Những đóng góp của khoá luận Hiện tại nghiên cứu về nguồn lực thông tin của TVQGVN đã có một số khoá luận đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau như đề tài của các tác giả: Trần Mỹ Dung
Trang 1L ỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đang bước vào thời đại lấy tri thức làm nguồn tài nguyên quan trọng, sử dụng, phân phối và sản xuất tri thức làm nhân tố chủ yếu của nền kinh tế tri thức trong xã hội thông tin Sự đột phá vươn tới thành công của thế giới hiện đại đều bắt nguồn từ thông tin trên cơ sở nguồn lực thông tin- nhân
tố quan trọng nhất trong chiến lược phát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, là chìa khoá của tri thức và sự đổi mới của thế kỷ XXI
Thông tin đang thực sự trở thành tài nguyên vô giá, là yếu tố không thể thiếu đối với cuộc sống của con người Trình độ phát triển thông tin trở thành một trong những tiêu chuẩn hàng đầu của nền văn minh vật chất và tinh thần
xã hội trong nền kinh tế tri thức
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá- hiện đại hoá, việc thu thập các nguồn thông tin để cung cấp thông tin có chất lượng phục vụ cho người dùng tin có ý nghĩa vô cùng quan trọng Trước những yêu cầu cấp thiết đó, các thư viện công cộng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) là thư viện đứng đầu trong hệ thống thư viện công cộng ở nước ta Nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin đó là mục tiêu và động lực phát triển thủ đô Hà Nội nói riêng và đất nước ta nói chung, do đó TVQGVN hết sức chú trọng công tác phát triển nguồn tin nói chung và nguồn tin ngoại văn nói riêng Chính vì vậy, tôi chọn
đề tài “ Tìm hiểu công tác xây dựng và khai thác nguồn tin ngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình
Trang 22 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nguồn tin ngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
và khai thác nguồn tin ngoại văn của thư viện Từ đó, đề xuất các phương
hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng nguồn tin ngoại văn cũng như nâng cao hiệu quả của khai thác nguồn tin đó tại thư viện
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận chung về nguồn tin
- Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại TVQGVN
- Nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng và khai thác nguồn tin ngoại văn của TVQGVN
- Đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng
và khai thác nguồn tin ngoại văn tại thư viện
5 Phương pháp nghiên cứu
Quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng Những tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của Bộ Văn hoá- Thể thao- Du lịch về công tác thông tin- thư viện
Phương pháp nghiên cứu:
Trang 3- Thu thập, thống kê số liệu
- Phân tích, so sánh và tổng hợp tài liệu
- Khảo sát thực tế, trao đổi với các chuyên gia và các nhà quản lý
6 Những đóng góp của khoá luận
Hiện tại nghiên cứu về nguồn lực thông tin của TVQGVN đã có một số khoá luận đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau như đề tài của các tác giả: Trần Mỹ Dung, Nguyễn Thị Thu Hiền, Đỗ Thị Nụ,….Với sự cố gắng cao nhất và trong khả năng có thể, đề tài “Tìm hiểu công tác xây dựng và khai thác nguồn tin ngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam” của tác giả có những đóng góp sau:
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Khoá luận gồm những nội dung chính sau :
Trang 4Chương 2 Thực trạng công tác xây dựng và khai thác nguồn tin ngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp công tác xây dựng và khai thác nguồn tin ngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam trong thời gian tới
Trong quá trình thực hiện khoá luận, do trình độ nghiên cứu và kinh nghiệm của bản thân hạn chế, khoá luận không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong được sự đóng góp của thầy cô và bạn bè
Xin chân thành cám ơn !
Trang 5CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
1.1 Sự hình thành và phát triển của Thư viện Quốc Gia Việt Nam
Thư viện Quốc gia Việt Nam (National Library of Viet Nam) nguyên
là Sở Lưu trữ và thư viện Đông Dương thành lập ngày 29/11/1917 Ngày 21/06/1919 thư viện chính thức mang tên Thư viện Trung ương Hà Nội, năm
1935 thư viện mang tên Pierr Pasquier Ngày 20/10/1945 thư viện đổi tên thành Quốc gia thư viện, năm 1946 khi Pháp chiếm đóng Hà Nội thư viện mang tên Thư viện Trung ương, năm 1953 đổi tên thành Tổng Thư viện do sáp nhập viện Đại học Hà Nội Từ ngày 29/06/1957 đến nay thư viện mang tên Thư viện Quốc gia Việt Nam
Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) là thư viện lớn nhất của cả nước với vốn tài liệu phong phú và đa dạng Thông qua sắc lệnh nộp lưu chiểu và thực hiện tốt công tác bổ sung vốn tài liệu, hiện nay TVQGVN có khoảng 1,5 triệu bản sách, hơn 8.000 tên báo, tạp chí, hơn 15.000 luận án tiến
sĩ Thư viện có quan hệ trao đổi với khoảng trên 100 đơn vị trong và ngoài nước (thư viện, cơ quan văn hoá, giáo dục, báo chí) của trên 30 nước trên thế giới
