7 CHƯƠNG I: TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ - VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI TRƯỚC NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NHÀ TRƯỜNG .... Vì vậy các trung tâm TT-TV cần nhan
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
TRẦN THỊ LOAN
TÌM HIỂU SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI
KHOA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THÔNG TIN – THƯ VIỆN
HỆ ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY KHÓA ĐÀO TẠO: QHX (2005 – 2009) NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THS TRẦN THỊ THANH VÂN
Trang 21.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
1.3 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Đóng góp về mặt khoa học của đề tài 7
1.7 Bố cục của khóa luận 7
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I: TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ - VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI TRƯỚC NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NHÀ TRƯỜNG 7
1.1 Vài nét về Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội 8
1.2 Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà trường 9
1 2.1 Quá trình hình thành và phát triển 9
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ 9
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trung tâm 11
1.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lực thông tin của Trung tâm 13
1.3 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin của Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội 17
1.3.1 Đặc điểm người dùng tin của Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội 17
1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội 17
1.4 Vai tr ò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong hoạt động thông tin – thư viện của Trung tâm 18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI 25
2.1 Thực trạng các sản phẩm thông tin - thư viện của Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội 25
2.1.1 Hệ thống mục lục 25
Trang 32.1.2 Các cơ sở dữ liệu 27
2.1.3 Cổng thông tin điện tử tích hợp (Uct Portal) 37
2.1.4 Đĩa CD – ROM 47
2.3 Thực trạng các dịch vụ thông tin - thư viện của Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội 48
2.3.1 Dịch vụ tra cứu thông tin trực tuyến 48
2.3.2 Dịch vụ cho mượn tài liệu 51
2.3.3 Dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc 54
2.3.4 Dịch vụ sao chép và in ấn tài liệu 54
2.3.5 Dịch vụ thông báo sách mới 54
2.3.6 Dịch vụ hướng dẫn người dùng tin 55
2.3.7 Dịch vụ tư vấn 56
2.3.8 Dịch vụ phát hành sách 56
CHƯƠNG III: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI 57
3.1 Những thuận lợi và khó khăn 57
3.1.1 Thuận lợi 57
3.1.2 Khó khăn 58
3.2 Nhận xét về các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 59
3.2.1 Ưu điểm 59
3.2.1 Nhược điểm 65
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội 67
3.3.1 Tăng cường nguồn lực thông tin - thư viện 67
3.3.2 Đào tạo và đào tạo nâng cao trình độ cán bộ thư viện 67
3.3.3 Đào tạo và hướng dẫn người dùng tin 68
3.3.4 Khắc phục những nhược điểm của những phần mềm đang sử dụng 68
3.3.5 Tăng cường, đảm bảo hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật 68
3.3.6 Marketting các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 68
Trang 43.3.7 Đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Trung tâm 69
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC 73
PHỤ LỤC
M Ở BÀI
