Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong khoa Thông Tin- Thư Viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội đã giúp đỡ em trong suốt thời gian em học tập và n
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, do thời gian có hạn, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên bài khóa luận tốt
nghiệp chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, em rất mong
nhận được sự góp ý của các thầy, cô và các bạn sinh viên để khóa luận được
hoàn chỉnh hơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Trần Hữu Huỳnh, người đã tận
tình chỉ bảo, giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong khoa Thông
Tin- Thư Viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội đã
giúp đỡ em trong suốt thời gian em học tập và nghiên cứu tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn tới các cô, các anh, các chị công tác tại Thư viện
Trường đại học Y Hà Nội Đặc biệt là cô ThS Nguyễn Thị Cẩm Nhung đã tạo
điều kiện giúp đỡ em trong quá trình em thực tập tại thư viện
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi để em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 02 năm 2012 Sinh viên thực hiện
Ngô Thị Hà
Trang 2Tiêu chuẩn Quốc tế về
thông tin
thông tin về sách giữa các thư viện
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài 6
6 Đóng góp của khoá luận 6
7 Bố cục của khoá luận 7
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 8 1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của trường đại học Y Hà Nội 8
1 2 Quá trình hình thành và phát triển Thư viện trường đại học Y Hà Nội 11
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện trường ĐHYHN 11
1.2.2 Đội ngũ cán bộ và cơ cấu tổ chức 12
1.2.3.Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 16
1.2.4 Phương thức phục vụ người dùng tin 17
1.2.5.Cơ sở vật chất và hạ tầng thông tin 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 20
2.1 Nguồn lực thông tin tại Thư viện Đại học Y Hà Nội 20
2.2 Sản phẩm thông tin 22
2.2.1 Khái niệm về sản phẩm 22
2.2.2 Sản phẩm thông tin tại Thư viện đại học Y Hà Nội 24
2.2.2.1.Hệ thống mục lục 24
2.2.2.2 Ấn phẩm thông tin 29
2.2.2.3 Cơ sở dữ liệu 32
2.3 Dịch vụ thông tin tại Thư viện 37
2.3.1 Khái niệm về dịch vụ thông tin 37
2.3.2 Các hoạt động dịch vụ thông tin tại Thư viện đại học Y Hà Nội 38
2.3.2.1 Dịch vụ cung cấp tài liệu 38
Trang 42.3.2.2 Dịch vụ sao chụp tài liệu 40
2.3.2.3 Dịch vụ dịch tài liệu (Dịch tài liệu, phiên dịch) 41
2.3.2.4 Khai thác tài liệu vi dạng, nghe nhìn 41
2.3.2.5 Dịch vụ phổ biến thông tin hiện tại (CAS) 42
2.3.2.6 Dịch vụ tìm tin 42
2.3.2.7 Dịch vụ trao đổi thông tin 44
2.3.2.8 Dịch vụ tư vấn thông tin y dược 44
2.4 Đánh giá chung 45
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 48
3.1 Tạo nguồn và phát triển nguồn tin 48
3.2 Phát triển hoàn thiện các sản phẩm thông tin 49
3.3 Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ thông tin – thư viện 51
3.3.1 Nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có 51
3.3.2 Phát triển các dịch vụ thông tin mới 53
3.4 Nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ thông tin – thư viện 53
3.5 Phát triển và hoàn thiện hạ tầng cơ sở thông tin 55
3.6 Đào tạo đội ngũ người dùng tin sử dụng sản phẩm và dịch vụ thông tin 56
3.7 Hợp tác, chia sẻ nguồn lực thông tin trong và ngoài nước 57
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 60
MỘT SỐ HÌNH ẢNH PHỤC VỤ CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 67
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển mạnh mẽ và không ngừng về số lượng, tốc độ của thông