Hiện nay Thư viện Quốc gia Việt Nam là thành viên chính thức của Hiệp hội quốc tế các Hội thư viện và cơ quan thư viện (IFLA) Ngày 25/11/2007 kỉ niệm 90 năm thành lập và đón nhận Huân chương Độc lập
hạng nhì
1.2 Chức năng, nhiệm vụ
* Chức năng
Trang 6Căn cứ vào quyết định số 81/2004/QĐ của Bộ Văn hoá - Thể thao- Du lịch (BVH-TT-DL), TVQGVN có chức năng: là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Bộ Văn hoá - Thể thao- Du lịch gìn giữ di sản dân tộc, thu thập, tàng trữ, khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu dân tộc trong xã hội
Xử lí thông tin, biên soạn thư mục quốc gia và ấn phẩm thông tin về văn hoá nghệ thuật; tổ chức biên soạn Tổng thư mục Việt Nam
Hợp tác trao đổi tài liệu với thư viện trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt động thư viện
Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho các thư viện trong cả nước theo sự phân công của BVH-TT-DL hoặc yêu cầu của địa phương, đơn vị
Thực hiện hợp tác quốc tế theo kế hoạch của BVH-TT-DL và quy định của pháp luật
Lưu trữ các tài liệu có nội dung tại khoản 1 điều 5 của Pháp lệnh Thư viện và phục vụ cho người đọc theo quy định của chính phủ
Trang 71.3 Cơ cấu tổ chức
Về cơ cấu tổ chức của TVQGVN gồm các phòng ban như sau:
Ban giám đốc: Giám đốc và các phó giám đốc
Phòng Tra cứu thông tin-tư liệu
Phòng Nghiên cứu khoa học
Trang 8Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện có 195 công nhân viên chức, trong
đó có khoảng hơn 85% có trình độ đại học và trên đại học, công tác trong 13 phòng chức năng
1.4 Người dùng tin và nhu cầu tin
Người dùng tin (NDT) là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành mọi hệ thống thông tin – thư viện NDT và nhu cầu tin (NCT) của họ là cơ sở cần thiết định hướng cho các hoạt động của thư viện NDT vừa là chủ thể sản sinh
ra thông tin vừa là khách thể sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư
viện (SP&DV TT-TV) Họ còn góp phần điều chỉnh các hoạt động của thư viện thông qua các thông tin phản hồi
Phục vụ NCT của NDT là mục đích tồn tại và phát triển của các cơ quan TT-TV Hiệu quả hoạt động phục vụ NDT được coi là thước đo đánh giá chất lượng hoạt động của bất kì các cơ quan TT-TV nào Vì thế nghiên cứu NCT của NDT là một trong các nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan TT-TV Nghiên cứu NCT là nhận dạng nhu cầu về thông tin của NDT, trên cơ sở đó tìm ra những biện pháp cụ thể phù hợp để cung cấp thông tin phù hợp cho họ
Việc tìm hiểu đặc điểm NDT của TVQGVN và xác định NCT của họ
đã được nghiên cứu thông qua kết quả của quá trình điều tra bằng phiếu điều tra nhu cầu tin (kết quả điều tra với tổng số phát ra là 120 phiếu thu về 111 phiếu), nghiên cứu thông qua báo cáo công tác của phòng đọc trong 5 năm gần đây
Các phương pháp trên đã xác định được thành phần NDT tại TVQGVN, xác định được trình độ học vấn, lĩnh vực chuyên môn, loại nguồn tin, ngôn ngữ mà họ thường sử dụng, đồng thời xác định được mức độ thoả mãn NCT của NDT Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng và khai thác nguồn tin nói chung và xây dựng và khai thác nguồn
Trang 9* Số liệu thống kê thành phần NDT của TVQGVN từ năm 2005 đến năm 2009
Qua bảng số liệu này cho thấy số NDT chủ yếu đến TVQGVN làm thẻ
là cán bộ và sinh viên trong đó lượng sinh viên luôn là đối tượng làm thẻ đông đảo nhất của thư viện Tuy nhiên số lượng NDT đăng kí làm thẻ trong các năm gần đây có xu hướng giảm dần, năm 2006 là năm có số lượng làm thẻ đạt cao nhất 24.836 thẻ Những năm sau thì số lượng thẻ có giảm đi đáng
kể, đây là một điểm cần chú ý trong hoạt động phục vụ NDT của TVQGVN
Theo thống kê phiếu điều tra thì trình độ của NDT như sau: Cử nhân chiếm 82,9 % ( 92 phiếu ), thạc sĩ chiếm 12,6 % ( 14 phiếu), PGS.GS chiếm 0,9 % ( 1 phiếu), trình độ khác chiếm 3,6% ( 4 phiếu )
Theo phiếu điều tra NCT, thành phần NDT của TVQGVN như sau: Sinh viên các trường đại học cao đẳng chiếm 68,5% ( 76 phiếu ); cán bộ quản
lí lãnh đạo chiếm 4,5% (5 phiếu); sản xuất kinh doanh chiếm 2,7 % (3 phiếu), giảng dạy chiếm chiếm 10,8 % (12 phiếu), hành chính sự nghiệp là 7,2% (8 phiếu), đối tượng khác 6,3%(7 phiếu) Do địa bàn Hà Nội có tới hơn 40 trường đại học, cao đẳng trong cả nước nên lượng sinh viên tới TVQGVN khá lớn chiếm 68,5% Tuy nhiên bộ phận NDT là cán bộ hoạt động ở các lĩnh vực nói chung còn thấp, đòi hỏi Thư viện cần có biện pháp để thu hút bộ phận
Trang 10Theo thống kê phiếu điều tra NCT của NDT về các lĩnh vực như sau:
Lĩnh vực quan tâm S ố lượng T ỉ lệ %
Qua số liệu thống kê trên cho thấy nhu cầu của NDT về lĩnh vực chính
trị - xã hội 43,2% là cao nhất, kể đến là lĩnh vực ngôn ngữ 32,4% thấp nhất là lĩnh vực nông- lâm nghiệp 0,9%
Theo thống kê phiếu điều tra NCT về loại ngôn ngữ mà người dùng tin
sử dụng tại TVQGVN, nhìn chung NDT sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau bên cạnh ngôn ngữ tiếng Việt của nguồn tin chiếm 90% với 100 phiếu và chiếm số lượng cao nhất, sau đó là tiếng Anh chiếm 51,3% với 57 phiếu, các thứ tiếng khác ít hơn: tiếng Nhật chiếm 5,4% với 6 phiếu, tiếng Pháp chiếm 3,6% với 4 phiếu, tiếng Trung chiếm 1,8% (2 phiếu), tiếng Nga chiếm 0,9% (1phiếu), các ngôn ngữ khác chiếm 0,9% (1 phiếu) Như vậy TVQGVN nên
