1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại việt nam giai đoạn 2008 2016

155 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 654 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ---TRẦN THỊ THU TRÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THU NHẬP TỪ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐO

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-TRẦN THỊ THU TRÀ

ẢNH HƯỞNG CỦA THU NHẬP TỪ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG

TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2016

Chuyên ngành: Tài Chính Ngân Hàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa đượccông bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kếtquả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dungtrích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm,tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2018

Tác giả luận văn

TRẦN THỊ THU TRÀ

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.2 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của dịch vụ phi tín dụng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng 9

1.2.1 Khái niệm về cơ cấu thu nhập của Ngân hàng, các thành phần chính 9

1.2.2 Sự tăng lên của thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng trong cơ cấu thu nhập của Ngân hàng 21

1.2.3 Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của Ngân hàng 22

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Xây dựng mô hình kinh tế lượng 28

2.1.1 Hệ thống các biến độc lập sử dụng trong mô hình 29

2.1.2 Biến phụ thuộc hiệu quả hoạt động của ngân hàng- ROA, ROE 33

2.3 Thu thập dữ liệu và chạy mô hình 35

2.3.1 Thu thập dữ liệu cho các biến độc lập sử dụng trong mô hình 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

3.1 Trình bày kết quả chạy mô hình 43

3.1.1 Tình hình hoạt động của các Ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2008-2017 43

3.1.2 Ảnh hưởng của các biến trong mô hình lên hiệu quả hoạt động của Ngân hàng tại Việt Nam 52

3.2 Kết luận sự ảnh hưởng của mảng dịch vụ phi tín dụng lên hoạt động của Ngân Hàng tại Việt Nam 56

Trang 5

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

4.1 Kết luận chung 57

4.1.1 Đóng góp của hoạt động phi tín dụng vào thu nhập của Ngân hàng tại Việt Nam .57

4.1.2 Tầm ảnh hưởng của mảng dịch vụ phi tín dụng lên hiệu quả hoạt động của Ngân hàng tại Việt Nam 57

4.1.3 Một số mặt còn hạn chế của bài nghiên cứu 59

4.2 Một số kiến nghị 60

4.2.1 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả, thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng 60

4.2.2 Xu hướng đầu tư, phát triển mà các Ngân hàng tại Việt Nam nên áp dụng 61

TAI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 NII Non-Interest Incomes Lợi nhuận ngoài lãi

4 ROE Return on Equity Tỉ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu

5 ROA Return on Assets Tỷ suất sinh lời của tài sản

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 2.1 Hình ảnh mô phỏng phương trình hồi quy của 37

5 Hình ảnh 3.4 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2013-2017 42

6 Hình ảnh 3.5 Trung bình ROE của các NHTM tại VN giai 43

11 Hình ảnh 3.10 Top 15 NHTM có trung bình VCSH cao nhất 46

trong giai đoạn 2008-2017

12 Hình ảnh 3.11 Top 15 NHTM có trung bình CPHD cao nhất 47

trong giai đoạn 2008-2017

Trang 9

iii

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh làn sóng công nghệ đang xâm nhập vào tất cả các ngành, lĩnhvực của mọi nền kinh tế, ngành Ngân hàng cũng không phải ngoại lệ Cách mạngphát triển Ngân Hàng Số cũng như các tiện ích công nghệ khác được coi là xuhướng tương lai của ngành Ngày càng nhiều các dịch vụ phi tín dụng được cácNgân hàng triển khai như ví điện tử, cổng thanh toán, mobile app hay thu tiền, kếthợp các dịch vụ khác dựa trên tài khoản định danh tại ngân hàng Các dịch vụ, tiệních mới này được đưa ra không chỉ để tạo sức hút với khách hàng, mà còn là nguồnthu dịch vụ đáng kể đối với các ngân hàng Nguồn thu từ cung cấp dịch vụ phi tíndụng có xu hướng tăng lên cùng với sự phát triển của hệ thống tài chính, hệ thống

hạ tầng và các tiện ích đồng bộ Cuối năm 2017, Đề án Phát triển thanh toán khôngdùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2017 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủphê duyệt, với mục tiêu đến cuối năm 2020, tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiệnthanh toán ở mức thấp hơn 10% Theo mục tiêu Đề án đặt ra, tới đây, 100% siêu thị,trung tâm mua sắm và cơ sở phân phối hiện đại có thiết bị chấp nhận thẻ và chophép người tiêu dùng thanh toán không dùng tiền mặt khi mua hàng; 70% các đơn

vị cung cấp dịch vụ điện, nước, viễn thông và truyền thông chấp nhận thanh toánhóa đơn của các cá nhân, hộ gia đình qua các hình thức thanh toán không dùng tiềnmặt Trong thời gian qua các ngân hàng đã liên tục triển khai các hệ thống mớinhằm tăng trải nghiệm người dùng, giúp cho khách hàng có thể thuận tiện hơn khi

sử dụng thẻ ngân hàng và các dịch vụ tiện ích đi kèm, có thể kể tới như việc cácngân hàng Vietinbank, Vietcombank, VPBank… nâng cấp hệ thống core, TPBankcho ra mắt Live-Banking hay Timo của VPBank

Kết quả bước đầu của việc tập trung vào dịch vụ khách hàng có thể thấy ngayviệc tỷ trọng thu nhập, thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng của các ngân hàng đã có xuhướng tăng nhanh qua các năm Tỷ trọng thu từ dịch vụ phi tín dụng củaVietinBank đạt mốc 20% Theo báo cáo tài chính lãi thuần từ hoạt động dịch vụ

Trang 11

năm 2016 của VietinBank đạt 1.687,4 tỷ đồng, tăng trên 15% so với năm 2015 Tạingân hàng ACB, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ, lũy kế 9 tháng đầu năm 2017 đạtgần 775 tỷ đồng, tăng 29,5% so với cùng kỳ 2016 Tại các ngân hàng khác cũng cómức tăng trưởng trong thu nhập từ hoạt động dịch vụ đáng kể so với các năm trước.Điều này cho thấy một thực tế không chỉ tập trung vào việc đẩy mạnh các hoạt độngkinh doanh truyền thống của Ngân Hàng mà các tổ chức này còn cạnh tranh nhaurất khốc liệt trong mảng cung cấp dịch vụ Dịch vụ phi tín dụng không chỉ ảnhhưởng tới con số doanh thu và lợi nhuận tại các Ngân Hàng mà còn là một yếu tốquan trọng để khách hàng lựa chọn và duy trì sử dụng dịch vụ tại các Ngân Hàng.Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của thu nhập từdịch vụ phi tín dụng tới hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại tại ViệtNam giai đoạn 2008-2016” hy vọng sẽ đưa ra được cái nhìn tổng quan về tầm ảnhhưởng của hoạt động mảng dịch vụ phi tín dụng tới hiệu quả hoạt động chung củaNgân Hàng Từ đó sẽ có những kết luận và gợi ý cho các Ngân Hàng trong kế hoạchphát triển Ngân Hàng trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

Trong quá trình thực hiện đề tài, do việc thu thập dữ liệu mới được thu thập tớinăm 2017 (Thời điểm đăng ký đề tài dữ liệu 2017 tác giả chưa thể thu thập được)nên trong bài viết sẽ có nhiều đoạn bài viết sử dụng giai đoạn 2008-2017 thay vì2008-2016 như tiêu đề bài viết

Luận văn sẽ tập trung làm rõ các vấn đề sau:

Câu hỏi 1: Thực trạng đóng góp của mảng dịch vụ phi tín dụng vào cơ cấu thu nhậpcủa các Ngân Hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2017? Các Ngân Hàng

đã thực hiện những động thái gì để nâng cao tỷ trọng đó trong thời gian qua?

Câu hỏi 2: Thông qua mô hình, trả lời cho câu hỏi ảnh hưởng của thu nhập từmảng dịch vụ phi tín dụng tới hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng được nghiêncứu là như thế nào?

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm hai mục tiêu chính Thứ nhất, đề tài sẽ đi

Trang 12

phân tích thực trạng đóng góp của mảng dịch vụ phi tín dụng vào thu nhập của cácNgân hàng tại Việt Nam Sự chuyển dịch cơ cấu thu nhập và sự đóng góp ngày càngtăng lên của mảng dịch vụ phi tín dụng kết hợp với các dự án và động thái mà cácNgân hàng triển khai trong thời gian qua Thứ hai, đề tài sẽ phân tích ảnh hưởng củadoanh thu từ mảng dịch vụ phi tín dụng lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng đượclựa chọn với chỉ tiêu được đưa ra để nhận xét là ROA và ROE, dựa vào dữ liệuđược công bố chính thức trong giai đoạn 2008-2017 của các Ngân Hàng tại ViệtNam để đưa vào mô hình hồi quy Từ đó bài nghiên cứu sẽ đưa ra kết luận về mức

độ ảnh hưởng của mảng dịch vụ phi tín dụng lên hiệu quả hoạt động của các Ngânhàng tại Việt Nam Sau khi thực hiện chạy hồi quy, đề tài có thể đưa ra một sốkhuyến nghị nhằm nâng cao doanh thu cũng như chất lượng dịch vụ ngân hàng,đóng góp chung vào hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Đề tài sẽ đi tìm ra câu trả lời cho mối quan hệgiữa thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng tới hiệu quả hoạt động của Ngân Hàng tại ViệtNam dựa vào việc xây dựng mô hình kinh tế lượng và thu thập dữ liệu từ 2008-2017của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Từ đó đưa ra các kết luận và gợi ý chocác Ngân Hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới

Đối tƣợng nghiên cứu: Thu nhập phi tín dụng của các ngân hàng thương mại tại

Việt Nam trong mối quan hệ ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các Ngân Hàng

Phạm vi nghiên cứu:

- Về thời gian: Số liệu Báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các NgânHàng tại Việt Nam giai đoạn 2008-2017 và có sử dụng thêm các dữ liệu dự báo đếnnăm 2020

- Về nội dung: Thu nhập trong mảng dịch vụ, các yếu tố đóng góp vào thu nhập từ mảng này và ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của Ngân hàng

- Về không gian : Các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam tính tới thời điểm thực hiện nghiên cứu- Năm 2017

Trang 13

Đề tài dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với phân tích thựctiễn tại các Ngân hàng được lựa chọn Đề tài sẽ chọn Tỷ suất sinh lời trên tài sản( Return on Assets - ROA) và tỷ suất sinh lời trên Vốn chủ sở hữu (Return on Equity

- ROE) là biến phụ thuộc để đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân Hàng Các biếnđộc lập được sử dụng trong mô hình bao gồm Thu nhập từ dịch vụ(NonInterestincome), Vốn hóa của Ngân Hàng (Capratio), Quy mô Ngân hàng(Size), Chi phí hoạt động (Overheads) và dư nợ vay của Ngân hàng (Loan) Dữ liệuđược thu thập đối với tất cả các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng và trong khoảngthời gian từ năm 2008-2017 Qua kết quả mô hình, đề tài sẽ đưa ra ảnh hưởng củathu nhập từ dịch vụ phi tín dụng lên ROA và ROE - Chỉ số đánh giá hiệu quả hoạtđộng của ngân hàng trong đề tài Kết hợp với sự thay đổi trong cơ cấu doanh thu,định hướng trong thời gian tới của các Ngân Hàng, đề tài sẽ đưa ra những gợi ýnhằm nâng qua hiệu quả trong hoạt động của Ngân Hàng các năm tiếp theo

Mô hình xây dựng dự kiến dựa trên các biến số đã nêu:

ROAi,t= α0 + α1NonInterestincomei,t + α2Capratioi,t + α3Overheadsi,t + α4 Loan

ROEi,t= α0 + α1NonInterestincomei,t + α2Capratioi,t + α3Overheadsi,t + α4 Loan + α5Size

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được trình bày trong 4 chương.