tin đã tạo nên sự bùng nổ thông tin trong kỷ nguyên mới Những năm gần
đây, ước tính có hơn 3 triệu tài liệu kể cả tài liệu công bố và tài liệu không
công bố được xuất bản hàng năm trong mọi lĩnh vực Đó là một thách thức
không chỉ đối với cơ quan cung cấp thông tin mà còn đối với người dùng tin
(NDT)
Sản phẩm và dịch vụ thông tin là công cụ cơ bản để thoả mãn nhu cầu
của NDT, là các chỉ số quan trọng để đánh giá hoạt động của các cơ quan
thông tin- thư viện (TT-TV) Ngày nay các cơ quan thông tin- thư viện, đặc
biệt là tại thư viện, trung tâm thông tin –thư viện các trường đại học đang
đứng trước cơ hội và thách thức lớn trong việc tạo ra và phát triển các sản
phẩm và dịch vụ thông tin (SP&DVTT) nhằm thỏa mãn nhu cầu NDT Đồng
thời thông qua đó, khẳng định vai trò của mình đối với quá trình nghiên cứu
khoa học, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực của đất nước
Trường đại học Y Hà Nội có chức năng chính trong công tác đào tạo
đội ngũ nguồn nhân lực cán bộ y khoa cho đất nước, trong công tác nghiên
cứu khoa học và giáo dục đào tạo Thư viện đại học Y Hà Nội có vai trò quan
trọng trong hoạt động thông tin y học cho cán bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ
giảng dạy, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên thông qua các sản
phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Với những lý do trên, tôi đã chọn đề
tài: “Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện trường đại học Y
Hà Nội.” làm khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích: Khảo sát thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư
viện trường đại học Y Hà Nội
+ Nhiệm vụ: Trên cơ sở thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin
(SP&DVTT) tại Thư viện trường đại học Y Hà Nội, tôi muốn khẳng định vai
Trang 6trò quan trọng của chúng, những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động TT-TV
của Thư viện trường Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng SP&DVTT trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Hiện trạng và giải pháp về SP&DVTT tại Thư viện Y Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu:
Một số SP&DVTT ở Thư viện đại học Y Hà Nội hiện có
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích tổng hợp tài liệu
- Thống kê
- Quan sát, tìm hiểu nhằm đưa ra giải pháp cho những vấn đề đặt ra
5 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài
Đối với Thư viện trường Đại học Y Hà Nội đã có một số đề tài nghiên
cứu viết về công tác phục vụ NDT, nghiên cứu nhu cầu tin, quy tắc mô tả tài
liệu
Vấn đề sản phẩm và dịch vụ thông tin là một khía cạnh được nhiều tác
giả lựa chọn nghiên cứu tại nhiều cơ quan thông tin thư viện Tuy nhiên, theo
tôi được biết vào thời điểm hiện nay thì chưa có một công trình nghiên cứu
nào về vấn đề sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện trường Đại học Y
Hà Nội,
6 Đóng góp của khoá luận
Về mặt lý luận:
Khoá luận góp phần làm rõ thêm vai trò và ý nghĩa của SP&DVTT trong
hoạt động TT-TV trong công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo của
nhà trường đại học
Về lý luận thực tiễn:
Khoá luận đưa ra những nhận xét, đánh giá về việc tạo lập và cung cấp
SP&DVTT Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển thêm các
SP&DVTT, nâng cao tính hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu tin của NDT
Trang 7Tham gia vào quá trình phát triển các SP&DVTT tại Thư viện đại học Y
Hà Nội nói riêng và tại thư viện thông tin chuyên ngành nói chung
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo Khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1 Khái quát về Thư viện trường Đại học Y Hà Nội