bổ sung các loại ngôn ngữ nào để bạn đọc có thể sử dụng tốt nhất và làm phong phú nguồn tin ngoại văn tại thư viện
Từ phiếu điều tra NCT ta thấy các loại hình nguồn tin truyền thống vẫn được quan tâm sử dụng, nhất là sách chiếm 93,6% (104 phiếu), Internet chiếm 30,6% (34 phiếu), CSDL chiếm 4,5% (5 phiếu), vi phim vi phiếu 0,9% (1 phiếu), tài liệu dạng khác chiếm 3,6% (4 phiếu) Qua đó ta cũng thấy các loại
hình nguồn tin như CSDL, vi phim vi phiếu, CD-ROM rất ít người sử dụng
Trang 11mà những nguồn tin đó thì TVQGVN rất phong phú và có chất lượng Do đó
Thư viện cần có biện pháp tuyên truyền hướng dẫn NDT sử dụng các loại
hình nguồn tin này để không lãng phí và giảm thiểu áp lực về sử dụng nguồn tin dạng sách
Ngoài ra khi thống kê phiếu điều tra thì thời gian xuất bản của nguồn tin từ năm 2000 đến nay được sử dụng nhiều nhất chiếm 91% (101 phiếu ), từ
năm 1987 -2000 chiếm 19,8% ( 22 phiếu), trước năm 1945 chiếm 9,9% ( 11 phiếu), từ năm 1954 đến 1986 chiếm 8,1% (9 phiếu), từ năm 1945 đến năm
1954 chiếm 5,4% (6 phiếu)
Qua điều tra trên ta thấy NCT của NDT tại TVQGVN rất đa dạng và phức tạp Thông qua nghiên cứu phiếu điều tra, báo cáo của công tác phục vụ bạn đọc và dựa trên quy định của TVQGVN về đối tượng phục vụ, có thể phân loại đối tượng người dùng tin của TVQGVN thành các nhóm sau:
Nhóm 1: Các cán bộ cao cấp thuộc các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cán bộ quản lý các cấp, các ngành
Các cán bộ lãnh đạo từ Trung ương đến các tỉnh thành phố là những người ra quyết định các cấp nhằm xây dựng đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bộ - ngành Thông tin cho họ là những thông tin mang tính mới, tính định hướng giải quyết tình hình thực tiễn trong và ngoài nước Do vậy thông tin cần cô đọng, đầy đủ để giúp họ tiết kiệm thời gian có thể ra quyết định đúng đắn
Nhóm 2: Các cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, kỹ sư
Nhóm NDT này cần các thông tin gốc, thông tin thư mục, tổng luận
về nghiên cứu khoa học của một lĩnh vực chuyên môn, những thành tựu mới,
những phương pháp mới của khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước
Trang 12Nhóm 3: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành khoa học
Nhóm NDT này là những người tích lũy kiến thức để đáp ứng yêu cầu công việc, nên họ cần thông tin mang tính cơ sở lý thuyết cơ bản đồng thời tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học và thông tin đi sâu vào một lĩnh vực chuyên ngành
Nhóm 4: Quần chúng nhân dân
NDT mục đích sử dụng thông tin của họ khác với nhóm NDT trên
Họ sử dụng thông tin khoa học kỹ thuật vào hoạt động thực tiễn để làm ra của cải vật chất cho xã hội, nâng cao đời sống nhằm phát triển toàn diện cho con người
So với những năm trước đây, thành phần NDT của Thư viện Quốc gia Việt Nam phong phú và đa dạng hơn Ngoài NDT trong nước còn có đối tượng người nước ngoài, sinh viên học viên cao học ngày càng đông đảo hơn
1.5 Các vấn đề chung về nguồn tin
* Khái niệm nguồn tin: Nguồn tin là sản phẩm trí tuệ, là sản phẩm lao
động khoa học, kiến thức, suy nghĩ, sáng tạo của con người, phản ánh những thông tin được kiểm soát và ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó
Khái niệm phát triển nguồn tin: là quá trình làm cho nhu cầu thông
tin của NDT được đáp ứng kịp thời, đầy đủ, chính xác Nói cách khác, phát triển nguồn tin là nhằm đáp ứng NCT của NDT
* Phân loại nguồn tin: có nhiều cách phân loại như:
Dựa vào chất liệu vật mang tin thì nguồn tin chia thành 3 loại:
Nguồn tin in trên giấy: sách, báo, tạp chí, bản đồ, bản vẽ…
Trang 13Nguồn tin trên phim ảnh, băng đĩa, băng từ…
Nguồn tin điện tử
Dựa vào mức độ xử lí thông tin: chia thành các loại: Nguồn tin cấp 1,
nguồn tin cấp 2, nguồn tin cấp 3
Ngoài 2 cách phân loại nguồn tin trên, còn có các cách phân loại nguồn tin: thời gian xuất bản, nội dung thông tin, mức độ công bố, mục đích ý nghĩa…
* Đặc trưng của nguồn tin
Tính vật lý: Thể hiện trên 3 phương diện: Vật chứa đựng thông tin, phương thức ghi và truyền thông tin, phương pháp tiếp cận
Tính cấu trúc: Thông tin không có tính cấu trúc thì không thể có giá trị Tính cấu trúc có tính cấp thứ bậc, ngôi thứ từ giản lược đến phức tạp Cấu trúc giản lược nhất là thư mục Cấp bậc phức tạp nhất là nhận xét đánh giá giá trị nội dung trong hoạt động Thông tin Khoa học và đóng góp với đời sống xã hội
Tính truy cập: Thông tin có giá trị khi được truyền đi, phổ biến và sử dụng Để truy cập thông tin thông qua các điểm truy cập như: MLCC, MLPL, MLCĐ và bộ máy tra cứu bổ trợ Thể hiện hệ thống hoá và sắp xếp phù hợp với thói quen NDT tìm kiếm thông tin Khi phát triển mạng thông tin, Hệ
thống mục lục trực tuyến online (mục lục OPAC) qua thuật ngữ tìm kiếm, từ khoá, từ chuẩn,…Các điểm truy cập cần được kết nối bằng các toán tử logic