Cụ thể như sau :

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Kết luận

Trang 14

CHƯƠNG 1.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT.

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

DeYoung & Rice (2003) trong nghiên cứu về hiệu quả hoạt động và lợi nhuậnliên quan tới chiến lược kinh doanh, thay đổi công nghệ và quan trọng nhất là thunhập phi tín dụng trên các NHTM tại Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngânhàng có chính sách không tham gia hoặc chậm tham gia vào các dịch vụ ngoài hoạtđộng tín dụng có lợi nhuận kém và ít có sự cân bằng hơn Kết luận được đưa ra rằngthu nhập phi tín dụng không thay thế lợi nhuận từ hoạt động tín dụng, thay vào đó

cả hai hoạt động cùng mang lại lợi nhuận sẽ giúp gia tăng lợi nhuận trong ngânhàng và tạo sự cân bằng hơn trong doanh thu Việc tham gia, đầu tư vào thay đổicông nghệ không chỉ giúp các ngân hàng TMCP tại Mỹ tăng thêm lợi nhuận mà còngiúp cho hoạt động kinh doanh chính, hoạt động tín dụng tăng trưởng tốt hơn.Karakaya và Bunyamin, (2012) đã nghiên cứu hiệu suất hoạt động của các ngânhàng tại Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2005 - 2010 Nghiên cứu này được thực hiệnnhằm mục đích kiểm tra mối quan hệ giữa thu nhập phi tín dụng và các yếu tố quyếtđịnh lợi nhuận của ngân hàng, hiệu suất ngân hàng Nghiên cứu xem xét một số yếu

tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng là sự an toàn vốn, tỷ lệ tín dụng,

tỷ lệ dự phòng tín dụng và quy mô của ngân hàng Kết quả cho thấy rằng sự an toànvốn, tín dụng và quy mô làm tăng hiệu suất của các ngân hàng trong khi chi phí hoạtđộng ảnh hưởng theo chiều ngược lại Rahman et.al (2015) đã sử dụng dữ liệu của

25 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2006-2013 tại Bangladesh, nghiên cứuxem xét các yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng như thanh khoản, thunhập phi tín dụng, hoạt động ngoại bảng, vốn, rủi ro tín dụng, cơ cấu sở hữu, hiệuquả trong việc sử dụng chi phí và lạm phát Sử dụng các chỉ số đánh giá hiệu quảhoạt động, sinh lời khác nhau, hai số trong đó là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợinhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động ngoạibảng có ảnh hưởng tiêu cực lên lợi nhuận của ngân hàng trong khi quy mô

Trang 15

cho vay và tỷ lệ an toàn vốn ảnh hưởng tích cực Các kết quả cũng cho thấy thunhập phi tín dụng và rủi ro tín dụng ảnh hưởng quan trọng tới NIM của các NHTMđược nghiên cứu Các yếu tố như tỷ lệ an toàn vốn, quy mô cho vay, chi phí hoạtđộng và rủi ro tín dụng là những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của các Ngân hàng

và đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà nghiên cứu, tuy nhiên thu nhập phi tín dụng làyếu tố mới được đưa vào các mô hình nghiên cứu và cho thấy tác động của biến sốnày là rất rõ ràng lên hiệu quả hoạt động hay lợi nhuận của ngân hàng Bailey-Tapper (2010) nghiên cứu trên các NHTM ở Jamaica trong khoảng thời gian từ1999-2010 để đánh giá tác động của thu nhập phi tín dụng và nền kinh tế vĩ mô lênhiệu quả hoạt động của các ngân hàng này Yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập phi tíndụng lớn nhất là công nghệ Stiroh (2002) đã nghiên cứu về việc bằng cách nào cácngân hàng tại Mỹ liên tục gia tăng sự phụ thuộc vào các hoạt động kinh doanh phitruyền thống nhằm tạo ra thu nhập như từ phí, doanh thu giao dịch và các thu nhậpphi tín dụng khác Lý do mà thu nhập phi tín dụng chiếm tỷ trọng trong thu nhậptăng dần là đến từ việc đa dạng hóa

Dựa trên các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của thu nhập phi tín dụng lênhiệu quả hoạt động và lợi nhuận của NHTM, thu nhập từ lãi và ngoài lãi không thaythế lẫn nhau mà bổ sung cho nhau Mỗi nghiên cứu khác nhau lựa chọn một số chỉtiêu như về tổng tài sản, chi phí vận hành, quy mô tổ chức… để đánh giá tác độnglên thu nhập và hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Trên thế giới đã có rất nhiều các bài nghiên cứu tập trung phân tích về chủ đềnày trong những năm qua Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Alaaeddin Al-Tarawneh, Bashar K Abu Khalaf1 & Ghazi Al Assaf (2017) nghiên cứu về ảnhhưởng của các yếu tố như quy mô ngân hàng, quy mô cho vay, chi phí hoạt động vàthu nhập phi tín dụng lên lợi nhuận trên các ngân hàng của Jordannian với biến phụthuộc dùng để đo hiệu quả hoạt động được sử dụng là ROA, trong khoảng thời gian

từ 2010-2015 cho kết quả chi phí hoạt động của ngân hàng làm giảm lợi nhuậntrong khi quy mô ngân hàng và quy mô khoản vay có tác động tích cực lên lợinhuận và thu nhập phi tín dụng cũng đồng thời tác động tích cực lên lợi nhuận của

Trang 16

Ngân hàng Robert DeYoung & Tara Rice (2003) đã nghiên cứu các NHTM tại Mỹvới hiệu quả hoạt động được đo bằng biến ROE trong giai đoạn 1989-2001 cho thấythu nhập phi tín dụng chiếm tới 40% cơ cấu thu nhập của các ngân hàng, Nghiêncứu cũng chỉ ra rằng các ngân hàng được quản lý tốt có xu hướng gia tăng thu nhậpphi tín dụng chậm hơn, và thu nhập phi tín dụng và thu nhập từ hoạt động tín dụng

là sự tăng trưởng đồng thời, bổ sung chứ không phải thay thế cho nhau và hoạt độngtín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chính, mang lại nguồn lợi nhuận chính chongân hàng Một nghiên cứu khác được thực hiện trên các NHTM tại Kenya, RuthOniang'o (2015) đã chỉ ra thu nhập phi tín dụng có ảnh hưởng tích cực lên hoạtđộng của ngân hàng Ngoài ra trong mô hình còn chỉ ra được sự ảnh hưởng của quy

mô cũng như thanh khoản của ngân hàng lên hiệu quả hoạt động với biến phụ thuộcthể hiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng là ROA Limei Sun et.al (2016) đã sửdụng Theshold effect Model đối với dữ liệu của các NHTM tại Trung Quốc, biếnphụ thuộc thể hiện hiệu quả hoạt động là ROE và cho kết quả tương tự, việc giatăng nguồn lực nhằm cải thiện lợi nhuận ngoài lãi giúp cho hiệu quả hoạt động là tốthơn tại các NHTM

Tại Việt Nam hiện mới có nghiên cứu của Lê Long Hậu & Phạm Xuân Quỳnh(2017) nghiên cứu về ảnh hưởng của thu nhập phi tín dụng lên hiệu quả hoạt độngcủa 26 NHTM được thu thập dữ liệu tại Việt Nam, nghiên cứu sử dụng phươngpháp ước lượng với hai biến phụ thuộc thể hiện hiệu quả hoạt động của Ngân Hàngbao gồm cả ROA và ROE, tác giả đã chỉ ra tác động tích cực của thu nhập phi tíndụng lên hiệu quả hoạt động Trong nghiên cứu của mình, hai tác giả đã đưa vào cácbiến số phản ánh cả hoạt động của ngân hàng cũng như các biến số thể hiện môitrường kinh doanh và kinh tế vĩ mô như dư nợ, tiền gửi, tăng trưởng kinh tế và lạmphát Ngoài ra có một số các phân tích ảnh hưởng của thu nhập phi tín dụng lên cơcấu lợi nhuận của Ngân Hàng, tuy nhiên chỉ dừng ở mức độ phân tích đối với mộtngân hàng cụ thể chứ không đánh giá tổng thể Đối với ảnh hưởng của các biến sốnhư quy mô cho vay, chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng… lên lợi nhuận của Ngânhàng TMCP, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam đã được rất nhiều

Trang 17

các bài nghiên cứu đề cập và làm rõ Tuy nhiên đối với biến số đang ngày càng thểhiện sự tăng lên cả về tỷ trọng lẫn tốc độ trong cơ cấu thu nhập của các NHTM làthu nhập phi tín dụng thì chưa được nghiên cứu làm rõ và cập nhật mới nhất.

Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy thu nhập phi tín dụng có ảnh hưởng tớihiệu quả hoạt động, lợi nhuận của các ngân hàng Đối với Việt Nam trong giai đoạn

kể từ sau năm 2008 đến nay có rất nhiều sự thay đổi trong công nghệ ngân hàng, cácngân hàng đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ, dịch vụ và trải nghiệm người dùng nhưLiveBanking, Autobank dẫn tới cơ cấu về lợi nhuận sẽ có sự thay đổi rõ rệt Bàinghiên cứu kỳ vọng sẽ làm rõ được ảnh hưởng của thu nhập phi tín dụng và các yếu

tố bên trong của ngân hàng như: Quy mô ngân hàng, quy mô cho vay, chi phí hoạtđộng lên hiệu quả hoạt động của NHTM tại Việt Nam Theo báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh 6 tháng đầu năm 2018 cho thấy các NHTM có sự tăng trưởng trên30% ở thu nhập từ dịch vụ so với cùng kỳ năm 2017 Các Ngân hàng trong nhómdẫn đầu là những Ngân hàng không chỉ tăng về số thực mà tốc độ tăng cũng lớn hơn

so với các ngân hàng TMCP nhóm nhỏ hơn Vietcombank trong 6 tháng đầu năm

2018 lãi từ hoạt động dịch vụ đạt 1.732 tỷ đồng, con số này ở các ngân hàngTechcombank, Sacombank lần lượt là 1181 tỷ đồng và 1134 tỷ đồng Điều này chothấy thu nhập phi tín dụng đã và đang được quan tâm rất lớn từ các ngân hàng.Đối với hệ thống các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay, việc đầu tư

mở rộng và nâng cao dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như đadạng hóa nguồn thu nhập là vô cùng quan trọng Việc tính toán và dự báo được tácđộng của thu nhập phi tín dụng lên hiệu quả hoạt động của một NHTM là vô cùngquan trọng Rất nhiều các bài nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam nhằm nâng cao thunhập từ hoạt động phi tín dụng trong các NHTM, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nàoxây dựng một mô hình đầy đủ với các biến về hoạt động cũng như các biến phảnánh được thực trạng của ngân hàng Việc các nghiên cứu tương tự được thực hiện ởcác thị trường tài chính, ngân hàng có sự phát triển cả về hệ thống tài chính và hạtầng công nghệ cho kết quả không quá bất ngờ về việc ảnh hưởng tích cực của thunhập từ hoạt động phi tín dụng lên hiệu quả hoạt động của Ngân Hàng, tuy nhiên

Trang 18

với các nước có hệ thống ngân hàng cũng như hạ tầng công nghệ đang trong giaiđoạn phát triển nhanh và mạnh như Việt Nam sẽ có những kết quả cũng như mức độảnh hưởng khác nhau Việc thu thập một cách đầy đủ dữ liệu của hơn năm mươiNHTM tại Việt Nam phục vụ cho nghiên cứu sẽ khắc phục được các hạn chế củanhững nghiên cứu đã thực hiện trước đây và đưa ra một kết quả đáng tin cậy đối vớithị trường các NHTM tại Việt Nam.

1.2 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của dịch vụ phi tín dụng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

1.2.1 Khái niệm về cơ cấu thu nhập của Ngân hàng, các thành phần chính.

1.2.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại đã được hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sựphát triển của nền kinh tế hàng hóa Sự phát triển của NHTM đóng vai trò vô cùngquan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế và dần hoàn thiện trở thành định chếtài chính không thể thiếu được trong bất kỳ nền kinh tế nào Ngân hàng thương mại

là một định chế tài chính mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi và

sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiệnthanh toán Theo luật các tổ chức tín dụng định nghĩa: Ngân hàng thương mại là tổchức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động Ngân hàng và các hoạt độngkinh doanh khác có liên quan vì mục đích lợi nhuận theo quy định của Luật các tổchức tín dụng và quy định khác của pháp luật Theo luật NHNN định nghĩa hoạtđộng ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dungthường xuyên là huy động tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứngcác dịch vụ khác như dịch vụ thanh toán, thư tín dụng

Về lịch sử của sự ra đời và phát triển của NHTM, do nhu cầu sử dụng tiền làmphương tiện thanh toán, trung gian trao đổi hàng hóa và thông qua đó giúp kíchthích sự phát triển trong sản xuất, thương mại và trao đổi hàng hóa là một trongnhững nguyên nhân ban đầu cần tới sự xuất hiện của NHTM Với sự phát triểntrong hoạt động thanh toán và trao đổi, nhu cầu cất giữ tiền tệ và nhu cầu vay mượnphục vụ cho sản xuất và chi tiêu đã dẫn tới sự ra đời của các tổ chức trung gian Các

Trang 19

tổ chức này sẽ nhận cất giữ tiền cho các bên có nhu cầu cất giữ tiền tệ an toàn vàcho những người có nhu cầu vay tiền Tổ chức này sẽ đứng giữa và thu phí từ cả haibên Sự tăng lên về nhu cầu cũng như các dịch vụ khác liên quan đã dẫn tới sự rađời của Ngân hàng Khoảng đầu thế kỷ thứ 14, tại Tây Ban Nha đã có những tổchức được coi là ngân hàng đầu tiên ra đời, kể từ đó các tổ chức tương tự phát triển

ra khắp Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á Với sự phát triển về khoa học kỹ thuật cùngvới sự tăng lên về nhu cầu của các bên đã giúp cho các Ngân hàng ngày càng hoànthiện, phát triển và cung cấp dịch vụ đầy đủ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng

1.2.1.2 Phân loại Ngân hàng thương mại

Để phân loại ngân hàng có thể dựa theo một số tiêu chí như: Dựa vào hình thức

sở hữu có thể chia NH thành NHTM Quốc doanh, NHTM cổ phần, ngân hàng liêndoanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hay NHTM 100% vốn nước ngoài Ngoài

ra có thể phân loại ngân hàng theo chiến lược kinh doanh (Ngân hàng bán buôn,ngân hàng bán lẻ, ngân hàng vừa bán buôn và bán lẻ) hoặc dựa theo tính chất hoạtđộng của Ngân hàng (Ngân hàng chuyên doanh, Ngân hàng kinh doanh tổng hợp)

1.2.1.3 Vai trò của Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt,doanh thu của các ngân hàng thương mại được hình thành từ rất nhiều nguồn khácnhau như: Thu lãi cho vay, đầu tư, kinh doanh từ ngoại tệ, phí dịch vụ từ các dịch

vụ mà ngân hàng cung cấp Các ngân hàng thương mại đóng một vai trò quan trọngtrong nền kinh tế và hệ thống tài chính của bất kỳ quốc gia nào Chức năng chínhcủa ngân hàng là kết nối giữa những khách hàng có nhu cầu về vốn và những kháchhàng có nhu cầu đầu tư, gửi tiết kiệm Do vậy hoạt động tín dụng luôn là một trongnhững nguồn thu chính, chủ yếu của các NHTM Tuy nhiên các NHTM đã và đangtập trung vào các dịch vụ phi tài chính để có thể tối ưu lợi nhuận, và đáp ứng nhucầu của khách hàng Wright (2011)

Ngân hàng thương mại có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế NTHM

là tổ chức đưa vốn vào nền kinh tế Các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh đều

có nhu cầu về vốn để phục vụ cho mua sắm tài sản, vận hành và hoạt động Lượng

Trang 20

vốn mà các tổ chức, cá nhân cần thường lớn hơn so với vốn tự có của các tổ chức cánhân đó Bên cạnh đó cũng luôn có những tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi tiền nhànrỗi Ngân hàng thương mại với hoạt động kinh doanh chính là tín dụng trở thànhkênh dẫn vốn vừa đưa vốn vào nền kinh tế Nhờ có hoạt động của các NHTM mà cảhai bên được đáp ứng nhu cầu và tăng khả năng sản xuất cũng như thúc đẩy sự pháttriển của nền kinh tế Cũng với chức năng cung cấp vốn cho các tổ chức, cá nhân cóthể mở rộng hoạt động kinh doanh với nhiều các sản phẩm khác nhau tùy theo mụcđích sử dụng vốn, nhu cầu của doanh nghiệp mà các NHTM còn được coi là cầu nốigiữa doanh nghiệp và thị trường.

Bên cạnh đó, hệ thống NHTM còn được coi như một công cụ điều tiết nền kinh

tế Thông qua hoạt động tín dụng của các ngân hàng, các cơ quan quản lý có thểđiều tiết được lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế Với các yêu cầu về hoạt độngtín dụng như các sản phẩm vay, lãi suất và tỷ lệ dự trữ bắt buộc là những công cụgiúp cho các cơ quan quản lý có thể điều tiết hoạt động của nền kinh tế vĩ mô thôngqua lượng tiền lưu thông trên thị trường Với những nghiệp vụ như thanh toán, tỷgiá hối đoái, bảo lãnh của các ngân hàng giúp cho sự trao đổi giữa các nước trên thếgiới có được sự gắn kết cũng như sự vận động của nền tài chính mỗi quốc gia có sựphù hợp với các quốc gia khác Với những vai trò quan trọng của mình, các NHTMtrở thành một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế

1.2.1.4 Chức năng của Ngân hàng thương mại

Với những vai trò như trên, NHTM đảm nhận rất nhiều chức năng quan trọng.Đầu tiên, ngân hàng thương mại với chức năng quan trọng nhất là trung gian tàichính Do các công cụ trên thị trường vốn như cổ phiếu, trái phiếu… không thực sự

dễ dàng tiếp cận và thời gian cũng như thủ tục còn chưa đáp ứng được so với nhucầu của người cần vốn NHTM với tư cách là một trung gian tài chính sẽ huy độngtiền từ những tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi tiền và thông qua các sản phẩm dịch

vụ đa dạng mà ngân hàng cung cấp, người vay vốn có thể dễ dàng tiếp cận với nhiềucác gói sản phẩm khác nhau và đáp ứng được nhu cầu của người vay một cách tốthơn Chức năng tiếp theo của các NHTM là chức năng kiểm soát tiền tệ,

Trang 21

thông qua mối quan hệ với các ngân hàng trung ương Ngân hàng thương mại thựchiện các chính sách về tiền tệ như tăng cung tiền trong nền kinh tế, giảm lượng tiềnlưu thông… nhằm điều tiết nền kinh tế theo mục tiêu của NHTW.