Chương 2.Hiện trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện trường
Đại học Y Hà Nội
Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch
vụ thông tin trong thời gian tới của Thư viện trường Đại học Y Hà Nội
Trong quá trình thực hiện đề tài do thời gian có hạn, trình độ nghiên cứu
khoa học của bản thân cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, nên khoá
luận không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong được sự đóng góp của thầy cô,
bạn bè để tôi hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp
Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong
khoa đã truyền đạt cho tôi những kiến thức, những kinh nghiệm quý giá trong
bốn năm theo học tại khoa Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS.GVC.Trần
Hữu Huỳnh, cùng các cán bộ tại Thư viện trường Đại học Y Hà Nội đã giúp
đỡ tôi trong quá trình tôi thực tập, cung cấp cho tôi những tài liệu, thu thập
những số liệu và những kinh nghiệm thực tế để viết khóa luận
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 8CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của trường đại học Y Hà Nội
Trường Đại học Y Hà Nội (ĐHYHN) được thành lập ngày 27/2/1903,
từ một trường của Pháp trải qua bao thăng trầm của lịch sử cách mạng Việt
Nam, trường Đại học Y Hà Nội đã phát triển thành một trường đại học hàng
đầu đào tạo cán bộ y tế có trình độ cao cho đất nước Cùng với sự phát triển
của đất nước, trường Đại học Y Hà Nội đã và đang phấn đấu vươn lên để
xứng danh một trường trọng điểm quốc gia, với bề dày lịch sử hơn 100 năm
của trường, công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo của nhà trường
đang được kế thừa và phát huy
Giáo dục đào tạo luôn gắn liền với việc giải quyết những vấn đề của xã
hội, đây chính là truyền thống của nhà trường với xã hội trong công tác giáo
dục đào tạo Có thể khẳng định giáo dục – đào tạo là chìa khoá mở đuờng cho
sự phát triển kinh tế- xã hội, là cơ sở để đảm bảo an ninh chính trị quốc gia
Với ý nghĩa đó giáo dục- đào tạo xứng đáng là quốc sách hàng đầu trong hệ
thống chính sách phát triển của mỗi quốc gia Những kết quả của đề tài
nghiên cứu đã được ứng dụng và có tác động đến những vấn đề xã hội với
quy mô lớn của đất nước Nghiên cứu khoa học gắn liền với công tác đào tạo
đại học và sau đại học, đây là truyền thống gắn nghiên cứư với đào tạo, các đề
tài nghiên cứu cấp cơ sở, cấp bộ, cấp nhà nước là nguồn phong phú phục vụ
cho việc hướng dẫn sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp bác sĩ, bác sĩ nội trú
bệnh, luận văn cao học và luận án nghiên cứu sinh Những năm gần đây, kinh
phí đầu tư cho khoa học và công nghệ tăng lên đáng kể đã tạo điều kiện thuận
lợi gắn nghiên cứu khoa học với đào tạo đại học và sau đại học Phát huy
truyền thống trường ĐHYHN đã và đang tiến bước mạnh mẽ vào khoa học
công nghệ để đáp ứng được những đòi hỏi cấp bách của xã hội trong công
cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Nhiệm vụ cơ bản giai đoạn đổi
mới giáo dục đào tạo của trường là:
Trang 9- Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, xây dựng chương
trình đào tạo, biên soạn chương trình, giáo trình, tổ chức đề ra các nhiệm vụ
nghiên cứu, chọn lọc ứng dụng khoa học công nghệ vào triển khai các đề án,
dự án đào tạo đại học và sau đại học
- Tư vấn cho các cấp quản lý của Bộ, Sở Y tế xây dựng chính sách y tế,
đổi mới nội dung phương pháp đào tạo, cải cách giáo dục
- Đào tạo đội ngũ bác sĩ, cán bộ y tế có tay nghề chất lượng cao cho tất
cả các bậc học, chuyên ngành học từ trình độ cử nhân điều dưỡng, y tế công