Tính giá trị : Trong nguồn tin các thông tin đều chứa những nội dung
và có ý nghĩa nhất định đối với từng lĩnh vực Các cơ quan TT-TV phân loại,
xử lý phân tích, tổng hợp logic tin và xây dựng điểm truy cập cho người sử
Trang 14thư viện có trình độ cao trong phân loại, xử lý nguồn tin Gía trị thông tin tri thức trong nguồn tin sẽ cao khi nguồn tin được phổ biến rộng rãi và nhiều người sử dụng
Tính chia sẻ: Trong đời sống xã hội con người cần trao đổi thông tin, mỗi người sử dụng thông tin lại tạo ra thông tin mới Các thông tin được truyền đi giao lưu với người khác qua các hình thức: thảo luận, truyền đạt, mệnh lệnh, thư từ,….Hợp tác chia sẻ nguồn tin giữa các cơ quan TT-TV làm phong phú nguồn thông tin mỗi cơ quan, đồng thời nâng cao hiệu quả thoả mãn NCT của NDT và tiết kiệm kinh phí bổ sung
Trang 15
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC
NGUỒN TIN NGOẠI VĂN TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
2.1 Q úa trình hình thành và phát triển nguồn tin của Thư viện Quốc gia Việt Nam
* Giai đoạn trước 1954:
Khi mới thành lập vốn tài liệu ban đầu TVQGVN chỉ có khoảng vài nghìn bản, được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau Đến năm 1953 phòng đọc sách có 15.092 bản, 1.215 tên tạp chí (chủ yếu là tạp chí Đông Dương và Việt Nam), 420 tên tạp chí ngoại văn, 647 tên nhật báo Trong đó sách tiếng Việt là 11.088 bản, tiếng Pháp là 13.515 bản, tiếng Anh có 2.016 bản Ngày 31/01/1922 toàn quyền Pháp ban hành nghị định quy định lưu chiểu các ấn phẩm xuất bản ở 5 xứ Đông Dương cho Thư viện Đông Dương Việc thực hiện lưu chiểu khá nghiêm túc, theo thống kê từ năm 1922 đến 1940 Thư viện
đã nhận được số lượng ẩn phẩm được lưu chiểu như sau:
- 1.381 tên sách các loại
- 5.123 các loại báo và tạp chí
- 1.291 các bản đồ
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chủ Tịch đã kí sắc lệnh số
18 về Lưu chiểu văn hoá phẩm, sắc lệnh đã được thực hiện tốt từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946 số sách nhập vào thư viện là 3.733 bản
* Giai đoạn từ 1954 đến 1985
Tháng 10/1954 TVQGVN đã thu nhận được 4.168 tên tài liệu xuất bản ở vùng kháng chiến và 2.500 tên tài liệu xuất bản trong vùng địch tạm chiếm,
Trang 16xây dựng tiến hành mua sách Hán Nôm và tạo lập được kho sách Hán Nôm trên 4.000 bản của 2.270 tên sách
Năm 1955 Thư viện Bắc Kinh đã gửi tặng TVQGVN 36.000 bản sách tiếng Trung, năm 1956 Thư viện Quốc Gia Liên Xô gửi tặng 30.000 bản ( sách tiếng Anh và tiếng Pháp) Sách nhập vào TVQGVN qua lưu chiểu từ 1967-1985 là 18.399 bản
Thư viện được phép nhận luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ của công dân Việt Nam bảo vệ trong và ngoài nước, của người nước ngoài bảo vệ ở Việt Nam theo quyết định 401/TTg ngày 9/10/1976 của Thủ tướng Chính phủ, thành lập kho luận án gồm 998 bản
* Giai đoạn 1986 -2002
Ngày 7/7/1993 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Xuất bản năm 1993 Nghị định 79/CP ngày 6/11/1993 của Thủ tướng chính phủ cho phép TVQGVN nhận lưu chiểu 4 bản cho 1 tên ấn phẩm Năm 1997 Thư viện đã nhận 370 tên, năm 1998 là 535 tên, 1999 là 587 tên Tính đến tháng 12/1999, Thư viện đã thu nhận được 8.000 bản luận án tiến sĩ, đồng thời trao đổi được 1.215 cuốn sách ngoại văn, gấp 3 lần số mua Số sách ngoại văn bằng tiếng Trung, Anh, Pháp mua trong năm 1999 chỉ đạt 482 cuốn, tháng 2/2002 tài liệu kho lưu chiểu đã đạt tới 140.045 tên
* Giai đoạn từ 2002 đến nay
Tính đến năm 2008 TVQGVN có 1.300.468 tổng số bản sách và 800.752 tổng số tên sách, hơn 8.000 tên báo- tạp chí Trải qua hơn 90 năm xây dựng
và trưởng thành hiện nay TVQGVN đã có được gần 1.500.000 bản sách, hơn 8.000 tên báo-tạp chí, hơn 15.000 luận án, hơn 1.000 đĩa CD-ROM và các CSDL cho người dùng tin sử dụng
Trang 172.2 Vai trò nguồn tin ngoại văn tại Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
Nguồn tin ngoại văn là thành phần của hệ thống thông tin và là nguyên liệu đầu vào của quá trình hoạt động thông tin khoa học Chính vì vậy vốn tài liệu ngoại văn giữ vị trí then chốt, quyết định sự tồn tại và hiệu quả hoạt động thông tin khoa học
Nguồn tin ngoại văn là cơ sở để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin, làm công cụ tra cứu như: thư mục, các CSDL thư mục là tiêu chí để đánh giá chất lượng một sản phẩm thông tin - thư viện
Nguồn tin ngoại văn tạo ra các sản phẩm thông tin phản ánh tính độc đáo, tính quí hiếm của thông tin nhằm đáp ứng các yêu cầu của thị trường, tạo ra giá trị gia tăng của thông tin như: thông tin phân tích, tổng luận
Nguồn tin đó là cơ sở để hợp tác và chia sẻ giữa các cơ quan thông tin - thư viện Như chúng ta đã biết, nguồn tin của các thư viện ngày càng trở nên bất cập do sự tăng lên nhanh chóng, trong đó có các thông tin khoa học tăng theo cấp số nhân Mâu thuẫn của sự gia tăng “chóng mặt” giữa khối lượng thông tin, kinh phí hàng năm cho việc bổ sung nguồn tin và yêu cầu của người dùng tin đã đặt ra một yêu cầu đối với các cơ quan thông tin - thư viện Sự thành bại trong nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học một phần phụ thuộc vào khả năng với tới các nguồn tin phù hợp
