1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản trị tài sản ngắn hạn các công ty cổ phần ngành nhựa trên sàn hose nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần bao bì nhựa tân tiến

93 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 557,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN 1 1.1 Tài sản ngắn hạn và đặc điểm của tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến quản trị tài sản ngắn1.1.1 Tài sản ngắn hạn-Các thành phần tài sản

Trang 1

TRẦN THỊ THỦY TIÊN

QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN CÁC CÔNG

TY CỔ PHẦN NGÀNH NHỰA TRÊN SÀN HOSE – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG

TY CỔ PHẦN BAO BÌ NHỰA TÂN TIẾN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60.31.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN TẤN HOÀNG

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011

Trang 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN 1 1.1 Tài sản ngắn hạn và đặc điểm của tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến quản trị tài sản ngắn

1.1.1 Tài sản ngắn hạn-Các thành phần tài sản ngắn hạn 1 1.1.2Đặc điểm của tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến việc quản trị tài sản ngắn hạn 1 1.2 Quản trị tài sản ngắn hạn – Sự cần thiết phải quản trị tài sản ngắn hạn 2

1.3 Nghiên cứu các mô hình quản trị tài sản ngắn hạn ở một số nước trên thế giới-Bài học

1.3.2 Mô hình ABC (Activy-Based-Costing)-Phương pháp phân bổ chi phí 16

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN

2.1 Tình hình tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-201022 2.1.1 Đặc thù ngành nhựa ảnh hưởng đến tình hình đầu tư tài sản ngắn hạn của các công ty

2.1.1.2 Đặc thù ngành nhựa quyết định cơ cấu tổng tài sản 25

Trang 3

2.1.3 Tính tương thích giữa tài sản và nguồn vốn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai

2.1.4 Hiệu quả sử dụng và khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành

2.2 Tình hình quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn

2.2.1 Đặc thù ngành nhựa ảnh hưởng đến tình hình quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty

2.2.2 Hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn

Trang 4

nhựa trên sàn HOSE 63

3.1.1.2 Xây dựng và phát triển các mô hình dự báo tiền mặt 64

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần bao bì nhựa

Kết luận chương 3

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN 1.1 Tài sản ngắn hạn và đặc điểm của tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến quản

trị tài sản ngắn hạn

1.1.1 Tài sản ngắn hạn-Các thành phần tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và

quản lý của doanh nghiệp, bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu, tham gia vào

một chu kỳ sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào giá thành

sản phẩm làm ra Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái

tiền, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải

thu

Thành phần của tài sản ngắn hạn gồm:

Tiền mặt bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng dưới dạng tiền gửi

không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn

Các khoản phải thu: phát sinh khi doanh nghiệp bán chịu hàng hóa cho

khách hàng và các khoản phải thu này sẽ trở thành tiền mặt trong tương lai gần

Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm

1.1.2 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến việc quản trị tài sản

ngắn hạn

Các tài sản ngắn hạn có ba đặc điểm sau: thay đổi hình thái vật chất ban

đầu, tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị một

lần vào giá thành sản phẩm nên những đặc điểm này có ảnh hưởng đến việc quản

trị tài sản ngắn hạn

Trang 6

Theo chu kỳ hoạt động giản đơn, tiền mặt của doanh nghiệp sẽ được thay thếbằng tồn kho nguyên liệu và tồn kho thành phẩm Khi hàng hóa được bán đi,hàng tồn kho sẽ trở thành các khoản phải thu và sau cùng là trở thành tiền mặt khikhách hàng thanh toán các khoản nợ phải thu Sau khi tham gia vào một chu kỳsản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn sẽ bị thay đổi hình thái vật chất so với banđầu và chuyển toàn bộ giá trị vào giá trị sản phẩm làm ra.

Thời gian mà tài sản ngắn hạn tồn tại dưới dạng hàng tồn kho và khoản phảithu càng lâu thì doanh nghiệp sẽ bị khó khăn trong thanh toán, giá trị của doanhnghiệp sẽ bị giảm sút Vì vậy, ở mỗi giai đoạn, doanh nghiệp phải đưa ra cácquyết định tối ưu để làm tăng giá trị của doanh nghiệp; chẳng hạn doanh nghiệp

sẽ quyết định tồn quỹ bao nhiêu là tối ưu để không ảnh hưởng đến việc thanhtoán cho các khoản nợ do mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, tồn kho hànghoá bao nhiêu là tối ưu để chi phí tồn trữ là thấp nhất và không ảnh hưởng đếnhoạt động sản xuất của doanh nghiệp; và khi hàng hóa tồn kho được bán chokhách hàng thì doanh nghiệp quyết định xem có nên bán chịu cho khách hàngkhông

1.2 Quản trị tài sản ngắn hạn – Sự cần thiết phải quản trị tài sản ngắn hạn 1.2.1 Sự cần thiết phải quản trị tài sản ngắn hạn

Giá trị các loại tài sản ngắn hạn của công ty thường chiếm 25% đến 50%tổng giá trị tài sản Quản trị và sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnhhưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của công ty Các

vụ phá sản trong kinh doanh có thể là do nhiều yếu tố, nhưng nếu công ty khônghoạch định và kiểm soát một cách thích đáng các loại tài sản ngắn hạn và cáckhoản nợ ngắn hạn thì cũng sẽ dễ dẫn đến thất bại

Vì vậy, quản trị tài sản ngắn hạn để tối ưu hóa cơ cấu tài sản sao cho tổng chi phí đạt được tối thiểu mà vẫn duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh bình

thường của công ty

Trang 7

Sự cần thiết phải dự trữ hàng tồn kho

Hàng hóa tồn kho gồm có ba loại: nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thànhphẩm Nguyên vật liệu là những nguyên liệu và bộ phận, linh kiện rời do cáccông ty mua và sử dụng trong quá trình sản xuất Trong sản xuất nếu công ty muanguyên liệu với số lượng quá lớn hay quá nhỏ đều không đạt hiệu quả tối ưu Bởinếu mua với số lượng quá lớn sẽ chịu nhiều chi phí tồn trữ và rủi ro do hàng hóa

bị hư hao, mất mát Mặt khác, nếu mua nguyên liệu với số lượng quá nhỏ có thểdẫn đến gián đoạn sản xuất

Do đó, công ty sẽ có lợi khi mua vừa đủ nguyên liệu để phục vụ cho sảnxuất Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng côngđoạn của dây chuyền sản xuất Thông thường, không thể có sự đồng bộ hoàn toàngiữa các công đoạn sản xuất, bởi các bộ phận sản xuất không thể có cùng côngsuất hoạt động trong mọi thời điểm Bởi vậy, mỗi công đoạn sản xuất đều có mộtlượng tồn kho riêng, nếu không có một lượng nguyên liệu hay bán thành phẩm dựtrữ nào đó thì một công đoạn sẽ hoàn toàn bị lệ thuộc vào các bộ phận đứng trước

đó Do đó, các loại nguyên vật liệu tồn kho có tác dụng tạo ra sự thông suốt vàtính hiệu quả trong quá trình sản xuất Dây chuyền sản xuất càng dài, và các côngđoạn sản xuất càng nhiều sẽ dẫn tới nhu cầu tồn kho càng lớn

Trang 8

Cuối cùng, thành phẩm tồn kho tạo thành khoảng an toàn cần thiết giữa sảnxuất và tiêu thụ Những công ty có đặc điểm kinh doanh mang tính mùa vụ và cóquy trình sản xuất tốn nhiều thời gian thường có thành phẩm tồn kho lớn, bởi nhucầu đối với sản phẩm trong những mùa tiêu thụ vượt quá năng lực sản xuất củacông ty và ngược lại Do đó, các công ty cần phải có sản phẩm dự trữ.

