcủa pháp luật
Trường THCS là cầu nối giữa trường tiểu học và trường THPT.Có thểhiểu trường THCS là nơi cung cấp những kiến thức cơ sở làm nền tảng chohọc sinh học tiếp THPT hoặc học nghề ở các trường trung cấp nghề "Giáodục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáodục tiểu học, có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban
Trang 32đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghềhoặc đi vào cuộc sống lao động" [35, 21]
Qua mục tiêu của giáo dục THCS, chứng tỏ học sinh THCS chỉ mới cóđược những kiến thức, hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp Nếu các
em đi vào cuộc sống với kiến thức và hiểu biết đó, các em nói chung sẽ khôngthể tìm được một việc làm thích hợp, không thể có cơ hội để nâng cao tay nghề
và có thu nhập cao, ổn định Điều đó sẽ gây ảnh hưởng rất xấu đến chất lượngcuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, việc nâng cao mặt bằng dân trí và sựnghiệp CNH, HĐH đất nước
Như vậy, khắc phục tình trạng bỏ học là một nội dung quan trọng trongviệc thực hiện nhiệm vụ giáo dục của trường THCS Khắc phục tình trạng bỏhọc là nhiệm vụ trước mắt mang tính cấp bách hàng đầu, đồng thời cũng lànhiệm vụ lâu dài đối với giáo dục THCS
Học sinh bỏ học là những học sinh trong độ tuổi đi học từ cấp tiểu họcđến Trung học phổ thông (hay từ 6 đến 18 tuổi), nhưng do điều kiện, hoàn cảnhgia đình và các yếu tố cá nhân hoặc các yếu tố khác tác động nên bỏ học giữachừng Nhưng trong luận văn này tác giả chỉ nghiên cứu những học sinh trong
độ tuổi THCS (tức từ 10 đến 16 tuổi)
Học sinh bỏ học đồng nghĩa với việc các em không tiếp tục đi học nữa
Có học sinh bỏ học khi vừa học xong chương trình một lớp nào đó; có học sinh
bỏ học khi năm học mới bắt đầu, vào giữa năm học hoặc khi năm học gần kếtthúc; có học sinh bỏ học một vài ngày, một vài tiết (bỏ học trong thời gianngắn) để đi chơi hoặc đi giải quyết vấn đề gì đó rồi trở lại lớp học
Để thống nhất con số thống kê, người ta quy ước: Học sinh bỏ học lànhững học sinh có trong danh sách của trường, nhưng đã tự ý nghỉ học quá 45buổi (cộng dồn), tính đế thời điểm báo cáo (không tính học sinh chuyểntrường)
Trang 33Học sinh bỏ học có thể chia ra làm hai loại là bỏ học “tích cực” và bỏ học
“tiêu cực” Bỏ học “tích cực” nếu học sinh bỏ học để đi học nghề hoặc tiếp tụchọc bổ túc; bỏ học “tiêu cực” nếu học sinh bỏ học để đi chơi la cà, bám vào cha
mẹ, phá phách xóm giềng… Học sinh bỏ học “tiêu cực” có thể là đội quân “trùbị” của những người nghiện ngập ma tuý và tệ nạn xã hội Dù cho học sinh bỏhọc “tích cực” hay “tiêu cực” cũng gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồnnhân lực, đến cộng đồng và xã hội
Một trong các yêu cầu cơ bản đối với quá trình dạy học nói riêng, quátrình giáo dục nói chung là phải đảm bảo cho mỗi học sinh được học trọn vẹnbậc học Nhưng thực tế do nhiều nguyên nhân tác động, học sinh bỏ học khônghoàn thành được hết bậc học, thậm chí có em bỏ học ngay từ lớp 6 Đây là hiệntượng không bình thường, bởi vì các em còn quá nhỏ, mới hơn mười tuổi,tương lai các em sẽ ra sao? Các em sẽ làm được những gì với mớ kiến thứckhông trọn vẹn đó Xét sâu xa hơn, việc bỏ học bất thường sẽ gây xáo trộn vềmặt tâm lý của học sinh đang còn đi học, gây hậu quả xấu cho việc phổ cập
GD THCS, làm giảm niềm tin của xã hội vào nhà trường, ảnh hưởng đến chấtlượng cuộc sống tương lai
Bác Hồ đã khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Đúng vậy,
khi học sinh bỏ học tăng sẽ làm tăng thêm số lượng người thất học, mù chữ gây
ra nhiều hậu quả cho nền kinh tế và xã hội Tình trạng bỏ học là một trongnhững nguyên nhân làm cho nguồn nhân lực kém chất lượng; mặc dù số họcsinh bỏ học không nhiều nhưng nếu tình trạng này không được ngăn chặn kịpthời thì số học sinh bỏ học sẽ ngày càng gia tăng theo các năm, đồng nghĩa vớinguồn nhân lực chuyên môn kém, trình độ nhận thức thấp tăng lên qua từngnăm và nguồn nhân lực ngày càng kém chất lượng trong khi đòi hỏi của “kỷnguyên tri thức” ngày càng cao Do đó, để khắc phục tình trạng này
Trang 34không chỉ là vấn đề của các cá nhân mà nó đòi hỏi phải có sự quan tâm của cáccấp, các ngành và toàn thể xã hội.
