Xuất khẩu tăng trưởng với tốc độ cao và duy trì liên tục trong nhiều năm đã đóng góptích cực vào tăng trưởng kinh tế qua tạo thêm việc làm, giúp tăng thu ngoại tệ, định hướng đầu tư sản
Trang 1NGUYỄN NGUYÊN PHƯƠNG
XUẤT KHẨU VIỆT NAM
NĂNG LỰC VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, năm 2011
Trang 2CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
NGUYỄN NGUYÊN PHƯƠNG
XUẤT KHẨU VIỆT NAM
NĂNG LỰC VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 603114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học
1 TS Dwight Perkins 2.Ths Đinh Vũ Trang Ngân
TP Hồ Chí Minh, năm 2011
Trang 3Bảng 3.1: Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh………….….…13Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng của mười thị trường xuất khẩu lớn nhất của mười nhóm mặt
hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2004 – 2008……….……… 15Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu các nước giai đoạn 2004 – 2008……… …17Bảng 4.1: So sánh lợi thế so sánh thể hiện của các sản phẩm chủ lực của Việt Nam (giai đoạn
Bảng 4.2: Kết quả phân tích theo phương pháp Dịch chuyển - cấu phần cho mười nhóm hàng
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2008……….……….….22Bảng 4.3: Ma trận phối hợp kết quả tính toán của hai phương pháp: Lợi thế so sánh thể hiện và
HÌNH
Hình 3.1: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực giai đoạn 2004–2008……… 10Hình 3.2: Diễn biến của tỷ giá hiệu dụng đồng Việt Nam thực và danh nghĩa……… 14Hình 4: Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có lợi thế so sánh thể hiện năm 2008…… ….…19Hộp 3: Những hạn chế của xuất khẩu Việt Nam năm 2008……… ……… 12
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực năm 2004 – 2008
Phụ lục 2: Vai trò và hạn chế của xuất khẩu Việt Nam
Phụ lục 3: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới lên xuất khẩu Việt Nam
Phụ lục 4: Lợi thế quốc gia của Việt Nam
Phụ lục 5: Kim ngạch xuất khẩu mười nhóm hàng chủ lực năm 2008 so với đối thủ cạnh tranhPhụ lục 6: Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có lợi thế so sánh hiện thị năm 2004
Phụ lục 7: Nguyên nhân những thành công trong xuất khẩu của Việt Nam
Phụ lục 8: Thị trường Hoa Kỳ
Phụ lục 9: Thị trường Nhật
Phụ lục 10: Thị trường Trung Quốc
CÔNG THỨC
Công thức 2.1: Công thức tính lợi thế so sánh thể hiện của hàng hóa xuất khẩu
Công thức 2.2: Công thức tính toán theo phương pháp Dịch chuyển – cấu phần
Trang 4Tôi xin được gởi lời cám ơn chân thành đến thầy cô giáo và nhân viên nhà trường, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức, giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập để hôm nay có thể thực hiện nghiên cứu này.
Xin cám ơn thầy, cô đã trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu, xin cám ơn gia đình và bạn bè đã động viên và hỗ trợ tôi thực hiện.
Trang 5Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.
Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
TP.HCM, ngày 10 tháng 7 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Nguyên Phương
Trang 61.2- Mục đích và câu hỏi nghiên cứu: 1
1.3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4- Số liệu và Phương pháp nghiên cứu: 2
1.5- Điểm mới của nghiên cứu: 2
1.6- Cấu trúc nghiên cứu: 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1- Giới thiệu một số khái niệm liên quan: 4
2.2- Các nghiên cứu trước: 4
2.2.1- Phương pháp Lợi thế so sánh thể hiện: 5
2.2.2- Phương pháp Dịch chuyển – cấu phần: 7
2.3- Khung phân tích: 8
Chương 3: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004–2008 9
3.1- Thực trạng xuất khẩu: 9
3.1.1- Kim ngạch xuất khẩu: 9
3.1.2- Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu: 10
3.1.3- Cơ cấu ngành hàng xuất khẩu: 10
3.2- Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng xuất khẩu: 11
3.2.1- Các yếu tố nội sinh: 11
3.2.1.1- Lợi thế quốc gia: 11
3.2.1.2- Chính sách xuất khẩu: 12
3.2.2- Các yếu tố ngoại sinh: 13
3.2.2.1- Thị trường xuất khẩu: 13
3.2.2.2- Đối thủ cạnh tranh: 14
3.3- Kết luận chương: 16
Chương 4: PHÂN TÍCH LỢI THẾ SO SÁNH VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004 - 2008 17
4.1- Kết quả phân tích lợi thế so sánh thể hiện của các mặt hàng……… ……….…………17
4.2- Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu các nhóm mặt hàng chủ lực của Việt Nam……… ……… ……19
4.2.1- Thị phần quốc gia……….20
4.2.2- Cơ cấu ngành……… 21
4.2.3- Thị phần khu vực……… 22
4.3- Phân tích phối hợp các yếu tố tác động đến tăng trưởng xuất khẩu và lợi thế so sánh thể hiện của các sản phẩm xuất khẩu chủ lực……….22
4.4- Kết luận chương……… … 24
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 25
5.1- Kết luận: 25
5.2- Gợi ý chính sách: 26
5.3- Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo: 28
Trang 7Ngoại thương là hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ qua biên giới giữa cácquốc gia và vùng lãnh thổ Hoạt động này đã xuất hiện từ rất lâu và đến nay vẫn giữ vai trò hếtsức quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam không là ngoại lệ khi hoạtđộng xuất nhập khẩu từ sau thời gian mở cửa hội nhập đã phát triển nhanh chóng và đem lạinhiều đóng góp tích cực cho kinh tế đất nước Do đó, ngoại thương, đặc biệt là trong hoạtđộng điều hành, quản lý xuất khẩu, đã trở thành mối quan tâm tìm hiểu của nhiều nhà nghiêncứu và cơ quan quản lý nhà nước thời gian qua, đem lại nhiều gợi ý, định hướng hữu ích chonhà nước và doanh nghiệp Tuy nhiên, các nghiên cứu, phân tích thời gian qua đa số đều đượcthực hiện trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích thống kê và thống kê mô tả, dẫn đến kếtquả nghiên cứu có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan Với việc ứng dụng thêm hai phươngpháp phân tích khác, phương pháp Lợi thế so sánh thể hiện và Dịch chuyển – cấu phần, tuykhông mới trên thế giới nhưng đến nay vẫn chưa được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam, có thểgóp phần hạn chế yếu tố trên.
Hai phương pháp: Lợi thế so sánh thể hiện và Dịch chuyển – cấu phần là hai công cụkhá hữu hiệu giúp phân tích năng lực xuất khẩu tương đối khách quan Theo đó, phương phápLợi thế so sánh thể hiện giúp xác định được các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế so sánh vàphương pháp Dịch chuyển – cấu phần là công cụ để bóc tách các cấu phần đã góp phần tácđộng lên sự thay đổi như tăng trưởng hoặc sụt giảm kim ngạch xuất khẩu
Qua áp dụng hai phương pháp trên, thực hiện tính toán cho mười nhóm mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn 2004 – 2008, nghiên cứu đã tìm ra kết quả: xácđịnh được năng lực cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, so với cácquốc gia xuất khẩu trong khu vực Theo đó, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thể được chiathành ba loại chính: có năng lực cạnh tranh, có tiềm năng và loại không có năng lực hoặc tiềmnăng để làm cơ sở phân tích Ngoài ra, nghiên cứu cũng giúp chỉ ra sự mâu thuẫn trong hoạtđộng sản xuất, xuất khẩu của một mặt hàng có lợi thế và tiềm năng nhưng chưa được khai tháchiệu quả để từ đó làm cơ sở xây dựng giải pháp góp phần hoàn thiện cho hoạt động xuất khẩucủa Việt Nam
1
Trang 81.1- Bối cảnh nghiên cứu
Sau khi Việt Nam thực hiện bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ vào năm 1995, nềnkinh tế đất nước đã có nhiều chuyển biến theo chiều hướng tích cực, đặc biệt trong lĩnh vựcxuất khẩu Số lượng mặt hàng và kim ngạch xuất khẩu liên tục gia tăng Trong giai đoạn 5năm 2004 – 2008, kim ngạch xuất khẩu đã nhanh chóng tăng lên gần 2,5 lần từ 26,5 tỷ đô la
Mỹ vào năm 2004 lên 63 tỷ đô la Mỹ trong năm 2008 (Phụ lục 1) Thị trường xuất khẩu được
mở rộng, vị thế của hàng hóa Việt Nam được nâng cao trên thị trường quốc tế
Xuất khẩu tăng trưởng với tốc độ cao và duy trì liên tục trong nhiều năm đã đóng góptích cực vào tăng trưởng kinh tế qua tạo thêm việc làm, giúp tăng thu ngoại tệ, định hướng đầu
tư sản xuất… Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện năng lực cạnhtranh còn nhiều giới hạn như: thâm hụt cán cân thương mại ngày càng gia tăng; Mặt hàng xuấtkhẩu chủ yếu là các sản phẩm sơ cấp, thâm dụng lao động như hàng dệt may, giày dép và thủyhải sản hoặc các sản phẩm thô, sơ chế như gạo, cà phê, cao su; Các sản phẩm khai thác tàinguyên thiên nhiên, khoáng sản hoặc các mặt hàng công nghiệp phụ thuộc nguồn nguyên liệunhập khẩu như sản phẩm nhựa, dây và cáp điện… (nghiên cứu của Võ Thanh Thu, 2008)
Theo Jonathan Pincus (2009), sau năm 2008, nền kinh tế thế giới lâm vào khủnghoảng, tác động tiêu cực lên hoạt động xuất khẩu các nước và Việt Nam Ảnh hưởng củakhủng hoảng là hết sức nặng nề đối với tăng trưởng kinh tế, qua đó làm nổi rõ hơn nhữngkhiếm khuyết, hạn chế trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam (Phụ lục 3), gián tiếp chỉ ramức độ năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam còn có nhiều giới hạn Chính vìvậy, việc nhìn lại và đánh giá một cách cụ thể, đầy đủ hơn hoạt động xuất khẩu của Việt Nambao gồm năng lực cạnh tranh và các yếu tố tác động đến tăng trưởng để tìm kiếm giải phápđiều chỉnh và hoàn thiện là hết sức cần thiết, đó cũng là lý do để tác giả lựa chọn và thực hiệnnghiên cứu: “Xuất khẩu Việt Nam – Năng lực và các yếu tố tác động đến tăng trưởng”
1.2- Mục đích và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đánh giá thực trạng năng lực xuất khẩu,đồng thời tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tăng trưởng xuất khẩu cũng như hạn chếcủa xuất khẩu Việt Nam những năm qua Để thực hiện mục tiêu trên, nghiên cứu thực hiệnphân tích lợi thế và các yếu tố tác động đến tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng
Trang 9chủ lực, qua đó chỉ ra những mặt hàng có lợi thế so sánh, có năng lực cạnh tranh Nghiên cứucũng hướng đến mục tiêu tìm kiếm, xây dựng các giải pháp để khắc phục những hạn chế vàphát huy lợi thế, nâng cao hiệu quả xuất khẩu các mặt hàng chủ lực.