Bên cạnh tác dụng duy trì khả năng hoạt động thông suốt của dây chuyềnsản xuất và các hoạt động phân phối, các loại hàng hóa tồn kho còn có tác dụngngăn chặn những bất trắc trong sản xuất Chẳng hạn, nguyên liệu tồn kho cầnđược duy trì để làm giảm tính không chắc chắn của sự chậm trễ ngoài dự kiếntrong vận chuyển, giao hàng Dĩ nhiên sự chậm trễ này có thể xảy ra bởi rất nhiều

lý do như sự mất khả năng cung ứng đột ngột của nhà cung cấp, do thiên tai hay

do sự chậm trễ trong vận chuyển

Mục tiêu của việc quản trị hàng tồn kho

Hàng tồn kho là một trong những tài sản có giá trị lớn nhất trong tổng giá trịtài sản của một công ty, thông thường giá trị hàng tồn kho chiếm 40% tổng giá trịtài sản của công ty

Bản thân vấn đề tồn kho luôn có hai mặt trái ngược nhau, với quan điểm củangười sản xuất người ta luôn tìm cách giảm phí tổn bằng cách giảm lượng tồnkho, còn với quan điểm của người tiêu thụ thì sẽ luôn mong muốn có nhiều hàng

dự trữ để không có sự thiếu hụt

Vì vậy, mục tiêu của việc quản trị hàng tồn kho là xác định một mức độ cân bằng giữa mức độ đầu tư cho hàng tồn kho phục vụ sản xuất và thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng một cách kịp thời đúng lúc với chi phí tối thiểu nhất.

Các chi phí liên quan đến việc dự trữ hàng tồn kho

Chi phí tồn trữ là những chi phí liên quan đến việc tồn trữ hàng hóa, gồm

những khoản sau: chi phí cho việc bảo quản hàng tồn kho, chi phí cho các trang thiết bị bảo quản hàng tồn kho, chi phí bốc xếp hàng hóa, chi phí hư hỏng và thiệt

Trang 9

hại do hàng tồn kho bị lỗi thời, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế và chi phí đầu tưvào hàng tồn kho, tiền lương trả cho nhân viên trong kho và nhân viên điềuhành

Chi phí đặt hàng hay chi phí chuẩn bị cho việc thực hiện một đơn hàng bao

gồm: chi phí hoa hồng cho người giới thiệu, chi phí cho liên lạc giao dịch, chi phíđàm phán ký hợp đồng, chi phí nhận và kiểm tra hàng hóa, chi phí hải quan, vậnchuyển…

Chi phí thiệt hại khi không có hàng (hàng tồn kho hết): xảy ra khi công ty

không có khả năng giao hàng vì nhu cầu hàng lớn, lượng vật liệu tồn kho không

đủ để duy trì sản xuất thì chi phí thiệt hại do không có nguyên liệu sẽ bao gồmchi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do ngừng trệ sản xuất

Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả-Mô hình EOQ (Economic Ordering Quantity)

Mô hình EOQ là một mô hình quản trị hàng tồn kho mang tính định lượng

và có thể sử dụng để tìm mức tồn kho tối ưu cho công ty

Khi áp dụng mô hình EOQ thì phải thỏa mãn hai điều kiện là nguồn hàngcung cấp cho công ty phải ổn định và số liệu kế toán phải trung thực, số liệuthống kê phải đầy đủ thì thông tin về các khoản chi phí mới được phản ánh chínhxác, từ đó lượng tồn kho xác định mới chính xác

Mô hình EOQ được xây dựng dựa trên một số giả thuyết căn bản sau:

- Công ty phải dự đoán chính xác nhu cầu sử dụng các loại hàng hóa

- Công ty phải biết trước khoảng cách giữa hai lần đặt hàng

- Sản lượng đơn đặt hàng được công ty thực hiện trong một chuyến hàng tại một thời điểm đã định trước

- Công ty không được chiết khấu theo số lượng mua hàng, dù hàng mua nhiều hay ít đều không được giảm giá

Trang 10

- Chỉ có hai loại chi phí phù hợp là chi phí đặt hàng và chi phí tồn trữ còn chi phí mua hàng thì không đổi.

- Công ty có thể xác định chính xác khi nào cần phải đặt hàng nên không có

sự thiếu hụt hàng trong kho

Mô hình EOQ được thiết lập nhằm tìm mức tồn kho tối ưu cho công ty hay nhằm tối thiểu hóa tổng phí tồn kho.

Trong đó: Q*: lượng hàng dự trữ tối ưu

S : lượng nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ O : chi phí cho mỗi lần đặt hàng

C : chi phí lưu trữ cho mỗi đơn vị tồn kho

Mô hình cung ứng đúng thời điểm-Just-in-time

Hệ thống quản lý hàng tồn kho đúng thời điểm Just-in-time là một phần củaquá trình quản lý sản xuất nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và thờigian sản xuất bằng cách loại bỏ bớt những công đoạn kém hiệu quả gây lãng phí

Hệ thống cung ứng đúng thời điểm (tồn kho bằng 0) cho rằng tất cả các mặt hàngcần thiết có thể được cung cấp trực tiếp cho các giai đoạn hoạt động sản xuấtkinh doanh một cách chính xác cả về thời điểm giao hàng lẫn số lượng hàng đượcgiao thay vì phải dự trữ thông qua tồn kho

Mô hình tồn kho bằng 0 hiệu quả nhất đối với các công ty có những hoạtđộng sản xuất mang tính lặp đi lặp lại Việc sử dụng hệ thống tồn kho just-in-timeđòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp, bởi vì bất kỳ một

sự gián đoạn nào trong quá trình cung ứng cũng có thể gây tổn thất cho nhà

Trang 11

sản xuất vì nhà sản xuất sẽ gánh chịu các chi phí phát sinh do ngừng trệ sản xuất hay mất doanh thu bán hàng.

1.2.2.2 Quản trị tiền mặt

Sự cần thiết phải dự trữ tiền mặt

Cũng giống như hàng tồn kho, việc dự trữ tiền mặt là để làm thông suốt quátrình sản xuất kinh doanh Có ba động cơ để công ty duy trì tồn quỹ, đó là:

Động cơ hoạt động, giao dịch là một việc bình thường ở mọi công ty, mức

tồn quỹ tiền mặt được hoạch định nhằm đáp ứng kịp thời các khoản chi tiêu phục

vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh như trả tiền hàng, trả lương, nộp thuế…

Động cơ đầu cơ là một phản ứng trước dự báo khan hiếm, biến động giá cả

hàng hóa nguyên vật liệu hoặc biến động tỷ giá hối đoái trên thị trường như muanguyên vật liệu giảm giá tức thời…để gia tăng lợi nhuận

Động cơ dự trữ là một hành động dự phòng trước khả năng gia tăng nhu cầu

chi tiêu do tăng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhanh chóng đápứng những cơ hội kinh doanh đột xuất

Mục tiêu của việc quản trị tiền mặt

Mặc dù tiền mặt là tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, nhưng tồn quỹtiền mặt làm mất đi cơ hội sinh lời của đồng tiền Để không đánh mất cơ hội sinhlời của tiền, công ty sẽ chuyển những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi vào đầu tưchứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ nhằm mục đích sinh lời Nhưng việcchuyển đổi từ tiền mặt sang chứng khoán đầu tư ngắn hạn và ngược lại phải tốnkém một số chi phí giao dịch nhất định

Vì vậy, mục tiêu của việc quản trị tiền mặt là tối thiểu hóa số lượng tiền mặt tồn quỹ để duy trì cho các hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của công

ty

Kiểm soát thu chi tiền mặt

Một nguyên tắc đơn giản trong quản trị tiền mặt là tăng tốc độ thu hồi những

Trang 12

tấm séc được nhận và chậm viết séc chi trả Nguyên tắc này cho phép công ty duytrì mức chi tiêu tiền mặt trong nhiều giao dịch kinh doanh ở một mức thấp hơn,

do đó có nhiều tiền hơn cho đầu tư Tăng tốc độ thu hồi và giảm tốc độ chi tiêu làhai khuynh hướng có liên quan chặt chẽ với nhau trong quản trị tiền mặt

Các chi phí liên quan đến việc lưu giữ tiền mặt

Quản trị tiền mặt giống như quản trị hàng tồn kho vì cả hai đều là nguyênvật liệu dùng trong sản xuất Vì vậy, các chi phí liên quan đến việc quản trị tiềnmặt cũng giống như quản trị hàng tồn kho, cụ thể như sau:

Khi lượng tiền mặt xuống thấp, công ty sẽ bán chứng khoán để thu tiền về,

do đó công ty phải mất phí giao dịch cố định cho mỗi lần bán chứng khoán vàloại chi phí này tương đương với chi phí đặt hàng trong quản trị hàng tồn kho.Khi dự trữ tiền mặt, công ty sẽ mất đi chi phí cơ hội, tức là mất lãi suất tiềngửi và chi phí này tương đương với chi phí tồn trữ trong quản trị hàng tồn kho

Mô hình quản trị tiền mặt hiệu quả-Mô hình EOQ

Các mô hình thường được dùng để quản trị tiền mặt là mô hình EOQ, môhình Miller-Orr Các mô hình đều xem tiền mặt như một loại hàng hóa tồn kho vàmỗi hoạt động giao dịch sẽ làm thay đổi nguồn tiền mặt đang nắm giữ Trong mộtthời điểm, các mô hình sẽ giúp xác định khối lượng và thời gian chuyển đổi qualại giữa tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn

Mô hình tối ưu hóa tồn quỹ tiền mặt thực chất là sự cân bằng giữa tồn quỹ tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn theo thời gian.

