MỞ ĐẦU Quốc kỳ Nhật Bản Quốc huy Nhật Bản Nhật Bản là một 1 quốc gia hải đảo 31 hình vòng cung, có diện tích tổng cộng là 379.954 3439342km² nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa Châu Á. Nhật Bản thuộc vùng ôn đới, có 4 mùa rõ rệt. Nước Nhật có 4 đảo lớn theothứtựtừ bắc xuống Nam là: Hokkaido , Honshu,Shikoku và Kyushu cùng hàng ngàn đảo nhỏ chung quanh. Phần lớn đảo ở Nhật Bản có rất nhiều núi và 31núi lửa, tiêu biểu như 3349núi Phú Sĩ, cao nhất ở Nhật Bản. Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ mười thế giới với ước tính khoảng 128 triệu người. 9444Vùng thủ đô Tôkyô, bao gồm thủ đô 44Tôkyô và một vài 1113tỉnh xung quanh là lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống. Nhật Bản là một quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học và công nghệ. Được đánh giá là một cường quốc kinh tế, Nhật Bản là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba toàn cầu tính theo tổng sản phẩm nội địa là nước thứ ba sức mua tương đương chỉ sau Hoa Kỳ và 222Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; và là đất nước đứng thứ 5 trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng; xếp thứ 4 thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 6 thế giới về nhập khẩu. Quốc gia này là thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc, G8 và APEC. Nhật Bản theo thể chế quân chủ lập hiến, trong đó: Nhà Vua là Nguyên thủ tượng trưng về mặt đối ngoại. Nhà nước được tổ chức theo chế độ tam quyền phân lập.
Trang 1MỞ ĐẦU
Quốc kỳ Nhật Bản Quốc huy Nhật Bản
Nhật Bản là một 1 quốc gia hải đảo 31 hình vòng cung, có diện tích tổng cộng là 379.954 3439342km ² nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa Châu Á Nhật Bản thuộc vùng ôn đới, có 4 mùa rõ rệt Nước Nhật có 4 đảo lớn theothứtựtừ bắc xuống Nam là: Hokkaido , Honshu,Shikoku và Kyushu cùng hàng ngàn đảo nhỏ chung quanh Phần lớn đảo ở Nhật Bản có rất nhiều núi và 31núi lửa, tiêu biểu như 3349núi Phú Sĩ, cao nhất ở Nhật Bản Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ mười thế giới với ước tính khoảng 128 triệu người 9444Vùng thủ đô Tôkyô, bao gồm thủ đô 44Tôkyô và một vài 1113tỉnh xung quanh là lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống
Nhật Bản là một quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học và công nghệ Được đánh giá là một cường quốc kinh tế, Nhật Bản là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba toàn cầu tính theo tổng sản phẩm nội địa là nước thứ ba sức mua tương đương chỉ sau Hoa Kỳ và 222Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; và là đất nước đứng thứ 5 trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng; xếp thứ 4 thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 6 thế giới về nhập khẩu Quốc gia này là thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc, G 8 và APEC
Trang 2Nhật Bản theo thể chế quân chủ lập hiến, trong đó: Nhà Vua là Nguyên thủ tượng trưng về mặt đối ngoại Nhà nước được tổ chức theo chế độ tam quyền phân lập
Bản đồ Nhật Bản
NỘI DUNG
Trang 3CHƯƠNG I: Thể chế chính trị Nhật Bản.