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm 60 của thế kỷ XX, Viện sĩ A I Berg (Nga) đã dự báo: Thông tin sẽ trở thành khái niệm dẫn đầu trong các khoa học của thế kỷ XXI Thế kỷ XXI, loài người bước sang kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên thông tin, được đánh dấu bằng sự ra đời của nền kinh tế mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế mạng Cùng với đó, một xu thế mới hình thành: xu thế toàn cầu hóa, giao lưu, hợp tác, chia sẻ cùng phát triển Bên cạnh đó là sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và viễn thông…tất cả những yếu tố này đã góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của cả loài người
Trong kỷ nguyên mới, vai trò của thông tin ngày càng trở nên quan trọng và không thể thiếu trong mọi lĩnh vực đời sống - xã hội Thông tin góp phần làm nên sức mạnh của một cá nhân nói riêng và của cả một dân tộc nói chung Ngày nay, thông tin cùng với vật chất và năng lượng trở thành 3 trụ cột chính quyết định sự tồn tại của mỗi quốc gia Các nguồn thông tin ra đời với tốc độ tăng chóng mặt và số lượng tăng nhanh với cấp số nhân Sự phát triển mạnh mẽ của thông tin kết hợp với sự
phát triển của CNTT và viễn thông đã nâng cao giá trị của mình để từ đó hình thành nên môi trường thông tin số toàn cầu
Nằm trong xu thế chung toàn cầu đó, Việt Nam cũng đang có những bước phát triển mạnh mẽ dựa trên sự phát triển của CNTT và viễn thông Theo Quỹ nghiên cứu Internet GOV3 (Government for the third millennium – Chính phủ của thiên niên kỷ thứ 3) của Anh công bố kết quả điều tra tình hình phát triển Internet trên toàn thế giới ngày 17/11/2005: Việt Nam đứng thứ 3 về tốc độ phát triển Internet trong 4 năm qua, với số người sử dụng tăng 27,48%, trong đó 7,2% dân sử dụng thường xuyên Những điều này cho thấy nhu cầu thông tin của con người ngày càng cao Việc phát triển một hệ thống thông tin nhằm cung cấp cho người sử dụng ngày càng trở nên cần thiết
Cùng với xu thế phát triển của tất cả các lĩnh vực, các trung tâm TT-TV cũng không ngừng thay đổi, phát triển để tạo ra những nguồn thông tin cho người dùng tin (NDT) Hiện nay việc xây dựng một hệ thống các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện (SP&DV TT-TV) là công việc cần thiết và quan trọng đối với tất cả các cơ quan TT-TV SP&DV TT-TV không chỉ đơn thuần phục vụ NDT và cán bộ thư viện trong quá trình tác nghiệp, nó còn có ý nghĩa quan trọng giúp các trung tâm TT–TV có thể liên kết chặt chẽ với nhau kể cả trong nước và quốc tế nhằm tạo ra một nguồn lực thông tin đa dạng, phong phú và đầy đủ nhất có thể phục
vụ NDT đồng thời tiết kiệm được kinh phí và công sức cho cán bộ thư viện Từ đây,
có thể đánh giá sự phát triển của trung tâm TT-TV, đồng thời khẳng định vai trò và tầm quan trọng của nó trong xã hội
Trang 5Sự thay đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ của các trường đại học đã tác động và làm thay đổi phương thức học của sinh viên và dạy của giảng viên Điều này càng làm cho các trung tâm TT-TV có vai trò ngày càng lớn, đặc biệt là các trung tâm TT-TV đại học Chất lượng và hiệu quả phục vụ của các trung tâm TT-
TV sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo của các nhà trường Vì vậy các trung tâm TT-TV cần nhanh chóng nắm bắt xu hướng phát triển, bám sát kế hoạch đào tạo của nhà trường để có những biện pháp bổ sung vốn tài liệu và phát triển hệ thống SP&DV TT-TV một cách hợp lý nhất
Hiện nay, việc cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời, đáp ứng cả về số lượng và chất lượng đặt ra cho các trung tâm thông tin thư viện nói chung và Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội (ĐH GTVTHN) - viết tắt là Trung tâm - nói riêng những nhiệm vụ to lớn, phức tạp Để làm được điều này đòi hỏi các trung tâm TT-TV phải không ngừng xây dựng hệ thống SP&DV TT-TV, từ đó đáp ứng nhu cầu khai thác và sử dụng thông tin của NDT ở mọi lúc mọi nơi một cách nhanh nhất, kịp thời nhất Việc đa dạng và phong phú hoá các loại hình SP&DV TT-TV gắn liền với việc ứng dụng CNTT là yếu tố sống còn của Trung tâm, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay
Với ý nghĩa to lớn của SP&DV TT–TV trong hoạt động TT–TV tôi đã lựa chọn vấn
đề “Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện của Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội” làm đề tài khoá luận của
mình
1 2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu toàn bộ hệ thống SP&DV TT–TV của Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN Trên cơ sở đó, đánh giá những ưu nhược điểm để:
* Mục đích: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống SP&DV TT-TV của Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN
* Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài đi sâu giải quyết các vấn đề sau:
- Tìm hiểu sơ lược về Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN
- Nghiên cứu đặc điểm NDT và nhu cầu của NDT tại Trung tâm TT–TV Trường
ĐH GTVTHN
- Tìm hiểu vai trò của SP&DV TT-TV đối với Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN
- Tìm hiểu thực trạng và phân tích các SP&DV TT-TV của Trung tâm
- Đánh giá những ưu, nhược điểm của hệ thống SP&DV TT-TV của Trung tâm, những thuận lợi và khó khăn của Trung tâm khi tiến hành xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thống SP&DV TT-TV này
- Đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống SP&DV TT-TV của Trung tâm
1 3 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài
Đối với Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN đã có một số tài liệu viết về quá trình xây dựng, thực trạng cũng như khả năng phát triển của hệ thống SP&DV TT-
TV của Trung tâm và cũng đã có những nghiên cứu đi khá sâu về vấn đề này Theo
hướng nghiên cứu của đề tài, đã có một số tài liệu hướng dẫn, bài viết đăng trên kỷ
yếu hội thảo, báo cáo khoa học và các luận văn tốt nghiệp về các khía cạnh hoạt động của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN Cụ thể như:
Bài viết của Ths Hoàng Thị Minh Phúc (Phó Giám đốc Trung tâm TT-TV Trường
ĐH GTVTHN): “Những điều bạn cần biết về Trung tâm Thông tin-Thư viện” đăng
Trang 6trên Tạp chí Giao thông Vận tải số 34; “Đánh giá chất lượng giảng dạy của Khoa Thông tin-Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” trên kỷ yếu hội
thảo khoa học ngành Thông tin-Thư viện năm 2006
Các báo cáo khoa học sinh viên về các vấn đề của Trung tâm TT-TV Trường ĐH
GTVTHN: “Tìm tin trong mục lục trực tuyến của Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội” năm 2005 của Vũ Thị Thuý Nhài; “Tìm hiểu nguồn bổ sung vốn tài liệu tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Giao thông Vận tải” năm 2005 của Nguyễn Thị Huyền
Bên cạnh đó là một loạt các luận văn tốt nghiệp về các hoạt động tại Trung tâm:
“Nghiên cứu văn hoá đọc của sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải” năm
2007 của Bùi Phương Hoa; “Tìm hiểu vấn đề tự động hoá tại Trung tâm Thông
tin-Th ư viện Trường Đại học Giao thông-Vận tải Hà Nội” năm 2007 của Nguyễn
Thanh Huyền; “Tìm hiểu công tác phát triển vốn tài liệu tại Trung tâm Thông
tin-Th ư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải” năm 2005 của Nguyễn Thị Huyền;
“Tìm hiểu công tác tự động hoá tại Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Giao thông Vận tải” năm 2006 của Hoàng Thanh Huyền; “Tìm hiểu công tác tổ chức và khai thác cơ sở dữ liệu tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Giao thông Vận tải” của Vũ Thị Hồng Nhung; “Tìm hiểu quá trình xử lý tài liệu tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Giao thông Vận tải” năm 2008 của Bùi Thị Thuy; “Tìm hiểu công tác tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải” năm 2008 của Vũ Văn Hồng…
Về vấn đề SP&DV TT-TV của Trung tâm cũng đã có 01 đề tài luận văn tốt nghiệp:
“Tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện của Thư viện Đại học Giao thông Vận tải” năm 2005 của Vũ Thị Thuý Nhài Tuy nhiên, đề tài mới chỉ đề cập