Mô hình EOQ dựa trên các giả định:

- Công ty định kỳ nhận được một lượng tiền mặt ổn định, nhưng đồng thời cũng phải liên tục chi tiền ra theo một tỷ lệ ổn định

- Nhu cầu tiền mặt trong một thời điểm (tháng, quý, năm) của công ty có thể

dự báo trước một cách chính xác

Trang 13

- Khi số dư tiền mặt ban đầu giảm xuống bằng khơng hay ở mức an tồn tốithiểu thì số dư tiền mặt lập tức sẽ được tăng lên do việc bán chứng khốn với khốilượng xác định nhằm đạt được số dư tiền mặt ban đầu.

Nếu gọi S là tổng thanh tốn tiền mặt trong năm, F là chi phí cho mỗi lần giao dịch bán chứng khốn, i là lãi suất và Q* là lượng dự trữ tiền mặt tối ưu.Cơng thức như sau:

Q* =

Mơ hình Miller-Orr

Trong thực tế, các cơng ty khơng thể ước tính dịng tiền mặt thu vào và chi

ra từng ngày Do đĩ, nhà quản trị tài chính cĩ thể cho phép một mức tồn quỹ tốithiểu nào đĩ và sẽ tiến hành các giao dịch mua hay bán chứng khốn khi quỹ tiềnmặt tăng hay giảm đến mức tồn quỹ này Các cơng ty cĩ vị thế tài chính thấpthường mức tồn quỹ tối thiểu cao hơn những cơng ty lớn, cĩ tiềm lực tài chínhmạnh, bởi họ cĩ thể mua hay bán chứng khốn ngay thời điểm cần thiết

Mơ hình Miller-Orr xác định khoảng cách giữa giới hạn trên và giới hạndưới là:

Giới hạn trên là tín hiệu mua vào một giá trị chứng khốn đủ để làm tiền mặt

dư thừa giảm xuống mức tồn quỹ tối thiểu

Giới hạn dưới là tín hiệu bán ra một giá trị chứng khốn đủ để làm số dư tiềnmặt tăng lên đến mức tồn quỹ tối thiểu

Khoảng cách = 3x3 3/4 phương sai tiền mặt thanh toán x chi phí môi lần bán chứng khoán

lai suất

1.2.2.3 Quản trị khoản phải thu

Sự cần thiết của việc gia tăng khoản phải thu

Các cơng ty bán hàng thích thu tiền mặt hơn là bán chịu, nhưng các áp lựccạnh tranh trên thị trường buộc hầu hết các cơng ty phải cung cấp tín dụng chokhách hàng, tức bán chịu hàng hĩa cho khách hàng Nếu khơng bán chịu hàng

Trang 14

hóa thì công ty sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó mất đi lợi nhuận Khi bán chịucho khách hàng, hàng hóa sẽ được gửi đi, hàng tồn kho sụt giảm và một khoảnphải thu được tạo lập Vì vậy, hầu hết các công ty đều phải chấp nhận bán chịu.Khoản phải thu của công ty phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố nhưtình hình kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm và chính sách bán chịucủa công ty.

Rủi ro tín dụng từ việc gia tăng khoản phải thu

Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ công ty do mua chịu hàng hóa hoặcdịch vụ Có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưngvới mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soátnổi Khi công ty chấp nhận bán chịu cho khách hàng, cho dù thời gian chậmthanh toán dài hay ngắn thì cũng có nghĩa là chấp nhận sự tồn tại của rủi ro vềviệc khách hàng không trả được nợ Vì vậy, kiểm soát khoản phải thu liên quanđến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro Nếu công ty bán chịu hàng hóa quánhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng có nguy cơ phát sinh các khoản nợ khóđòi, do đó, rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng Vì vậy, công ty cần cóchính sách bán chịu cho phù hợp

Mục tiêu của việc quản trị khoản phải thu

Khoản mục khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán là tài khoản theo dõitình hình bán chịu của công ty Đối với các công ty thường xuyên bán chịu chokhách hàng, khoản phải thu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản

Dưới góc độ quản trị, các giám đốc tài chính có thể gia tăng giá trị cho vốn

cổ đông bằng cách tác động đến việc đầu tư vào khoản phải thu, xác định thờihạn bán chịu và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn bán chịu Bởi vì, một khoản tỷ lệkhoản phải thu cao cũng là một tín hiệu cho thấy công ty có nhiều khoản phải thuthanh toán không đúng hạn hoặc thậm chí là nợ xấu, khó đòi hoặc nếu công tyxây dựng một chính sách bán chịu không phù hợp sẽ mất khách hàng, giảm

Trang 15

doanh thu hoặc không thu hồi được nợ, làm giảm tính thanh khoản của công ty vàgiá trị vốn cổ đông.

Quản trị tốt khoản phải thu sẽ làm tăng giá trị vốn cổ đông, quản trị kém sẽ

Các chi phí liên quan đến quản trị khoản phải thu

Khi công ty bán chịu cho khách hàng có thể làm tăng chi phí trong hoạtđộng của công ty, chi phí đòi nợ, chi phí phải trả cho nguồn tài trợ để bù đắp cho

sự thiếu hụt ngân quỹ Thời gian bán chịu càng dài thì chi phí càng lớn

Các mô hình quản trị khoản phải thu

Quản trị khoản phải thu (khoản bán chịu) bao gồm: thiết lập chính sách bánchịu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, hướng dẫn, giám sát và kiểm soát toàn diệnkhoản bán chịu

Ở mỗi mô hình được đề cập dưới đây, công ty phải xem xét trên nhiều khíacạnh: thực hiện mô hình đó thì ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận, chi phí như thếnào? Lợi nhuận có đủ bù đắp cho chi phí, hoặc giảm chi phí có đủ bù đắp thiệt hại

do giảm lợi nhuận không? Khi đã trả lời được một cách thỏa đáng các câu hỏi thìcông ty sẽ đề ra quyết định đúng đắn

Trang 16

MH1 - Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu

MH2 - Mô hình thắt chặt chính sách bán chịu

MH3 - Mô hình mở rộng thời hạn bán chịu

Trang 17

MH4 - Mô hình rút ngắn thời hạn bán chịu

MH5 - Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu

MH6 - Mô hình giảm tỷ lệ chiết khấu

Trang 18

MH7 - Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu có xét đến ảnh hưởng của rủi

ro từ bán chịu

MHTQ - Mô hình tổng quát để ra quyết định quản trị khoản phải thu

1.3 Nghiên cứu các mô hình quản trị tài sản ngắn hạn ở một số nước trên thế giới-Bài học kinh nghiệm cho các công ty cổ phần ngành nhựa

1.3.1 Mô hình Pareto

Vào năm 1897, Vilfredo Pareto, một nhà kinh tế học người Italia, trong khiđang học về sự phân bố của cải và thu nhập tại nước Anh trong thế kỷ 19, đã pháthiện ra, phần lớn diện tích đất đai và thu nhập được kiểm soát bởi một lượng nhỏ

số người trong xã hội Trên thực tế, 20% dân số kiểm soát đến 80% của cải và thunhập