Do vậy TVQGVN có chính sách phát triển nguồn tin nói chung và xây dựng, khai thác nguồn tin ngoại văn nói riêng cho phù hợp với chức năng và nhiệm vụ trên cơ sở nhu cầu tin của người sử dụng, đảm bảo bốn mục tiêu: xây dựng nguồn tin phong phú, đa dạng; đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và tin học cao; số lượng người dùng tin đông đảo được đào tạo và hệ thống cơ sở hạ tầng bền vững
Trang 18Nguồn tin ngoại văn còn thể hiện mức độ phát triển trí tuệ, văn minh của một quốc gia, một dân tộc đó và là công cụ đối tượng làm việc hàng ngày của cán bộ thông tin -thư viện (bổ sung, xử lý, phục vụ NDT ) Đối với hoạt động của con người giúp họ có những quyết định căn cứ khoa học nhất
Bên cạnh đó, nguồn tin ngoại văn là một bộ phận không thể tách rời trong nguồn lực thông tin đang được quản trị tại TVQGVN Cùng với nguồn tin quốc văn, nguồn tin ngoại văn của TVQGVN luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng và thoả mãn nhu cầu tin của NDT thư viện Trong những năm gần đây, số lượng bạn đọc đến sử dụng thư viện tăng nhanh và đến năm 2009 đã đạt: số lượt bạn đọc là 303.239 lượt nhưng giảm 39.208 lượt so với năm 2008; sách, báo, tài liệu trong năm 2009 đã luân chuyển được 511.399 lượt, năm 2008 là 583.106 lượt
Nguồn tin ngoại văn có tác dụng mang lại những tri thức, kinh nghiệm cho người dùng tin; là công cụ giáo dục tư tưởng, tình cảm, lao động và phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật, là phương tiện thúc đẩy sự tiến bộ của đất nước
Đến với TVQGVN, NDT có thể tìm thấy nhiều tài liệu về các lĩnh vực tri thức với nhiều ngôn ngữ và loại hình khác nhau, góp phần quan trọng trong
sự nghiệp giáo dục và làm phong phú hơn đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân - đặc biệt còn là phương tiện tiếp cận nhanh nhất tới các thành tựu khoa học - kỹ thuật - công nghệ trên thế giới, nhanh chóng vận dụng những thành tựu đó vào thực tiễn cuộc sống của Việt Nam
Có thể nói cùng với nguồn tin quốc văn, nguồn tin ngoại văn của TVQGVN đã hình thành nên nguồn lực thông tin, là tiền đề phát triển của TVQGVN, là cơ sở cho hoạt động của thư viện Việc quan tâm xây dựng và khai thác nguồn tin ngoại văn của TVQGVN trong giai đoạn hiện nay càng trở nên cấp bách và quan trọng hơn bao giờ hết Để giải quyết thật tốt công
Trang 19tác này cần tìm hiểu những việc đã làm được và những tồn tại ở TVQGVN
nhằm đưa ra các biện pháp giải quyết hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình
2.3 Chính sách bổ sung nguồn tin ngoại văn tại Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
Nguồn tin hiện có của TVQGVN là kết quả xây dựng, tích luỹ lâu dài theo chính sách phát triển nguồn tin hợp lý, trên cơ sở nhu cầu người dùng tin nói riêng và xã hội nói chung Hoạt động thông tin-thư viện của họ, nguồn tin được xây dựng trên công tác tổ chức, quản lý, khai thác và căn cứ nhu cầu đích thực của người dùng tin Do đó, lãnh đạo TVQGVN đã nhìn nhận cần phải đầy đủ về số lượng, phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin (NDT).TVQGVN mặc dù chưa có một văn bản chính thức về chính sách phát triển nguồn tin nhưng xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình, trong quá trình xây dựng nguồn tin nói chung
và xây dựng nguồn tin ngoại văn nói riêng thì Thư viện đã đề ra hướng bổ sung nguồn tin ngoại văn như sau:
a) Diện đề tài về khoa học tự nhiên, kỹ thuật, quân sự, y tế và nông nghiệp
Thu thập nguồn tin về tất cả các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, quân sự y tế và nông nghiệp nhưng không chuyên sâu về từng ngành cụ thể
mà có nội dung tổng hợp, liên ngành, phản ánh xu thế phát triển của ngành đó trong nước, trên thế giới với những thành tựu mới nhất Chú trọng bổ sung nguồn tin một số ngành khoa học mới xuất hiện, đang phát triển hiện nay ở nước ta như: tin học, dầu khí, sinh học, chế tạo máy,
b) Diện đề tài về khoa học xã hội
Trang 20Thu thập nguồn tin về tất cả các ngành khoa học xã hội có nội dung tổng hợp, là mảng tài liệu chiếm ưu thế trong thành phần nguồn tin nên cần phải chú trọng Hạn chế bổ sung các nguồn tin về một nước kinh tế kém phát triển, quan hệ ngoại giao và hợp tác không lớn và không liên quan nhiều đến Việt Nam Chú trọng bổ sung nguồn tin một số ngành khoa học xã hội đang phát triển hiện nay ở nước ta như: luật pháp, ngân hàng, ngoại thương, du lịch, môi trường, kinh tế…
c) Diện đề tài về văn hoá nghệ thuật
Nguồn tin thuộc các vấn đề lý luận về văn hoá nghệ thuật Nền văn hoá của các nước có truyền thống văn hoá lâu đời, các nước châu Á, và các nước
có liên quan đến Việt Nam trong lịch sử như: Pháp, Mỹ,…
d) Diện đề tài về văn học
Thu thập tất cả các tác phẩm văn học tiêu biểu của các quốc gia, của thế giới qua các thời kì hay các tác phẩm đạt giải thưởng quốc tế và quốc gia TVQGVN ưu tiên bổ sung các tác phẩm văn học của Pháp và Trung Quốc