Để thực hiện mục tiêu trên, nghiên cứu dự kiến tập trung trả lời ba câu hỏi chính:
• Việt Nam có lợi thế so sánh ở những mặt hàng xuất khẩu nào?
• Yếu tố nào tác động đến tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu?
• Giải pháp nào giúp nâng cao hiệu quả xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế so sánh?
1.3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu trên, luận văn chủ yếu tập trung vào nghiên cứu nănglực cạnh tranh và các yếu tố tác động đến tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam thông qua thựchiện phân tích mười nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất (mặt hàng chủ lực),chiếm tỷ trọng đến 51,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2008 (Phụlục 1)
Nhằm giúp loại trừ bớt những yếu tố tác động đột biến bên ngoài có thể gây ảnh hưởnglàm sai lệch kết quả nghiên cứu, luận văn dự kiến giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khoảngthời gian 5 năm, từ năm 2004 đến năm 2008 Đây là giai đoạn xuất khẩu Việt Nam có tốc độtăng trưởng tương đối cao, khá ổn định và tình hình kinh tế thế giới không có nhiều biến độnglớn
1.4- Số liệu và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng bộ số liệu xuất nhập khẩu của Tổng cục Thống kê trong Niêngiám Thống kê Việt Nam các năm 2004 - 2008 và số liệu của Cơ quan Thống kê Liên hiệpquốc Số liệu xuất khẩu sử dụng phân loại theo tiêu chuẩn ngoại thương, bản sửa đổi lần 3(SITC 3) ở cấp độ từ hai đến năm con số Ở đây, tuy việc sử dụng số liệu với nhiều cấp độkhác nhau nhưng trong so sánh với các đối thủ cạnh tranh, các mặt hàng ở mỗi cấp độ được sửdụng nhất quán và không thực hiện tính gộp để tránh kết quả tính trùng Tiền tệ, thống nhất sửdụng một loại ngoại tệ là đô la Mỹ làm chuẩn phân tích, đánh giá
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn là phương pháp phân tích thống kêdùng để đánh giá thực trạng, kết hợp sử dụng hai phương pháp: Lợi thế so sánh thể hiện -Revealed comparative advantage (RCA) để xác định lợi thế so sánh của các mặt hàng chủ lực
và Dịch chuyển - cấu phần (Shift - Share) nhằm xác định những yếu tố tác động đến tăngtrưởng xuất khẩu
Trang 101.5- Điểm mới của nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thêm hai phương pháp: Lợi thế so sánh thể hiện và Dịch chuyển –cấu phần để phân tích, qua đó gián tiếp giới thiệu một cách tiếp cận khác trong việc lựa chọncông cụ phân tích hoạt động xuất khẩu, khác với cách sử dụng thuần túy các phương phápphân tích thống kê và thống kê mô tả truyền thống đang được sử dụng khá rộng rãi Kết quảnghiên cứu và những đề xuất, khuyến nghị rút ra có thể được sử dụng giúp các nhà nghiên cứuchuyên môn hoặc các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực thương mại, đối chiếu, so sánh vớicác kết quả nghiên cứu khác, củng cố hoặc phản biện để đạt mục đích cuối cùng là tìm kiếm và
đề ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện hoạt động xuất khẩu củaViệt Nam
1.6- Cấu trúc nghiên cứu
Kết cấu của nghiên cứu gồm 5 chương với nội dung chủ yếu sau:
Chương 1: Giới thiệu chung về bối cảnh chính sách, mục đích, câu hỏi, đối tượng,phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Chương Cơ sở lý luận Chương này chủ yếu trình bày một số khái niệmquan trọng sử dụng trong nghiên cứu, các mô hình, nghiên cứu trước và đề xuất khung phântích
Chương 3: Tổng quan thực trạng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2008 Nộidung chương tập trung trình bày tổng quan về thực trạng xuất khẩu Việt Nam, các lợi thế vàyếu tố ảnh hưởng đến thực trạng xuất khẩu giai đoạn này
Chương 4: Phân tích lợi thế so sánh và các yếu tố tác động đến tăng trưởng xuất khẩucác mặt hàng chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2008 Chương này trình bày kết quảphân tích lợi thế so sánh, các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng các mặt hàng chủ lực và kếtquả các phân tích phối hợp các yếu tố trên
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách Chương này đưa ra kết luận của nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra gợi ý chính sách, cụ thể hóa bằng các giải pháp nhằm nâng caonăng lực và hiệu quả hoạt động xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam Cuối cùng làchỉ ra hạn chế, dự kiến hướng khắc phục và phát triển cho nghiên cứu
Trang 11CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 2 đề cập cơ sở lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu thông qua trìnhbày các khái niệm, mô hình, nghiên cứu thực nghiệm và cuối cùng là xây dựng khung phântích cho đề tài nghiên cứu
2.1- Giới thiệu một số khái niệm liên quan
Lợi thế tuyệt đối: khái niệm do Adam Smith (1776) đề xuất, theo đó lợi thế tuyệt đốiđược sử dụng để chỉ một quốc gia trong tham gia thương mại quốc tế, nhờ lợi thế tự nhiên hay
do nỗ lực tự thân đã có khả năng sản xuất, xuất khẩu một mặt hàng với chi phí thấp hơn so đốitác thông qua các đặc điểm: giá thành sản xuất thấp hơn, năng xuất lao động cao hơn, chấtlượng các nhân tố đầu vào của sản xuất cao hơn… Với đặc điểm này, khi tham gia vào thươngmại quốc tế, các quốc gia sẽ được hưởng lợi khi cùng trao đổi những mặt hàng mình có lợi thếtuyệt đối với đối tác (Lê Ngọc Uyển, 2003)
Lợi thế so sánh: khái niệm do David Ricardo (1817) phát triển từ khái niệm lợi thếtuyệt đối trên cơ sở mở rộng nguyên tắc phân công lao động Theo đó, “một quốc gia có lợi thế
so sánh trong việc sản xuất một sản phẩm nếu chi phí cơ hội của việc sản xuất sản phẩm trongquốc gia đó thấp hơn chi phí cơ hội của việc sản xuất sản phẩm đó ở các quốc gia khác” Do
đó, khi mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất các mặt hàng mình có lợi thế so sánh thì việc traođổi thương mại vẫn sẽ có lợi ngay cả khi hiệu quả sản xuất các mặt hàng này thấp hơn so đốitác
Lợi thế cạnh tranh: theo Michael E Porter (1990), tác giả lý thuyết về mô hình viênkim cương, đã đề ra khái niệm lợi thế cạnh tranh của quốc gia trong sản xuất, xuất khẩu hànghóa qua phân tích sự tương tác giữa bốn yếu tố: điều kiện các yếu tố sản xuất (cơ sở hạ tầng,lao động); Các điều kiện cầu (nhu cầu trong nước đối với sản phẩm); Các ngành công nghiệpphụ trợ và liên quan (có hoặc thiếu những ngành này có khả năng cạnh tranh quốc tế); Chiếnlược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa (chính sách quốc gia và cạnh tranh trong nước)
Qua nhắc lại lý thuyết về các khái niệm lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh và lợi thế cạnhtranh cho thấy để có được các lợi thế này cần có sự phối hợp các yếu tố liên quan như: điềukiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất hàng hóa, mức độ chuyên môn hóa trong sản xuất, tácđộng của yếu tố bên ngoài như thị trường, đối thủ cạnh tranh và cuối cùng là chính sách của
Trang 12nhà nước Nghiên cứu sẽ thực hiện phân tích các yếu tố liên quan đến các khái niệm trên đểlàm cơ sở đánh giá thực trạng, năng lực xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.