Ngoài ra, NTHM còn đảm nhận chức năng cung cấp và quản lý các phương tiệnthanh toán và cung cấp các dịch vụ tài chính Các NHTM cung cấp rất nhiều cáccông cụ thanh toán cho khách hàng như chuyển tiền, séc, bảo lãnh thanh toán, thẻtín dụng…Và cùng với sự phát triển của công nghệ, ngày nay các ngân hàng cungcấp rất nhiều dịch vụ đi kèm Điều đó dẫn tới thu nhập từ mảng phi tín dụng ngàycàng tăng lên một cách nhanh chóng cả về tỷ trọng lẫn số thực

1.2.1.5 Phân loại thu nhập của Ngân hàng thương mại

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại với mục đích chính là lợinhuận Điều quan trọng nhất để thu được lợi nhuận cao đối với các NHTM truyềnthống là việc quản lý tốt các khoản mục tài sản nợ và có Tuy nhiên với các NHTMngày nay, trong cơ cấu thu nhập không chỉ bao gồm các hoạt động tín dụng mà hoạtđộng phi tín dụng đang dần cho thấy sự tăng lên mạnh mẽ Điều đó cho thấy để tạođược sự cạnh tranh cho ngân hàng cũng như tăng lên về thu nhập, các NHTM cầnphải nâng cao và cung cấp nhiều dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng thay vìchỉ tập trung vào hoạt động tín dụng như truyền thống Thu nhập của ngân hàng tới

từ các mảng chính:

- Thu nhập từ hoạt động tín dụng

Hoạt động tín dụng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa NHTM nói riêng và các

tổ chức tín dụng nói chung với các đối tác của các tổ chức này bao gồm cả tổ chứctrong và ngoài nước, cá nhân và doanh nghiệp Theo một số tài liệu mô tả các đặcđiểm của tín dụng trong ngân hàng bao gồm việc huy động vốn và cho vay dướihình thức tiền tệ Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong hoạt động này và hoạtđộng tín dụng có thể không hoàn toàn phù hợp với bối cảnh hoạt động sản xuất kinhdoanh và thúc đẩy việc lưu thông của dòng vốn trong nền kinh tế

Hoạt động tín dụng có thể phân loại theo bốn cách bao gồm:

+ Phân chia theo thời hạn với các mức tín dụng ngắn hạn (Dưới 1 năm), tín

Trang 22

dụng trung hạn (Khoản vay có thời hạn 1-5 năm) và tín dụng dài hạn (Trên 5 năm).+ Phân chia theo đối tượng bao gồm tín dụng vốn lưu động và tín dụng vốn cốđịnh.

+ Phân loại theo mục đích sử dụng vốn, với hình thức phân loại này việc phânchia rất đa dạng và mỗi NHTM có những cách phân chia với mức chi tiết khác nhaunhư cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay bất động sản, cho vay đi học và vay tiêudùng

+ Ngoài ra tín dụng còn có thể phân loại theo đối tượng trả nợ là trực tiếp hoặcgián tiếp Các khoản thu từ hoạt động tín dụng của các NHTM có thể kể tới như:Thu lãi cho vay, thu lãi chiết khấu, chi phí cho thuê tài chính, chi phí bảo lãnh Lãi từ hoạt động tín dụng là việc các NHTM đi huy động vốn từ các tổ chức, cánhân và cho các cá nhân, tổ chức khác vay với sự chênh lệch lãi suất Thông thườngcác ngân hàng sẽ có nguồn vốn được huy động từ các tổ chức, đối tác hoặc các cánhân với chi phí tương đối thấp 5-6% (Chi phí trả cho người gửi hàng tháng) Sau

đó các NHTM sẽ sử dụng nguồn vốn này cho việc cho vay tới các tổ chức, cá nhân

có nhu cầu tín dụng và thu lãi hàng tháng Các ngân hàng sẽ thu lãi và kiểm soátviệc thanh toán phần gốc của các khoản vay này nhằm đảm bảo hạn chế rủi rokhông thu hồi được nợ Đây là nguồn lợi nhuận chủ yếu của các NHTM, tuy nhiênphụ thuộc nhiều vào chính sách tiền tệ và nền kinh tế trong mỗi giai đoạn

Tuy nhiên hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chính và chủ yếu củacác ngân hàng Khi đánh giá về một ngân hàng thì quy mô cho vay, huy động vẫn làmột trong những yếu tố hàng đầu Việc các ngân hàng dần bổ sung thêm các dịch

vụ, nâng cấp và cải tiến công nghệ trong hoạt động của ngân hàng chỉ nhằm mụcđích đa dạng hóa nguồn thu và cùng với đó củng cố cho hoạt động kinh doanh cốtlõi là tín dụng

Thu nhập từ hoạt động tín dụng của các NHTM phụ thuộc rất nhiều vào lãi suất.Lãi suất thay đổi sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của hoạt động tín dụngcủa ngân hàng, lãi suất bị ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố như: Điều kiện của thịtrường tiền tệ, thị trường tiền tệ ảnh hưởng tới lãi suất các khoản huy động của

Trang 23

Ngân hàng cũng như sức hấp dẫn của các hoạt động đầu tư dẫn tới ảnh hưởng tới lãisuất cho vay Với rủi ro của khoản vay càng cao thì lãi suất ngân hàng đưa ra càngcao nhằm cân đối với nguy cơ mất vốn từ khoản vay Ngoài ra thì sự ảnh hưởng từlãi suất cố định hoặc thả nổi, mức độ cạnh tranh của các đối thủ có cùng sản phẩm

và chính sách của nhà nước (Chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng…)

Bên cạnh ảnh hưởng từ lãi suất, hoạt động tín dụng còn chịu sự ảnh hưởng rấtlớn từ rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngân hàng không thể thu hồi đượcphần vốn gốc và lãi vay từ khách hàng vay Có nhiều nguyên nhân dẫn tới rủi ro tíndụng, bài viết tóm tắt và chia thành 3 nhóm nguyên nhân chính bao gồm:

+ Nguyên nhân thuộc về phía ngân hàng Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ vàcấp quản lý có thể dẫn tới đánh giá sai về năng lực của khách hàng vay, hoặc sựgian dối của cán bộ ngân hàng nhằm trục lợi và sự thiếu sát sao từ các cán bộ quản

lý Bên cạnh đó có thể do quy trình tín dụng còn chưa theo kịp các trường hợp phátsinh thực tiễn và danh mục còn chưa được đa dạng hóa một cách hợp lý

+ Nguyên nhân tới từ phía người vay Nguyên nhân này là nguyên nhân chínhdẫn tới rủi ro tín dụng của các NHTM Có thể do người vay kinh doanh thua lỗ, mấtvốn và không có khả năng trả nợ hoặc người vay cố tình chiếm dụng vốn của Ngânhàng với việc làm giả hồ sơ, làm sai mục đích vay và nhiều cách thức khác

+ Ngoài ra còn các nguyên nhân khác như biến động môi trường kinh doanh,kinh tế Sự thay đổi về quy định pháp luật hoặc các nguyên nhân phát sinh ngoài dựkiến khác

Qua những phân tích đã liệt kê ta có thể thấy hoạt động tín dụng là hoạt độngkinh doanh chính của ngân hàng cho tới hiện tại, tuy nhiên hoạt động tín dụng vớinhiều những rủi ro cả từ nội bộ và các nguyên nhân bên ngoài, điều đó khiến chocác NHTM luôn phải đề cao việc quản trị rủi ro với hoạt động tín dụng nhằm đảmbảo lợi nhuận của tổ chức

- Thu nhập từ hoạt động phi tín dụng như Thu lãi quản lý tài sản, dịch vụ thanhtoán, dịch vụ chuyển khoản, ngân quỹ Hoạt động phi tín dụng có thể hiểu là hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà không

Trang 24

trực tiếp phải là hoạt động cấp tín dụng.

Các hoạt động phi tín dụng của các NHTM hiện tại rất đa dạng và có sự thay đổi rất nhanh chóng do nhu cầu của khách hàng

+ Hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán được coi là hoạt động cơ bản và thểhiện được một phần chức năng quan trọng của NHTM và khác biệt so với các tổchức tín dụng khác Hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán được xây dựng và cungcấp dựa trên sự phát triển của công nghệ kỹ thuật áp dụng trong ngân hàng như hệthống Core-banking, hệ thống liên ngân hàng Và trong thời gian tới có thể làblockchain Với những công nghệ này không chỉ tiện lợi mà còn tiết kiệm thời gianchờ đợi giữa các bên và tăng sự an toàn và chi phí vận hành của hoạt động thanhtoán Trong hoạt động thanh toán còn được phân theo thanh toán trong nước (Cùngngân hàng, liên ngân hàng, séc, ủy nhiệm chi ) và thanh toán ngoài nước (Thư tíndụng, tài khoản trung gian và tài khoản được mở tại các ngân hàng nước ngoài).+ Hoạt động cung cấp các dịch vụ liên quan tới thẻ Thẻ thanh toán có thể sửdụng để thanh toán cho hàng hóa dịch vụ Khách hàng có thể sử dụng thẻ để thanhtoán mà không cần tới ngân hàng hay sử dụng tiền mặt Hiện nay các cửa hàng tạicác thành phố lớn hầu hết đã áp dụng phương pháp này Rất tiện lợi cho khách hàng

và đảm bảo Thẻ tín dụng là hình thức ngân hàng cấp các khoản vay ngắn hạn chokhách hàng dựa theo khả năng chi trả của khách hàng (Phổ biến nhất là dựa vào thunhập hàng tháng) Thông qua dịch vụ thẻ tín dụng, khách hàng có thể thanh toáncho rất nhiều sản phẩm khác nhau mà có thể thanh toán cho ngân hàng sau đó, trongthời hạn quy định

+ Ngoài ra còn rất nhiều các dịch vụ phi tín dụng khác, sự phát triển nhanhchóng về công nghệ, thiết bị thông minh và nhu cầu của người dùng khiến cho cácdịch vụ phi tín dụng của các NHTM được bổ sung và tối ưu nhanh chóng Các dịch

vụ này cũng là một trong những yếu tố để khách hàng quyết định sử dụng sản phẩmtín dụng của các ngân hàng

Các hoạt động tín dụng rất đa dạng, tuy nhiên có những đặc trưng riêng để phânbiệt như:

Trang 25

Để phát triển hoạt động phi tín dụng ngoài cần đầu tư vốn vào xây dựng vào cơ

sở hạ tầng công nghệ, các ngân hàng cần đầu tư vào nhân lực Tuy nhiên việc đầu tưnày cần tới ít nguồn vốn hơn so với hoạt động tín dụng nên đây được coi là lợi thếcho các ngân hàng

Việc đầu tư hạ tầng công nghệ giúp cho chi phí vận hành của các NHTM giảm

đi, từ đó có thể mang lại lợi nhuận lớn hơn cho các ngân hàng khi khách hàng sẵnsàng chi trả cho các dịch vụ tiện ích Thêm nữa hoạt động phi tín dụng được đánhgiá là ít rủi ro hơn so với hoạt động tín dụng Do đó việc đầu tư vào dịch vụ phi tíndụng không chỉ giúp cho khách hàng hài lòng hơn mà còn giúp cho lợi nhuận củangân hàng được cân đối và đa dạng hơn