Hạn chế bổ sung các tác phẩm mặc dù có giá trị nhưng được xuất bản bằng ngôn ngữ không thông dụng, lưu ý bổ sung các bản dịch ra ngôn ngữ thông dụng của các tác phẩm đó
e) Diện đề tài các nước Đông Nam Á, Châu Á
Chú trọng bổ sung tài liệu nghiên cứu về kinh tế, văn hoá, văn học, xã hội các nước Đông Nam Á được xuất bản bằng ngôn ngữ thông dụng Để khắc phục tình trạng hạn chế ngôn ngữ trong bổ sung TVQGVN đẩy mạnh công tác sao chụp và mượn quốc tế
f) Diện đề tài về thư viện học
Trang 21Bổ sung tài liệu về các vấn đề thư viện học, thư mục học, thông tin học; chú trọng tài liệu của các nước có hoạt động thông tin- thư viện phát triển tiên tiến, tài liệu của IFLA, của các hội nghị thư viện quốc tế hay khu vực
g) Diện đề tài về quốc chí
Bổ sung đầy đủ tài liệu nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam, có liên quan tới Việt Nam và các tác phẩm của người Việt Nam ở nước ngoài bất kể
đề tài, ngôn ngữ, loại hình ấn phẩm và thời gian xuất bản
h) Diện ngôn ngữ
Bổ sung nguồn tin nước ngoài bằng các ngôn ngữ thông dụng theo thứ
tự ưu tiên như sau: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật
Đối với những nguồn tin bằng các ngôn ngữ ít thông dụng TVQGVN
đã có từ trước đến nay, một mặt không tiếp tục bổ sung nữa, mặt khác sẽ tiến hành những đợt thanh lọc các nguồn tin cũ, rách nát, thông tin lỗi thời, lạc hậu, chỉ giữ lại những tài liệu có giá trị về mặt nội dung để giải phóng kho và tránh lãng phí trong công tác bảo quản tài liệu, nâng cao chất lượng nguồn tin
i) Diện địa lý
Chú trọng bổ sung nguồn tin của Trung Quốc, Lào, Campuchia Đây là những nước láng giềng có mối quan hệ lâu đời về lịch sử, địa lý, truyền thống văn hoá và hợp tác kinh tế Những chủ đề trọng điểm là về lãnh thổ, biên giới, lịch sử, văn hoá và kinh tế
Đối với các nguồn tin của các nước trong khu vực Đông Nam Á thì chủ
đề được quan tâm bổ sung là sự hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục của các nước trong khối ASEAN
Trang 22Nguồn tin của các nước phát triển và có mối quan hệ hợp tác với Việt Nam thì chủ đề quan tâm là lịch sử chiến tranh Đông Dương, chính sách đối ngoại, thành tựu khoa học kỹ thuật, kinh tế, văn hoá, giáo dục, quan hệ chính trị,
k) D ạng xuất bản nguồn tin
TVQGVN tiếp tục bổ sung 2 dạng xuất bản chủ yếu của nguồn tin ngoại văn là sách và báo-tạp chí, Thư viện còn chú trọng bổ sung các nguồn tin dạng khác như: băng, microfilm, đĩa CD-ROM,
l) Loại nguồn tin
Ưu tiên bổ sung các loại tài liệu tra cứu và bổ sung có chọn lọc các loại tài liệu khoa học, chuyên khảo, các ấn phẩm định kì khoa học và giáo trình giảng dạy của các trường đại học Đồng thời bổ sung có chọn lọc nghiêm ngặt các tài liệu khoa học phổ thông, sách văn học, sách giáo khoa và sách thiếu nhi
m) Số bản cho một tên nguồn tin
Nguồn tin ngoại văn chỉ bổ sung 1 bản, trường hợp thật cần thiết mới nhập 2 bản.Trong trường hợp này các nguồn tin trước khi được nhập vào thư viện đều được xử lý qua việc tra trùng thông qua việc tra chỉ số ISBN được thực hiện trên phân hệ bổ sung của phần mềm ILIB Tuy nhiên sách do Quỹ Châu Á tặng thì số lượng không tuân theo nguyên tắc 1 bản ở trên và có những tài liệu nhập vào kho với số lượng lớn hơn 1 bản
Đối với nguồn tin được tái bản, TVQGVN chỉ nhập kho đối với những nguồn tin tái bản có bổ sung, sửa chữa Nếu nguồn tin được tái bản đơn thuần
do NCT mà không có bổ sung, sửa chữa về mặt nội dung thì TVQGVN không nhập bản mới vào kho
Trang 23Đối với tài liệu tra cứu: Tuỳ theo yêu cầu của NDT và số lượng các phòng phục vụ mà quyết định số bản cho một tài liệu
Nói chung công tác bổ sung nguồn tin của TVQGVN từ trước đến nay được thực hiện theo đúng như diện bổ sung đề ra, song vẫn còn một số vấn đề quan trọng cần giải quyết:
Việc thực hiện diện bổ sung nguồn tin của TVQGVN còn mang tính chủ quan, cảm tính của những người làm công tác này vì những danh mục nguồn tin định đặt mua cả về nguồn tin ngoại văn đều không có đóng góp ý kiến của các chuyên gia hay cố vấn
Thư viện chưa tổ chức các cuộc điều tra chính thức về NCT của NDT xem nhu cầu của họ thay đổi và phát triển thế nào theo từng giai đoạn phát triển của xã hội để kịp thời điều chỉnh công tác bổ sung cho phù hợp
2.4 B ổ sung nguồn tin ngoại văn tại Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
2.4.1 Nguồn trao đổi
Trao đổi là một trong những nguồn bổ sung quan trọng của TVQGVN Chính vì vậy, đến nay TVQGVN luôn chú trọng đến công tác trao đổi tài liệu được mở rộng và phát triển trao đổi trong và ngoài nước Hiện nay số lượng nguồn tin tăng lên theo cấp số nhân, vì vậy không một cơ quan thư viện nào
có thể mua tất cả các loại hình tài liệu trên thế giới, đồng thời khắc phục khó khăn về nguồn kinh phí bổ sung nguồn tin có giá trị
Công tác trao đổi quốc tế diễn ra trên cơ sở hợp tác cùng có lợi giữa TVQGVN với các cơ quan và thư viện trên thế giới Nguyên tắc trao đổi của TVQGVN là tên sách, báo- tạp chí đổi lấy tên sách, báo- tạp chí Song nguyên tắc này, mang tính mềm dẻo nhằm tạo ra quan hệ hợp tác giữa các nước như:
Trang 24Thư viện của nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Campuchia,…thì TVQGVN hầu như gửi đi nhận về không nhiều
Về phương thức trao đổi: TVQGVN chọn hình thức chấm chọn trao đổi qua thư mục quốc gia hoặc danh sách trao đổi và phương thức chọn trao đổi qua chủ đề, đôi khi tiến hành cả 2 phương thức trên Trong quá trình trao đổi, cán bộ nghiệp vụ theo dõi tình hình trao đổi để nắm được đơn vị nào không gửi tài liệu trao đổi (thời gian 1 năm) mà không có lí do thì sẽ tạm dừng trao đổi
TVQGVN ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đã đem lại nhiều tiện ích như: trao đổi trực tiếp thông qua mạng Internet với các thư viện, đơn
vị trong và ngoài nước sẽ không tốn nhiều thời gian và kinh phí Hoạt động này có ý nghĩa quan trọng tạo ra mối quan hệ trao đổi lâu dài và chất lượng Tuy nhiên, công tác trao đổi tài liệu của Thư viện cũng gặp những sự cố như:
có đơn vị đã ngừng trao đổi hoặc gửi tài liệu đi mà không nhận được, nhiều đơn vị gửi chậm, trùng bản, chất lượng một số tài liệu trao đổi không cao Mặc dù vậy hoạt động trao đổi nguồn tin của TVQGVN nhiều năm qua đã không ngừng phát triển
Trước năm 1990 TVQGVN hầu như chỉ trao đổi với các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, sau khi Liên Xô sụp đổ việc trao đổi với các nước XHCN giảm đi rõ rệt khiến cho TVQGVN mất đi một nguồn trao đổi tiềm năng Mỗi năm, Thư viện chỉ nhận được từ 100 đến 300 cuốn và gần 100 tên báo- tạp chí Từ năm 1990 Thư viện đã quan hệ trao đổi với 320 đơn vị của 82 nước trên thế giới, hàng năm Thư viện nhận về khoảng 10.000 cuốn sách và khoảng 1.200 loại báo-tạp chí
Công tác trao đổi nguồn tin của Thư viện với quốc tế còn gặp nhiều khó khăn, vì có những đơn vị không có nhu cầu trao đổi tài liệu bằng tiếng Việt
Vì vậy, TVQGVN để tiến hành trao đổi cần bổ sung tài liệu bằng ngôn ngữ
Trang 25tiếng nước ngoài thông dụng Tuy nhiên công việc này đã gặp khó khăn về kinh phí, hàng rào ngôn ngữ, nhân sự Trong tương lai cần duy trì và tăng cường củng cố các mối quan hệ trao đổi cũ, đồng thời khai thác triệt để các nguồn biếu tặng để tăng thêm nguồn tin ngoại văn Dưới đây là bảng trao đổi sách quốc tế trong 4 năm trở lại đây như sau:
Năm Sách
tiếng Anh
Sách
tiếng Pháp
Sách
tiếng Nga
Sách
tiếng Trung
Sách
tiếng Hàn
Sách
Nhật
Tổng cộng
Tình hình trao đổi sách quốc tế trong 4 năm (2006-2009)
Qua bảng số liệu ta thấy số lượng sách ngoại văn TVQGVN nhận được theo ngôn ngữ thông qua trao đổi không đồng đều và không ổn định Trong
đó sách tiếng Anh chiếm nhiều nhất nhưng lại giảm năm 2008 Số lượng sách ngoại văn Thư viện nhận phân theo ngôn ngữ giảm do nhiều tài liệu nhận về qua trao đổi trùng bản, ít có giá trị nên bị loại bỏ Do đó số lượng có giảm đi, nhưng chất lượng nguồn tin tăng lên rõ rệt
Tình hình sách ngoại văn nhập vào TVQGVN qua nguồn trao đổi từ năm 2005 -2007 thể hiện như sau:
Năm Tổng tên sách Trao đổi
Châu Âu
Trao đổi Châu Á
Trao đổi
Mỹ, Úc
Trao đổi SNG
Trang 26Qua số liệu trên có thể thấy, số lượng sách ngoại văn TVQGVN nhận được qua các nguồn trao đổi không ổn định, nguồn trao đổi thực hiện đều đặn
và tăng nhanh với Châu Âu, còn các đơn vị khác số lượng ít hơn
Ngoài ra TVQGVN còn tiến hành trao đổi báo-tạp chí cũng được quan tâm khi lựa chọn để trao đổi và theo dõi tình hình trao đổi, công tác gói gửi hợp lí tiết kiệm chi phí
Số liệu tên báo-tạp chí ngoại văn nhận qua trao đổi của TVQGVN từ năm 2005-2007 như sau:
tổ chức đã cắt giảm số tên báo - tạp chí trao đổi nhất là Châu Á Vấn đề này đặt ra cho Thư viện cần xây dựng các giải pháp để tăng cường việc trao đổi nguồn sách -báo có giá trị với các nước trên thế giới, góp phần khắc phục tình trạng thiếu ngoại tệ mua nguồn tin ngoại văn để đáp ứng NCT của NDT
Trong hoạt động trao đổi sách, báo- tạp chí ngoại văn nhằm phát triển nguồn tin ngoại văn, một số đơn vị vẫn duy trì trao đổi đều đặn là: TVQG Pháp, TV Quốc hội Hàn Quốc, TVQG Trung Quốc, TVQG Úc, TVQG Nga,
TV Nhà nước Nga
Trang 27Kết quả trao đổi với một số đơn vị trên trong năm 2009 như sau:
Thư viện Quốc gia Pháp: 69 cuốn
Thư viện Quốc hội Hàn Quốc: 27 cuốn
Thư viện Quốc gia Trung Quốc: 249 cuốn
Thư viện Quốc gia Úc: 42 cuốn
Thư viện Nhà nước Nga: 71 cuốn
Thư viện Quốc gia Nga: 84 cuốn
Qua các số liệu số lượng sách , báo-tạp chí ngoại văn TVQGVN nhận qua nguồn trao đổi càng thấy vị trí quan trọng trong công tác phát triển nguồn tin nói chung và phát triển nguồn tin ngoại văn nói riêng
Công tác xử lý nguồn tin tất cả sách, báo-tạp chí ngoại văn sau khi nhận đều được xử lý và giao cho phòng bảo quản, phòng phân loại biên mục, phòng báo, phòng tra cứu và phòng nghiên cứu đảm bảo thời gian, chính xác
và không để tồn đọng
2.4.2 Nguồn biếu tặng
Nguồn biếu tặng luôn chiếm một vị trí quan trọng trong công tác bổ sung nguồn tin ngoại văn, năm 1982 TVQGVN đã được công nhận là Thư viện tàng trữ tư liệu của Liên hợp quốc Điều này giúp cho Thư viện nhận được những tài liệu, văn kiện, ấn phẩm thông tin, các xuất bản phẩm của Liên hợp quốc về những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, khoa học kĩ thuật trên thế giới và khu vực Châu Á- Thái Bình Dương