2.2- Các nghiên cứu trước
Hai phương pháp: Lợi thế so sánh thể hiện và Dịch chuyển - cấu phần được sử dụngtương đối nhiều trên thế giới, trong các nghiên cứu, phân tích về tăng trưởng kinh tế, lao động,thương mại…
Tại Việt Nam, phương pháp Lợi thế so sánh thể hiện chủ yếu được các nhà nghiên cứu
sử dụng, chưa thấy có ứng dụng trong công tác điều hành, quản lý nhà nước Riêng phươngpháp Dịch chuyển – cấu phần rất ít thấy được sử dụng Nghiên cứu của tác giả Vũ Thắng Bình
có sử dụng hai phương pháp trên để đánh giá các yếu tố tác động đến tăng trưởng xuất khẩu vàlợi thế so sánh của tám nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam thông qua tác động của bayếu tố: thay đổi cầu nhập khẩu thế giới, cơ cấu ngành và lợi thế quốc gia ảnh hưởng lên tăngtrưởng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1999 – 2003, đồng thời kết hợp phân tích, đánh giálợi thế so sánh thể hiện của các nhóm hàng này, qua đó đề ra khuyến nghị
Trên thế giới, hai phương pháp nêu trên thường được sử dụng riêng biệt Các nghiêncứu của Mustafa Dinc (2002); Kian – Heng Peh and Fot-Chyi Wong (1999)… sử dụng phươngpháp Dịch chuyển - cấu phần để phân tích, lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi củaxuất khẩu (kim ngạch, thị phần) Theo đó, thay đổi xuất khẩu trong một giai đoạn nghiên cứubằng tổng thay đổi của ba cấu phần: thị phần quốc gia, cơ cấu ngành và thị phần khu vực Từcông thức này, các tác giả đã thực hiện tính toán, phân tích kết quả và đề ra giải pháp, khuyếnnghị đối với hoạt động xuất khẩu thông qua tác động vào ba yếu tố chính trong công thức Đốivới phương pháp Lợi thế so sánh thể hiện, đã có nhiều nhà nghiên cứu như Balassa hoặc gầnđây là Ian Coxhead sử dụng Trong nghiên cứu của Ian Coxhead (2006), tác giả thực hiện sosánh lợi thế so sánh thể hiện của các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc với năm nướcAsean: Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Philippines trong giai đoạn 2000 – 2004.Qua đó, tác giả cho biết các mặt hàng xuất khẩu chính có lợi thế so sánh thể hiện của TrungQuốc và năm nước Asean chủ yếu thuộc về các mặt hàng có lợi thế khai thác tài nguyên Do
đó, tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ có khả năng tác động tiêu cực đến xuất khẩu củacác nước này
2.2.1- Phương pháp Lợi thế so sánh thể hiện
Phương pháp xác định lợi thế so sánh thể hiện được giới thiệu bởi Liesner (1958) vàsau này được tác giả Balassa, Giáo sư Kinh tế - chính trị của trường Đại học Hopkins, đưa ra
Trang 13sử dụng từ năm 1965 và được biết đến với tên gọi: “chỉ số Balassa” (Jeroen Hinloopen,Charles van Marrewijk, 2004) Theo đó, lợi thế so sánh thể hiện của một loại hàng hóa xuấtkhẩu phản ánh mức độ chuyên môn hóa và ưu thế tương đối của nền kinh tế quốc gia trong sảnxuất, xuất khẩu mặt hàng này so với mức độ bình quân của thế giới và được tính bởi côngthức:
số RCA > 1, quốc gia được xem là có năng lực và đang chiếm ưu thế tương đối trong xuấtkhẩu mặt hàng này so với mặt bằng chung của thế giới Mặt hàng xuất khẩu lúc này sẽ đượcxem là có lợi thế so sánh thể hiện Hệ số RCA có giá trị càng cao thì lợi thế này càng cao.Ngược lại, nếu hệ số RCA < 1 thì mặt hàng không có lợi thế so sánh ( Luca De Benedictis andMassimo Tamberi, 2011)
Công thức trên cho thấy lợi thế so sánh của sản phẩm xuất khẩu một quốc gia được quyđịnh bởi bốn yếu tố: kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm, tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia,kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới sản phẩm này và tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thếgiới Như vậy, với một quốc gia, để nâng cao lợi thế so sánh cho một mặt hàng xuất khẩu thìgiải pháp khả thi quan trọng nhất là nâng cao tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng trên tổngkim ngạch xuất khẩu của quốc gia Trên thực tế, bốn yếu tố nêu trên liên tục thay đổi nên lợithế so sánh thể hiện cũng thay đổi theo Chính vì vậy, hệ số RCA có thể được sử dụng để đánhgiá sự cải thiện trong cơ cấu hàng xuất khẩu của một quốc gia thông qua so sánh thay đổi hệ sốnày ở các thời điểm khác nhau hoặc sử dụng để so sánh lợi thế của các mặt hàng xuất khẩutương đồng giữa các nước, tuy nhiên việc so sánh chỉ ở mức độ tương đối do hệ số này chỉphản ánh lợi thế so sánh của quá khứ và hiện tại
Như vậy, lợi thế so sánh thể hiện của một mặt hàng có thể giúp đánh giá được năng lựcxuất khẩu của quốc gia đối với mặt hàng đó một cách tương đối Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụnglợi thế so sánh thể hiện thì chưa thể đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu được
Trang 14đầy đủ Vì vậy, nghiên cứu sử dụng thêm phương pháp Dịch chuyển – cấu phần để phân tíchcác yếu tố tác động đến tăng trưởng xuất khẩu, qua đó kết hợp kết quả tính toán tìm ra từ cảhai phương pháp để làm cơ sở đánh giá năng lực cạnh tranh cho các mặt hàng xuất khẩu chủlực của Việt Nam được đầy đủ hơn.
2.2.2- Phương pháp Dịch chuyển - cấu phần
Phương pháp Dịch chuyển - cấu phần là công cụ phân tích tương đối đơn giản và hữudụng Phương pháp này dựa trên cơ sở kỹ thuật phân rã để tách và xác định nguồn gốc của sựthay đổi của một yếu tố nào đó, qua đó đánh giá những yếu tố ảnh hưởng lên sự thay đổi củayếu tố này (tăng trưởng, phát triển hoặc giảm sút) của một quốc gia hoặc của khu vực Phươngpháp này thường được các nhà kinh tế, kinh tế phát triển, quy hoạch đô thị… sử dụng để phântích tăng trưởng trong các lĩnh vực: lao động, du lịch, thu nhập, xuất khẩu… Phương pháp nàyđược giới thiệu từ năm 1960 và liên tục được cải tiến, mở rộng (Wei Cheng, Jiuping Xu,2005)
Theo Mustafa Dinc, tổng thay đổi xuất khẩu (tăng trưởng hay giảm sút kim ngạch) củamột quốc gia trong một giai đoạn nhất định (TS) chịu tác động bởi ba yếu tố: thị phần quốc gia(NS), cơ cấu công nghiệp (IM) và thị phần khu vực (RS) và được tính bằng công thức:
TS = NS + IM + RS (2.2)
Theo đó:
Ảnh hưởng của thị phần quốc gia - NS (National share): dựa trên giả định “nước nổi thìthuyền nổi” để chỉ ra thay đổi thị phần hoặc kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia tương ứngvới tỉ lệ thay đổi của thị phần hoặc kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới Cụ thể, khi tổng kimngạch xuất khẩu toàn thế giới tăng sẽ đồng nghĩa cầu nhập khẩu tăng Do đó, hệ số thị phầnquốc gia NS được xem là sẽ có ảnh hưởng tích cực lên tăng trưởng của mặt hàng xuất khẩucủa một quốc gia khi tăng trưởng tổng xuất khẩu toàn thế giới tăng (tác động +) và ngược lại(Haynes and Qiangsheng, 1999)
Ảnh hưởng của cơ cấu ngành - IM (Industry Mix): là cấu phần biểu thị cơ cấu ngànhhàng xuất khẩu quốc gia thông qua phân tích tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của thế giới
ở một loại sản phẩm so với tất cả các sản phẩm Trong trường hợp tốc độ tăng trưởng xuấtkhẩu sản phẩm này cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng xuất khẩu toàn thế giới thì quốc gia cóxuất khẩu những mặt hàng này sẽ nhận được tác động tích cực (+) hoặc ngược lại Hệ số này
vì vậy cũng gián tiếp chỉ ra cầu nhập khẩu mặt hàng này của thế giới cao hoặc thấp Như vậy,
Trang 15một quốc gia xuất khẩu nhiều sản phẩm có tốc độ tăng trưởng cao trong cơ cấu hàng xuất khẩuthì càng có nhiều cơ hội để gia tăng kim ngạch xuất khẩu (Haynes and Qiangsheng, 1999).Chính vì vậy, để nâng cao năng lực xuất khẩu thì giải pháp liên quan đến yếu tố cơ cấu ngành
là nâng cao tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu có hệ số cơ cấu ngành IM dương
Ảnh hưởng của thị phần khu vực - RS (Regional Share): là cấu phần đo lường sự thayđổi kim ngạch hay thị phần xuất khẩu một mặt hàng, được quyết định bởi sự khác biệt giữa tốc
độ tăng trưởng hay giảm sút trong xuất khẩu mặt hàng này của quốc gia so với tốc độ tươngứng của bình quân xuất khẩu mặt hàng này trên phạm vi toàn thế giới Hệ số thị phần khu vực
RS ngầm chỉ ra nguyên nhân thay đổi là do khác biệt năng lực cạnh tranh của mặt hàng xuấtkhẩu quốc gia so với mặt bằng chung của thế giới Hệ số thị phần khu vực RS dương cũng thểhiện quốc gia đã khai thác tốt các lợi thế sẵn có của mặt hàng xuất khẩu (Haynes andQiangsheng, 1999) Như vậy, tương tự yếu tố cơ cấu ngành, để nâng cao năng lực xuất khẩuthì giải pháp liên quan đến yếu tố thị phần khu vực là nâng cao tỷ trọng các mặt hàng xuấtkhẩu có hệ số thị phần khu vực RS dương
Như vậy, trong ba yếu tố trên, hệ số thị phần quốc gia NS là cấu phần được quyết địnhbởi yếu tố ngoại sinh, phụ thuộc vào tình hình kinh tế thế giới, cụ thể là mức độ tăng trưởngkinh tế Hai hệ số còn lại: cơ cấu ngành IM và thị phần khu vực RS có vai trò quan trọng hơn
do được quyết định bởi cơ cấu ngành hàng xuất khẩu, khả năng khai thác năng lực cạnh tranhcủa quốc gia Do đó, để tìm kiếm nguyên nhân và đề xuất các giải pháp cho xuất khẩu thì các
hệ số cơ cấu ngành IM và thị phần khu vực RS chính là hai yếu tố cần tập trung phân tích vàtác động điều chỉnh
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, qua rà soát lại nội dung các khái niệm liên quan, các
mô hình và phương pháp nghiên cứu trước, nghiên cứu tiếp tục xây dựng và đưa ra khungphân tích
2.3- Khung phân tích
Qua tham khảo các nghiên cứu trước và phân tích các khái niệm liên quan, nghiên cứu
dự kiến xây dựng khung phân tích trên cơ sở trình bày hiện trạng xuất khẩu Việt Nam, thựchiện phân tích hiện trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi tăng trưởng xuất khẩu, đánhgiá sơ bộ năng lực xuất khẩu, tìm ra thế mạnh hoặc hạn chế, năng lực cạnh tranh tương đối củacác mặt hàng xuất khẩu Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh từ đó đề xuất giải pháp phùhợp giúp cải thiện, nâng cao năng lực xuất khẩu
dự kiến khun
g phân tích
Trang 16sinh
Cụ thể, đối với hiện trạng xuất khẩu, nghiên cứu thực hiện mô tả tổng quan thực trạngxuất khẩu mười nhóm mặt hàng chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2008, so sánh với cácmặt hàng xuất khẩu tương đồng của các đối thủ cạnh tranh Tiếp theo, nghiên cứu sử dụngphương pháp Lợi thế so sánh thể hiện để tính toán, xác định các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế
so sánh; sử dụng phương pháp Dịch chuyển – cấu phần, xác định các yếu tố tác động đến tăngtrưởng xuất khẩu; sử dụng các kết quả tìm được từ hai phương pháp trên để đánh giá, xácđịnh năng lực các mặt hàng xuất khẩu so với đối thủ cạnh tranh, từ đó tìm kiểm giải phápnâng cao năng lực xuất khẩu, tập trung chủ yếu vào việc nâng cao hiệu quả xuất khẩu các mặthàng có lợi thế so sánh
Trang 17CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004-2008
Chương 3 trình bày tổng quan về thực trạng xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn
2004 – 2008 Nội dung gồm giới thiệu và đánh giá thực trạng xuất khẩu các nhóm mặt hàngchủ lực thông qua phân tích kim ngạch, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, cơ cấu và lợi thế so sánhcủa các nhóm mặt hàng này, so sánh với các đối thủ cạnh tranh Cuối cùng, trên cơ sở phântích, nghiên cứu rút ra kết luận về thực trạng xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2004 -2008
3.1- Thực trạng xuất khẩu
3.1.1- Kim ngạch xuất khẩu
Mười nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu năm
2008 đạt 32,4 tỷ đô la Mỹ, chiếm tỷ trọng đến 51,7% tổng kim ngạch xuất khẩu (Phụ lục 1),điều này cho thấy cơ cấu mặt hàng có sự tập trung rất cao Ngoài ra, các mặt hàng xuất khẩuchủ lực vẫn còn thể hiện nhiều hạn chế
Hình 3.1- Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực giai đoạn 2004–2008.