Trang 19

Richard Kock, người sáng lập ra Bain&Co và BCG Consultant, từng khẳngđịnh rằng: “20% việc chúng ta làm tạo ra 80% kết quả, nhưng 80% công việc cònlại chỉ tạo ra được 20% kết quả cuối cùng mà thôi Chúng ta đang phí phạm 80%thời gian của mình vào những việc kém hiệu quả”

Trong kinh doanh, chúng ta nhận thấy rằng chỉ có khoảng 20% khách hàngđem lại hầu hết lợi nhuận cho công ty, còn 80% khách hàng còn lại thì khôngđem lại nhiều lợi nhuận

Vì vậy, dựa vào quy luật Pareto, kỹ thuật phân tích ABC được đề xuất đểphân loại hàng tồn kho thành 3 nhóm A, B, C dựa vào giá trị hàng năm củachúng

Giá trị hàng năm được xác định bằng cách lấy tích 2 thừa số: Nhu cầu hàngnăm của loại hàng tồn kho và phí tổn cho mỗi đơn vị hàng tồn kho và tính theotừng loại hàng

Tiêu chuẩn cụ thể của từng nhóm hàng tồn kho được xác định như sau:Nhóm A: Bao gồm những loại hàng tồn kho có giá trị hàng năm cao nhất,chúng có giá trị từ 70-80% so với tổng giá trị hàng tồn kho, nhưng về mặt số lượng chúng chỉ chiếm 15% tổng số hàng tồn kho

Trang 20

Nhóm B: Bao gồm những loại hàng tồn kho có giá trị hàng năm ở mức trungbình, chúng có giá trị từ 15-25% so với tổng giá trị hàng tồn kho, nhưng về mặt

số lượng chúng chỉ chiếm 30% tổng số hàng tồn kho

Nhóm C: Bao gồm những loại hàng tồn kho có giá trị hàng năm nhỏ, giá trịhàng năm chỉ chiếm khoảng 5% tổng giá trị hàng tồn kho, tuy nhiên số lượngchúng chiếm khoảng 55% so với tổng số hàng tồn kho

Việc phân nhóm hàng tồn kho là cơ sở để đề ra các chính sách hoạt độngkiểm soát riêng biệt những loại hàng tồn kho

Các công ty cổ phần ngành nhựa có thể dựa vào mô hình này để phân loạinhóm khách hàng đem lại nhiều doanh thu cho công ty để tập trung nguồn lựcvào nhóm khách hàng này và phân loại hàng tồn kho để kiểm soát từng nhómhàng, trong đó hàng tồn kho thuộc nhóm A thì cần được ưu tiên đầu tư thíchđáng

1.3.2 Mô hình ABC (Activy-Based-Costing)-Phương pháp phân bổ chi phí

ABC là một mô hình tập hợp những thông tin tài chính và phi tài chính gắnliền với những hoạt động cần thiết trong công ty để sản xuất các sản phẩm, bằngcách nối kết việc tiêu thụ tài nguyên trong công ty với sản phẩm và dịch vụ đượcsản xuất ra và được chuyển giao cho các khách hàng

Phương pháp ABC xác định toàn bộ nguồn chi phí hoạt động, sau đó phân

bổ chi phí đó theo sản phẩm hay dịch vụ dựa trên khối lượng hoạt động hay giaodịch xảy ra trong quá trình cung cấp dịch vụ hay sản phẩm

Mô hình ABC được áp dụng phân bổ chi phí cho tất cả các hoạt động củacông ty Nhưng do phạm vi nghiên cứu hạn hẹp, nên ở đây mô hình ABC chỉ đềcập đến quản trị tài sản ngắn hạn

Mô hình ABC có thể được dùng như một sự thay thế cho phương pháp địnhgiá hàng tồn kho truyền thống hoặc được dùng như là một mô hình riêng biệt chỉđược thiết kế để thu thập thông tin chính xác hơn cho các quyết định quản trị

Trang 21

Nếu mô hình ABC thay thế hệ thống định giá truyền thống với giá thành toàn bộthì mô hình này sẽ trở thành phương pháp định giá hàng tồn kho và khi đó môhình ABC chạy xuyên suốt vĩnh viễn trong các tài khoản tồn kho của doanhnghiệp Nếu ABC được dùng như là một mô hình riêng biệt để hỗ trợ ra cácquyết định quản trị, thì sẽ được xác định 1 lần trong năm, và khi đó ABC khôngđược dùng trong định giá hàng tồn kho của doanh nghiệp.

Trong quản trị hàng tồn kho, mô hình ABC giúp tập hợp các chi phí liênquan đến từng loại hàng tồn kho, từ đó công ty sử dụng mô hình EOQ để xácđịnh được mức tồn kho tối ưu cho từng loại hàng tồn kho

Với phương pháp ABC, công ty có thể xác định chính xác lợi nhuận mỗikhách hàng mang lại và giúp định vị sản phẩm và dịch vụ tương ứng Sau khi trừchi phí sản phẩm và chi phí phục vụ cho từng khách hàng sẽ tính được lợi nhuậnkhách hàng mang lại Từ mô hình này, công ty có thể phân tích các nhóm kháchhàng và sản phẩm có thể đem lại lợi nhuận cho công ty và tập trung vào nhómnày

1.3.3 Mô hình Lean-Quản lý sản xuất tinh gọn

Kỹ thuật Lean tập trung loại bỏ tất cả những lãng phí trong quá trình sảnxuất Khoa thực nghiệm thiết kế Hệ thống sản xuất của Trường Đại HọcMassachusetts (Mỹ) đã đưa ra định nghĩa như sau: “Kỹ thuật Lean là sự tập trungvào việc loại bỏ những lãng phí tại mọi khu vực của sản xuất bao gồm: nhữngmối liên hệ với khách hàng, thiết kế sản phẩm, hệ thống phân phối và hoạt độngquản lý của nhà máy Mục tiêu của kỹ thuật Lean là kết hợp nguồn nhân lực ít,hiệu quả, giảm thiểu tồn kho, giảm thiểu thời gian phát triển sản phẩm, ít khônggian thừa để dễ dàng đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong khi vẫn sảnxuất ra sản phẩm có chất lượng tốt trong việc sử dụng hiệu quả những nguồn lựchạn chế của doanh nghiệp.”

Trang 22

Khi áp dụng phương pháp Lean, công ty phải nhận dạng được các lãng phí

và từng bước loại bỏ chúng một cách có hệ thống Các lãng phí thường hiện diện

đa dạng dưới những hình thức sau đây:

- Sản xuất dư thừa: sản xuất ra nhiều hơn yêu cầu của khách hàng

- Tồn kho: dư thừa nguyên liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm…

- Chờ đợi: do thiếu nguyên phụ liệu, linh kiện, hướng dẫn, thông tin, chờ xétduyệt…

- Vận chuyển: nguyên vật liệu để ở một nơi xa dây chuyển sản xuất, phải tốnnhân lực và máy móc để vận chuyển

- Thao tác: tìm kiếm vật dụng, thiết bị, di chuyển hoặc thao tác không hợp lýgây mệt mỏi…

- Gia công quá mức cần thiết so với yêu cầu khách hàng, sửa chữa hàng bịlỗi…

- Chất lượng: không ổn định, phế phẩm, công nhân ở các giai đoạn sau phảichờ đợi do không có chi tiết để làm , kéo dài thời gian tạo ra sản phẩm gây lãng phí

- Lãng phí con người: chất xám, kiến thức, kinh nghiệm của nhân viên không được tiếp thu, tập hợp, chia sẻ…

Khi công ty quyết định bắt tay vào thực hiện Lean, bước đầu tiên là phải ghinhận lại các hoạt động cụ thể xảy ra trong suốt tiến trình cung cấp sản phẩm, dịch

vụ Quá trình lập sơ đồ chuỗi giá trị sẽ giúp công ty nhìn thấy hiện trạng hoạtđộng bao gồm các bước thực hiện công việc, quá trình di chuyển của thông tin vàgiấy tờ, thời gian xử lý ở từng công đoạn; tổng thời gian thực hiện một giao dịchđối với khách hàng Sau khi đã có thông tin để nhận ra sự lãng phí cũng như nhìnthấy các cơ hội cải tiến, công ty sẽ thiết lập mô hình hoạt động trong tương lai đểcải thiện theo từng giai đoạn mỗi sáu tháng hay một năm Mỗi công ty có thểcùng lúc có nhiều sơ đồ chuỗi giá trị tùy vào tính chất đặc thù của các nhóm sản

Trang 23

phẩm, dịch vụ hay nhóm đối tượng khách hàng Trường hợp công ty nhận thấy cóquá nhiều vấn đề phải cải tiến trong khi thời gian và nguồn lực lại có hạn, hãy tậptrung vào các vấn đề đơn giản trước nhằm tạo động lực ban đầu.