Bỏ học của học sinh THCS là trường hợp học sinh bỏ học trước khi hoànthành bậc THCS trong nhà trường Mặc dù ở độ tuổi THCS, các em chưa phải
là thanh niên, nhưng các em sẽ lớn lên, sẽ trưởng thành, sẽ là chủ nước nhà.Vậy các em sẽ làm cho nước nhà thịnh hay suy với khối óc trống rỗng, khôngkiến thức, không kinh nghiệm; các em không hiểu rằng kiến thức tốt, kinhnghiệm phong phú sẽ là cơ hội cho người nghèo bứt phá, vượt lên phía trước
để tiếp cận với những cơ hội có thu nhập cao, để cải thiện cuộc sống
Bỏ học, thất học và mê tín dị đoan thường hay đi cùng nhau Chính sựhiểu biết nông cạn đã biến những người thất học thành nạn nhân của những vụlừa đảo, thành công cụ cho kẻ địch lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc ảnh hưởngđến chính trị, trật tự an ninh của xã hội
Đồng hành cùng gia đình, nhà trường là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài, gópphần hình thành và ổn định nhân cách cho các em học sinh Đối với các em,nhà trường đóng một vai trò hết sức quan trọng, đây là nơi cung cấp kiến thứckhoa học nền tảng, là nơi tạo mọi điều kiện để các em có thể phát triển mộtcách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Vì vậy, nếu không được đến trườnghay nói đúng hơn là bỏ học, thì sẽ đem lại những hậu quả khôn lường cho bảnthân các em, gia đình và xã hội
Báo cáo giám sát của Unesco, năm 2008 đã nêu: Việt Nam là một quốcgia có trên một triệu trẻ em trong độ tuổi đi học không đến trường Đây là mộtvấn đề cần được đặc biệt quan tâm, nhất là đối với bậc giáo dục THCS Bởi,nếu bỏ qua giai đoạn này sẽ ảnh hưởng vô cùng hệ trọng tới bản thân trẻ trongtương lai Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng đến cơ cấu chất lượng thị trường laođộng của đất nước Dù nguyên nhân bỏ học của các trẻ em xuất phát từ nhân tốchủ quan hay khách quan thì hậu quả mà nó gây ra là rất lớn Trước tiên
Trang 35bản thân các em sẽ phải gánh chịu, ngay thời điểm hiện tại các em sẽ bị thiếuhụt một nền tảng tri thức cơ bản cần thiết cho sự phát triển của các em, từ sựmặc cảm, tự ty thua kém bạn bè, không có môi trường để rèn luyện đạo đức…
dễ dàng đưa các em đến với những thói hư xấu, những hành vi lệch chuẩn.Hoặc trong một tương lai không xa khi các em trưởng thành, xã hội sẽ đónnhận các em như thế nào khi nền kinh tế đang trong xu thế quốc tế hoá, làmsao các em có thể xin được việc làm trong các ngành phi nông nghiệp khi chưatốt nghiệp THCS Và lúc đó, các em sẽ thật sự trở thành gánh nặng cho giađình và xã hội Với những em có hoàn cảnh kinh tế khá giả, bố mẹ có thể baobọc hoặc lo cho một công việc nào đó nhưng còn những em có hoàn cảnh khókhăn thì sao? Khi không có công ăn việc làm, khó khăn sẽ chồng chất khókhăn và nếu không có bản lĩnh các em sẽ xa vào các tệ nạn xã hội (như trộmcướp, bài bạc, mại dâm….)