Lãi từ hoạt động phi tín dụng chủ yếu đến từ phí dịch vụ, bán và cho thuê tàisản Không giống như thu nhập từ lãi, thu nhập từ hoạt động phi tín dụng phần lớnkhông bị ảnh hưởng bởi các tác nhân như chu kỳ kinh tế, thị trường tài chính TheoBodla & Verma (2007), thu nhập phi tín dụng là một trong những yếu tố ảnh hưởngđáng kể lên lợi nhuận của NHTM Các NHTM nói chung và tại Việt Nam nói riêngngày nay đều đẩy mạnh đầu tư công nghệ, tăng thêm các dịch vụ mới và tăng cườngtrải nghiệm người dùng nhằm lôi kéo thêm các khách hàng tiềm năng Các nghiêncứu tại Mỹ đã chỉ ra việc gia tăng ứng dụng công nghệ và trải nghiệm người dùng sẽlàm tăng thu nhập phi tín dụng của các ngân hàng thông qua nhiều dịch vụ có phí vàtăng phí các dịch vụ Trong nghiên cứu của mình Robert DeYoung & Tara Rice(2003) với các ngân hàng thương mại tại Mỹ cho thấy việc tăng trưởng thu nhập phitín dụng không ảnh hưởng tới thu nhập từ hoạt động tín dụng mà thay vào đó là sự

bổ sung và hỗ trợ giữa hai nguồn thu nhập này Việc tăng cường các dịch vụ đượccung cấp cũng là một trong những yếu tố để tiếp cận các khách hàng có nhu cầu tíndụng tiềm năng của Ngân Hàng Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến cho rằng việc quátập trung vào cung cấp các sản phẩm dịch vụ nhằm tăng trưởng thu nhập phi tíndụng có thể ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng Nguồn vốn của tổ chức là một con số

cố định, nếu tập trung phần vốn này đầu tư cho hoạt động phi tín dụng có thể dẫn tớilàm co hẹp nguồn vốn dành cho hoạt động tín dụng trong ngắn và dài hạn, từ đó cóthể phát sinh nợ xấu, thị phần tín dụng của tổ chức bị thu hẹp và các yếu tố khác

Trang 26

của NHTM sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do hoạt động tín dụng được coi như thước đo của các ngân hàng.

- Ngoài ra còn một số nguồn thu khác như: Thu từ hoạt động đầu tư kinh doanh các loại tài sản như: Vàng, cổ phiếu, chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm

1.2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng

- Các nhân tố bên trong ngân hàng:

+ Nguồn nhân lực: Yếu tố con người luôn được đánh giá cao, thậm chí là quantrọng nhất của mọi sự thành công Các Ngân hàng muốn đưa ra được những dịch vụ tốt,

có chất lượng cao cũng như thu hút được khách hàng thì cần phải có trong tay một độingũ cán bộ có năng lực Năng lực được thể hiện ở chất lượng và số lượng: Chất lượngnguồn nhân lực được thể hiện ở chuyên môn nghiệp vụ thì cần phải nắm vững, có kiếnthức chuyên môn, am hiểu các mặt nghiệp vụ Đồng thời các cán bộ ngân hàng cũng cấnphải là người năng động, nhanh nhẹn, có tác phong của con người trong thời đại mới Bởiđây là dịch vụ có tính nhạy cảm cao nên công tác chăm sóc, phục vụ khách hàng lại càngtrở nên quan trọng Do vậy với bộ phận giao dịch trực tiếp với khách hàng, bên cạnhnhững yếu tố trên người cán bộ ngân hàng cần có thái độ niềm nở, chu đáo, tận tình phục

vụ khách hàng Đó là động lực để lôi kéo khách hàng đến sử dụng dịch vụ ngày càngđông, từ đó tăng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng cho ngân hàng

+ Chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ không chỉ được đánh giá thông quachất lượng phục vụ của nhân viên ngân hàng mà còn được đánh giá thông qua độ an toàn,chính xác và cập nhật trong xử lý nghiệp vụ, thủ tục đơn giản, thuận tiện trong giao dịch

và tốc độ xử lý giao dịch nhanh… Có thể nói chất lượng dịch vụ là yếu tố vô hình nhưng

có ý nghĩa sống còn trong kinh doanh dịch vụ của NHTM hiện nay Các NHTM đặt mụctiêu chăm sóc khách hàng bằng các dịch vụ hỗ trợ khách hàng trong quá trình sử dụngdịch vụ của mình Đồng thời đây cũng là một kênh bán hàng và tác nghiệp các dịch vụngân hàng hiện đại Nâng cao chất lượng dịch vụ sẽ thu hút nhiều khách hàng đến vớingân hàng, giúp cho thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng tăng cao

17

Trang 27

+ Năng lực tài chính: Năng lực tài chính đóng vai trò quan trọng trong hoạt độngcủa một ngân hàng, chỉ khi năng lực tài chính đủ mạnh thì ngân hàng mới có đủ vốn đểtrang bị các tài sản cần thiết cho việc kinh doanh của họ trong đó có hệ thống công nghệthông tin hiện đại Bên cạnh đó, vốn còn được dùng vào các hoạt động thiết thực khácnhư đi nghiên cứu thị trường, nghiên cứu dịch vụ mới,… Quan trọng hơn, một ngân hàng

có qui mô lớn sẽ dễ dàng tạo đươc sự tin cậy nơi khách hàng và các đối tác trong vàngoài nước Nếu vốn nhỏ sẽ không đủ lực để đa dạng các dịch vụ và nâng cao chiến lượctăng vốn dài hạn, theo những lộ trình thích hợp, phù hợp với nhu cầu phát triển và khảnăng kiểm soát của mỗi ngân hàng trong từng thời kì

+ Chính sách khách hàng: Khi cạnh tranh ngày càng gia tăng, công nghệ ngânhàng trên thế giới có nhiều thay đổi quang trọng và ngày càng đa dạng, khi sự thâmnhập của các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính khiến cạnh tranh ngàycàng gay gắt cùng việc thay đổi thị trường vốn truyền thống và nhu cầu của kháchhàng ngày càng đa dạng… Chính là lúc các ngân hàng cần quan tâm hơn nữa vềchính sách giá và chính sách khách hàng của minh Chính sách khách hàng là chínhsách mà các ngân hàng áp dụng để thể hiện chiến lược marketing ở cấp độ kháchhàng hoặc phân khúc khách hàng, dựa trên những quyết định được đưa ra để phân

bổ các nguồn lực hiện có của ngân hàng, mục đích cuối cùng là để cung cấp dịch vụnhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, từ đó đạt được mụctiêu tối đa lợi nhuận của ngân hàng

Một ngân hàng phải xác định được nhóm đối tượng khách hàng mà ngân hàngmình hướng tới để có thể đưa ra được chiến lược marketing phù hợp thu hút bộphận khách hàng đó đến sử dụng các dịch vụ của ngân hàng, góp phần tăng thunhập từ dịch vụ phi tín dụng

+ Trình độ công nghệ: Đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng cung ứngdịch vụ của các NHTM Một ngân hàng có trụ sở làm việc khang trang, bề thế, cơ sở vậtchất tiện nghi, đầy đủ sẽ tạo được tâm lý tổt và gay ấn tượng với mỗi khách hàng khi tớingân hàng, từ đó sẽ thu hút được khách hàng ngày càng đông và là yếu tố quan trọngtrong việc gia tăng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng

Trang 28

Mặt khác, mở rộng các loại hình dịch vụ, đặc biệt là các loai hình dịch vụ hiệnđại thì luôn có sự gắn kết chặt chẽ với yếu tố công nghệ Công nghệ cao giúp ngânhàng cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tiện ích, đáp ứng được nhu cầu củakhách hàng Bên cạnh những dịch vụ truyền thống, ngày nay khách hàng có nhu cầungày càng cao với những dịch vụ hiện đại, gắn liền với sự phát triển của khoa họccông nghệ như thanh toán bằng thẻ, các dịch vụ ngân hàng điện tử, máy rút tiền tựđộng ATM, máy đọc thẻ POS… Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ phi tíndụng sẽ góp phần rất lớn vào việc thu hút khách hàng đến với ngân hàng

+ Uy tín và thương hiệu của ngân hàng: Uy tín và thương hiệu của ngân hàng làyếu tố vô cùng quan trọng trong việc thu hút và phát triển khách hàng của các NHTM.Các ngân hàng có bề dày lịch sử phát triển, có uy tín trên thương trường thường đượckhách hàng tin tưởng sử dụng các dịch vụ phi tín dụng Trong thực tế, có những ngânhàng mặc dù chất lượng phục vụ chưa hoàn toàn tốt nhưng vì có thương hiệu mạnh, có

uy tín vẫn được khách hàng lựa chọn đế sử dụng dịch vụ

- Các nhân tố bên ngoài ngân hàng

+ Mô trường chính trị, pháp lý và hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đối với dịch vụ ngân hàng

Hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động dịch vụ phi tín dụng nói riêng củacác NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn của sự biến động về chính trị trong và ngoàinước Môi trường chính trị ổn định thì ngân hàng có điều kiện để phát triển tốt cáchoạt động của mình, thu được lợi nhuận cao và góp phần tăng trưởng kinh tế tốt Vàngược lại, môi trường chính trị bất ổn thì ngân hàng khó có thể hoạt động tốt và khó

có thể phát huy được vai trò của mình

Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định vàminh bạch sẽ là nhân tố thúc đẩy kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nóiriêng Đặc biệt là hoạt động dịch vụ phi tín dụng

+ Nhu cầu khách hàng: Một ngân hàng có thể có nhiều loại khách hàng khácnhau bao gồm khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp Khách hàng là trung tâmcủa hoạt động ngân hàng Việc hiểu được khách hàng muốn gì và làm thế nào

Trang 29

để phát triển dịch vụ phi tín dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là mụctiêu chiến lược của bất kì ngân hàng nào

Do vậy, các quyết định liên quan đến phát triển dịch vụ đều phải dựa trên nhucầu của khách hàng và xu hướng của khách hàng Giữa khách hàng cá nhân vàkhách hàng doanh nghiệp có sự khác nhau về dịch vụ ngân hàng và hành vi tiêudùng dịch vụ ngân hàng, ngân hàng nên tìm hiểu và thỏa mãn các nhu cầu của họ làđiều quan trọng và mang ý nghĩa sống còn đối với các ngân hàng