Đối với các công ty cổ phần ngành nhựa, nguyên liệu chủ yếu là nhập khẩunên các công ty thường dự trữ nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất Nếu hàngtồn kho quá nhiều sẽ làm tăng chi phí, gây lãng phí Vì vậy, các công ty ngànhnhựa có thể áp dụng mô hình Lean để loại bỏ những lãng phí trong quá trình sảnxuất, gia tăng thêm lợi nhuận cho công ty

1.3.4 Quản lý tiền mặt thông qua hệ thống ngân hàng

Chi hộ lương-hoa hồng đại lý

Công ty sẽ nhờ các tổ chức mà công ty mở tài khoản giao dịch tại đó chi hộlương-hoa hồng cho nhân viên, hoa hồng cho đại lý của công ty theo yêu cầu củacông ty bằng cách ghi nợ tài khoản tiền gửi thanh toán tại các ngân hàng

Khi ngân hàng chi hộ lương cho công ty thì sẽ thu phí theo biểu phí củangân hàng trong từng thời kỳ Ngân hàng có thể chi bằng tiền VND, USD hayngoại tệ khác tùy theo công ty chỉ định

Các hình thức chi hộ của ngân hàng:

- Chi trả bằng tiền mặt tại văn phòng, trụ sở của công ty hoặc tại các địa điểm do công ty chỉ định

- Chi trả bằng chuyển khoản

Khi công ty sử dụng sản phẩm này sẽ có những tiện ích sau:

- Tiết kiệm quản lý tiền mặt, chi phí nhân công, công cụ và phương tiện làmviệc

- Tiết kiệm thời gian kiểm đếm đồng thời tránh được rủi ro vận chuyển tiềnmặt Hưởng được các dịch vụ hỗ trợ miễn phí như: SMS Banking, eBanking, HomeBanking…

- Bảo mật thông tin về tiền lương cho nhân viên

Trang 24

- Chi tiền nhanh chóng, chính xác.

- Nhân viên sử dụng thẻ ATM để rút tiền

Thu chi hộ tiền mặt Thu hộ tiền mặt

Công ty sẽ đăng ký sử dụng dịch vụ thu hộ tiền mặt Qua đó, ngân hàng màcông ty mở tài khoản giao dịch thực hiện thu tiền mặt từ các văn phòng, trụ sởcông ty hoặc từ các địa điểm do công ty chỉ định và chuyển vào tài khoản củacông ty tại ngân hàng giao dịch

Mục đích của việc thu hộ tiền mặt giúp công ty có doanh số thu tiền mặt lớnnhanh chóng đưa tiền vào tài khoản phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.Khi sử dụng sản phẩm này, công ty sẽ có tiện ích:

- Giảm thiểu rủi ro trong việc lưu trữ, vận chuyển, kiểm đếm tiền mặt

- Công ty được hưởng lãi trên số dư tiền mặt

- Tập trung tiền mặt về tài khoản thường xuyên, nâng cao hiệu quả sử dụngvốn

- Tiết kiệm thời gian và chi phí Chi hộ tiền mặt

Công ty sẽ đăng ký sử dụng dịch vụ chi hộ tiền mặt với ngân hàng Qua đóngân hàng thực hiện trích tiền từ tài khoản của công ty tại ngân hàng mở tàikhoản giao dịch để chi trả tiền mặt tại văn phòng, trụ sở của công ty hoặc các địađiểm do khách hàng chỉ định

Mục đích của việc chi hộ tiền mặt giúp công ty có nhu cầu thanh toán tiềnhàng cho đối tác của công ty tại trụ sở của đối tác

Khi sử dụng sản phẩm này, công ty sẽ có tiện ích:

- Giảm thiểu rủi ro do vận chuyển và kiểm đếm tiền mặt

- Tiết kiệm thời gian và chi phí

- Chi tiền nhanh chóng, chính xác và hiệu quả

Trang 25

Kết luận chương 1

Thông qua chương 1 tác giả đã trình bày một số nội dung liên quan đếnquản trị tài sản ngắn hạn như quản trị hàng tồn kho, quản trị tiền mặt và quản trịkhoản phải thu Nghiên cứu các mô hình quản trị tài sản ngắn hạn trên thế giới,bài học kinh nghiệm cho các công ty cổ phần ngành nhựa Với các nội dung cơ sở

lý luận mà tác giả đã trình bày làm tiền đề để nghiên cứu, đánh giá thực trạng củacác công ty cổ phần ngành nhựa trên sàn HOSE-nghiên cứu trường hợp Công ty

cổ phần bao bì nhựa Tân Tiến, từ đó tác giả đề xuất các giải pháp cải thiện

Trang 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÁC CÔNG TY

CỔ PHẦN NGÀNH NHỰA TRÊN SÀN HOSE 2.1 Tình hình tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010

2.1.1 Đặc thù ngành nhựa ảnh hưởng đến tình hình đầu tư tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010

Ngành nhựa Việt Nam hiện đang đầu tư và phát triển trên tất cả các lĩnh vựcvới cơ cấu sản phẩm đa dạng được chia làm 4 nhóm ngành chính:

• Nhóm sản phẩm nhựa bao bì: dẫn đầu thị trường với 39% thị phần của ngành bao gồm các sản phẩm như: bao bì rỗng (chai nhựa, lọ nhựa), bao bì đơn, bao bì kép, bao bì nhựa phức hợp, các loại thùng nhựa…

• Nhóm sản phẩm nhựa dùng trong vật liệu xây dựng: chiếm khoảng 21% thị phần

bao gồm các sản phẩm: ống nước và các phụ kiện ống nước, tấm lợp, tấm trần…

• Nhóm sản phẩm nhựa gia dụng: chiếm khoảng 21% thị phần bao gồm các sản

phẩm: đồ dùng gia dụng (bàn ghế, tủ kệ, chén dĩa nhựa…), đồ chơi nhựa, giày dép…

• Nhóm sản phẩm nhựa kỹ thuật cao: chiếm 19% thị phần bao gồm các sản phẩm như phụ kiện nhựa dùng trong lắp ráp ôtô, xe máy, các thiết bị nhựa dùng trong ngành điện, điện

tử, giả da, nhựa PU, composite…

Trang 27

Theo ước tính, nhóm ngành bao bì nhựa sẽ đạt mức tăng trưởng cao nhất so vớimức tăng trưởng của các dòng sản phẩm khác do nhu cầu tăng cao Cơ cấu sảnphẩm ngành nhựa đang dịch chuyển theo xu hướng nâng cao tỷ trọng các sảnphẩm nhựa bao bì.