Triệu USD 10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu 2004-2008
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam ( 2010 )
Từ hình 3 trên cho thấy, các mặt hàng chủ lực có thể chia thành 3 nhóm lớn (phụ lục 1):
Trang 18Nhóm 1, gồm các mặt hàng: dệt may (quần áo, vải, sợi), giày dép và thủy hải sản, lànhững sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn, từ 4,5 tỷ đô la Mỹ trở lên, chiếm tỷ trọng caonhất, lên đến 29,3% tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2008 và có xu hướng tăng trưởngnhanh trong giai đoạn 2004 - 2008, đặc biệt là các mặt hàng thuộc nhóm dệt may.
Nhóm 2 là nhóm các sản phẩm nông, lâm nghiệp, gồm các mặt hàng: gạo, cà phê, cao
su, gỗ; đứng thứ 2 về tỷ trọng và có kim ngạch xuất khẩu trên từng mặt hàng ở mức từ 1 – 3 tỷ
đô la Mỹ Ngoại trừ mặt hàng gạo, tốc độ tăng trưởng các mặt hàng trong nhóm tương đốiđồng đều và ổn định Tỷ trọng của nhóm khá cao, chiếm 15,1% tổng kim ngạch xuất khẩu củanăm 2008
Nhóm 3 là nhóm các sản phẩm công nghiệp: hàng điện tử, sản phẩm nhựa và dây cápđiện So hai nhóm trước, nhóm này có tỷ trọng nhỏ nhất (7,3%) Tuy nhiên, trong nhóm cómặt hàng sản phẩm điện tử có kim ngạch xuất khẩu khá cao, đạt 2,6 tỷ đô la Mỹ
3.1.2- Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
So với tốc độ tăng trưởng bình quân của tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2004 –
2008 (236%), một số sản phẩm chủ lực có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu rất cao như: sợi(581%), hàng điện tử (376%), dây điện (375%), gỗ nguyên liệu (275%), sản phẩm nhựa
(292%) Riêng mặt hàng cáp điện có mức tăng kỷ lục (17.636%) do có xuất phát điểm thấp.Bốn mặt hàng có tốc độ tăng thấp là: giày dép (79%), thủy hải sản (88%), gỗ nguyên liệuthành phẩm (69%) và cao su chế biến (52%) (Bảng 3.3)
Nhìn chung, trong giai đoạn 2004 – 2008, xuất khẩu các mặt hàng chủ lực có xu hướngtăng trưởng nhanh Cơ cấu thay đổi theo chiều hướng giảm dần so tổng thể Tuy nhiên, mức độthay đổi còn rất nhỏ, giảm từ 54% (năm 2004) xuống còn 51,7% (năm 2008) (Phụ lục 1).3.1.3- Cơ cấu ngành hàng xuất khẩu (phụ lục 1)
Nhóm 1: chiếm tỷ trọng cao nhất và trong chiều hướng giảm tỷ trọng trong cơ cấuchung, từ 36% vào năm 2004 xuống còn 29,3% trong năm 2008 Đây là nhóm sử dụng nhiềulao động, nguyên liệu phụ thuộc nguồn nhập khẩu hoặc dựa trên lợi thế tự nhiên, sản xuất chủyếu là gia công nên giá trị gia tăng thấp
Nhóm 2 gồm: các mặt hàng gạo, cà phê, cao su, gỗ Tỷ trọng của nhóm tiếp tục giatăng, từ 12% tăng lên 15,1%, trong giai đoạn 2004 – 2008
Nhóm 3, gồm các sản phẩm công nghiệp, có tỷ trọng tăng từ 6,7% lên 7,3% trong giaiđoạn này So với hai nhóm trên, đây là nhóm sử dụng ít lao động và có hàm lượng công nghệcao
Trang 19Hộp 3- Những hạn chế của xuất khẩu Việt Nam năm 2008
Xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản; các mặt hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang tính chất gia công; Các mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng, phong phú, số lượng các mặt hàng xuất khẩu mới có kim ngạch lớn, tốc
độ tăng trưởng nhanh chưa nhiều Xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có
mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn.
Nguồn: Bộ Công thương ( 2008 )
3.2- Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng xuất khẩu
Qua phân tích thực trạng kim ngạch và cơ cấu mười nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lựccủa Việt Nam trong giai đoạn 2004 – 2008 cho thấy xuất khẩu Việt Nam có mức độ tập trungkhá lớn vào ba nhóm mặt hàng chính Một phần nguyên nhân đưa đến thực trạng này là do ảnhhưởng của điều kiện về yếu tố sản xuất (tài nguyên nhân lực và tài nguyên vật chất) TheoMichael E Porter (1990), “Một quốc gia sẽ xuất khẩu những hàng hóa nào mà quá trình sảnxuất sử dụng mạnh yếu tố sản xuất nó có nhiều nhất” Như vậy, thực hiện phân tích các yếu tốnày sẽ giúp làm rõ thêm đặc điểm thực trạng của xuất khẩu việt Nam giai đoạn nghiên cứu,qua đó sơ bộ đánh giá năng lực cạnh tranh của xuất khẩu Việt Nam giai đoạn này
3.2.1- Các yếu tố nội sinh
3.2.1.1- Lợi thế quốc gia:
Liên quan đến sản xuất hàng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, Việt Nam có hai lợi thếkhá nổi bật, mang tính quyết định việc hình thành mặt hàng và cơ cấu sản phẩm xuất khẩu,gồm: lợi thế tự nhiên về địa lý và lợi thế về lao động (Võ Thanh Thu, 2008):
Lợi thế địa lý: Việt Nam là quốc gia nằm hoàn toàn trong khu vực nhiệt đới gió mùa,được thiên nhiên ưu đãi với những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho hoạt động sản xuất nôngsản, cây công nghiệp và thủy hải sản… là những sản phẩm xuất khẩu chủ lực hiện nay Cụ thể,đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi chằng chịt, được phù xa bồi đắp quanh năm,rất thuận lợi cho trồng lúa và nuôi thủy sản Các tỉnh miền Đông và Tây Nguyên với đặc điểmđất đai chủ yếu là đất đỏ Bazan, phù hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp là cao su, càphê
Trang 20Lợi thế lao động: với dân số trên 86 triệu, Việt Nam được xếp loại quốc gia đông dân.Theo xếp hạng dân số của Ngân hàng thế giới, Việt Nam đứng thứ 13 trên thế giới (WorldBank, 2011) Cơ cấu dân số của Việt Nam hiện đang được xem là “cơ cấu vàng” với đa sốtrong độ tuổi lao động, tuy nhiên cơ cấu này đang thay đổi nhanh chóng theo hướng già hóa(Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam, 2009 – 2010) Ngoài ra, Việt Nam còn là quốc gia cómức thu nhập bình quân đầu người thấp, tạo ra lợi thế nhân công rẻ trong thời gian qua Sốliệu xếp hạng quốc gia theo thu nhập bình quân đầu người năm 2009 của Ngân hàng Thế giớicho thấy thứ hạng của Việt Nam rất thấp, đứng thứ 153 trên tổng số 211 quốc gia và vùng lãnhthổ, thấp hơn khá nhiều so với các đối thủ cạnh tranh.
Bảng 3.1- Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh
Đơn vị tính: đô la Mỹ
Số Quốc gia Xếp hạng/211 quốc gia Thu nhập
vụ sản xuất xuất khẩu; ưu đãi đầu tư các dự án sản xuất hàng xuất khẩu (Đinh Công Khải,2010)… nhưng trên thực tế, đối với từng mặt hàng, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhànước đến nay chỉ mới đề ra được các Đề án, Chiến lược, Quy hoạch… đối với các sản phẩm
Trang 21xuất khẩu truyền thống là các mặt hàng trong nhóm 1 và 2 như: dệt may, da giày, thủy hải sản,gạo, cà phê… do đó thế mạnh chính của xuất khẩu Việt Nam vẫn chủ yếu chỉ dựa trên nhữngsản phẩm này.