1 Khái niệm thể chế chính trị.
Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các gia trị, chuẩn mực hợp thành nguyên tắc tổ chức và phương thức vận động của một chế độ chính trị, là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chính trị thuộc thượng tầng kiến trúc, là cơ sở chính trị- xã hội quy định tính chất, nội dung của chế độ xã hội nhằm bảo vệ quyền lực nhằm bảo vệ quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền
2 Lịch sử thể chế chính trị Nhật Bản.
Từ thế kỉ thứ 3 trên lãnh thổ Nhật Bản xuất hiện nhiều nhà nước cổ đại Những nahf nước này tồn tại độc lập và thường xuyên tiến hành chiến tranh nhằm thôn tính lẫn nhau Đến thế kỉ thứ 6, các quý tộc không ngừng xâm chiếm đất công, là cho mâu thuẫn nội bộ giai cấp thống trị Năm 587, xảy ra nội chiến giữa hai tập đoàn lớn là Soga và Mononobe, kết quả dòng họ Sogo chiến thắng
Năm 646, Thiên hoàng Cotocu tiến hành cuộc cải cách lớn Về chính trị, thiết lập nhà nước trung ương tập quyền theo hình mẫu nhà Đường
Năm 710, thủ đô cố định đầu tiên được xây dựng ở Nara
Năm 794, dòng họ Phudivara lấn áp Thiên hoàng, buộc triều đình chuyển thủ
đô về Yomasiro
Năm 1181, xảy ra cuộc nội chiến giữa hai họ Minamoto và Yoritomo đã chính thức khai nguyên chế độ tướng quân
Năm 1333, Mạc phủ của dòng họ Minamoto sụp đổ, Thiên hoang khôi phục laijn quyền lực
Trang 4Hiến pháp 1889 của Nhật Bản được xây dựng theo mô hình hiến pháp Phổ, một trong những hiến pháp phản động nhất Châu Âu, đem lại cho Hoang đế quyền không hạn chế “ thiêng liêng bất khr xâm phạm
Đảng chính trị đầu tiên ở Nhật ra đời vào năm 1881 là đảng Tự do Năm
1898, Chính phủ đã biến đảng Tự do thành “đảng nửa chính phủ” và ngày càng phản động Thành viên của Đảng là các quan chức địa phương, chủ tiệm buôn bán,
Sau thất bại Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bị quân Đồng minh chiếm giữ Dưới chính quyền chiếm đóng, các đảng tư sản lần lượt được phục hồi Năm 1946, Đảng Tự do giành thắng lợi và thành lập Chính phủ Hiến pháp 1946 đã xác lập nền quân chủ lập hiến ở Nhật Bản hiện
3 Nhật Hoàng và Hoàng gia:
Theo Hiến pháp Nhật Bản, Nhật Hoàng là biểu tượng của quốc gia và sự thống nhất dân tộc Nhật Hoàng không có quyền lực đối với Chính phủ
Hoàng gia Nhật Bản tồn tại từ nhiều thế kỷ trước Đây là triều đại lâu dài và liên tục nhất trên thế giới Đương kim Nhật Hoàng AKIHITO sinh ngày 23 tháng
12 năm 1933 (ngày sinh của Nhật Hoàng được mặc nhiên coi là ngày Quốc khánh của Nhật Bản) và lên ngôi ngày 7 tháng 1 năm 1989 sau cái chết của cha Nhật Hoàng HIROHITO tức Hoàng đế Chiêu Hoà Niên hiệu của đương kim Nhật Hoàng là Bình Thành vì vậy năm 1989 theo lịch Nhật Bản là năm Bình Thành 1 Nhật Hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko có 3 người con là Thái tử Naruhito, Hoàng tử Fumihito và Công chúa Masako Thái tử Naruhito và vợ là Công nương Sayako đã có một con gái sinh năm 2001