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành nhựa ViệtNam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ thuật về giacông chất dẻo, trong khi đó lại không chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vàocho hoạt động sản xuất Hiện nay, mỗi năm ngành nhựa cần trung bình khoảng2,2 triệu tấn các loại nguyên liệu đầu vào như PE, PP, PS…tương đương vớikhoảng 2,1 tỷ USD/năm và hàng trăm loại hóa chất phụ trợ khác nhau; trong khikhả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 450.000 tấn nguyên liệu.Theo báo cáo của Hiệp hội nhựa Việt Nam, hiện nay gần 80-90% nguyên liệunhựa phải nhập khẩu, việc nhập khẩu các loại nguyên liệu nhựa đã không ngừngtăng về số lượng cũng như giá trị nhập khẩu Như vậy, ngành nhựa mới chỉ chủđộng được khoảng 10–20% nguyên liệu đầu vào, còn lại phải nhập khẩu hoàntoàn khiến cho hoạt động sản xuất của ngành bị phụ thuộc rất nhiều vào nguồnnguyên liệu từ nước ngoài

Bên cạnh đó, giá thành sản xuất của ngành nhựa cũng bị biến động theo sựbiến động của giá cả nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đặt biệt là sự biến động vềgiá của 2 loại nguyên liệu được sử dụng nhiều trong sản xuất là PP và PE Giánhập khẩu các loại nguyên liệu nhựa luôn có sự biến động theo sự biến động củagiá dầu thế giới Sự tăng mạnh của giá nguyên liệu đã tạo sức ép lớn đến hoạtđộng sản xuất của các doanh nghiệp nhựa Việt Nam, làm giảm sức cạnh tranhcủa các sản phẩm nhựa Việt Nam trên thị trường nội địa cũng như trên thị trườngxuất khẩu, do giá nguyên liệu thường chiếm 75-80% giá thành của sản phẩm Vìvậy, các doanh nghiệp nhựa phải cân đối, dự trữ nguồn nguyên liệu đầu vào đểphục vụ cho sản xuất

Trang 28

Do ngành nhựa Việt Nam phải nhập khẩu 80%-90% nguyên liệu đầu vào, vìvậy, tỷ giá hối đoái và giá nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu tỷ giá tăng thì chi phí đầu vào của doanhnghiệp cũng sẽ tăng theo, nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến giánguyên vật liệu đầu vào, giá thành sản phẩm và làm giảm hiệu quả hoạt động vàlợi nhuận của doanh nghiệp.

Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành không cao: Do sựphân bổ không đồng đều của các doanh nghiệp trong cả nước nên mức độ cạnhtranh cũng khác nhau ở những khu vực khác nhau Khoảng 76% các doanhnghiệp trong ngành tập trung ở khu vực phía Nam, nên mức độ cạnh tranh caohơn so với khu vực miền Bắc và miền Trung Hầu hết các doanh nghiệp ngànhnhựa đều có những sản phẩm đa dạng và những phân khúc thị trường khác nhau

và những khách hàng truyền thống nên sự cạnh tranh trực tiếp là rất thấp

Quy mô ngành nhựa Việt Nam trong những năm gần đây có sự phát triểnnhanh chóng Đến nay toàn ngành có khoảng 2.000 doanh nghiệp trải dài từ Bắcvào Nam và tập trung chủ yếu tại TP.HCM (chiếm hơn 80%), đa số thuộc thànhphần kinh tế tư nhân Đến hết năm 2010 có 16 doanh nghiệp ngành nhựa niêmyết trên thị trường chứng khoán, trong đó có 5 doanh nghiệp với vốn điều lệ trên

100 tỷ đồng (BMP, RDP, TPC, TTP và NTP) Do đó, ROE và ROA cao, hiệu quả

sử dụng tài sản của ngành nhựa tốt, các doanh nghiệp có sự linh hoạt và thuận tiệntrong việc quản lý các hoạt động của mình

Các doanh nghiệp ngành nhựa ít đầu tư tài chính như các ngành nghề khác nên lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính khá thấp hoặc không có

Toàn thị trường bình quân tỷ lệ nợ luôn chiếm lớn hơn 50% tổng tài sản,nhưng ngành nhựa con số này chỉ xấp xỉ 30%, tức các doanh nghiệp sử dụng đònbẩy tài chính một cách thận trọng và an toàn, đa phần các doanh nghiệp nhựa tàitrợ cho tài sản bằng vốn chủ sở hữu

Trang 29

2.1.1.2 Đặc thù ngành nhựa quyết định cơ cấu tổng tài sản

Với những đặc thù của ngành nhựa thì trong cơ cấu tổng tài sản của một

doanh nghiệp trong ngành, tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với tài sản dài hạn.

Trong cơ cấu tổng tài sản của mỗi doanh nghiệp gồm có 2 thành phần: tàisản ngắn hạn và tài sản dài hạn

+ Tài sản ngắn hạn gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phảithu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác

+ Tài sản dài hạn gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, tài sản dài hạn khác

Qua thực tế đặc thù của ngành nhựa cho thấy:

• Ngành nhựa đang có tốc độ phát triển cao nên các doanh nghiệp phải sản xuất với

số lượng lớn đủ đáp ứng cho nhu cầu thị trường -> đầu tư sản xuất khối lượng thành phẩm lớn.

• Nguồn nguyên liệu nhập khẩu đến 90%, chiếm 80% giá vốn hàng bán, biến động tỷ

lệ thuận với giá dầu, tỷ giá hối đoái Do đó, các doanh nghiệp nhựa phải dự trữ hàng tồn kho

lớn để đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu sản xuất cung cấp cho thị trường và phòng ngừa rủi ro

biến động tỷ giá -> đầu tư dự trữ tồn kho nguyên vật liệu lớn.

• Tiêu thụ sản phẩm thông qua đại lý phân phối, cửa hàng bán lẻ và gia công cho các ngành khác nên các khách hàng hầu hết là khách hàng truyền thống nên luôn phải có chính

sách bán chịu để giữ chân khách hàng -> khoản phải thu lớn.

• Nhu cầu thị trường ngày càng nhiều trong bối cảnh nguyên vật liệu ngày càng biến

động, có hệ thống phân phối rộng khắp nên cácchi phí liên quan đến tiền rất cao -> tiền rất cần

thiết để duy trì cho các hoạt động của công ty diễn ra một cách liên tục.

Trang 30

Như vậy, qua phân tích cho thấy: tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanhhàng ngày của doanh nghiệp chủ yếu gắn liền với các khoản mục tài sản ngắnhạn.

Do đó có thể nói: tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với tài sản dàihạn trong cơ cấu tài sản của các doanh nghiệp ngành nhựa

2.1.1.3 Đặc thù ngành nhựa ảnh hưởng đến đầu tư tài sản ngắn hạn

Từ đặc thù của ngành nhựa, các công ty trong ngành sẽ quyết định đến việcđầu tư tài sản ngắn hạn như thế nào và chú trọng vào nguồn tài sản ngắn hạn nào:hàng tồn kho, khoản phải thu hay tiền mặt? Hay nói cách khác, nguồn tài sảnngắn hạn nào sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn của các công tyngành nhựa Tỷ số khả năng thanh toán được sử dụng để đánh giá nguồn tài sảnngắn hạn nào chiếm tỷ trọng lớn

Bảng 2.1: Tỷ số thanh toán trung bình ngành nhựa

Tỷ số thanh toán nhanh (trừ hàng tồn kho) 1.46 1.50 1.60

Tỷ số thanh toán nhanh (trừ khoản phải thu) 1.39 1.52 1.67

(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)

Từ bảng thống kê 2.1 cho thấy: tỷ số thanh toán trung bình của toàn ngànhqua các năm 2008-2010 lần lượt là: 2.39, 2.42, 2.9 Tỷ số khả năng thanh toáncủa công ty khá cao và tăng qua các năm, điều đó cho thấy khả năng thanh toán

nợ ngắn hạn của các công ty trong ngành là khá tốt Nhưng vấn đề quan tâm ởđây không phải là khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của các công ty trong ngành

Trang 31

mà là tìm hiểu với đặc thù ngành nhựa thì tỷ trọng các thành phần trong tài sảnngắn hạn, thành phần nào chiếm ưu thế.