Nếu như các yếu tố tâm lý, lối sống, trình độ dân trí, phong tục tâp quán đều cóảnh hưởng đến nhu cầu của khách hàng cá nhân thì đối với nhóm khách hàng tổchức, chiến lược kinh doanh có vai trò quyết định Chiến lược kinh doanh đến lượt

nó lại chịu sự tác động của các yếu tố môi trường vi mô và vĩ mô Cuối cùng cácquyết định mua hàng của khách hàng tổ chức thường chịu ảnh hưởng lớn từ nềnkinh tế và các nhân tố nằm ngoài sự kiểm soát của họ Do đó, bên cạnh việc nhậnbiết các nhu cầu hiện tại, ngân hàng còn phải biết dự đoán các nhu cầu tương lại củakhách hàng, để có thể đưa ra những dịch vụ mới phù hợp với sự thay đổi của nhucầu khách hàng

+ Đối thủ cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh là một nguồn thông tin có giá trị đượccác nhà quản trị ngân hàng sử dụng để hỗ trợ cho việc ra quyết định liên quan đến pháttriển dịch vụ phi tín dụng Những hành động của đối thủ cạnh tranh sẽ cho chúng ta biết

họ nhận thức ra sao về xu hướng trên thị trường Theo dõi sát sao các chiến lược dịch vụcủa các đối thủ cạnh tranh sẽ là cơ sở pháp lý giúp cho ngân hàng thấu hiểu các dịch vụhiện tại trên thị trường, cơ sở để phát kiến các dịch vụ mới có tính cạnh tranh cao Điềunày có thể dùng để củng cố lại các giả định của chính ngân hàng về những thay đổi trênthị trường hoặc cảnh báo họ về việc đã bỏ qua một xu hướng quan trọng nào đó có thểgây ra nguy hại cho ngân hàng Một phần quan trọng của các ý tưởng về dịch vụ mới lạixuất phát từ đối thủ cạnh tranh dưới hình thức dịch vụ bắt chước Phát triển những dịch

vụ mới sẽ tạo điểu kiện cho ngân hàng thu hút sự quan tâm của khách hàng so với các đốithủ cạnh tranh

Trang 30

1.2.2 Sự tăng lên của thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng trong cơ cấu thu nhập của Ngân hàng.

Trong quá khứ, các NHTM đã có những nguồn thu nhập phi tín dụng từ các hoạtđộng như định giá, thư tín dụng, quản lý tài sản Với sự thúc đẩy từ các yếu tố cạnhtranh như tiến bộ công nghệ, hội nhập thị trường tài chính, đa dạng hóa các dịch vụ

đi kèm và cả sự thay đổi trong quy định, chính sách đã dẫn tới thu nhập phi tín dụngngày càng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu thu nhập của các ngânhàng DeYoung & Roland (2001) Một ngân hàng hoạt động hiệu quả cần tăng thunhập phi tín dụng Các ngân hàng nên đẩy mạnh các dịch vụ đi kèm dựa trên cáchoạt động cốt lõi của mình Như vậy việc tiếp tục phát triển và đẩy mạnh hoạt độngkinh doanh tín dụng, các ngân hàng đẩy mạnh các dịch vụ thu phí dựa trên hoạtđộng đó sẽ có nguồn thu nhập tốt vả ổn định hơn Theo Mndeme (2015), việc đadạng hóa nguồn thu là rất quan trọng tới hoạt động của ngân hàng Với sự phát triểnnhanh chóng của công nghệ, cạnh tranh về lãi suất và các đối thủ phi truyền thốngthì các ngân hàng không nên chỉ tập trung vào hoạt động tín dụng

Theo báo cáo của NHNNVN, tại các NHTM, từ một khoản mục nhỏ thì hiện tạithu nhập phi tín dụng đang dần trở thành yếu tố dẫn dắt không thể thiếu trong cơcấu lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Năm 2015, từ mức chỉ chiếm 12%tổng thu nhập HDKD (TOI) đã tăng lên 18% trong vòng 2 năm cho thấy sự thay đổitrong cơ cấu lợi nhuận đang dần có sự dịch chuyển trong những năm qua

Với thống kê về thu nhập từ hoạt động phi tín dụng trung bình của tác giả chothấy, kể từ năm 2008 tới năm 2017 Lợi nhuận từ hoạt động phi tín dụng đã tăng từmức 200 tỷ lên tới 1400 tỷ đồng, tăng 7 lần Tuy nhiên lợi nhuận ngoài lãi trong cácNHTM Việt Nam chỉ thực sự tăng trưởng mạnh và được chú trọng kể từ năm 2014với mức tăng từ 400 tỷ đồng lên 1400 tỷ đồng như hiện tại (Dữ liệu được thể hiện ởhình 3.9 trong bài nghiên cứu)

Sự tăng lên liên tục cả về số thực lẫn tỷ trọng của thu nhập phi tín dụng trong

cơ cấu thu nhập của Ngân hàng những năm gần đây phản ánh đúng xu hướng pháttriển của các Ngân hàng hiện tại Không chỉ chú trọng vào phát triển các sản phẩm

Trang 31

tín dụng truyền thống, các ngân hàng còn tập trung vào đầu tư vào xây dựng hạ tầngcông nghệ, cung cấp rất nhiều các dịch vụ nhằm tối ưu cho khách hàng như :Chuyển tiền nhanh giữa các ngân hàng, chuyển qua số thẻ, tạo tài khoản tiết kiệmonline…Những thao tác trước kia cần phải tới các chi nhánh, phòng giao dịch củangân hàng và dành nhiều thời gian thì hiện tại các dịch vụ này khách hàng có thể xử

lý thông qua internet

Không chỉ vậy, rất nhiều các sản phẩm tín dụng cần có sự hỗ trợ của các dịch

vụ phi tín dụng, áp dụng công nghệ mới có thể triển khai như thanh toán với bên thứ

ba, trung gian thanh toán, thanh toán thẻ tín dụng và vay tiêu dùng Các sản phẩmtín dụng mới này đang nằm trong hầu hết chiến lược phát triển của các ngân hàng

Do vậy tầm quan trọng của các mảng dịch vụ phi tín dụng là không phải bàn cãi Từ

đó doanh thu của mảng dịch vụ phi tín dụng cũng sẽ được nâng cao và tăng lênnhanh chóng

1.2.3 Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của Ngân hàng.

Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thường được đo lường bằng khả năngsinh lời của Ngân hàng Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng cơ bản dựa trên hai lýthuyết quyền lực thị trường (Market power) và lý thuyết cấu trúc hiệu quả (EfficientStructure) Lý thuyết quyền lực thị trường được chia thành hai trường phái Lýthuyết quyền lực thị trường tương đối và Lý thuyết cấu trúc, hành vi, hiệu quả Lýthuyết cấu trúc, hành vi, hiệu quả cho rằng cấu trúc của thị trường ảnh hưởng tớihành vi của Ngân hàng và hành vi của tổ chức tác động lên hiệu quả Trong khi đó

lý thuyết quyền lực thị trường tương đối cho rằng các ngân hàng chiếm thị phần lớn

và các sản phẩm khác biệt có thể kiếm lợi nhuận một cách cạnh tranh và thực hiệnquyền lực thị trường của mình

Trái ngược với lý thuyết quyền lực thị trường, lý thuyết cấu trúc hiệu quả chorằng mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả hoạt động của tổ chức đượcxác định bởi hiệu suất của công ty Theo đó các tổ chức đạt lợi nhuận cao hơn lànhững tổ chức hoạt động hiệu quả hơn Như vậy có thể thấy lý thuyết quyền lực thịtrường cho rằng nguyên nhân cốt lõi ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của ngân

Trang 32

hàng là yếu tố thị trường, tức yếu tố bên ngoài tổ chức trong khi lý thuyết cấu trúchiệu quả lại tập trung vào những nguyên nhân nội tại của ngân hàng tác động lênhiệu quả hoạt động của Ngân Hàng

Đường cơ sở đo lường lợi nhuận là một trong những công cụ đánh giá sức khỏe tàichính và hiệu quả hoạt động theo thời gian được các Ngân hàng sử dụng nhiều nhất.Khả năng sinh lời hay hiệu quả hoạt động của một tổ chức được đánh giá dựatrên phần lợi nhuận sau khi trừ đi các chi phí liên quan trực tiếp tới hoạt động sảnxuất, kinh doanh của tổ chức đó Khả năng sinh lời là một trong những chỉ tiêu cốtlõi của bất kỳ tổ chức nào trong cả chiến lược ngắn, trung và dài hạn trong điều kiệnkinh tế toàn cầu ngày nay Đạt được mục tiêu về lợi nhuận là một trong những mỗiquan tâm chính của các nhà quản lý Ngân Hàng và các nhà phân tích kinh tế vì nóảnh hưởng tới nền kinh tế chung Các phương pháp thích hợp nhất được áp dụngtrong việc xác định lợi nhuận của các NHTM là đánh giá thông qua các tỷ lệ tronglịch sử của ngân hàng cụ thể

Với xu thế chung trong các tổ chức tài chính nói chung và NHTM nói riêng, cácngân hàng sẽ dịch chuyển dần sang xử lý các thao tác trên hệ thống Các ngân hàng

số ra đời sẽ thực hiện nhiệm vụ của ngân hàng truyền thống như sale, phê duyệtkhoản vay, xác định hạn mức với khách hàng và thực hiện thu hồi nợ vay sẽ đượcthực hiện hoàn toàn trên các hệ thống Các sản phẩm vay truyền thống có xu hướngkết hợp với các sản phẩm, dịch vụ phi tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả và tiếp cậncũng như mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng Kết quả của xu hướng này sẽ làmgiảm đi các chi phí vận hành, hoạt động và làm tối ưu lợi nhuận của các ngân hàng.Các ngân hàng tại Việt Nam đã dần nhận thức được tầm quan trọng của việc xử

lý các thao tác trên các hệ thống, bằng chứng là việc các tổ chức cung cấp rất nhiềucác dịch vụ trên các ứng dụng của ngân hàng, việc đăng ký và sử dụng dịch vụ hoàntoàn có thể thực hiện tại bất kỳ đâu Các hệ thống phê duyệt, xử lý dữ liệu, quản lýkhoản vay cũng được đầu tư tự động hóa Việc tăng lên về thu nhập từ hoạt độngphi tín dụng cũng đồng nghĩa với việc chất lượng hoạt động dịch vụ của Ngân hàngđược nâng cao Tác động tích cực vào hiệu quả hoạt động của ngân hàng và đóng

Trang 33

góp nhiều hơn vào thu nhập của ngân hàng.