tới những SP&DV TT-TV dạng truyền thống, ít đề cập đến các SP&DV TT-TV hiện đại
Đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện của Trung
t âm Thông tin-Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội” sẽ đi sâu
vào các loại hình SP&DV TT-TV hiện đại, sẽ là đề tài phát triển cao hơn, hoàn thiện hơn so với các tài liệu về vấn đề SP&DV TT-TV của Trung tâm đã được đề
cập đến trước đó
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: Khoá luận tìm hiểu và đánh giá hiệu quả hệ thống các
SP&DV TT–TV của Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt thời gian: Tìm hiểu hệ thống SP&DV TT–TV từ năm 2005 đến nay
- Về mặt không gian: Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN
1.5 C ơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 71 5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong cả quá trình thực hiện, khoá luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Thống kê, tổng hợp, phân tích thông tin, tài liệu, số liệu từ nhiều nguồn
- Khảo sát hoạt động tạo lập và triển khai các SP&DV TT–TV tại Trung tâm
- Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với các chuyên gia TT–TV, cán bộ thư viện và NDT của Trung tâm
- Phát và thu thập bảng hỏi điều tra NCT
1.6 Đóng góp về mặt khoa học của đề tài
- Khoá luận giới thiệu hệ thống các SP&DV TT–TV của Trung tâm TT–TV Trường
ĐH GTVTHN, trong đó nhấn mạnh vào các loại hình SP&DV TT–TV hiện đại hiện đang là thế mạnh của Trung tâm
- Khoá luận đưa ra đánh giá, nhận xét về hệ thống SP&DV TT–TV của Trung tâm, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng SP&DV TT-TV Khoá
luận sẽ là góp ý để Ban lãnh đạo Trung tâm xem xét và nâng cao hơn chất lượng hoạt động TT–TV của mình
1 7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải
Hà Nội trước nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường
Chương 2: Thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của Trung tâm Thông tin – thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trung tâm Thông tin – thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
N ỘI DUNG
CHƯƠNG I: TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ - VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI TRƯỚC NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NHÀ TRƯỜNG
Trang 81.1 V ài nét về Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giao thông là một trong những yếu tố thiết yếu nhất, là điều kiện quyết định đối với đời sống, đối với sản xuất và chiến đấu:
“Giao thông là mạch máu của tổ chức, giao thông tốt các việc đều dễ dàng, giao thông xấu thì các việc đình trệ” Chính vì những ý nghĩa quan trọng này, ngày 15/11/1945, Trường Cao đẳng Giao thông Công chính khai giảng lớp học đầu tiên theo Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong những năm 1945 – 1960, Nhà trường thực hiện nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ cao đẳng và trung cấp Tháng
10 năm 1947, Nhà trường đã khai giảng 2 lớp cao đẳng và một lớp trung cấp Trong
hoàn cảnh chiến tranh, mặc dù Nhà trường đã phải sơ tán, chuyển đến nhiều nơi, chia cắt hoặc sát nhập, nhưng vẫn đảm bảo được quá trình đào tạo và chất lượng đào tạo của mình, cung cấp đội ngũ cán bộ kỹ thuật cho ngành giao thông, bưu điện, thủy lợi Góp phần quan trọng vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc Tháng 8/1960, Bộ giao thông vận tải quyết định lập Ban Xây dựng Trường Đại học Giao thông Vận tải Tháng 12/1960, Trường Đại học Giao thông Vận tải chính thức khai giảng lớp học đầu tiên với 117 sinh viên với các ngành Cầu, Đường sắt, Đường