Xem xét các tỷ số thanh toán nhanh (trừ khoản mục hàng tồn kho), tỷ sốthanh toán nhanh (trừ khoản mục khoản phải thu), tỷ số thanh toán nhanh (trừkhoản mục tiền mặt) trung bình toàn ngành từ năm 2008-2010 nhận thấy:

So với tỷ số thanh toán hiện hành khi có hàng tồn kho thì tỷ số thanh toánnhanh đã loại bỏ hàng tồn kho chỉ bằng khoảng 60%, lần lượt năm 2008 là 61%,năm 2009 là 62%, năm 2010 là 55% -> hàng tồn kho các công ty trong ngànhchiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu tài sản ngắn hạn Điều này phù hợp với đặc thùngành khi mà các công ty phụ thuộc nhiều vào biến động giá nguyên vật liệu sảnxuất, không chủ động được nguồn nguyên vật liệu nên phải duy trì hàng tồn kholớn, tránh rủi ro trong việc tăng giá sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu lợi nhuận.Xem xét tiếp đến tỷ số khả năng thanh toán nhanh (đã trừ khoản phải thu) sovới khả năng thanh toán hiện hành của toàn ngành qua các năm 2008-2010 nhậnthấy: tỷ số này bằng 60% so với tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ số này bằng tỷ sốthanh toán nhanh (đã trừ hàng tồn kho)

Và khi xem xét đến tỷ số khả năng thanh toán nhanh (đã trừ tiền mặt) với tỷ

số khả năng thanh toán hiện hành thì biến động không cao Các tỷ số này gầnbằng với tỷ số khả năng thanh toán hiện hành, chỉ ít hơn khoảng 13%

Như vậy, qua việc xem xét các tỷ số thanh toán trung bình toàn ngành, cóthể chứng minh rằng: với đặc thù ngành nhựa có những đặc điểm riêng biệt đãquy định các công ty trong ngành phải:

- Tỷ trọng hàng tồn kho và khoản phải thu là lớn nhất, trong đó tỷ trọng hàng tồn kho lớn nhằm tránh biến động giá cả.

- Tiếp theo là tỷ trọng tiền mặt.

Tuy nhiên có phải các công ty trong ngành đều theo xu hướng này? Ta xem xét chi tiết hơn các công ty ngành nhựa trên sàn HOSE:

Trang 32

(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)

Nhìn vào bảng thống kê tỷ trọng tiền mặt so với tổng tài sản ngắn hạn củacác công ty ngành nhựa nhận thấy: tiền mặt chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng tàisản ngắn hạn của các công ty Mỗi công ty có tỷ trọng dự trữ tiền mặt khác nhau.Các công ty dự trữ tiền mặt để thanh toán tiền hàng, lãi vay và xử lý những tìnhhuống khẩn cấp…Đặc trưng của các doanh nghiệp sản xuất thường duy trì lượngtiền mặt một thời gian dài vì vòng quay tiền mặt chậm hơn các ngành khác do bịchiếm dụng vốn cao

Nhìn vào bảng thống kê tỷ trọng khoản phải thu 2.3 có thể thấy được chínhsách quản lý khoản phải thu của các doanh nghiệp Trung bình tỷ trọng khoảnphải thu của các doanh nghiệp qua các năm lần lượt là 2008 chiếm khoảng42.49%, năm 2009 chiếm khoảng 40.59%, năm 2010 chiếm khoảng 41.07% giátrị tài sản ngắn hạn

Trang 33

Bảng 2.3: Tỷ trọng khoản phải thu/Tài sản ngắn hạn các công ty ngành

nhựa từ năm 2008-2010

(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)

Ta thấy năm 2008 công ty nhựa Đông Á bị chiếm dụng vốn nhiều nhất, tỷtrọng khoản phải thu chiếm 66.92% giá trị tài sản ngắn hạn Công tác quản trị tíndụng của công ty không tốt, để vốn bị chiếm dụng nhiều, bán hàng không thuđược tiền Nhưng đến năm 2009, 2010, tỷ trọng khoảng phải thu của công ty lầnlượt giảm 45.79%; 35.86% do công ty đã chú trọng hơn việc quản trị khoản phảithu, tránh để vốn bị chiếm dụng, làm giảm khả năng thanh toán của công ty

(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)

Hàng tồn kho luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản ngắn hạn do đặc thù

Trang 34

ngành là trong giá thành sản phẩm phụ thuộc vào 80% giá nguyên vật liệu vàđiều này ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy mà các doanhnghiệp thường duy trì hàng tồn kho cao Nếu dự trữ hàng tồn kho cao sẽ gây ứđọng vốn, dự trữ thấp có thể bị rủi ro như không đủ hàng bán, hoặc thiếu nguyênvật liệu để sản xuất khi đơn hàng tăng đột xuất, dẫn đến mất lợi thế cạnh tranh.Nhìn vào bảng thống kê cho thấy công ty nhựa Tân Tiến hàng tồn khochiếm tỷ trọng tương đối thấp, chứng tỏ công ty kinh doanh tốt, bán được nhiềuhàng Ngược lại, với công ty nhựa Rạng Đông tỷ trọng hàng tồn kho luôn chiếmhơn 60% giá trị tài sản ngắn hạn.

2.1.2 Tình hình tài sản ngắn hạn trong cơ cấu tài sản của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010

Ở đây chỉ khảo sát một số doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM như:

- Công ty cổ phần nhựa Tân Đại Hưng-TPC

- Công ty cổ phần nhựa Tân Hoá-VKP

- Công ty cổ phần tập đoàn nhựa Đông Á-DAG

- Công ty cổ phần nhựa Bình Minh-BMP

- Công ty cổ phần nhựa Rạng Đông-RDP

- Công ty cổ phần bao bì nhựa Tân Tiến-TTP

Với những đặc trưng của ngành nhựa đã quyết định tỷ trọng tài sản ngắn hạncao hơn tài sản dài hạn trong tổng tài sản của một công ty Để chứng minh chođiều này, ta xem xét bảng thống kê 2.5 dưới đây về cơ cấu tài sản ngắn hạn

Trang 35

Bảng 2.5: Tỷ trọng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản các công ty ngành nhựa

Giá trị trọng Giá trị trọng Giá trị trọng

Nhựa Tân Đại

2 Nhựa Tân Hoá 134.002 45,33% 124.101 41,56% 114.188 42,00%

3 Nhựa Đông Á 103.417 47,88% 162.804 57,77% 184.192 54,19%

4 Nhựa Bình Minh 341.933 60,41% 550.257 66,76% 708.383 72,13% Nhựa Rạng

6 Nhựa Tân Tiến 368.982 76,18% 411.643 76,61% 522.576 79,73%

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính các công ty từ năm 2008-2010)

Dựa vào bảng thống kê cho thấy: tài sản ngắn hạn chiếm trung bình 60%tổng tài sản của các doanh nghiệp, cụ thể năm 2008 là 55.9%, 2009 là 61.2%,

2010 là 63.9% Quy mô tài sản ngắn hạn của các công ty ngành nhựa có xuhướng tăng qua các năm Đặc biệt có 3 doanh nghiệp nhựa là nhựa Bình Minh vànhựa Tân Tiến, nhựa Tân Đại Hưng thì tỷ trọng tài sản ngắn hạn còn cao hơntrung bình toàn ngành, lần lượt là 66%, 77.5%, 71.9% Và cũng có những doanhnghiệp tỷ trọng này lại thấp hơn trung bình toàn ngành như nhựa Tân Hóa, Đông

Á, Rạng Đông, trung bình lần lượt là 43%, 53%, 50% Các công ty với quy môlớn nhỏ khác nhau, dòng tiền đầu tư cho tài sản ngắn hạn và dài hạn cũng có sựchênh lệch lớn Tuy nhiên nếu xét về tỷ trọng từng loại tài sản so với tổng tài sản

ở mỗi công ty thì tỷ trọng này có độ lệch chuẩn ít hơn rất nhiều, biến động xoayquanh trung bình của toàn ngành, hay nói cách khác là biến động phù hợp với đặcđiểm ngành đều đầu tư lớn vào tài sản ngắn hạn

Trang 36

2.1.3 Tính tương thích giữa tài sản và nguồn vốn của các công ty cổ phần

ngành nhựa giai đoạn 2008-2010

Trên bảng cân đối kế toán gồm có tổng tài sản và nguồn vốn Ở đây ta tínhtổng giá trị chung từng khoản mục của các công ty niêm yết trên sàn HOSE

Bảng 2.6: So sánh tính tương thích giữa tài sản và nguồn vốn các công ty ngành nhựa từ năm 2008-2010

2.222.645 2.698.722 3.057.742 2.222.645 2.698.722 3.057.742

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính các công ty từ năm 2008-2010)

Từ bảng thống kê 2.6 cho thấy: tổng tài sản và tổng nguồn vốn của các công

ty tăng qua các năm, năm sau cao hơn năm trước, phù hợp với tốc độ phát triểncủa các công ty qua từng năm

Trong cơ cấu nguồn vốn toàn ngành bên cạnh việc sử dụng vốn chủ sở hữuthì có sử dụng cả nợ ngắn hạn, nợ dài hạn để tài trợ cho các hoạt động của côngty

Ta xem xét tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng gì? Tài sản dài hạn được tàitrợ bằng gì? Có tương thích với nguồn vốn?