Cuối những năm 1990, số lượng nguồn tin ngoại văn nhập vào
Trang 28nhiều thư viện trên thế giới thông qua đại sứ quán ở Việt Nam như: TVQG Pháp, TV Quốc hội Hàn Quốc, TVQG Trung Quốc, TVQG Úc, TVQG Nga,
TV Nhà nước Nga,… đã tặng tài liệu cho Thư viện Ngoài ra các tổ chức quốc
tế như: Quỹ SARBE, Quỹ Á-Âu, Quỹ Châu Á, các tổ chức của Liên Hợp Quốc, Ngân hàng thế giới,… cũng đã tặng cho TVQGVN rất nhiều tài liệu ngoại văn có giá trị
Trong năm 2006 TVQGVN đã nhận được 547 cuốn sách của quỹ Châu
Á và tiếp nhận 220 cuốn sách tiếng Trung do Câu lạc bộ hữu nghị Việt-Trung trao tặng là những tài liệu mới có ý nghĩa về nhiều lĩnh vực tri thức do Trung Quốc xuất bản Các Đại sứ quán Tây Ban Nha, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản trong 5 năm (2003-2007) đã tặng Thư viện 600 bản sách
Số lượng sách ngoại văn nhập vào TVQGVN qua nguồn biếu tặng từ năm 2006-2009 như sau:
lớn nhất chỉ tính riêng số sách nhận được từ Quỹ window on Korea là 3.198
cuốn, cho thấy rằng nguồn tin ngoại văn có được do biếu tặng chiếm một số lượng lớn trong nguồn tin bổ sung tại TVQGVN Có thể nói công tác phát triển nguồn tin ngoại văn ở TVQGVN qua nguồn tặng biếu có vai trò quan trọng trong việc xây dựng kho tin nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ NDT
Trang 29Số lượng sách TVQGVN nhận được qua nguồn biếu tặng của một số đơn vị trong năm 2009 như sau:
Thư viện Đài Loan: 350 cuốn
Thư viện Quốc gia Trung Quốc: 64 cuốn
Thư viện Quốc gia Pháp: 48 cuốn
Đại sứ quán NaUy: 322 cuốn
Quỹ SABRE: 95 cuốn
Không chỉ có các tổ chức trao tặng tài liệu mà trong những năm qua TVQGVN thường xuyên nhận được nguồn tin biếu tặng của các cá nhân trong
và ngoài nước như: Thư viện thủ tướng Phạm Văn Đồng trao tặng khoảng 4.800 bản sách; ông Nguyễn Quốc Hùng trao tặng toàn bộ sưu tập giảng dạy tiếng Anh gồm 103 cuốn sách, 226 VCD, 29 băng casset, 8 băng video…và nhiều cá nhân người Việt đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài đã gửi tài
liệu biếu tặng
Số lượng nguồn tin ngoại văn thông qua biếu tặng cũng tăng lên và chiếm một số lượng không nhỏ trong nguồn tin ngoại văn ở TVQGVN Vì thế nguồn tin ngoại văn ở TVQGVN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của
nó trong công tác phát triển nguồn tin ngoại văn
2.4.3 Ngu ồn mua
2.4.3.1 N guồn tin ngoại văn trên giấy
TVQGVN rất chú trọng bổ sung nguồn tin ngoại văn bằng việc mua trực tiếp Nguồn bổ sung này trở nên rất quan trọng khi được nhà nước cấp ngoại tệ đặc biệt từ năm 1993 nhờ có quyết định số 25/TTg của Thủ tướng
Trang 30Chính phủ cho phép TVQGVN được cấp ngoại tệ lớn để mua sách báo với khoảng kinh phí 100.000 USD mỗi năm
Trước mắt do ngoại tệ có hạn TVQGVN giành phần lớn ngoại tệ mua báo, tạp chí nước ngoài nhằm đảm bảo nguồn thông tin nhanh chóng cho công tác nghiên cứu và tham khảo trong nước Đồng thời Thư viện mua sách, báo
có nội dung phản ánh những thành tựu mới về các ngành công nghiệp mũi nhọn như: tin học, công nghệ sinh học, chế tạo máy,… Khi lựa chọn mua tài
liệu ngoại văn, Thư viện luôn thực hiện đảm bảo tiết kiệm, không trùng lặp những tài liệu đã trao đổi quốc tế, dựa vào các thư mục Quốc gia, các catalogue về các lĩnh vực kinh tế, khoa học… của Mỹ, Nhật, Anh, Pháp…
Việc bổ sung sách báo ngoại văn chủ yếu thông qua XUNHASABA và đôi khi cán bộ bổ sung trực tiếp đến hội trợ sách báo hoặc triển lãm sách báo nước ngoài để tham khảo
Như vậy việc đặt mua sách, báo ngoại văn rất phức tạp đòi hỏi tính chính xác khoa học, kịp thời đáp ứng NCT của NDT nên cần phải thận trọng trong việc lựa chọn và đặt mua Khi đặt mua sách, báo ngoại văn Thư viện phải tính đến các yếu tố như: nhu cầu xã hội về ấn phẩm ngoại văn, kinh phí nhà nước cấp cũng như vốn đầu tư bổ sung của thư viện, cân đối các nguồn tài liệu từ các đơn vị trao đổi nhằm tiết kiệm ngân sách
Hiện nay thực tế trong nền kinh tế thị trường ở nước ta có mâu thuẫn giữa nhu cầu mua sách báo ngoại văn và kinh phí được cấp, công tác bổ sung qua hình thức mua không phải lúc nào cũng dễ dàng mà thường cần phải điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu tin của NDT và kinh phí của TVQGVN được
cấp
Tuy nhiên công tác bổ sung hình thức mua sách báo ngoại văn kết hợp với trao đổi quốc tế đã làm phong phú thêm nguồn tin ngoại văn của
Trang 31TVQGVN, cụ thể lượng sách TVQGVN đã mua trong những năm gần đây
Tổng số sách ngoại văn mua phân chia theo ngôn ngữ
Qua bảng thống kê trên cho thấy, số sách ngoại văn mà TVQGVN mua vào từ năm 2006 đến năm 2009 đã có xu hướng giảm đáng kể do hiện nay nguồn này hầu như không được đầu tư Trong số lượng sách ngoại văn được mua thì ngôn ngữ tiếng Anh là chủ yếu, đây là ngôn ngữ thông dụng trên thế giới có ưu điểm và trở thành ngôn ngữ giao tiếp quốc tế
Số lượng báo-tạp chí ngoại văn cũng được TVQGVN mua với số lượng lớn, cụ thể:
Năm Nguồn bổ sung Tên báo-tạp chí Số báo tạp-chí