bộ, Bưu điện, Quản lý công trình, Quản lý cơ khí và đến năm 1961 thì có thêm lớp Bưu điện chuyển về Ngày 24/3/1962, theo Quyết định số 42/CP của Thủ tướng Chính phủ, Đại học Giao thông Vận tải chính thức được thành lập Trước yêu cầu của thực tiễn và sự phát triển cả về quy mô và ngành nghề đào tạo, ngày 23/7/1968, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học Giao thông Vận tải được tách ra thành Trường Đại học Giao thông Đường sắt- Đường bộ ở Hà Nội và Trường Đại học Đường thủy ở Hải Phòng Nhà trường từng bước hoàn thiện về cơ cấu, nội dung đào tạo cũng như hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật… phục vụ cho việc vừa giáo dục, vừa chiến đấu
Trong những năm 1972-1973, do hoàn cảnh chiến tranh Nhà trường phải đi sơ tán
Tuy nhiên, Nhà trường vẫn tham gia đóng góp xây dựng được nhiều công trình giao thông quan trọng cho Đất nước Đến năm 1973, Nhà trường trở về Hà Nội, ngay lập tức bắt tay vào công tác ổn định và tiếp tục sự nghiệp giáo dục, đào tạo của mình Năm 1984, Trường chuyển về Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ( Nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) quản lý Năm 1985, Trường được đổi tên thành Trường ĐH
thiện trên tất cả các lĩnh vực để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn cán bộ kỹ thuật
Trang 9hữu nghị của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào; Nhiều tập thể, cá nhân trong trường được nhận huân chương, huy chương các loại…
Trường ĐH GTVTHN kỳ vọng trở thành một trường đại học kỹ thuật- công nghệ tiên tiến, đa ngành, đa cấp học; có chất lượng đào tạo cao, có đội ngũ Giảng viên và cán bộ quản lý đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng; có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại; có năng lực tài chính dồi dào; có cơ chế quản lý năng động và hiệu quả; có khả năng hợp tác và cạnh tranh tốt; sớm tiếp cận với trình độ đào tạo của các trường đại học trong khu vực và trên thế giới
1.2 Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà trường
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN là một bộ phận của Trường ĐH GTVTHN, ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Trường (1962) Khi mới thành lập, Trung tâm là một bộ phận của Ban Giáo vụ Đến năm 1984, Thư viện tách ra thành một đơn vị riêng trực thuộc Ban Giám hiệu Ngày 21/02/2002, theo
Quyết định số 753 QĐ/BGD &ĐT-TCCB, Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN chính thức được ra đời Từ đó đến nay Trung tâm không ngừng hoàn thiện và phát triển từ một thư viện truyền thống, nhỏ bé thành một thư viện hiện đại hàng đầu trong cả nước
Từ năm 2000, Trường ĐH GTVTHN không ngừng tham gia các chương trình dự án Giáo dục đào tạo ở các mức A, B, C Cùng với đó, Thư viện của Trường được quan tâm và phát triển mạnh mẽ Từ dự án mức A năm 2000 “Xây dựng hệ thống mạng máy tính để tăng cường công tác quản lý và đào tạo”, Trung tâm TT-TV đã được trang bị máy tính Từ đó các hệ thống máy tính nội bộ phục vụ công tác quản lý, làm thẻ mã vạch, mã vạch hoá các loại hình tài liệu và sử dụng phần mềm thư viện của một số cơ sở sẵn có dần được triển khai Tiếp đến dự án mức B của Nhà trường
đã cho phép mở rộng mạng máy tính của Trung tâm TT-TV lên tới 50 máy tính Đến năm 2003-2004, Trường tham gia dự án mức C “Xây dựng trung tâm tài nguyên TT-TV” Đây là một dự án lớn góp phần làm thay đổi căn bản Trung tâm cả
về lượng và chất Dự án này đã cho phép xây dựng một cơ sở hạ tầng thông tin hiện đại, trang bị số lượng lớn tài liệu truyền thống và tài liệu điện tử bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài mới nhất Đồng thời dự án còn bao gồm cả chương trình đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước nhằm nâng cao nghiệp vụ thư viện và trình độ quản
lý đội ngũ cán bộ thư viện
Hiện nay, Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN được đánh giá là Trung tâm TT-TV hiện đại nhất cả nước và là thư viện điện tử đóng góp hiệu quả vào quá trình phát triển của Trường ĐH GTVTHN