Nhìn vào bảng thống kê từ 2008-2010 giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạncho thấy: qua các năm nguồn nợ ngắn hạn chỉ bằng 41% so với tài sản ngắn hạn,

cụ thể: năm 2008 là 41.77%, 2009 là 41.40%, 2010 là 41.98% Như vậy có thể

Trang 37

thấy rằng các công ty tài trợ tài sản ngắn hạn chỉ bằng 41% là từ vay nợ ngắnhạn.

Và khi xem xét đến tài sản dài hạn và nợ dài hạn cho thấy: nợ dài hạn rấtnhỏ so với tài sản dài hạn Năm 2008 chỉ có 11% tài sản dài hạn được tài trợ từ

nợ dài hạn, năm 2009 là 14% và 2010 là 14.7% Nguồn nợ dài hạn của các công

ty trong ngành nhìn chung rất thấp và cũng không có khả năng tài trợ cho tài sảnngắn hạn

Và chỉ còn lại vốn chủ sở hữu, nhìn vào bảng thống kê ta thấy: 59% tài sảnngắn hạn còn lại được tài trợ từ vốn chủ sở hữu và phần lớn tài sản dài hạn cũngđược tài trợ từ nguồn vốn chủ sở hữu

Như vậy, từ đặc thù của ngành nhựa là giá cả nguyên vật liệu biến độngmạnh theo sự biến động của giá dầu và tỷ giá thế giới, giá nguyên vật liệu chiếm90% giá thành sản phẩm nên các công ty ngành nhựa chịu rủi ro kinh doanh Do

đó, các công ty trong ngành hạn chế sử dụng nợ ngắn hạn và dài hạn để tài trợcho tài sản của mình nhằm tránh rủi ro tài chính Vì vậy, các công ty đã lựa chọnphương án tài trợ phần lớn bằng vốn chủ sở hữu Mặc dù bỏ qua việc sử dụngđòn bẩy để gia tăng lợi nhuận nhưng đó lại là giải pháp an toàn cho các công tytrong ngành vì không thể cùng lúc phải gánh chịu cả hai loại rủi ro tài chính vàrủi ro kinh doanh, dễ dẫn đến mất khả năng chi trả cho các nghĩa vụ tài chính khiđáo hạn

Mặc dù, các công ty sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu nhưng khi có sựkhông ổn định của giá nguyên vật liệu do đặc thù ngành quyết định thì các công

ty vẫn sử dụng nợ vay và chủ yếu là nợ vay ngắn hạn Sử dụng nợ vay ngắn hạn

có tính tạm thời, khi cần thì vay và chi phí sử dụng nợ ngắn hạn rẻ hơn nợ dàihạn

Trang 38

2.1.4 Hiệu quả sử dụng và khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn của các công ty

cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010

Để đánh giá tình hình sử dụng và khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn của cáccông ty ngành nhựa, ta xem bảng sau:

Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng và khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn các công

(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)

Dựa vào bảng thống kê 2.7 ta thấy:

Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của các công ty nhựa giảm qua các năm.Điều này cho thấy việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn ngày càng nhiều nhưng đổi lạidoanh thu lại không tương xứng Tốc độ tăng trưởng doanh thu ít hơn nhiều sovới tốc độ tăng trưởng của tài sản ngắn hạn Do đó, các công ty trong ngành cầnphải xem xét việc đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm nhằm gia tăng doanh thu

Việc gia tăng doanh thu không đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận Ta thấy

tỷ suất sinh lợi tài sản ngắn hạn của các công ty giảm qua các năm trong khi tàisản ngắn hạn tăng do từ năm 2008-2010 giá của nguyên vật liệu biến động mạnh,giá thành sản phẩm tăng cao làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty Trong

đó có công ty nhựa Tân Hóa liên tục bị lỗ trong hai năm 2009 và 2010

Trang 39

2.2 Tình hình quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010

2.2.1 Đặc thù ngành nhựa ảnh hưởng đến tình hình quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010

Đặc thù ngành nhựa đã làm cho các công ty trong ngành phải đầu tư tài sảnngắn hạn theo một xu hướng nhất định và sẽ quyết định đến việc quản trị tài sảnngắn hạn của các công ty trong ngành

Đối với quản trị tiền mặt

Hầu hết các công ty ngành nhựa đều phải lập báo cáo dòng tiền thu chi hàngtuần, hàng tháng, hàng quý nhằm mục đích tối thiểu hóa lượng tiền mặt mà công

ty dùng để duy trì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường

Các công ty quản trị tiền mặt chủ yếu dưới hình thức tiền gửi ngân hàng

Để bù đắp cho việc thiếu hụt tiền mặt, các công ty trong ngành bổ sung bằngnguồn chứng khoán ngắn hạn hoặc từ vốn chủ sở hữu

Đối với quản trị khoản phải thu

Đặc thù ngành nhựa là sản phẩm gia công cho các ngành công nghiệp khácnên việc quản trị khoản phải thu phụ thuộc vào các công ty này Thông thường,các khoản công nợ được thanh toán trong khoảng thời gian từ 30 ngày 90 ngàytùy vào uy tín của từng khách hàng trong quan hệ tín dụng đối với công ty

Các công ty trong ngành đều có áp dụng hạn mức tín dụng cho từng kháchhàng và kiểm tra trường xuyên

Các công ty đề ra tiêu chuẩn cấp tín dụng cho khách hàng căn cứ vào mứcvốn, khả năng trả nợ, giá trị tài sản thế chấp, thái độ và hành vi của khách hàng

Để khuyến khích khách hàng trả nợ trước hạn, các công ty có áp dụng hìnhthức chiết khấu cho khách hàng, với tỷ lệ chiết khấu trung bình ngành từ 2-3%nếu thanh toán trước hạn hoặc mua hàng số lượng lớn… Thường chiết khấu ngaytrên hóa đơn hoặc chiết khấu trong thanh toán

Trang 40

Các công ty đều có bộ phận chuyên trách về quản lý thu nợ và theo dõi công

nợ, phân theo ngành nghề kinh doanh, vị trí địa lý và giá trị công nợ

Đối với quản trị hàng tồn kho

Ngành nhựa chủ yếu nhập khẩu 80-90% nguyên liệu từ nước ngoài nên cáccông ty có chính sách dự trữ hàng tồn kho trung bình 1-2 tháng để phục vụ sảnxuất

Có bộ phận nghiên cứu biến động giá nguyên vật liệu để đưa ra kế hoạch dựtrữ và sản xuất

Các công ty chủ yếu quản trị hàng tồn kho bằng hình thức xây dựng bộ mã

và kiểm soát bằng phần mềm máy vi tính chứ không quản trị hàng tồn kho theo

mô hình EOQ

2.2.2 Hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010

Bảng 2.8: Các tỷ số hoạt động trung bình ngành nhựa từ 2008-2010

Số ngày luân chuyển hàng tồn kho (ngày) 54,75 64,49 82,82

(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)

Số vòng quay tiền mặt càng cao tương ứng với chu kỳ vòng quay tiền mặtcàng thấp Số vòng quay tiền mặt cao cho thấy các công ty trong ngành dự trữtiền mặt thấp Do đó mà thời gian công ty bổ sung tiền mặt càng ngắn So với sốvòng quay khoản phải thu và số vòng quay hàng tồn kho thì số vòng quay tiềnmặt là cao nhất Điều đó chứng minh tỷ trọng tiền mặt là thấp nhất trong cơ cấutài sản ngắn hạn, phù hợp xu hướng chung của toàn ngành, là ngành sản xuất nênluôn dự trữ tiền mặt thấp

Ngày đăng: 11/10/2020, 11:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w