Về vấn đề tỷ giá, chính sách tỷ giá của Việt Nam trong suốt nhiều năm qua được quyđịnh theo cách thức neo cứng tỷ giá đồng Việt Nam vào đô la Mỹ (Báo cáo cuối cùng, Mutrap
II, 2008)
Hình 3.2- Diễn biến của tỷ giá hiệu dụng đồng Việt Nam thực và danh nghĩa
Nguồn: trích Báo cáo cuối cùng, Dự án hỗ trợ chính sách thương mại đa biên giai đoạn II Qua hình 3.2 cho thấy, khác với các giai đoạn trước khi đồng Việt Nam được định giáthấp, trong giai đoạn các năm 2004 – 2008, tỷ giá danh nghĩa ngày càng vượt xa tỷ giá thựchiệu dụng, điều này chỉ ra xuất khẩu sẽ gặp nhiều bất lợi do giá trị thực đồng Việt Nam đangngày càng tăng Đến năm 2008, khoảng cách này gia tăng rất lớn làm cho xuất khẩu Việt Namthực sự bất lợi, dẫn đến kết quả mức thâm hụt cán cân thương mại liên tục tăng lên và đạt mứccao nhất trong năm 2008
Về các công cụ bảo hộ, cho tới trước thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chứcThương mại thế giới WTO vào năm 2007, các công cụ bảo hộ mậu dịch chính vẫn được thựchiện dưới các quy định về thuế xuất nhập khẩu và tài trợ xuất khẩu thông qua hình thức thưởngxuất khẩu
Trang 223.2.2- Các yếu tố ngoại sinh
3.2.2.1- Thị trường xuất khẩu
Bảng 3.2- Tốc độ tăng trưởng của mười thị trường xuất khẩu lớn nhất của mười nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2004 – 2008
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn của các mặt hàng thuộc cả ba nhóm 1, 2 và 3.Ngoại trừ hai mặt hàng gạo và cáp điện, 16/18 mặt hàng chủ lực của Việt Nam đã được xuấtkhẩu vào thị trường này Trong đó, đứng đầu là các mặt hàng quần áo, giày dép, gỗ nguyênliệu thành phẩm, đồ gỗ, sản phẩm điện tử và đứng thứ hai, ba về các mặt hàng: thủy hải sản,sợi, vải, gỗ nguyên liệu, sản phẩm máy tính, cà phê, cao su chế biến, nhựa thành phẩm và dâyđiện (Phụ lục 8)
Nhật là thị trường của 17/18 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam ( trừ mặt hàng
Trang 23cáp điện ) và là thị trường lớn nhất của các sản phẩm thuộc hai nhóm 1 và 3 gồm: vải, thủy hảisản, sản phẩm máy tính, mặt hàng nhựa các loại Nhật cũng là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai
và thứ ba của các mặt hàng: quần áo, đồ gỗ các loại, sản phẩm điện tử, cao su chế biến và dâyđiện (Phụ lục 9)
Trung Quốc là thị trường lớn nhất của các mặt hàng thuộc nhóm 2: sợi, gỗ nguyên liệu,cao su thô và chế biến, tuy nhiên chỉ có 12/18 sản phẩm chủ lực của Việt Nam được xuất khẩuvào thị trường này (Phụ lục 10)
Như vậy, có thể thấy thị trường xuất khẩu của các mặt hàng chủ lực của Việt Nam có tỉ
lệ tập trung cao vào ba thị trường Hoa Kỳ, Nhật và Trung Quốc Trong đó, thị trường TrungQuốc là thị trường nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng nguyên liệu thô, Hoa Kỳ và Nhật lại là thịtrường tiêu dùng
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào các thị trường cũng cho thấy có sự tập trung cao, cácthị trường có tỷ trọng lớn như: Nhật, Hoa Kỳ vẫn được tiếp tục khai thác mạnh với tốc độtương đối cao so các thị trường khác Tuy nhiên, với thị trường Trung Quốc, tốc độ tăng kháthấp, chỉ ở mức 67% (Bảng 3.2)
3.2.2.2- Đối thủ cạnh tranh
Trên cơ sở so sánh sự tương đồng về lợi thế địa lý, thiên nhiên như: cùng là các nướcnông nghiệp trong khu vực, có cảng biển và hàng không quốc tế; mức độ phát triển kinh tếkhông quá chênh lệch và đều xuất khẩu các mặt hàng cùng loại với mười nhóm mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam để từ đó có thể chọn ra những quốc gia là đối thủ cạnh tranh thờigian qua, hiện nay và trong tương lai trong xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam là:Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines Số liệu thống kê năm 2008 của Cơquan Thống kê Liên hiệp quốc cho thấy các quốc gia này đều có xuất khẩu với số lượng lớncác mặt hàng thuộc mười nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (Phụ lục 5)
So với các đối thủ, về giá trị tuyệt đối, đa số các mặt hàng của Việt Nam có kim ngạchxuất khẩu thấp hơn hoặc chỉ xấp xỉ bằng Việt Nam chỉ có duy nhất mặt hàng cà phê có kimngạch xuất khẩu đứng đầu Hai mặt hàng đứng thứ hai là gạo (2,9 tỷ đô la Mỹ) sau Thái Lan(6,1 tỷ đô la Mỹ) và giày dép (4,9 tỷ đô la Mỹ) sau Trung Quốc (29,7 tỷ đô la Mỹ) Các mặthàng có thế mạnh khác của Việt Nam như: cao su, đồ gỗ và thủy hải sản, kim ngạch xuất khẩuvẫn thấp hơn Thái Lan, Indonesia và Malaysia (Phụ lục 5)
So sánh tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các mặt hàng chủ lực của Việt Nam với đốithủ cạnh tranh, kết quả cho thấy:
Trang 24Bảng 3.3- Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu các nước giai đoạn 2004 – 2008
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của Cơ quan Thống kê Liên hiệp quốc ( 2010 )
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam nhìn
chung tương đối cao, tương đương Trung Quốc và có sự vượt trội so các đối thủ còn lại Một
số mặt hàng tuy không tăng đột biến nhưng vẫn có tốc độ rất cao, vượt khá xa so các đối thủnhư: dệt may, cao su thô, nhựa thành phẩm và sản phẩm điện tử Riêng mặt hàng cao su chếbiến có tốc độ tăng trưởng thấp, chỉ đạt 52%, so Indonesia tăng thấp nhất (93%), Philippinescao nhất (239%), Trung Quốc (213%)…
3.3- Kết luận chương
Từ kết quả phân tích kim ngạch, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và qua
so sánh với các đối thủ cạnh tranh cho thấy thực trạng của xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2004– 2008 có những đặc điểm chính như sau:
Trang 25Xuất khẩu Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng tập trung chủ yếu vào các sản phẩmkhai thác lợi thế tự nhiên và lao động sẵn có Tuy nhiên, các lợi thế này hoàn toàn có thể thayđổi nhanh chóng do tài nguyên thiên nhiên có giới hạn và lực lượng lao động Việt Nam có tốc
độ già hóa cao
Thị trường xuất khẩu cũng khá tập trung, chủ yếu là bốn thị trường: Mỹ, Nhật, TrungQuốc và Úc
Xuất khẩu còn nhiều hạn chế so với đối thủ Cụ thể: giá trị tuyệt đối của kim ngạchxuất khẩu thấp; giá trị gia tăng thấp; cơ cấu ngành hàng duy trì lâu trong tình trạng khá bất lợi,các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn và chủ yếu còn ở dạng sản phẩm thô, sơ chế, sảnxuất thâm dụng lao động
Trang 26CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH LỢI THẾ SO SÁNH VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004 - 2008
Chương 4 trình bày kết quả phân tích lợi thế so sánh của mười nhóm mặt hàng chủ lực,các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu và sử dụng các kết quả trên để phối hợp phântích, làm cơ sở đánh giá năng lực cạnh tranh của xuất khẩu Việt Nam
4.1- Phân tích lợi thế so sánh thể hiện của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Kết quả phân tích cho thấy Việt Nam có 10/18 mặt hàng có lợi thế so sánh
Hình 4- Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có lợi thế so sánh thể hiện năm 2008
22 Cà phê, 3.40%
21 20 19 18
10 Quần áo, 13.92%
9 Cao su thô, 2.53%
8 7 6
4
Gỗ, 0.56% Vải, 2.49%
3 2 1
0 0 20 40 60 80 100 -1 Nhựa thành phẩm,
SiTC 1.16%
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của Cơ quan thống kê Liên Hiệp quốc ( 2010 )
Trang 27Chỉ số RCA của các mặt hàng xuất khẩu trình bày trong hình đo lường bằng giá trị trêntrục tung Trục hoành thể hiện hệ số SITC trong danh mục thống kê các mặt hàng xuất khẩu.
Tỷ trọng xuất khẩu của mặt hàng thể hiện qua kích cỡ bong bóng Các mặt hàng không có lợithế so sánh sẽ không được thể hiện trong hình Các mặt hàng có lợi thế so sánh thể hiện cao có
hệ số RCA trong khoảng 1 < RCA < 2,5 và rất cao khi hệ số RCA > 2,5 (OECD, 1990)
Như vậy, Việt Nam có bảy sản phẩm có lợi thế so sánh thể hiện rất cao là: gạo (35,80),
cà phê (20,49), giày dép (14,14), thủy hải sản (12,26), cao su thô (11,31), quần áo (5,48) và đồ
gỗ (4,64), đây chính là các mặt hàng chiếm tỷ trọng cao, có nhiều lợi thế về yếu tố sản xuấtnhưng là sản phẩm thâm dụng lao động hoặc phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu
So sánh hệ số RCA các mặt hàng tại hai thời điểm 2004 và 2008 cho thấy không có cảithiện về chỉ số, chỉ có sự thay đổi tỷ trọng của các mặt hàng trong nhóm 1 theo hướng giảmnhẹ (Hình 4 và phụ lục 6) Do đó, kim ngạch xuất khẩu giai đoạn này dù tăng khá nhưng giá trịgia tăng tăng thấp
So sánh lợi thế so sánh thể hiện các mặt hàng chủ lực của Việt Nam với đối thủ:
Bảng 4.1- So sánh lợi thế so sánh các sản phẩm chủ lực của Việt Nam với các đối thủ.
TT Tên mặt hàng Nam Quốc Lan Indonesia Malaysia Philippines
Trang 28Kết quả trình bày trong Bảng 4.1 được tính toán dựa trên số liệu thống kê kim ngạchxuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam và kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này củacác đối thủ cạnh tranh trong giai đoạn 2004 – 2008 Giá trị hệ số RCA lớn hơn 1 cho biết mặthàng có lợi thế so sánh, thể hiện là các số in đậm.