Với các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng dưới khía cạnh hiệuquả hoạt động tài chính như trên (Theo lý thuyết cấu trúc hiệu quả), việc đánh giáthông qua phần lợi nhuận của Ngân hàng sau khi chia cho Tài sản và VCSH làphương pháp đánh giá được sử dụng phổ biến và phản ánh đúng thực tiễn nhất Nhưtrong các bài nghiên cứu được tổng hợp trong mục tổng quan tình hình nghiên cứucũng như trong phần sau của bài viết trình bày

Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của Ngân hàng có thể phân làm hainhóm: Nhóm nhân tố bên trong ngân hàng và nhóm nhân tố bên ngoài ngân hàng.Nhóm nhân tố bên ngoài ngân hàng có thể kể tới như các nhân tố đại diện chomôi trường kinh tế, thể chế chính trị xã hội trong và ngoài nước, Tăng trưởng GDP,lạm phát và lãi suất

Lãi suất là một trong những nhân tố bên ngoài tác động một cách mạnh mẽ và rõràng nhất đối với hoạt động của ngân hàng Hoạt động tín dụng dựa trên việc huyđộng và cho vay, việc thay đổi lãi suất ảnh hưởng tới các tài sản của Ngân Hàng.Trong khi đó lạm phát có thể làm ảnh hưởng tới lợi suất cho vay của Ngân hàng vàdẫn tới tăng chi phí hoạt động của ngân hàng Các quy định của cơ quan quản lýnhư chính sách tiền tệ có thể trực tiếp ảnh hưởng tới kế hoạch kinh doanh của các tổchức tín dụng và Ngân hàng

Nhóm nhân tố bên trong ngân hàng như Quy mô ngân hàng (Size), Quy mô tíndụng (Loan), chi phí hoạt động (Overheads) và tỷ lệ an toàn vốn là những nhân tốphản ánh được thực trạng của doanh nghiệp cũng như những vấn đề, tình hình mộtcách bao quát nhất và các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng

Các ngân hàng thường được đánh giá thông qua quy mô của ngân hàng, Hầu hếtvới các ngân hàng có quy mô lớn đồng nghĩa với việc có khả năng hoạt động ổnđịnh, khách hàng lớn và rất nhiều các điểm cộng Có thể thấy rằng quy mô ngânhàng được dự báo có tác động tích cực lên hoạt động của ngân hàng

Quy mô tín dụng phản ánh quy mô cho vay của Ngân hàng Với các ngân hàng tạiViệt Nam, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh được tập trung phát triển và

Trang 34

mang lại lợi nhuận lớn nhất, một ngân hàng được đánh giá là tốt cần phải có quy môcho vay lớn và chiếm tỷ trọng cao Thực hiện cho vay là một trong những mục tiêulớn nhất và tạo sự khác biệt cho Ngân hàng Tuy nhiên đối với hiệu quả hoạt độngcủa một ngân hàng, quy mô cho vay có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực.

Chi phí hoạt động là chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động củaNgân hàng, có thể thấy các tổ chức ngân hàng lớn thường sẽ có chi phí hoạt độnglớn do các khoản mục như chi phí trả lương cho nhân viên… ở mức cao Tuy nhiênchi phí hoạt động lớn có thể đồng nghĩa với việc hoạt động kinh doanh phát triểnmạnh hoặc do kiểm soát chi phí không tốt, đặc biệt là với các NHTM tại Việt Nam,hiện tại các NHTM đang trong quá trình dịch chuyển, đầu tư vào hệ thống nhằmthay thế dần các công việc lặp đi lặp lại nhằm tăng hiệu suất công việc thì việc tối

ưu chi phí có thể chưa thực sự tốt ở một số tổ chức Ngân hàng Do vậy yếu tố chiphí hoạt động có thể tác động thuận chiều hoặc ngược chiều lên hiệu quả hoạt độngcủa NHTM

Nhân tố các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu vềdịch vụ của khách hàng, thường được đo đếm bằng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng,với các tổ chức ngân hàng cung cấp nhiều dịch vụ hoặc dịch vụ cao cấp thì thu nhập

từ dịch vụ phi tín dụng sẽ tăng lên và đóng góp vào thu nhập chung của Ngân hàng

Vì thu nhập từ dịch vụ tăng lên không trực tiếp kéo theo chi phí hoạt động tăng lênnên thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng, hay dịch vụ phi tín dụng có khả năng sẽ tácđộng tích cực lên hoạt động của Ngân hàng

Với mục tiêu của bài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thu nhập từ dịch vụ phitín dụng tới hiệu quả hoạt động của Ngân hàng, do vậy bài viết sẽ tập trung vào cácnhân tố bên trong ngân hàng để đưa vào mô hình

Theo Dao Le Kieu Oanh, Pham Anh Thuy (2012) đã nghiên cứu, thống kê chỉ

ra rằng dịch vụ phi tín dụng ngày càng chiếm tỷ trọng quan trọng trong hoạt độngcủa các ngân hàng trên thế giới Với sự phát triển của công nghệ và các quan điểmmới trong hoạt động kinh doanh như “Nền kinh tế chia sẻ”…và sự hợp tác sâu rộngtheo cả chiều rộng (Giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ) và chiều sâu (Giữa các

Trang 35

ngành dịch vụ trong một nền kinh tế) đã thúc đẩy các ngân hàng hàng đầu phát triểnmạnh các dịch vụ và cho rằng hoạt động phi tín dụng mang lại nguồn thu nhập cao

và ổn định, ít rủi ro hơn rất nhiều so với hoạt động tín dụng Các ngân hàng này đềucho rằng hoạt động phi tín dụng là hoạt động bổ sung cho hoạt động tín dụng và kỳvọng sẽ chiếm tỷ trọng cao hơn trong thu nhập của các Ngân hàng Có thể nói dịch

vụ phi tín dụng trong Ngân hàng mang lại lợi ích cho cả nhà cung cấp là các ngânhàng và người sử dụng dịch vụ là khách hàng

Doanh thu từ hoạt động tín dụng và phi tín dụng là hai nguồn thu chính củaNHTM, Đối với hoạt động tín dụng, đây là nguồn thu từ hoạt động kinh doanh cốtlõi của ngân hàng và luôn chiếm một tỷ trọng cao (>80%) Tuy nhiên những nămgần đây với việc bùng nổ của Internet, các công nghệ mới trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng như ATM, Live Banking và gần đây nhất là Blockchain đã khiến cho tốc

độ tăng trưởng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp tăng lên nhanh chóng Điều đóđồng nghĩa với việc nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng sẽ chiếm tỷ lệ lớn hơntrong cơ cấu thu nhập của các ngân hàng

Bên cạnh đó, giả thiết đưa ra việc các ngân hàng quá chú trọng vào việc tăng thunhập phi tín dụng có thể ảnh hưởng tới thu nhập từ lãi, Khi muốn tăng lên thu nhậpphi tín dụng, các Ngân hàng có thể phải lựa chọn tăng phí các dịch vụ mình cungcấp Trong giai đoạn cạnh tranh về công nghệ và trải nghiệm của khách hàng được

đề cao, điều đó có thể dẫn tới việc các khách hàng sử dụng dịch vụ tín dụng tiềmnăng có thể lựa chọn các ngân hàng khác dẫn tới việc ảnh hưởng tới lợi nhuận từhoạt động tín dụng nói riêng và lợi nhuận gộp của ngân hàng nói chung Do vậy, cácNHTM đứng trước một sự đánh đổi và mong muốn đạt đến điểm cân bằng tối ưu.Đây chính là nguyên do của việc chạy mô hình hồi quy nhằm tìm lời đáp cho câuhỏi: Liệu có phải ngân hàng có tỷ lệ thu ngoài lãi cao là những ngân hàng hoạt độnghiệu quả cao hay không?

Giả thiết với nghiên cứu tại Việt Nam có cùng kết quả với các nghiên cứu đượcthực hiện tại các NHTM ở các quốc gia có nền tài chính phát triển cộng với hệthống hạ tầng công nghệ tốt cho rằng ảnh hưởng tích cực của thu nhập phi tín dụng

Trang 36

lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng, với những lý do có thể giải thích cho kết quảtrên như với sự phát triển của thị trường tài chính và công nghệ, khách hàng cónhiều nhu cầu về các dịch vụ mà NHTM cung cấp hơn, việc tối ưu và hạn chế phảitới các phòng giao dịch, chi nhánh là ưu tiên của các tổ chức Do vậy các NHTM sẽtập trung đầu tư cho các sản phẩm phi tín dụng một cách nghiêm túc Qua đó vừanâng cao doanh thu của tổ chức đồng thời giảm được chi phí và ảnh hưởng một cáchtích cực lên hiệu quả hoạt động của Ngân hàng.

Tuy nhiên không loại trừ khả năng, việc các NHTM tập trung vào các tiện íchcung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, sự cạnh tranh từ cácđối thủ truyền thống như Ngân hàng và các đối thủ phi truyền thống như các công tyFintech… có thể dẫn tới ảnh hưởng sự tập trung của các Ngân hàng Việt Nam vớihoạt động tín dụng Với nguồn vốn dành cho hoạt động là cố định, các Ngân hàngđầu tư cho các hoạt động phi tín dụng ở mức cao sẽ dẫn tới giảm quy mô tín dụng,phát sinh nợ xấu và trong dài hạn sẽ làm ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động của Ngânhàng Nói cách khác, việc tăng lên về doanh thu từ hoạt động phi tín dụng có thểảnh hưởng tiêu cực lên hiệu quả hoạt động của Ngân hàng tại Việt Nam

Trang 37

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Xây dựng mô hình kinh tế lượng.