cộng và kỹ thuật y học đến thạc sỹ, bác sỹ chuyên khoa cấp II và tiến sỹ
- Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường
- Mở rộng hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học
với các trường đại học y của cả nước và thế giới
Với chức năng và nhiệm vụ cơ bản trên đây, trường đại học Y Hà Nội đã
và đang đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và phát triển
giáo dục đào tạo y tế nhà nước
Thực chất của công cuộc đổi mới giáo dục ở trường ĐHYHN là đổi
mới về mục tiêu, chương trình nội dung, phương pháp đào tạo, quản lý bồi
dưỡng đội ngũ bác sỹ và cán bộ quản lý Từ năm học 2006-2007 mục tiêu đào
tạo của nhà trường được xác định là: hoàn thiện các chương trình đào tạo, bổ
sung và cập nhật các loại hình đào tạo, đặc biệt là các chương trình chuyển
đổi, các chuyên khoa, các bậc đào tạo; đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi
mới hình thức kiểm tra, đánh giá; biên soạn giáo trình cơ bản
Đổi mới giáo dục ở trường ĐHYHN đã triển khai từ nhiều năm qua và
thu được một số kết quả về các mặt:
- Về công tác đào tạo sau đại học: Nhà trường ban đầu chỉ có một số bộ
môn cơ bản, đến nay nhà trường đã có tới 74 đơn vị trực thuộc gồm 2 khoa, 8
bộ môn khoa học cơ bản, 12 bộ môn y học cơ sở, 23 bộ môn y học lâm sàng,
18 phòng ban với đầy đủ các ngành đào tạo chính quy, hàng năm nhà trường
tuyển sinh hơn 800 sinh viên thuộc 6 ngành đào tạo
Trang 10- Về nội dung chương trình đào tạo: Những năm qua học tập kinh
nghiệm của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, nhà trường đã
đề ra được mô hình đào tạo ngày càng đáp ứng được sự phát triển của đất
nước trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hóa Nhà trường đã chủ động
đổi mới khung chương trình đào tạo cho phù hợp, cập nhật các thành tựu của
thế giới, biên soạn được nhiều giáo trình, đầu sách giáo khoa và sách tham
khảo Hiện nay, trường đại học Y Hà Nội đã có 230 loại giáo trình tương đối
hoàn chỉnh, cập nhật (chương trình đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cưú
sinh) mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới Phần lớn
cán bộ giảng dạy và cán bộ nghiên cứu khoa học của nhà trường tham gia
hoặc chủ trì biên soạn sách giáo khoa phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu
khoa học
- Về nghiên cứu khoa học: Công tác nghiên cứu khoa học của nhà trường
đã phục vụ hiệu quả nhiệm vụ đào tạo của ngành và của hệ thống y tế Trong
năm học qua, nhà trường đã tiến hành trên 100 đề tài nghiên cứu khoa học (có
01đề tài cấp nhà nước nằm trong chương trình CK.04.21 đề tài cấp Bộ và 4 đề
tài của sinh viên đạt giải thưởng Vifotec; 2 đề tài hợp tác theo dạng nghị định
thư với Nhật và Italia).Tổng kinh phí của nghiên cứu khoa học năm 2010 do
Nhà nước cấp là 14.560 tỷ
- Về xây dựng đội ngũ cán bộ: Nhận rõ vai trò của đội ngũ cán bộ nói
chung và của cán bộ giảng dạy nói riêng trong việc đổi mới phương thức
giảng dạy nâng cao chất lượng đào tạo, trong những năm qua nhà trường quan
tâm tạo mọi điều kiện để nâng cao trình độ của cán bộ về mọi mặt Nhà
trường đưa ra quy chế tuyển dụng cán bộ phù hợp với tình hình phát triển mới
của đất nước, cán bộ giảng dạy là thạc sỹ và có đủ điều kiện để học lên tiến
sỹ, các cán bộ phòng ban phải được đào tạo đúng chuyên ngành phù hợp với
nhiệm vụ đang đảm nhiệm và tốt nghiệp từ khá giỏi trở lên
- Về cơ sở vật chất trang thiết bị: Bên cạnh đổi mới chương trình và nội
dung đào tạo, nhà trường tập trung xây dựng bệnh viện thực hành có tính khả
Trang 11thi, xây dựng kế hoạch đào tạo cơ bản khoa học và công nghệ có trình độ cao