Kết quả so sánh từ bảng trên cho thấy: với số lượng 10/18 mặt hàng có lợi thế so sánhthể hiện, so với các đối thủ, Việt Nam chỉ vượt Philippines (4 mặt hàng), tương đươngMalaysia (9 mặt hàng) và ít hơn các đối thủ còn lại, riêng Thái Lan đã vượt xa Việt Nam với14/18 mặt hàng Về giá trị, Việt Nam có sự vượt trội ở sáu mặt hàng: quần áo (5,48), giày dép(14,14), thủy hải sản (12,26), đồ gỗ (4,68), gạo (35,80) và cà phê (20,49) Tuy nhiên, sự vượttrội về giá trị này chưa thực sự thể hiện đầy đủ năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam dovẫn còn thua sút về giá trị tuyệt đối của kim ngạch xuất khẩu so với các đối thủ cạnh tranh Cụthể, ngoài cà phê và gạo, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác khá thấp, đặc biệt là so vớiTrung Quốc và Thái Lan (Phụ lục 5)
Như vậy, hầu hết các sản phẩm thuộc nhóm 1 và 2 đều có lợi thế so sánh thể hiện Sosách với các đối thủ cho thấy một số sản phẩm có lợi thế rất cao và vượt trội Tuy nhiên, do lợithế so sánh thể hiện giúp thể hiện mức độ chuyên môn hóa trong sản xuất, xuất khẩu một mặthàng, vì vậy chỉ phản ánh mức độ năng lực cạnh tranh của mặt hàng đó một cách tương đốigiữa các quốc gia có năng lực xuất khẩu tương đồng mà chưa thể so sánh trong trường hợp cácquốc gia có sự khác biệt lớn về giá trị tuyệt đối trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Ngoài ra,trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn còn có ba sản phẩm không có lợi thế
so sánh thể hiện là: sợi (0,53), gỗ nguyên liệu chế biến (0,73) và cao su chế biến (0,67)
Đối với nhóm 3, ngoại trừ mặt hàng nhựa thành phẩm là mặt hàng duy nhất trongnhóm có lợi thế so sánh thể hiện (1,18), các mặt hàng còn lại không có lợi thế so sánh thể hiện.Trong khi đó, trừ Philippines, các đối thủ khác đều có lợi thế so sánh thể hiện ở hầu hết nhữngmặt hàng này
4.2- Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu các nhóm mặt
hàng chủ lực của Việt Nam
Tính toán thay đổi kim ngạch xuất khẩu được đo lường bằng đơn vị đô la Mỹ Kết quảtính toán ba hệ số thị phần quốc gia NS, cơ cấu ngành IM và thị phần khu vực RS cho thấy cóhai cấu phần có ảnh hưởng khá tích cực đến kết quả tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam giaiđoạn 2004 – 2008 là thị phần quốc gia NS và thị phần khu vực RS:
Trang 29Bảng 4.2- Kết quả phân tích theo phương pháp Dịch chuyển - cấu phần cho mười nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2008
Đơn vị tính: triệu đô la Mỹ
Tổng thay đổi Yếu tố Yếu tố Yếu tố kim ngạch thị phần cơ cấu thị phần
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của Cơ quan thống kê Liên hiệp quốc ( 2010 )
Theo Bảng trên, các số trong cột TS thể hiện giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng thêm củamặt hàng tương ứng trong giai đoạn 2004 - 2008 Đối với các cột NS, IM, RS, các con số thểhiện kết quả tác động của mỗi yếu tố này qua từng mặt hàng Các số trong ngoặc đơn là giá trị
âm, thể hiện tác động tiêu cực lên tăng trưởng xuất khẩu Theo phương pháp này, giá trị tổngkim ngạch xuất khẩu tăng thêm (TS) sẽ bằng tổng giá trị các yếu tố NS, IM và RS Như vậy, từnăm 2004 đến 2008, kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng chủ lực đã tăng lên 20,45 tỷ đô la
Mỹ và chịu sự tác động bởi ba yếu tố thị phần quốc gia, cơ cấu ngành và thị phần khu vực:4.2.1- Thị phần quốc gia (NS)
Trong tình hình kinh tế thế giới phát triển thuận lợi, cầu nhập khẩu gia tăng giúp xuấtkhẩu Việt Nam hưởng lợi từ sự tăng trưởng này Cụ thể, các mặt hàng chủ lực đều có hệ số NS
Trang 30dương cho biết trong 20,45 tỷ đô la Mỹ tăng thêm từ xuất khẩu các mặt hàng này, yếu tố thịphần quốc gia đã có tác động tích cực, giúp đóng góp đến 11,3 tỷ đô la Mỹ, chiếm tỷ trọng55,1% Điều này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2004 - 2008 phụ thuộc rất lớn vàoyếu tố bên ngoài Nói cách khác, trong trường hợp kinh tế thế giới gặp khó khăn, thị trườngxuất khẩu giảm sút thì Việt Nam khó có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và
ổn định Đối với từng nhóm hàng, ta thấy nhóm 1 gồm các mặt hàng: quần áo, giày dép, thủyhải sản có đóng góp nhiều nhất (hệ số NS có giá trị tuyệt đối cao nhất) Tiếp theo là các mặthàng thuộc nhóm 2 gồm: gạo, cao su, cà phê, đồ gỗ Riêng nhóm 3, chỉ có mặt hàng máy vitính có đóng góp cao, các mặt hàng còn lại đóng góp thấp hơn rất nhiều
4.2.2- Cơ cấu ngành (IM)
Hệ số IM có vai trò khá quan trọng trong tác động đến tăng trưởng xuất khẩu Kết quảtính toán cho thấy hệ số IM của mười nhóm mặt hàng có giá trị âm, điều này có nghĩa cơ cấumặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2008 là chưa hợp lý, tập trung
nhiều vào sản phẩm cầu thị trường thấp (12/18 mặt hàng có giá trị âm), tạo ra nguy cơ tiềm ẩn
có thể làm giảm tăng trưởng xuất khẩu Cụ thể, toàn bộ nhóm 1 gồm các mặt hàng: quần áo,giày dép và thủy hải sản có hệ số IM âm chỉ ra những mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch cao lànhững mặt hàng cầu nhập khẩu thế giới đang bão hòa Nhóm 2, có bốn mặt hàng có hệ số IMdương là: cà phê, gạo, cao su thô và chế biến cho biết xuất khẩu các mặt hàng này đang cóthuận lợi từ cầu nhập khẩu thế giới Trong nhóm 3, chỉ có hai mặt hàng dây điện và cáp điện
có kết quả dương, các mặt hàng còn lại đều âm, điều này nói lên việc sản xuất, xuất khẩu cácmặt hàng công nghiệp của Việt Nam cũng đang gặp khó khăn về thị trường
Đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng xuất khẩu từ yếu tố thị phần khu vực (thể hiệnqua giá trị tuyệt đối của hệ số RS) là các mặt hàng: quần áo (2,9 tỷ đô la Mỹ), đồ gỗ (1,2 tỷ đô
la Mỹ), thủy hải sản (1,2 tỷ đô la Mỹ)… đây cũng chính là các mặt hàng thâm dụng lao độnghoặc phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu Hệ số RS có giá trị âm duy nhất rơi vào mặt
Trang 31hàng cao su chế biến Điều này thực sự là nghịch lý do cao su chế biến là mặt hàng trong nước
có nhiều lợi thế Kết quả này cho thấy đã có sự mâu thuẫn rất lớn trong hoạt động sản xuất,xuất khẩu của Việt Nam
Trên đây là kết quả phân tích riêng biệt các yếu tố góp phần quy định năng lực cạnhtranh của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực Để có cái nhìn đầy đủ hơn và có thêm cơ sở xâydựng giải pháp cho xuất khẩu, nghiên cứu tiếp tục thực hiện phân tích phối hợp các kết quảtìm được như sau:
4.3- Phân tích phối hợp các yếu tố tác động đến tăng trưởng xuất khẩu và lợi thế so sánh
thể hiện của các sản phẩm xuất khẩu chủ lực
Từ kết quả tính toán lợi thế so sánh thể hiện và các hệ số ảnh hưởng đến tăng trưởngxuất khẩu, nghiên cứu hình thành ma trận phối hợp để giúp nhìn rõ hơn những đặc điểm củacác mặt hàng chủ lực:
Bảng 4.3 – Ma trận phối hợp kết quả tính toán của hai phương pháp:
Lợi thế so sánh thể hiện và Dịch chuyển – cấu phần
- Cáp điện
( - )
- Nhựa nguyên liệu
( - ) - Cao su chế biến
Trang 32Các yếu tố thể hiện trong ma trận hình thành trên một số nguyên tắc:
Các mặt hàng có lợi thế so sánh thể hiện sẽ được chia làm hai loại: lợi thế cao, hệ sốRCA có giá trị từ 1 – 2,5 và rất cao với giá trị trên 2,5
Các hệ số mang giá trị dương thể hiện kết quả tác động tích cực
Các hệ số mang giá trị âm thể hiện tác động tiêu cực
Các mặt hàng có chữ in đậm là những sản phẩm có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuấtkhẩu rất cao so các mặt hàng còn lại
Các mặt hàng có chữ in nghiêng là những sản phẩm có tốc độ tăng trưởng kim ngạchxuất khẩu thấp so các mặt hàng còn lại
Qua ma trận trên, phối hợp với các yếu tố nội và ngoại sinh, nghiên cứu thực hiện đánhgiá năng lực cạnh tranh của các mặt hàng chủ lực Việt Nam so với đối thủ, có thể phân chiacác mặt hàng chủ lực ra ba loại chính có đặc điểm đặc trưng như sau:
Loại các mặt hàng có năng lực cạnh tranh và có nhiều ưu thế với đặc điểm sau: thứnhất, có lợi thế tự nhiên và có hệ số lợi thế so sánh thể hiện rất cao so các đối thủ (RCA > 2,5).Thứ hai, có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao Thứ ba, việc khai thác các lợi thế sẵn
có được thực hiện hiệu quả (hệ số RS dương) Như vậy, loại này gồm sáu mặt hàng thuộcnhóm 1 và 2 là: quần áo, giày dép, thủy hải sản, gạo, cà phê, cao su thô và đồ gỗ Sáu mặt hàngnày chiếm tỷ trọng rất cao trong mười nhóm mặt hàng chủ lực (77,2%)
Loại các mặt hàng có tiềm năng phát triển gồm các sản phẩm có những đặc điểm: cólợi thế so sánh (RCA > 1) và phải có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao so đối thủhoặc nếu không có lợi thế so sánh (RCA < 1) thì phải có cầu thị trường thuận lợi (hệ số IMdương) và có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao so đối thủ Như vậy, loại này gồm
có các mặt hàng: nhựa thành phẩm, gỗ nguyên liệu, đồ gỗ, vải, dây điện và cáp điện, chiếm tỷtrọng 15% trong mười nhóm mặt hàng chủ lực
Loại các mặt hàng không có năng lực cạnh tranh, có các đặc điểm: thứ nhất, không cólợi thế so sánh (RCA < 1) Thứ hai, cầu thị trường thấp (hệ số IM âm) và thứ ba, các lợi thếsẵn có đã được khai thác tối đa (RS dương ) Như vậy, nhóm này sẽ gồm các mặt hàng: sợi, gỗnguyên liệu thành phẩm, sản phẩm điện tử, máy vi tính, nhựa nguyên liệu
Riêng mặt hàng cao su chế biến có đặc điểm khá khác biệt Mặt hàng có nhiều lợi thế
tự nhiên nhưng không có lợi thế so sánh (RCA < 1), tốc độ tăng trưởng thấp so các đối thủ.Tuy nhiên, mặt hàng này lại có đặc điểm của loại hàng có tiềm năng về cầu thị trường (IM
Trang 33dương) Nguyên nhân đưa đến sự khác biệt này có thể là do đây là mặt hàng duy nhất chưakhai thác tốt những lợi thế sẵn có (RS âm).