4 Thể chế nhà nước:
• Lập pháp
Trang 5Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan lập pháp duy nhất ở Nhật Bản Hiện nay Quốc hội gồm Hạ nghị viện với 480 ghế và Thượng nghị viện với 242 ghế
Các nghị sỹ của Hạ viện được bầu theo nhiệm kỳ 4 năm song có thể kết thúc trước nhiệm kỳ nếu Hạ viện bị giải tán Hạ nghị sỹ được bầu theo hai cách: 300 người được bầu theo 300 đơn vị bầu cử nhỏ, 180 nghị sỹ được lựa chọn theo tỷ lệ phiếu các đảng giành được ở 11 khu vực bầu cử
Các thượng nghị sỹ được bầu theo nhiệm kỳ 6 năm và cứ 3 năm thì bầu lại một nửa Theo luật bầu cử Thượng nghị viện sửa đổi được thông qua năm 2000 thì
146 ghế được bầu theo khu vực bầu cử lớn tương ứng với 47 tỉnh của Nhật Bản, mỗi khu vực bầu từ 2 đến 8 đại biểu tỷ lệ với số dân, còn 96 ghế được bầu theo khu vực bầu cử tỷ lệ toàn quốc, tức là 96 ghế này phân tỷ lệ cho các đảng chính trị dựa trên kết quả của cuộc tuyển cử toàn quốc
Các kỳ họp của hai viện gồm các kỳ họp thường xuyên, không thường xuyên
và các kỳ họp đặc biệt Các kỳ họp thường xuyên của Quốc hội được triệu tập 1 lần
1 năm vào tháng 12 và kéo dài 150 ngày Dự thảo quan trọng nhất được trình ở kỳ họp thường xuyên là ngân sách nhà nước của năm tài chính tới Hạ viện có quyền xem xét dự thảo này trước khi nó được trình ra Quốc hội Hạ viện cò được quyền
ưu tiên hơn so với Thượng viện trong việc chỉ định Thủ tướng mới và xem xét ký kết các hiệp ước Hạ viện có quyền đưa ra đề nghị tín nhiệm hoặc không tín nhiệm Nội các
Thượng nghị viện không có quyền đưa ra những đề nghị không tín nhiệm Thượng viện có thể tạm thời thay Hạ viện đảm nhiệm các chức năng của Quốc hội khi Nội các triệu tập một kỳ họp khẩn cấp của Thượng viện trong lúc Hạ viện đã bị giải tán
• Hành pháp
Trang 6Quyền hành pháp thuộc về Nội các bao gồm Thủ tướng và các Bộ trưởng chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội
Thủ tướng do Quốc hội chỉ định và phải là thành viên của Quốc hội Thủ tướng có quyền bổ nhiệm và bãi miễn các Bộ trưởng Các Bộ trưởng này phải là dân sự và đa số là thành viên Quốc hội
Nếu Hạ viện thông qua nghị quyết không tín nhiệm hoặc bác bỏ nghị quyết tín nhiệm Chính phủ thì Nội các phải từ chức trừ phi Hạ viện bị giải tán trong vòng
10 ngày
Hiện nay, sau khi tinh giản, cơ cấu của Nội các bao gồm 1 văn phòng Thủ tướng, 10 bộ và 2 cơ quan ngang bộ, cụ thể là: Bộ Môi trường, Bộ đất đai, hạ tầng
và giao thông, Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp, Bộ Nông, lâm, ngư nghiệp,
Bộ Y tế, lao động và phúc lợi, Bộ Giáo dục, văn hoá, thể thao, khoa học và công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Quản lý công cộng, Nội vụ, Bưu điện và viễn thông, Cục Phòng vệ, Uỷ ban an toàn quốc gia
Nhật Bản được chia thành 47 tỉnh, chính quyền địa phương có ở cấp tỉnh, thành phố, thị xã và làng; mỗi cấp đều có hội đồng tương ứng do dân bầu ra
• Tư pháp