ở các cơ sở trong nước
1.2 Quá trình hình thành và phát triển Thư viện trường đại học Y Hà Nội
Thư viện trường đại học Y Hà Nội (TVĐHYHN) là một trong những thư
viện lớn nhất và có sớm nhất trong số các thư viện đại học trong cả nước,
thành lập từ năm 1903 trải qua hơn 100 năm hoạt động, TVĐHYHN đã từng
bước xây dựng và phát triển vững chắc
Tiền thân của TVĐHYHN là thư viện đại học Y - Dược khoa Việt Nam,
nhiệm vụ chính của thư viện là phục vụ đào tạo bác sỹ, dược sỹ và chuyên gia
cao cấp về y học, dược học cho nền y tế Việt Nam và Đông Dương thuộc
Pháp Địa điểm ban đầu của đại học Y -Dược khoa Hà Nội là nhà số 13 phố
Lê Thánh Tông, Hà Nội
Từ năm 1962, cùng với việc hình thành đại học Y - Dược khoa, thư
viện đại học Y- Dược Hà Nội tách thành hai thư viện: thư viện đại học y
Khoa Hà Nội và thư viện đại học dược khoa Hà Nội
Năm 1969, TVĐHYHN lại chia tách một lần nữa, phần lớn cơ sở vật
chất và nhân lực chuyển sang thư viện Y học Trung ương, nay là Viện Thông
tin Y học Trung ương do Bộ Y tế quản lý; phần còn lại là do ĐHYHN quản
lý, chính là TVĐHYHN ngày nay
Từ năm 1980, cơ sở chính của ĐHYHN chuyển về số 1 phố Tôn Thất
Tùng, quận Đống Đa, Hà Nội Từ đây, Thư viện trường đại học Y Hà Nội có
điều kiện tăng cường cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ ngày càng lớn mạnh về
lượng và chất Nguồn tư liệu được bổ sung ngày càng đa dạng phong phú
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện trường ĐHYHN
Thư viện trường đại học Y Hà Nội (TVĐHYHN) có các chức năng
nhiệm vụ sau:
TVĐHYHN có chức năng thu thập, xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản tài
liệu, xây dựng hệ thống tra cứu cung cấp thông tin và tư liệu về chuyên ngành
Trang 12y học nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu giảng dạy học tập của đội ngũ cán bộ
giảng viên và sinh viên trong trường, đồng thời là đầu mối quan trọng trong
hợp tác quốc tế của Bộ Y Tế Việt Nam với các tổ chức y tế nước ngoài
TVĐHYHN có những vụ chính sau đây:
- Sưu tầm, bổ sung, xử lý, lưu trữ các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực
y- dược học để đáp ứng nhu cầu tin cho cán bộ giảng dạy và sinh viên trong
nhà trường
- Tổ chức hoạt động thư mục, giới thiệu sách báo, tạp chí y-dược học cho
người dùng tin khai thác và sử dụng
- Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ như: phân loại, biên mục, mô tả ấn
phẩm, xây dựng bộ máy tra cứu tin thích hợp, thiết lập mạng lưới truy cập và
tìm kiếm thông tin tự động hóa
- Tổ chức phòng đọc, phòng mượn, hướng dẫn người dùng tin tra cứu
tìm tài liệu trên máy tính hoặc trong mục lục, cung cấp thông tin chính xác,
nhanh chóng và phù hợp
- Tiến hành các hoạt động trao đổi thông tin, nâng cao trình độ đội ngũ
cán bộ tại thư viện
1.2.2 Đội ngũ cán bộ và cơ cấu tổ chức
* Đội ngũ cán bộ
Cán bộ thông tin thư viện được coi là linh hồn của thư viện bởi mọi hoạt
động của thư viện đều gắn vói cán bộ thư viện
Hiện nay TVĐHYHN có tổng số 13 cán bộ viên chức, cán bộ tốt nghiệp
đại học chuyên ngành là 08 người (trong đó có 2 người có trình độ thạc sĩ), 02
cán bộ tốt nghiệp đại học khác, 01 cán bộ tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp,
01 cán bộ tốt nghiệp trường ĐHY và nhân viên phục vụ là 02 cán bộ có trình
độ sơ cấp
Trang 13Đội ngũ cán bộ của TVĐHYHN được phân chia thành 06 phòng ban
hoạt động với những nhiệm vụ riêng biệt nhưng liên kết rất chặt chẽ thành bộ
máy khép kín Số lượng cán bộ được phân chia vào mỗi phòng ban như sau:
- Trưởng phòng: 01 người ( ThS.Nguyễn Thị Cẩm Nhung)
- Phòng đọc: 04 người
- Phòng giáo trình: 02 người