Hơn nữa, tình trạng bỏ học ngày nay sẽ là một dấu hiệu của tình trạng bỏhọc trong tương lai do có tính liên thế hệ Có nghĩa là khi bố mẹ thất học hoặchọc vấn thấp thì nhiều khả năng con cái của họ cũng sẽ rơi vào tình trạng tương
tự, bởi họ không đủ tri thức để hướng dẫn con cái trong việc học và thu nhậpcủa họ cũng không đủ để trang trải cho việc học của con cái vốn đang ngàycàng đắt đỏ hơn
Có thể nói, hậu quả từ việc bỏ học là rất tệ hại mà chúng ta không thểlường hết được Nó tác động xấu đến sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội củacác nước nói chung và của địa phương có học sinh bỏ học nói riêng Nó trởthành gánh nặng đối với gia đình và xã hội Thậm chí ở những địa phương có
tỷ lệ bỏ học đông sẽ xảy ra tình trạng “khủng hoảng cộng đồng” Vì một sốthanh niên ở địa phương không có trí thức kéo theo không có nghề nghiệp,không có thu nhập, cuộc sống nghèo khó Do nhận thức hạn chế nên nhữngngười này trong tương lai khi lập gia đình rất dễ sinh nhiều con, ảnh hưởng
Trang 36tới chính sách dân số Còn sự nghèo khó sẽ dẫn đến con đường tội phạm, làm
ăn phi pháp Và như vậy, xã hội sẽ nằm trong cái vòng “luẩn quẩn” của sựnghèo đói vì học vấn thấp sẽ dẫn tới thu nhập thấp, khi thu nhập thấp thì dẫntới nghèo đói và nghèo đói thì đầu tư cho việc học hành thấp và như vậy lại trở
về với điểm khởi đầu là học vấn thấp Do đó, tuyệt đối không thể nào xemthường hiện tượng bỏ học
1.2.3 Nguyên nhân bỏ học của học sinh phổ thông
Để ngăn chặn và khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh phổ thông,trước hết phải tìm hiểu và xác định được nguyên nhân của tình trạng này là dođâu? Qua quá trình nghiên cứu và thu thập thông tin, tác giả nhận thấy có rấtnhiều nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc bỏ học của học sinh, nhưngxét đến cùng thì các nhân tố này vừa đan xen nhau lại vừa có tính độc lậptương đối và là những nguyên nhân chính đưa đến tình trạng bỏ học của họcsinh THCS
Trước hết, nhân tố xã hội và cộng đồng: Trong nền kinh tế thị trường sự
phân hóa giàu nghèo làm cho một bộ phận dân cư bị nghèo đi, trở thành nhóm
xã hội bên lề do không có cơ hội phát triển Đây có thể được xem là nguyênnhân chính của tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh khó khăn dẫn đến tìnhtrạng bỏ học Bên cạnh đó, tình trạng một số trong những sinh viên ra trường,những người có học thức cao vẫn chưa tìm được việc làm phù hợp với chuyênmôn được đào tạo Bệnh duy ý chí vẫn còn trong một số cấp lãnh đạo trongviệc đề ra mục tiêu và chính sách giáo dục; đời sống giáo viên vẫn còn nhiềukhó khăn… đã tác động đến nhà trường và thông qua đó lại tác động đến họcsinh
Toàn cầu hoá là cơ hội để các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học
kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, nhưng bên cạnh đó cũng không tránh được sự
du nhập của những văn hoá phẩm đồi trụy làm tha hoá một bộ phận gồm
Trang 37những người không có tư tưởng kiên định và niềm tin trong sáng Điều nàybiến họ thành những kẻ hám lợi, trục lợi từ đối tượng học sinh, dẫn đến việccác em mất lòng tin vào người lớn, vào cộng đồng và xã hội, dẫn đến việc các
em bị sa ngã, dẫn đến việc tâm hồn các em bị "nhiễm bẩn" Mất niềm tin đãdẫn các em đến con đường ham chơi, hư hỏng, và đây chính là ngưỡng cửa của
bỏ học
Hơn nữa, ở nhiều nước sự tham gia của cộng đồng và các đoàn thể xã hộitrong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăncòn chưa thường xuyên và rộng khắp do nguồn kinh phí hạn hẹp và không ổnđịnh, cho nên vẫn còn những học sinh phải bỏ học vì nghèo
Thứ hai, nhân tố từ phía nhà trường: Nhà trường, lớp học là nơi trực tiếp