Bộ máy tư pháp hoàn toàn độc lập với các ngành Lập pháp và Hành pháp, bao gồm toà án Tối cao, 8 toà án cấp cao, trừ Hokkaido có 4 toà án cấp tỉnh còn mỗi tỉnh có một toà án cấp tỉnh, một số toà án sơ thẩm
Ngoài ra, Nhật Bản còn có các Toà án Gia đình để xử lý những rắc rối nội bộ gia đình Toà án Tối cao gồm 1 chánh án và 14 thẩm phán Chánh án do Hoàng đế
bổ nhiệm trên cơ sở Nội các chỉ định, 14 thẩm phán do Nội các bổ nhiệm Việc bổ nhiệm các Thẩm phán Toà án Tối cao được xem xét lại trong một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc, được tổ chức trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu các hạ nghị
sỹ Việc tái bổ nhiệm các chức vụ trên sau nhiệm kỳ 10 năm được xem xét lại Toà
Trang 7án Tối cao có tiếng nói cuối cùng trong việc quyết định tính hợp hiến của các đạo luật, mệnh lệnh, quy định hoặc quy tắc Các thẩm phán toà án cấp dưới do Nội các
bổ nhiệm trên cơ sở danh sách những người do Toà án Tối cao đưa ra Tất cả các thẩm phán đều độc lập trong việc xét xử và chỉ tuân thủ hiến pháp và những đạo luật dưới đó
• Chính quền địa phương: Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, về
quan cơ bản các cấp địa phương chỉ là đơn vị hành chính do trung ương quản lí do trung ương quản lí Sau chiến tranh, hiến pháp quy định nguyên tắc tự trị địa phươngơ
Công dân Nhật đến tuổi 20 mới có quyền bầu cử và đến tuổi 25 mới có quyền ứng cử vào Hạ Nghị viện, Hội đồng địa phương hay Thị trưởng 30 tuổi mới có quyền ứng cử vào Thượng Nghị viện hoặc Tỉnh trưởng
Tháng 4/1998 Quốc hội Nhật Bản thông qua Luật bầu cử sửa đổi, cho phép công dân Nhật ở ngoài nước được bỏ phiếu trong các cuộc tuyển cử toàn quốc tại các cơ quan đại diện ngoại giao của Nhật ở nước ngoài, hoặc bỏ phiếu qua thư gửi bưu điện
Theo Luật bầu cử sửa đổi năm 2000, Hạ viện Nhật Bản có 480 ghế Trong đó
300 ghế được bầu ở các khu bầu cử nhỏ,chỉ bầu 1 ghế 180 ghế còn lại được bầu ở
11 khu trên toàn quốc, tại đây kết quả được quyết định theo tỷ lệ phiếu mà các đảng chính trị giành được
Tháng 10/2000 Quốc hội lại sửa đổi Luật bầu cử, cho phép cử tri có thể bỏ phiếu cho một đảng hoặc cho một cá nhân trong danh sách các ứng cử viên của các đảng Hệ thống bầu cử mới này cũng rút bớt số thượng nghị sỹ từ 252 xuống 242 Trong đó 96 ghế được bầu theo tỷ lệ trên toàn quốc còn 146 ghế được bầu ở các khu vực bầu cử
CHƯƠNG II: Đảng cầm quyền và đảng đối lập Nhật Bản.
Trang 81 Đảng chính trị là gì?
Đảng chính trị là tổ chức xã hội tự nguyện, lien minh với những người có cùng chung lợi ích, cùng chung tư tưởng, quan điểm, mục tiêu, khát vọng hợp lại thành tổ chức chặt chẽ nhằm đấu tranh thực hiện mục tiêu, khát vọng của giai cấp mình
Đảng cầm quyền là đảng lãnh đạo đất nước, nắm quyền cơ bản như lập pháp, hành pháp, tư pháp, quân đội đảng phải có người lãnh đạo tài ba, có đường lối, chính sách phù hợp với nguyện vọng của nhân dân
2 Đảng đang cầm quyền Nhật Bản.