Trong thời gian gần đây, thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng ngày càng chiếm tỷtrọng lớn trong cơ cấu thu nhập của Ngân hàng Trong vòng 3 năm kể từ 2014 tới

2017, thu nhập từ dịch vụ trung bình trong số các NHTM tại Việt Nam được thuthập dữ liệu đã tăng lên từ 500 tỷ lên mức 1400 tỷ Kết quả của việc tăng các dịch

vụ cung cấp và tăng thu nhập đã giúp cho thu nhập phi tín dụng của các ngân hàngthương mại tại Việt Nam tăng lên nhanh trong thời gian qua Tuy nhiên, theo một sốnghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc tập trung vào tăng trưởng thu nhập phi tín dụng cóthể khiến khách hàng từ bỏ sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng, bao gồm cảcác sản phẩm tín dụng Cụ thể có thể do việc nâng phí các dịch vụ của Ngân hàng,gây khó khăn cho khách hàng khi sử dụng hoặc tập trung phát triển dịch vụ thay vìcác sản phẩm tín dụng Qua đó có thể dẫn tới việc các NHTM phải đặt ra bài toánlựa chọn giữa thu nhập phi tín dụng hay thu nhập từ dịch vụ tín dụng Và việc tăngtrưởng thu nhập phi tín dụng sẽ ảnh hưởng thế nào lên cơ cấu thu nhập cũng nhưhiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam

Theo các nghiên cứu được thực hiện tại một số ngân hàng tại các quốc gia khácnhư Wright (2011), Bodla & Verma (2007) và Robert DeYoung & Tara Rice (2003)

đã chỉ ra các ngân hàng có xu hướng tăng đầu tư và cung cấp các dịch vụ khácngoài tín dụng, dẫn tới thu nhập từ hoạt động phi tín dụng tăng lên một cách nhanhchóng Không chỉ vậy ở những ngân hàng này, thu nhập từ hoạt động phi tín dụngcòn mang lại ảnh hưởng tích cực lên hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Theo kếtquả nghiên cứu của các bài viết này, việc đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật sẽ đáp ứngđược nhu cầu của khách hàng tốt hơn, tăng nguồn thu một cách ổn định và hỗ trợ tốtcho hoạt động tín dụng

Không chỉ đóng vai trò quan trọng của hoạt động phi tín dụng lên hoạt động củaNHTM mà còn mang lại rất nhiều tác dụng cho khách hàng, điều này trực tiếp mang lạinguồn khách hàng lớn cho hoạt động tín dụng Các dịch vụ phi tín dụng có thể giúpkhách hàng tiết kiệm thời gian, không cần tới các chi nhánh hay phòng giao

Trang 38

dịch như trước, cung cấp thông tin kịp thời hiệu quả cho khách hàng và khiến chohoạt động tài chính hiệu quả hơn Với những thống kê cũng như các lập luận về ảnhhưởng của hoạt động phi tín dụng lên hoạt động chung của ngân hàng, và lợi nhuậncủa hoạt động phi tín dụng lên thu nhập cũng như hiệu quả hoạt động cần đượckiểm định một cách chặt chẽ và đi trả lời cho câu hỏi nghiên cứu của đề tài.

Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu về ảnh hưởng của thu nhập phi tín dụng lênhiệu quả hoạt động của ngân hàng, bài nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình hồi quy vớicác biến độc lập được lựa chọn thể hiện được quy mô của ngân hàng, hoạt động củangân hàng bao gồm: Tỷ lệ an toàn vốn, Quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, quy

mô cho vay và lợi nhuận ngoài lãi Biến phụ thuộc được lựa chọn để đánh giá hiệuquả hoạt động của ngân hàng bao gồm tỷ suất sinh lời trên tài sản ROA và tỷ suấtsinh lời trên Vốn chủ sở hữu ROE Việc lựa chọn các biến phụ thuộc là ROA, ROE

và các biến độc lập như trên do trong quá trình nghiên cứu, việc tìm hiểu các bàinghiên cứu tương tự tại các quốc gia khác như nhóm tác giả Alaaeddin Al-Tarawneh et al (2017) thực hiện tại các ngân hàng thương mại cổ phần tại Jordanianvới các biến độc lập bao gồm: Lợi nhuận phi tín dụng, Chỉ tiêu về quy mô, chi phíhoạt động và quy mô cho vay lên biến phụ thuộc ROA cho thấy sự phù hợp để cóthể trả lời câu hỏi nghiên cứu, đồng thời phù hợp với các NHTM tại Việt Nam Chitiết về các biến sẽ được trình bày trong phần tiếp theo của bài nghiên cứu

2.1.1 Hệ thống các biến độc lập sử dụng trong mô hình

2.1.1.1 Capital Adequacy (Tỷ lệ an toàn vốn)

Tỷ lệ an toàn vốn (Capratio) được tính toán dựa theo Vốn chủ sở hữu trên tàisản Chỉ tiêu này cho thấy được sự so sánh giữa vốn đầu tư của chủ sở hữu (Tổng tàisản) và phần vốn nợ của Ngân Hàng Capratio là một trong những chỉ tiêu để đánhgiá tình trạng của một ngân hàng, nếu ngân hàng có tỷ lệ này ở mức cao hơn so vớimặt bằng chung của các ngân hàng khác tương đồng thì trong đánh giá của nhà đầu

tư hoặc khách hàng có thể được đánh giá cao hơn so với các tổ chức có tỷ lệ nàythấp Tỷ lệ an toàn vốn ở mức cao so với mặt bằng chung của các Ngân hàng chothấy ngân hàng đó đang thể hiện sự thận trọng và có thể bỏ qua các cơ hội đầu tưsinh lời Ngược lại, theo Rogers và Sinkey (1999) chỉ ra các ngân hàng với mức

Trang 39

an toàn vốn cao có khả năng sinh lời tốt hơn từ các dịch vụ, hoạt động phi truyềnthống Tỷ lệ này được đánh giá tốt hay không còn phụ thuộc vào chiến lược kinhdoanh của ngân hàng và tình kình kinh tế vĩ mô Tuy nhiên tỉ lệ này luôn phải lớnhơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo tính an toàn trong hoạtđộng của tổ chức Với nguồn vốn dành cho cả hoạt động tín dụng và phi tín dụng là

cố định, việc các ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn thấp khi quyết định đầu tư vào hoạtđộng phi tín dụng có thể dẫn tới việc phần vốn cho hoạt động tín dụng bị ảnhhưởng, ngược lại sẽ phải đánh đổi hoạt động dịch vụ Với nhu cầu phát triển và đòihỏi từ phía khách hàng với các dịch vụ của ngân hàng, rất khó khăn để cắt giảm đầu

tư cho hoạt động phi tín dụng Tuy nhiên việc giảm nguồn vốn cho hoạt động tíndụng là không thực sự phù hợp vì đây là nguồn thu chính của ngân hàng

Trong nghiên cứu của mình Damankah et.al (2014) đã chỉ ra mối quan hệ tíchcực giữa tỷ lệ an toàn vốn và thu nhập của các Ngân hàng, tuy nhiên nếu các ngânhàng có ty lệ đòn bẩy cao (Tức tỷ lệ an toàn vốn thấp) tham gia vào cung cấp cácdịch vụ phi truyền thống sẽ có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực lên mối quan hệ giữathu nhập lãi thuần và tỷ lệ an toàn vốn Dựa theo nghiên cứu được thực hiện bởiKarakaya & Er (2013) cho thấy ROA tại các ngân hàng có độ an toàn vốn cao vàquy mô vốn lớn sẽ cao hơn Do đó, bài nghiên cứu kỳ vọng tỷ lệ an toàn vốn có ảnhhưởng tích cực với hiệu quả hoạt động của NHTM

2.1.1.2 Overheads (Chi phí vận hành)

Chi phí vận hành của một tổ chức là những chi phí bỏ ra để vận hành tổ chức

đó Chi phí này là vô cùng quan trọng của một tổ chức, cung cấp sự hỗ trợ cần thiết

để tạo ra lợi nhuận, do vậy đây là chi phí gián tiếp Chi phí vận hành thể hiện đượcviệc vận hành trên toàn hệ thống, chi phí này bao gồm chi phí chi trả lương cho laođộng, chi phí thuê văn phòng, chi nhánh… Theo nghiên cứu của Karakaya & Er(2013) tại các ngân hàng Thổ nhĩ kỳ, Các ngân hàng quy mô lớn có chi phí vậnhành cao hơn so với các ngân hàng nhỏ Với chi phí vận hành lớn sẽ tác động tiêucực tới lợi nhuận của ngân hàng và hoạt động chưa hiệu quả Cùng kết quả nghiêncứu, Bashir (2003) cho rằng việc sử dụng tiến bộ về khoa học công nghệ như ATM,

Trang 40

Internet và các thiết bị tự động hóa khác sẽ giúp làm giảm chi phí vận hành củaNgân hàng xuống và đồng thời tăng doanh thu của tổ chức Chi phí vận hành là mộtchỉ tiêu quan trọng trong việc vận hành tổ chức, các ngân hàng luôn muốn kiểm soáttốt chi phí vận hành nhằm tối ưu hóa lợi nhuận, tuy nhiên với tổ chức như Ngânhàng, mảng hoạt động vận hành là vô cùng quan trọng, nếu giảm thiểu chi phí này

có thể gây ra việc giảm doanh thu của tổ chức

Bài nghiên cứu cho rằng Overheads có ảnh hưởng tiêu cực đên hiệu quả hoạt độngcủa Ngân hàng

2.1.1.3 Loans (Hoạt động cho vay)

Hoạt động cho vay là việc ngân hàng và khách hàng thống nhất theo một thỏathuận về vốn vay, thời hạn và lãi xuất mà người vay sẽ phải trả cho Ngân hàng Đây

là một trong những hoạt động kinh doanh chính và là một trong những nguồn thuquan trọng của Ngân hàng Theo Bashir (2003) cho rằng các khoản vay được kỳvọng sẽ ảnh hưởng tích cực tới lợi nhuận của các ngân hàng Tuy nhiên cần phảixem xét tới các biến động về kinh tế Mối quan hệ giữa các khoản vay và lợi nhuậncủa Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào sự thay đổi của nền kinh tế và chính sách tàichính Trong thời kỳ kinh tế không ổn định, số lượng và quy mô khách hàng vay cóthể giảm xuống và khả năng rủi ro từ những khoản vay này cũng tăng lên Do vậycác NHTM cần tối đa hóa lợi nhuận trong bối cảnh kinh tế thuận lợi và hạn chế rủi

ro khi nền kinh tế tiêu cực Trong nghiên cứu của mình, DeYoung and Roland(2001) đã đưa ra 3 nguyên nhân tại sao sự tăng lên của thu nhập trong ngân hàng là

do thu nhập phi tín dụng Lý do đầu tiên là thu nhập từ các khoản vay có mối quan

hệ mật thiết với giá vốn của các khoản vay đó nên tính biến động thấp hơn so vớicác khoản thu nhập phi tín dụng Lý do thứ hai, để có thể tăng lên về quy mô cáckhoản vay thì cần phải tăng lên chi phí lãi vay, trong khi đó để tăng thu nhập từ dịch

vụ cần tăng chi phí hoạt động Do đó thu nhập phi tín dụng sẽ yêu cầu về đòn bẩyhoạt động lớn hơn hoạt động cho vay khiến cho thu nhập ngân hàng dễ tổn thươnghơn Lý do cuối cùng được đưa ra là các hoạt động tín dụng thường được yêu cầu vềviệc nắm giữ các tài sản tương ứng, trong khi đó hoạt động dịch vụ thì không nên

Ngày đăng: 11/10/2020, 19:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w