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ
* Chức năng
Trung tâm Thông tin Thư viện Trường ĐH GTVTHN nằm trong hệ thống TT-TV
cả nước Bên cạnh đó, Trung tâm được định hướng là bộ phận tư liệu của Trường
ĐH GTVTHN hoạt động phù hợp với xu hướng hiện đại của xã hội và yêu cầu đào tạo của Nhà trường Đây là Trung tâm TT-TV chuyên ngành Vì vậy, Trung tâm vừa mang những chức năng chung của một Trung tâm TT–TV, vừa có chức năng riêng phục vụ cho các chuyên ngành giao thông vận tải của Nhà trường
Trang 10Trong hoạt động TT-TV của các trường đại học, ngoài chức năng cơ bản của một thư viện là tàng trữ nguồn thông tin, văn hoá, giáo dục Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN có vai trò quan trọng là giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và phát triển con người toàn diện cho ngành giao thông vận tải Bên cạnh đó, Trung tâm cũng có trách nhiệm thực hiện các DV TT-TV phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, ứng dụng các lĩnh vực giao thông vận tải của Trường vào đời sống kinh
tế xã hội của Đất nước
- Không ngừng mở rộng, hợp tác, giao lưu, trao đổi với các cơ quan TT–TV,
tổ chức khoa học, trường đại học trong và ngoài nước nhằm nâng cao khả năng phục vụ của Trung tâm đối với NDT, đặc biệt đối với các tài liệu chuyên ngành về các lĩnh vực Nhà trường đào tạo
- Lập kế hoạch cho Ban Giám hiệu Nhà trường về công tác TT-TV phục vụ cho nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học
- Tổ chức các tọa đàm, trao đổi, hướng dẫn về thông tin tư liệu, phương thức khai thác, tìm kiếm thông tin đối với NDT
- Tổ chức, sắp xếp, lưu trữ và bảo quản kho tài liệu của Trung tâm
- Có nhiệm vụ quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của Trung tâm được giao, gồm toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất trang thiết bị, hệ thống tài nguyên thông tin của Trung tâm
- Tổ chức các công tác in ấn, xuất bản chung của Nhà trường, các tài liệu giảng dạy, học tập dùng trong nội bộ Nhà trường
Trang 11- Tiếp tục cập nhật kiến thức, không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ… cho các cán bộ của đơn vị
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trung tâm
* Cơ cấu tổ chức
Theo quyết định số 753QĐ/BGD &ĐT/TCCB năm 2002, cơ cấu tổ chức của Trung tâm được tổ chức một cách chặt chẽ, cụ thể gồm 01 Giám đốc, 02 Phó giám đốc quản lý các Phòng, Ban trực thuộc của Trung tâm
Trang 12S ơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
Ban Giám đốc
Bộ phận nghiệp vụ
Phòng quản trị
Bộ phận lưu thông
Phòng mượn trả tài liệu
Bộ phận phục
vụ NDT Phòng đọc Việt Phòng đọc báo-tạp chí… Phòng đọc điện tử Phòng đọc sách tiếng Nga
Trang 13Mỗi phòng ban, bộ phận của Trung tâm có trách nhiệm chung nhằm làm cho Trung tâm phát triển thống nhất Bên cạnh đó, mỗi phòng ban, bộ phận cũng chịu trách nhiệm riêng theo chuyên môn riêng của từng phòng
- Ban Giám đốc: Chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo các hoạt động chung của cơ quan Ban Giám đốc có trách nhiệm thu thập những thông tin từ trong và ngoài hệ thống để đưa
ra những quyết định chỉ đạo đúng đắn và chính xác cho sự phát triển của Trung tâm
- Phòng mượn giáo trình và sách tham khảo: có nhiệm vụ làm các thủ tục mượn để cung cấp các tài liệu giáo trình và sách tham khảo phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu của sinh viên, giảng viên trong Trường
- Phòng đọc sách tiếng Việt: phục vụ theo hình thức đọc tại chỗ các tài liệu tiếng Việt
- Phòng nghiệp vụ: có nhiệm vụ xử lý các loại hình tài liệu từ các hoạt động bổ sung, biên mục, phân loại…cả tài liệu truyền thống và tài liệu hiện đại để đưa vào phục vụ
- Phòng đọc sách ngoại văn, luận văn, luận án, nghiên cứu khoa học: phục vụ theo hình thức đọc tại chỗ, kho mở các tài liệu tiếng nước ngoài (tiếng Anh, Pháp, Nga…), các luận văn, luận án và nghiên cứu khoa học của giảng viên, sinh viên trong Trường