Đảng đang cầm quyền ở Nhật Bản hiện nay là đảng Dân chủ Tự do
Thành lập tháng 11 năm 1955, Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản thường được viết tắt theo tiếng Anh là LDP (Liberal Democractic Party) hay theo tiếng Nhật là Jimintō, là một đảng phái chính trị bảo thủ và là đảng chính trị lớn nhất ở Nhật Đảng LDP đã điều hành Nhật Bản phần lớn các kỳ từ khi thành lập năm 1955 tới 2009
Do mâu thuẫn nội bộ và bị phân liệt, LDP đã thất bại lớn trong bầu cử Hạ viện tháng 7 năm 1993 và bị mất quyền lãnh đạo đất nước Cuối tháng 6 năm 1994 LDP đã liên minh với Đảng Xã hội và Đảng Tiên phong để lập chính phủ, do Chủ tịch Đảng Xã hội Murayama làm Thủ tướng Từ tháng 1 năm 1996 LDP lại đứng đầu một chính quyền liên hiệp 3 đảng LDP-Komei-Tự do, do Ruytaro Hashimoto làm Thủ tướng Trong cuộc bầu cử Thượng viện tháng 7 năm 1998, LDP bị thất bại nặng nề, ông Hashimoto buộc phải từ chức Chủ tịch LDP và ngày 30 tháng 7 năm 1998, Quốc hội Nhật Bản đã bỏ phiếu bầu ông Keizo Obuchi làm Thủ tướng thay ông Hashimoto Thủ tướng Yoshiro Mori, người kế nhiệm sau khi ông
Trang 9Obuchi mất cũng phải từ chức sau gần 1 năm cầm quyền do đã làm uy tín của LDP giảm sút nghiêm trọng
Ông Koizumi Junichiro - một người có chủ trương cải cách LDP đã được bầu làm Chủ tịch đảng đồng thời là Thủ tướng Nhật với đa số áp đảo 298/482 phiếu tại Đại hội Đảng LDP trước nhiệm kỳ (24/4/2001) với tỷ lệ ủng hộ đạt kỷ lục 85% Ngày 20 tháng 9 năm 2003, Thủ tướng Koizumi đã tái cử làm Chủ tịch Đảng LDP nhiệm kỳ 2 năm đồng thời tiếp tục ở cương vị Thủ tướng Ngày 11 tháng 9 năm 2005 đảng LPD giành được đa số phiếu trong tổng tuyển cử với chủ trương tư nhân hóa công ty Bưu chính Nhật Bản Ngày 20 tháng 9 năm 2006, ông Abe Shinzo được bầu làm Chủ tịch đảng và được Quốc hội bổ nhiệm Thủ tướng vào ngày 26 tháng 9 năm 2006 với 339/475 phiếu Trong cuộc bầu cử thượng viện ngày 29 tháng 7 năm 2007, đảng Dân chủ Tự do bị thất bại nặng nề và không còn là đảng lớn nhất trong thượng viện Vào ngày 12 tháng 9 năm 2007, ông Abe đột ngột
từ chức thủ tướng vì lí do sức khỏe, và người thay thế là Fukuda Yasuo, người đáng
lẽ đã làm Thủ tướng nhưng đã không ra ứng cử trước đó 5 năm sau khi từ chức Thủ tướng và Chủ tịch Đảng, Abe lại tranh cử Chủ tịch Đảng và được bầu làm Chủ tịch Đảng trở lại vào ngày 26/9/2012 Trong cuộc tổng tuyển cử Nhật Bản năm 2012, đảng Dân chủ Tự do giành thắng lợi, Abe quay lại làm Thủ tướng Nhật Bản thêm một nhiệm kỳ nữa từ ngày 26 tháng 12 năm 2012 Cuộc tổng tuyển cử đã đưa đảng Dân Chủ -Tự Do trở lại nắm quyền lãnh đạo đất nước Nhật Bản thay thế vị trí của đảng đối lập là đảng Dân Chủ (DPJ)
Ngày 16/12/12012, Đảng Dân chủ Tự do do ông Abe đứng đầu chiếm đa số ghế 294 trên tổng số 480 ghế trong Theo tờ báo Japan Today chiến thắng này phản ánh phần nào sự thất bại của đảng Dân chủ dưới sự lãnh đạo của ông Noda đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và điện hạt nhân
Trang 10Trước chiến thắng này, ông Abe đã lên tiếng tái khẳng định sức mạnh của đảng Dân chủ tự do Ông Abe nói “ Tôi nghĩ, kết quả bầu cử này không có nghĩ chúng tôi giành được tất cả niềm tin của công chúng, nhưng ta phản ánh một điều , đảng Dân chủ Nhật Bản DPJ đã thất bại sau ba năm cầm quyền Giờ đây, chúng ta phải đối mặt với câu hỏi, làm thế nào đáp ứng những mong đợi của công chúng
Và chúng tôi, Đảng Dân chủ Tự do sẽ trả lờ cho câu hỏi đó
3 Đảng Dân chủ Nhật Bản.