4.4- Kết luận chương
Chương 4 trình bày cách thức, phương pháp thực hiện nghiên cứu trên cơ sở sử dụngphương pháp Lợi thế so sánh thể hiện để tính cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực và phươngpháp Dịch chuyển – cấu phần để tính toán, lượng hóa các yếu tố tác động lên sự tăng trưởngcủa xuất khẩu Việt Nam, bao gồm: yếu tố thị phần quốc gia, cơ cấu ngành và thị phần khuvực Kết quả tính toán cho thấy, trong mười tám loại sản phẩm thuộc mười nhóm mặt hàngchủ lực, Việt Nam có mười sản phẩm có lợi thế so sánh thể hiện là: quần áo, vải, giày dép,thủy hải sản, gạo, cà phê, cao su thô, gỗ nguyên liệu, đồ gỗ và nhựa thành phẩm Trong đó,bảy mặt hàng đầu có lợi thế so sánh thể hiện rất cao (RCA > 2,5) là: quần áo, giày dép, thủyhải sản, gạo, cà phê, cao su thô và đồ gỗ
Về các yếu tố tác động đến tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, trong giai đoạn 2004 –
2008, tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đã tăng thêm 20,4 tỷ đô la Mỹ Các yếu
tố tác động lên sự gia tăng này gồm: yếu tố thứ nhất là thị phần quốc gia (NS), tác động tíchcực và đóng góp 11,3 tỷ đô la Mỹ, chiếm 55,1% tổng đóng góp Yếu tố thứ hai là cơ cấu ngành(IM) tác động tiêu cực, không có đóng góp cho sự tăng trưởng xuất khẩu Yếu tố này cũng đãgián tiếp chỉ ra cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu giai đoạn nghiên cứu chưa hợp lý, còn tập trungvào các mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân của thế giới thấp Yếu tố thứ ba làthị phần khu vực (RS) cũng có tác động tích cực, đóng góp cho tăng trưởng chung 11 tỷ đô la
Mỹ, chiếm 54% tổng đóng góp
Phân tích phối hợp hai kết quả tính toán từ hai phương pháp Lợi thế so sánh thể hiện vàDịch chuyển - cấu phần giúp chỉ ra rõ hơn đặc điểm của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, từ đó
sơ bộ xác định và phân loại các mặt hàng thành ba loại: các mặt hàng có năng lực cạnh tranh
và có nhiều ưu thế gồm các mặt hàng: quần áo, giày dép, thủy hải sản, gạo, cà phê, cao su thô
và đồ gỗ Loại có tiềm năng phát triển gồm các mặt hàng: nhựa thành phẩm, gỗ nguyên liệu,
đồ gỗ, vải, dây điện và cáp điện và loại các mặt hàng không có năng lực cạnh tranh gồm: sợi,
gỗ nguyên liệu thành phẩm, sản phẩm điện tử, máy vi tính, nhựa nguyên liệu
Trang 34CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Chương 5 trình bày kết luận và khuyến nghị chính sách Theo đó, chương này sẽ trìnhbày tóm tắt những phát hiện chính của nghiên cứu, các gợi ý chính sách, nêu ra những hạn chếcủa đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
5.1- Kết luận
Với mục tiêu đánh giá thực trạng và năng lực, xác định thế mạnh và hạn chế của xuấtkhẩu Việt Nam giai đoạn 2004 – 2008 Nghiên cứu đã kết hợp các phương pháp thống kê mô
tả, phân tích thống kê với hai phương pháp Lợi thế so sánh thể hiện và Dịch chuyển - cấu phần
để thực hiện phân tích, xác định lợi thế so sánh của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, các yếu tốtác động đến tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn này; so sánh với các đối thủ cạnh tranh để hiểu
rõ hơn năng lực cạnh tranh của xuất khẩu Việt Nam Theo đó, về tổng quan, trong giai đoạn
2004 – 2008, xuất khẩu Việt Nam tăng trưởng nhanh về lượng nhưng chưa có nhiều thay đổi
về chất, sản phẩm và thị trường khá tập trung Với 10/18 mặt hàng chủ lực có lợi thế so sánhthể hiện, được hưởng lợi khá nhiều từ các điều kiện tự nhiên và các yếu tố ngoại sinh, các mặthàng này đã thể hiện được nhiều ưu thế tương đối nhưng về năng lực tuyệt đối thì vẫn còn cógiới hạn và khoảng cách khá xa so với đối thủ cạnh tranh Kết quả phân tích cụ thể cho biết:
Về thực trạng, xuất khẩu tăng trưởng chủ yếu tập trung trong một số sản phẩm có lợithế quốc gia nhưng vẫn còn ở dạng sản phẩm thô, sơ chế, thâm dụng lao động ; năng lực xuấtkhẩu được tăng cường theo chiều rộng, thiếu chiều sâu, thể hiện qua việc tăng lượng hàngnhưng giá trị gia tăng tăng thêm thấp
Về năng lực cạnh tranh, trong số mười mặt hàng có lợi thế so sánh thể hiện, có bảy mặthàng có lợi thế rất cao Qua phân tích kết hợp với các yếu tố nội, ngoại sinh cho thấy các mặthàng chủ lực so với đối thủ cạnh tranh có thể chia làm ba loại chính là: loại có năng lực cạnhtranh; loại có tiềm năng và loại không có năng lực cạnh tranh lẫn thiếu tiềm năng phát triển
Kết quả phân tích cũng giúp tìm ra sản phẩm cao su chế biến là mặt hàng có nhiều thếmạnh, tiềm năng, có khả năng hình thành chuỗi giá trị gia tăng cao trong xuất khẩu nhưngchưa được khai thác tốt
Kết luận lại, xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2004 – 2008 tăng trưởng khá thuận lợi nhờ
có nhiều lợi thế sẵn có và các yếu tố bên ngoài khác, tạo nên khả năng cạnh tranh cao nhưngchỉ ở mức độ tương đối và chưa bền vững so với đối thủ Ngoài ra, phân tích cũng cho thấy
Trang 35xuất khẩu Việt Nam vẫn còn có tiềm năng và khả năng phát huy tốt nếu được điều chỉnh chiếnlược và thực hiện khai thác hiệu quả hơn Trên cơ sở đó, dưới đây nghiên cứu dự kiến thựchiện đề xuất các giải pháp cho xuất khẩu Việt Nam.
5.2- Gợi ý chính sách
Trên cơ sở phân tích thực trạng và tìm ra được một số vấn đề chủ chốt, các yếu tố tácđộng quyết định đến tăng trưởng xuất khẩu (lợi thế so sánh thể hiện, cơ cấu ngành, thị phầnkhu vực), căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, giải pháp xây dựng dự kiến thông qua tác động đếnnhững yếu tố trên với kỳ vọng đảm bảo tính phù hợp tương đối với kết quả phân tích Cụ thể:
Đối với lợi thế so sánh thể hiện, nghiên cứu đã chỉ ra: để nâng cao lợi thế so sánh thểhiện một mặt hàng xuất khẩu, giải pháp khả thi quan trọng nhất là nâng cao tỷ trọng kim ngạchxuất khẩu của mặt hàng
Về các yếu tố tác động đến tăng trưởng xuất khẩu: đối với yếu tố thị phần quốc gia(NS), cần tích cực tập trung khai thác các thuận lợi về thị trường để chiếm lĩnh và củng cố thịphần Đối với các yếu tố cơ cấu ngành (IM) và thị phần khu vực (RS), để nâng cao năng lựcxuất khẩu cần tập trung nâng cao tỷ trọng các mặt hàng có hệ số dương Cuối cùng, về vấn đềchính sách, định hướng chung là cần tạo điều kiện thuận lợi và phát huy tốt đối với việc tácđộng đến các yếu tố lợi thế so sánh, các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu và chuẩn
bị cho khả năng thay đổi về lợi thế tự nhiên và nguồn lực lao động
Như vậy, trên cơ sở thực trạng và căn cứ mục tiêu nghiên cứu, chiến lược chung nhằmnâng cao hiệu quả xuất khẩu đối với những sản phẩm chủ lực trong điều kiện nghiên cứu cầnthực hiện như sau:
Trong ngắn hạn
Tiếp tục duy trì thực hiện chính sách ưu tiên cho xuất khẩu nhằm phát huy, khai tháctối đa hiệu quả các lợi thế sẵn có để đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu, góp phần tạo thêm nhiềuviệc làm, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trường
Về thị trường, tận dụng, khai thác triệt để các thị trường truyền thống đối với các mặthàng có lợi thế so sánh và cầu thị trường đang dần bão hòa, cụ thể là mười thị trường xuấtkhẩu lớn nhất
Tập trung nguồn lực, đẩy mạnh đầu tư, sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng cầu thịtrường đang lớn, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao
Trong dài hạn
Tăng cường công tác đào tạo nhân lực, tập trung đào tạo lao động có trình độ chuyên
Trang 36môn trong sản xuất hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao thay cho lao động giản đơn.