giáo dục trẻ em lứa tuổi học sinh THCS, tiếp thu kiến thức, hình thành nhâncách Hơn nữa, nhà trường là nơi mang ánh sáng tri thức đến cho cộng đồng, lànơi có nhiệm vụ cao cả là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhântài cho đất nước Tuy nhiên, trong bối cảnh của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sựphát triển của phương tiện thông tin đại chúng hiện nay, quá trình đào tạo củanhà trường nói chung và trường THCS nói riêng đang gặp nhiều thách thức,đặc biệt ở một số nghèo, vùng sâu, vùng xa trường học còn quá khó khăn chưa
đủ điều kiện nâng cao chất lượng dạy học, không phát huy được tinh thần hamhọc của các em Nhiều trường THCS ở vùng cao hết sức nghèo nàn (trường lụpxụp, bàn ghế mục nát…), điều kiện dạy và học nhất là các trang thiết bị phục
vụ việc tiếp thu bài giảng (dụng cụ thực hành) hầu như không có nên dẫn đếnviệc các em cảm thấy chán và xem việc học như là gánh nặng nên không muốnđến lớp Bên cạnh đó, sự tồn tại của một “nhà trường thứ hai” do tác động của
sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, qua đó một loạt các tri thứckhông hệ thống được truyền tải đến học sinh Trong khi đó, nhà trường truyềnthống có những mặt lạc hậu so với nhà
Trang 38trường thứ hai này, không đủ sức kế hoạch hoá, điều phối tri thức thiết yếu tớihọc sinh, một số giáo viên vẫn dùng lối sư phạm quyền uy để thực hiện tiếntrình đào tạo, và một bộ phận giáo viên chưa đủ năng lực và phẩm chất,… đãlàm phát sinh mâu thuẫn trong quan hệ thầy trò, làm xói mòn truyền thống tôn
sư trọng đạo, làm mất đi hình ảnh cao đẹp của người thầy trong niềm tin củahọc sinh
Ở nhiều nước, khi đời sống giáo viên còn gặp nhiều khó khăn thì chínhđiều này có thể đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực như việc dạy thêm, học thêmtràn lan, cộng thêm chương trình học ngày càng khó và càng quá tải đã tạo cơhội cho một số giáo viên thiếu phẩm chất biến việc dạy thêm thành việc cảithiện thu nhập, trục lợi bằng cách ép buộc học sinh đi học thêm Dạy thêm, họcthêm bị tác động bởi cơ chế thị trường đã trở thành một vấn nạn làm xói mònquan hệ thiêng liêng của tình thầy trò
Tất cả những tiêu cực trên đã tác động trực tiếp đến học sinh và hậu quả
là các em bỏ học vì chán trường Tình trạng bỏ học đang ở mức báo động;nhưng một số trường vẫn xem đó là chuyện nhỏ, bởi vì số học sinh bỏ họcthường không quá 10% so với số học sinh của nhà trường; còn đối với một sốgiáo viên chủ nhiệm và một số người trong các bộ phận đoàn thể của trường thìviệc bỏ học của học sinh là làm giảm đi gánh nặng cho trường cho lớp, vì họcho rằng đa số các em bỏ học là vì quá nghèo, quá yếu và quá ngỗ nghịch.Nghiêm trọng hơn là việc chạy theo chất lượng PC GD THCS
Thứ ba, nhân tố gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội, là xã hội thu nhỏ,
là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng GD nếpsống và hình thành nhân cách Đồng thời, là môi trường gần gũi của học sinh,những nhân tố tích cực, tiêu cực hàng ngày hàng giờ tác động đến học sinh.Nhận thức hạn hẹp về mục đích học tập, trình độ giáo dục thấp, phương phápgiáo dục của cha mẹ không phù hợp với tâm lý của con cái,
Trang 39hoàn cảnh sống, nề nếp gia đình… gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tậpcủa các em Bên cạnh đó còn phải kể đến những tác động của xã hội đến giađình và thông qua gia đình tác động đến học sinh, về mặt này có thể kể đến tácđộng tiêu cực của nền kinh tế thị trường gây phân hoá xã hội mạnh mẽ làmthay đổi sâu sắc định hướng giá trị của cha mẹ học sinh về việc học của conmình.