Đảng Dân chủ Nhật Bản (viết tắt là DPJ) là một đảng phái chính trị tự do xã hội tại Nhật Bản Thành lập ngày 28 tháng 9 năm 1996, thành phần chủ yếu gồm các nghị sĩ tách ra từ Đảng Xã hội và Đảng Sakigake Tháng 4 năm 1998, Đảng Dân chủ sát nhập thêm Tân đảng ái hữu và liên hiệp cải cách dân chủ, thành lập Đảng Dân chủ mới, trở thành đảng đối lập lớn nhất Đây là đảng phái chính trị lớn thứ hai tại Hạ viện và lớn nhất tại Thượng viện Nhật Bản DPJ cũng là đảng đối lập chính với đảng cầm quyền lâu đời tại Nhật Bản là Đảng Tự do Dân chủ
Hiện nay, đảng này có 113/480 ghế tại Hạ viện và 82 ghế tại Thượng viện Ngày 5 tháng 10 năm 2003, Đảng Dân chủ đã sáp nhập với Đảng Tự do thành Đảng Dân chủ với 204 nghị sĩ trong đó có 136 Hạ Nghị sĩ Chủ tịch Đảng Dân chủ mới là ông Okada Kazuya Sau cuộc bầu cử thượng viện ngày 29 tháng 7 năm 2007, Đảng Dân chủ trở thành đảng lớn nhất trong thượng viện
Đảng Dân chủ giành được sự ủng hộ từ tầng lớp công nhân áo xanh và tầng lớp trung lưu tự do DPJ cũng giành được sự ủng hộ từ phụ nữ và tầng lớp dân thành thị
Về chính sách đối ngoại, đảng có thiên hướng tự do, Đảng Dân chủ là đảng phái đối lập lớn nhất và cũng là đảng có đường lối ôn hòa nhất Nhật Bản
Trang 11Mười một năm sau khi thành lập, Đảng Dân chủ đã giành thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử Hạ viện tháng 8 năm 2009 và trở thành Đảng cầm quyền cho đến ngày 26 tháng 12 năm 2012
Bên cạnh đó Nhật Bản còn có các chính đảng:
• Đảng Komayto (Đảng Chính phủ trong sạch), đảng này thành lập năm
1964, là đảng của giới Phật Đảng tuyên bố hệ tư tưởng nhân đạo, xây dựng xã hội không tham nhũng Tuy nhiên, từ năm 1970 đảng chuyển sang liên minh trung tâm, chấp nhận hiệp ước an inh Mĩ-Nhật, chủ trương thành lập Chính phủ lien minh với Đảng Dân chủ-Tự do
• Đảng Cộng sản thanh lập bí mật năm 1922 Đảng lấy chủ nghĩa Mac-Lenin làm nền tảng tư tưởng
• Ngoài một số đảng lớn ở Nhật Bản còn như Đảng Mới Nhật Bản, Đảng đời sống mới, Đảng Tiên phong Tuy nhiên, những đảng này chỉ góp phần tô đậm them thể chế chính trị quân chủ đại nghị và chế
độ đa đảng, nhất nguyên chính trị Nhật Bản mà thôi