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực theo hướng giảm dần tỷtrọng các sản phẩm gia công, thâm dụng lao động, nâng cao tỷ trọng các mặt hàng có hàmlượng công nghệ cao
Khai thác tối đa nguồn nguyên liệu trong nước để phục vụ cho sản xuất hàng xuấtkhẩu, giảm dần mức độ lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Giảm dần đầu tư vào các mặt hàng không có lợi thế so sánh, cầu thị trường bão hòa đểtránh lãng phí nguồn lực
Tiếp tục tạo thêm nhiều lợi thế mới thông qua điều chỉnh chiến lược sản xuất, xuấtkhẩu các mặt hàng có lợi thế về nguồn nguyên liệu, phù hợp với điều kiện sản xuất trong nướcnhưng việc khai thác thực hiện chưa hiệu quả
Căn cứ trên định hướng chiến lược chung và căn cứ vào kết quả phân loại năng lựccạnh tranh các mặt hàng chủ lực thành ba loại sản phẩm chính, giải pháp cụ thể cho từng loại
sẽ là:
Đối với các mặt hàng có năng lực cạnh tranh: gồm các mặt hàng quần áo, giày dép,
thủy hải sản, gạo, cà phê, cao su thô, đồ gỗ với các đặc điểm chung: có lợi thế tự nhiên thuậnlợi, có kim ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, chiếm tỷ trọng lớn, có lợi thế so sánhcao và đang được khai thác hiệu quả Căn cứ thêm vào hình thức sản xuất, nhóm này có thểtiếp tục được chia làm hai loại:
Các mặt hàng là sản phẩm gia công, gồm: quần áo, giày dép và sản phẩm gỗ Các sảnphẩm này cần thực hiện chính sách: tích cực khai thác triệt để năng lực hiện hữu để củng cố thịphần và thương hiệu, duy trì kim ngạch xuất khẩu Để nâng cao lợi thế cạnh tranh, cần quyhoạch lại, di dời hoạt động sản xuất về các địa bàn có nguồn lao động phổ thông dồi dào, gầncảng… để giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm cơ sở hạ tầng chất lượng cao cho các hoạt động sảnxuất kinh doanh khác có hiệu quả hơn Về chiến lược thị trường, bên cạnh củng cố, khai thácthị trường truyền thống, cần tìm kiếm thêm thị trường mới để hạn chế yếu tố rủi ro thị trường
Các sản phẩm sơ chế, gồm các mặt hàng thủy hải sản, gạo, cà phê, cao su thô Hoạtđộng sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng này đến nay vẫn còn giới hạn ở hình thức xuất khẩu sảnphẩm thô, giá trị gia tăng không cao Giải pháp cho các mặt hàng này vì vậy cần tập trung pháttriển theo chiều sâu, không đầu tư, phát triển mở rộng, hạn chế xuất thô, tăng cường hàmlượng chế biến để từng bước nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệmôi trường
Trang 37Đối với các mặt hàng có tiềm năng: gồm vải, gỗ nguyên liệu, nhựa thành phẩm, dây
và cáp điện, đặc điểm chung là có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao so với đối thủ và có lợi thế
so sánh hoặc nếu không có lợi thế so sánh thì cầu thị trường phải thuận lợi (hệ số IM > 0) Vớinhững đặc điểm trên, giải pháp cho các mặt hàng này là trong ngắn hạn, tranh thủ khai thácyếu tố thuận lợi thị trường để đẩy mạnh xuất khẩu Về lâu dài, để đảm bảo cho việc xây dựngđược và tăng cường năng lực cạnh tranh, giải pháp cần tập trung tác động vào yếu tố thị phầnkhu vực (RS), điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động sản xuất xuất khẩu theo hướng nâng cao hiệuquả khai thác lợi thế sẵn có, đó là thị trường nguyên liệu lớn cho các sản phẩm xuất khẩu khácnhư: quần áo, đồ gỗ, sản phẩm nhựa
Đối với loại mặt hàng không có năng lực cạnh tranh: đây cũng là các mặt hàng ít có
tiềm năng phát triển, đặc điểm chung của nhóm này là không có lợi thế so sánh, cầu thị trườngthấp trong khi các lợi thế sẵn có đã được khai thác tối đa, Nhóm này gồm có các mặt hàng:sợi, gỗ nguyên liệu thành phẩm, sản phẩm điện tử, máy vi tính và nhựa nguyên liệu Giải pháp
cụ thể cho những mặt hàng này là tiết kiệm nguồn lực, hạn chế đầu tư hoặc chỉ khuyến khíchđầu tư nước ngoài nhằm đào tạo lao động và nâng cao tỷ trọng các mặt hàng nhiều hàm lượngcông nghệ
Ngoài ra, do đặc điểm các lợi thế so với đối thủ đều ở mức tương đối và dễ dàng bịthay đổi theo thời gian nên việc duy trì lợi thế hiện hữu một cách bền vững, chủ động tạo ranhững lợi thế mới là đòi hỏi hết sức bức thiết Chính vì vậy, các giải pháp cho xuất khẩu cũngcần chú trọng đến việc chuyển đổi cơ cấu ngành hàng, tăng cường phát triển chiều sâu, hìnhthành chuỗi giá trị gia tăng cao Qua phân tích cho thấy nhóm các mặt hàng cao su là điểmnhấn, có nhiều tiềm năng Trong đó, mặt hàng cao su chế biến là sản phẩm đột phá để thựchiện điều chỉnh chiến lược xuất khẩu và hình thành chuỗi giá trị gia tăng cao Cụ thể, giải phápcho nhóm mặt hàng này là ưu tiên tập trung đầu tư cho sản xuất sản phẩm cao su chế biến; tíchcực khai thác thị trường trong nước, mở rộng sản xuất, tạo lợi thế theo quy mô; điều chỉnh,phân bổ lại hiệu quả khai thác nguồn lực, điều chỉnh chiến lược thị trường (cụ thể là thị trườngTrung Quốc) nhằm hạn chế xuất khẩu cao su thô để một mặt giảm lợi thế của đối thủ và giatăng lợi thế cho sản phẩm cao su chế biến của Việt Nam, qua đó hình thành chuỗi giá trị giatăng cao
Bên cạnh mong muốn chủ quan, trong khuôn khổ giới hạn cho phép của một luận văntốt nghiệp, đề tài này còn rất nhiều hạn chế, cần thực hiện đánh giá lại kết quả nghiên cứu và
đề xuất ý kiến phản biện để tìm hướng phát triển thêm cho nghiên cứu
Trang 385.3- Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Qua tập hợp số liệu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu và thực hiện phân tích, kết quảnghiên cứu để sử dụng làm căn cứ đề xuất khuyến nghị cho thấy nghiên cứu còn những hạnchế sau: công cụ phân tích sử dụng trong nghiên cứu chưa đủ khả năng để tách được các yếu tốtác động của khủng hoảng kinh tế lên hoạt động xuất khẩu Vì vậy, thời gian nghiên cứu chỉ cóthể dừng lại tới thời điểm năm 2008 là thời điểm trước khủng hoảng kinh tế thế giới nên kếtquả nghiên cứu có thể chưa phù hợp hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế hậu khủnghoảng Hơn nữa, nghiên cứu chỉ sử dụng kết quả phân tích được rút ra từ hai phương phápchính là Lợi thế so sánh thể hiện và Dịch chuyển – cấu phần nên chưa đi sâu vào phân tích bảnchất của vấn đề, nguyên nhân đưa đến các yếu tố tác động… do đó các giải pháp đưa ra cũngchỉ có thể mang tính hợp lý tương đối, phù hợp với kết quả nghiên cứu mà chưa đảm bảo tínhbao quát, tổng thể một cách đầy đủ theo yêu cầu của vấn đề
Cuối cùng, do nghiên cứu chỉ tập trung phân tích thiên lệch một lĩnh vực xuất khẩu, bỏqua nhập khẩu, trong khi hoạt động xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất cao vào nhập khẩunên việc phân tích tách biệt này sẽ khó đảm bảo tính toán, loại trừ được hết các yếu tố tác độnglẫn nhau giữa hai hoạt động
Như vậy, để có thể đáp ứng những yêu cầu nêu trên, nghiên cứu cũng có thể trở nênhoàn thiện hơn nếu tăng cường kết hợp sử dụng thêm các công cụ nghiên cứu khác, mở rộngthêm phạm vi nghiên cứu đến tất cả các loại hàng hóa trong toàn bộ lĩnh vực xuất nhập khẩucủa Việt Nam để có cái nhìn tổng quát, đầy đủ về hoạt động này, từ đó làm cơ sở cho nhữnggợi ý chính sách được đồng bộ, hoàn chỉnh và thiết thực hơn
Về giải pháp, nghiên cứu mới chỉ thực hiện phân loại và đề xuất giải pháp định hướngchung theo nhóm cho những mặt hàng có lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh và một số mặthàng có đặc điểm tương đối khác biệt mà chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể cho từng mặthàng Các giải pháp cũng chỉ mới dừng lại ở mức định hướng chung, để có thể đưa vào ápdụng trong thực tế đòi hỏi phải có thêm nhiều bước phân tích sâu và chi tiết hơn
Đối với những mặt hàng có một số đặc điểm khác biệt cần có giải pháp riêng như sảnphẩm cao su chế biến thì mức độ khả thi còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thực tế như đòihỏi có sự đồng thuận và nhất quán của các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị ban hành vàthực thi chính sách, cũng như khả năng tác động, chi phối của các nhóm lợi ích liên quan đếnhoạt động sản xuất và xuất khẩu
Trang 391- Báo cáo cuối cùng, Dự án hỗ trợ chính sách thương mại đa biên giai đoạn II (Mutrap II),
2008, truy cập tháng 7/2011 tại địa chỉ:
http://www.mutrap.org.vn/thu_vien/MUTRAPII/%C4%90%C3%A1nh%20gi%C3%A1%20t%C3%A1c%20%C4%91%E1%BB%99ng%20t%E1%BB%95ng%20th%E1%BB%83%20khi%20Vi%E1%BB%87t%20Nam%20tr%E1%BB%9F%20th%C3%A0nh%20th%C3%A0nh%20vi
%C3%AAn%20c%E1%BB%A7a%20WTO%20%C4%91%E1%BA%BFn%20thay%20%C4%91%E1%BB%95i%20XNK%20v%C3%A0%20th%E1%BB%83%20ch%E1%BA%BF.pdf
2- Báo cáo Năng lực cạnh tranh Việt Nam 2009 – 2010, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Tailieu.VN, truy cập tháng 5/2011 tại địa chỉ: http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/bao-cao-nang-luc-canh-tranh-viet-nam-2009-2010.447598.html
3- Vũ Thắng Bình (2006) “Cơ cấu và lợi thế so sánh của hàng xuất khẩu Việt Nam – Một cách
8- Võ Thanh Thu (2008), “Quan hệ kinh tế Quốc tế”, Nhà xuất bản Thống kê 2008
9- Tổng Cục Thống kê (2011), truy cập tại địa chỉ:
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=393&idmid=3&ItemID=10372
10- Lê Ngọc Uyển (2003), “Các lợi thế và bất lợi đối với thương mại quốc tế của Việt Nam
trong quá trình phát triển”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
11- Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM, “Lý thuyết về tính cạnh tranh”, truy cập tháng 5/2011
tại địa chỉ: http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=2768&cap=4&id=2769
Trang 406/2011 tại địa chỉ:
http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=289602
2- Coxhead, Ian, “A new resource curse? Impacts of China’s boom on Comparative Advantage
and Resource dependence in Southeast Asia”, University of Wisconsin – Madison, WI, USA.
Truy cập tháng 6/2011 tại địa chỉ:
http://www.aae.wisc.edu/coxhead/courses/hua-seadev/readings/Coxhead-2007.pdf
3- Dinc, Mustafa (2002), Regional and local economic analysis tools, World Bank Institute.
Truy cập tháng 6/2011 tại địa chỉ:
http://info.worldbank.org/etools/docs/library/128789/Dinc%202001.pdf
4- Dinc, Mustafa and Haynes, Kingsley E (2005), “European integration and international
trade in manufacturing: Productivity considerations and employment consequences” Truy cập
tháng 6/2011 tại địa chỉ:
http://www.google.com/books?hl=vi&lr=&id=pDk_ 6ChIZwwC&oi=fnd&pg=PA391&d q=
%E2%80%9CEuropean+integration+and+international+trade+in+manufacturing:+Pr oductivity+considerations+and+employment+consequences%E2%80%9D&ots=yHWp VKy320&sig=coctdt0ih01HXiTzXLzTFDDKi5Q#v=onepage&q=%E2%80%9CEurope an
%20integration%20and%20international%20trade%20in%20manufacturing%3A%20 Productivity%20considerations%20and%20employment%20consequences%E2%80%9 D&f=false
5- Dinc, Mustafa; Haynes, Kingsley E.; Stough, Roger R and Yilmaz, Serdar (1998), “Regional
universal telecommunication service provisions in the US: Efficiency versus penetration”,
Telecommunications Policy, Volume 22, Issue 6, 1 July 1998, Pages 541-553
6- Kian, Heng Peh and Fot, Chyi Wong, Growth in Singapore’s Export markets, 1991 – 96: A
Shift-share analysis, Moneytary Authority of Singapore Truy cập tại địa chỉ:
http://www.mas.gov.sg/resource/publications/staff_papers/MASOP004-ed.pdf