Gia đình là chủ thể đầu tiên trong việc thực hiện chăm sóc và giáo dục trẻ
em Nhưng do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ không đủ điều kiệncho con đến trường buộc các em phải bỏ học Một phần vì bố mẹ phải lo kiếm
kế sinh nhai, không có thời gian quan tâm chăm sóc, nhắc nhở các em họchành dẫn đến tình trạng lười học, không muốn đến lớp Có trường hợp gia đìnhkhó khăn, các em phải bỏ học để ở nhà phụ việc hoặc lao động sớm để phụ bố
mẹ trang trải Tuy nhiên, đây không hẳn là nguyên nhân tuyệt đối vì có nhữnggia đình khó khăn nhưng con em vẫn đến trường và còn học rất giỏi, tình trạng
bỏ học còn phụ thuộc vào thái độ của bố mẹ và cá tính của các em Điều nàygiải thích tại sao có những gia đình có điều kiện cho con đi học thậm chí làgiàu có nhưng con em của họ vẫn không chịu đến lớp mà chỉ thích đi chơi.Hơn nữa, cả gia đình và bản thân các em đều chưa nhận thức được đẩy đủ vềgiá trị của quá trình học tập đem lại Hơn nữa, một bộ phận gia đình chuyểnnơi ở, đi làm ăn xa nên việc học của các em không được đảm bảo Đây là mộtnguyên nhân diễn ra chủ yếu ở miền núi hoặc ở vùng nông thôn vì điều kiệnkinh tế ở đây khó khăn nên bố mẹ phải chuyển nơi làm ăn Trong khi đó concái đang còn nhỏ, buộc bố mẹ phải cho con đi theo và điều đó làm ảnh hưởngrất lớn đến vấn đề học tập của học sinh Nhiều hộ gia đình sau khi chuyển đicũng tìm cách cho con đi học ở một trường khác nhưng các em vẫn bỏ học vìnhiều lý do: không làm quen được với môi trường mới, không theo kịp bạn bè
do việc học bị phân tán trong quá trình gia đình chuyển nơi ở…
Trang 40Nhưng cũng có nhiều gia đình do hoàn cảnh kinh tế khó khăn và nhiều nguyênnhân khác nên buộc lòng cho con thôi học: không có hộ khẩu, các em không cógiấy tờ tuỳ thân (giấy khai sinh), mất học bạ
Nằm trong xu thế toàn cầu hoá, quy mô gia đình ngày càng thu nhỏ, giađình một con ngày càng nhiều; chính vì có một con nên gia đình dành cho các
em tất cả sự nuông chiều, và mặt trái của việc này là các em trở nên ích kỷ,kém ý chí, thiếu sự quyết đoán và thiếu lòng tin Hậu quả của việc này là các
em trở thành những kẻ khó giáo dục, dễ sa ngã vào cạm bẫy và tệ nạn, hamchơi, đua đòi… và cuối cùng là bỏ học
Thứ tư, nhân tố xuất phát từ phía bản thân học sinh: học sinh với tư cách
là thực thể của xã hội cũng chịu tác động của xã hội, là thành viên của gia đìnhcũng bị ảnh hưởng của gia đình, là khách thể của quản lý trường học nên cũng
bị tác động bởi trường học Xét cho cùng, học sinh là đối tượng bị nhiều áp lựcnhất, áp lực từ môi trường cộng đồng, xã hội, từ thầy cô, gia đình và bè bạn,những áp lực này đã ảnh hưởng đến sự định hướng giá trị vấn đề học tập củahọc sinh Đối với những em sinh ra trong những gia đình khó khăn bắt buộcphải bỏ học sớm, nhưng cũng có em từng bỏ học để đi làm với hy vọng “đổiđời”, với những em sinh ra trong gia đình khá giả, nhưng cha mẹ mải mê làm
ăn, quản lý con lỏng lẻo, dẫn đến việc các em dễ sa vào việc ham chơi, chánhọc Bên cạnh đó, cũng có những học sinh bỏ học vì chán phương pháp dạycứng, khô khan và chán ngắt của một số giáo viên; cũng như bất mãn, thấtvọng về phẩm chất của một số thành viên đứng lớp, cũng có em không đủ sứckham nổi chương trình nặng nề, quá tải Hơn nữa, sự dụ dỗ lôi kéo của bạn bè
đã khiến các em không còn quan tâm đến việc học, chỉ biết chơi suốt ngày vàlâu dần trở thành thói quen Mặt khác, tâm lý của các em đang ở lứa tuổi 10đến 16, đây là lứa tuổi dễ dao động nhất, nếu như có biện