- Phòng quản trị mạng: quản lý, điều khiển cả hệ thống mạng của Trung tâm
- Phòng đọc điện tử: phục vụ việc tra cứu, tìm kiếm nguồn tài liệu điện tử cho NDT
- Phòng hội thảo: phục vụ các cuộc hội thảo, họp mặt của Trung tâm
để nâng cao chất lượng phục vụ cho NDT của Trung tâm Các cán bộ thư viện của Trung tâm luôn được quan tâm về đời sống vật chất và tinh thần tạo điều kiện cho họ có thể học
tập, nâng cao chuyên môn, khả năng nghiệp vụ, yên tâm phát huy hết khả năng, năng lực của bản thân nhằm nâng cao chất lượng phục vụ NDT
1.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lực thông tin của Trung tâm
* Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng và các thiết bị vật chất kỹ thuật
Để trở thành Trung tâm TT–TV hiện đại hàng đầu cả nước như hiện nay Trung tâm đã trải qua những khó khăn, nỗ lực không ngừng, biết tận dụng những cơ hội cũng như phát huy những khả năng nội tại của Trung tâm Năm 2005, được sự đầu tư, hỗ trợ của Dự án Giáo dục Đại học do World Bank tài trợ ở mức C, hầu hết trang thiết bị của Trung tâm được trang bị mới hoàn toàn từ đầu Hiện nay, Trung tâm đã xây dựng được
Trang 14một mặt bằng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật kiện toàn, hiện đại với khuôn viên rộng
4000 m2, khang trang, thoáng mát, đảm bảo các điều kiện cho các công tác nghiệp vụ của Trung tâm Hệ thống cơ sở vật chất cần thiết cho công tác phục vụ NDT như hệ thống bàn ghế, tủ kệ, tủ trưng bày, máy tính, quạt, bóng điện, máy điều hoà….cũng được đầu tư
và trang bị đầy đủ
Trung tâm có 4 phòng đọc với 712 chỗ ngồi phục vụ cho NDT sử dụng thư viện:
+ Phòng đọc sách tiếng Việt: 280 chỗ ngồi
+ Phòng đọc báo- tạp chí/ sách ngoại văn, luận văn, luận án và nghiên cứu khoa học: 256 chỗ ngồi
+ Phòng đọc sách tiếng nước ngoài trước năm 1990/ tạp chí đóng quyển: 88 chỗ ngồi
+ Phòng đọc điện tử: 88 chỗ ngồi
Tất cả các phòng đọc và phòng mượn của Trung tâm đều được trang bị máy điều hoà, nhiệt độ, trong đó có 13 máy tủ điều hoà nhiệt độ 50.000 BTU và 20 máy điều hoà treo tường 18.000 BTU
Hạ tầng cơ sở thông tin
Hạ tầng phần cứng: Hạ tầng phần cứng bao gồm các thiết bị phần cứng phục vụ cho các hoạt động của Trung tâm
Trung tâm đã xây dựng khá kiện toàn hệ thống cơ sở vật chất điện tử để tiến tới đồng bộ hoá cơ sở vật chất tạo điều kiện cho quá trình tự động hoá trong hoạt động TT-TV Cơ sở
hạ tầng thông tin để đáp ứng cho quá trình tự động hoá bao gồm: Hạ tầng mạng thông tin (Mạng nội bộ, mạng không dây, mạng diện rộng, mạng kết nối Internet), hệ thống máy chủ, máy trạm, các trang thiết bị ngoại vi
Hiện nay Trung tâm có 157 máy tính trong đó có 17 máy chủ, còn lại là máy trạm Mạng máy tính được liên kết qua các đầu mối tới các nguồn tạo điều kiện cho việc chuyền tải thông tin qua các thiết bị liên kết chuyển đổi Các máy trạm phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ TT-TV Các phân hệ của Trung tâm tài nguyên TT-TV đều được trang bị hệ thống máy tính để phục vụ NDT
Ngoài ra còn có một số thiết bị mạng Swich, thiết bị không dây để đảm bảo khả năng hỗ trợ các kết nối tốc độ cao, hỗ trợ các công nghệ tiên tiến, truyền thông đa phương tiện (mutilmedia) Đồng thời tăng khả năng truy nhập hệ thống, cho phép các giáo viên và học viên trong Trường có thể đồng thời sử dụng các máy tính cá nhân của mình để truy cập mạng khi cần thiết…
- Máy in Lazer các cỡ phục vụ cho công tác nghiệp vụ và NDT sao chụp tài liệu
- Hệ thống kiểm tra từ: Được đặt ở 3 phòng đọc mở để bảo đảm an toàn cho nguồn tài liệu
- Hệ thống Camera theo dõi: Được đặt ở tất cả các phòng của Trung tâm Có khoảng 30 camera có khả năng lưu giữ hình ảnh, được lắp đặt ở các vị trí khác nhau giúp cho cán bộ Trung tâm có thể quan sát NDT thuận tiện và dễ dàng