- Phòng ngoại văn: 02 người
- Phòng máy tinh: 02 người
- Phòng thư mục: 02 người
* Tổ chức bộ máy hoạt động
TVĐHYHN là một đơn vị trực thuộc Ban Giám hiệu nhà trường và
Bộ Y tế Cơ cấu tổ chức của TVĐHYHNcó thể khái quát như sau:
- Phòng biên mục: là phòng đảm nhiệm và thực hiện công tác nghiệp vụ
của Thư viện bao gồm:
+ Thu thập, bổ sung các loại hình tài liệu mới được nhập về Thư viện từ
nhiều nguồn khác nhau
+ Xử lý các loại tài liệu đó về nội dung và hình thức: phân loại, đinh từ
Phòng máy tính
Phòng giáo trình
Phòng đọc sinh viên
Phòng đọc ngoại văn
Trang 14+ Xây dựng các mục lục Thư viện và các CSDL trên máy tính
+ Tổ chức phục vụ bạn đọc, phục vụ công tác tra cứu thông tin, tài liệu
- Phòng máy tính: TVĐHYHN đã được nhà trường trang thiết bị cho
phòng máy tính với 2 máy chủ và 40 máy trạm được kết nối mạng với nhau
và mạng Internet đang giúp NDT tra cứu thông tin nhanh chóng, chính xác
thông qua nhiều nguồn tin khác nhau
Phòng máy tính đảm nhận nhiệm vụ:
+ Xây dựng vận hành mạng thông tin máy tính của thư viện
+ Phục vụ NDT khai thác thông tin y dược và các thông tin khác thông
qua mạng máy tính
+ Lưu trữ và khai thác thông tin trên CSDL MEDLINE
- Phòng đọc sinh viên: nhiệm vụ cung cấp các tài liệu như: luận văn,
luận án, các bài báo, tạp chí, các loại từ điển… chuyên ngành y dược nhằm
đáp ứng nhu cầu của người dùng tin (NDT) trong và ngoài nhà trường Phòng
đọc sinh viên tổ chức dưới hình thức các kho phục vụ, thuận lợi việc tổ chức,
quản lý và khai thác tài liệu Sử dụng hình thức này, NDT tiếp xúc với hệ
thống tra cứu mục lục và cán bộ thư viện là người phục vụ
Phòng đọc sinh viên với 200 chỗ ngồi, phục vụ cả ngày, buổi tối và thứ
7 hàng tuần Kho có đủ các dạng tài liệu tiếng Anh, Việt, Pháp, luận văn, luận
án, tài liệu tham khảo Trung bình số lượng độc giả ở đây là 35.000 lượt
đọc/năm Hình thức khai thác là người đọc đưa phiếu yêu cầu, cán bộ thư viện
lấy tài liệu trong kho ra phục vụ, người đọc phải tra cứu ở tủ mục lục hoặc tra
cứu trên máy tính, mỗi lần mượn tối đa 3 bản, sau đó cần thiết đổi lại
- Phòng đọc ngoại văn: (hình thức kho mở tự chọn) Là nơi cung cấp
sách, tạp chí nước ngoài chủ yếu là tiếng Anh và tiếng Pháp cho tất cả các đối
tượng trong và ngoài nhà trường Tại đây, NDT được tiếp xúc trực tiếp với
tài liệu, nhờ đó họ có thể lựa chọn thông tin cần thiết và đọc nội dung tài liệu
ngay tại chỗ.Với hình thức này, TVĐHYHN đã sắp xếp tài liệu theo chuyên
khoa y học
Trang 15Tài liệu chủ yếu là sách, báo, tạp chí ngoại văn với nhiều thông tin cập
nhật từ các nước tiên tiến trên thế giới, nội dung đa dạng, phong phú các
chuyên ngành Có thể đây là kho tài liệu có giá trị sử dụng cao, NDT đọc tại
chỗ, khi cần có dịch vụ sao chụp nhanh chóng và tiện lợi Hình thức khai thác
kho mở này mang lại một lợi ích dịch vụ không nhỏ cho Thư viện
Thực tế cho thấy NDT đến khai thác kho này là những người có trình độ
chuyên môn, ngoại ngữ cao, chủ yếu giáo sư, tiến sĩ, cán bộ giảng dạy, học
viên sau đại học Đặc biệt còn có những độc giả ở khắp mọi miền tổ quốc
cũng có nhu cầu tra cứu tin tại kho phòng đọc này Đây là một kho tài liệu có
giá trị tri thức lớn của Thư viện
- Phòng mượn cán bộ: Là nơi cung cấp các tài liệu cho đối tượng NDT
là cán bộ trong nhà trường Tại đây, người mượn tài liệu về nhà thông qua thẻ
mượn, đối tượng mượn là các cán bộ trong trường, thời gian tối đa là 1 tháng
Tài liệu lưu giữ trong kho chủ yếu là tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp
Đặc biệt với 500 loại tạp chí Latinh đủ chuyên ngành được lưu giữ tại đây, có
nhiều tạp chí từ những năm 1960 đến nay như: The New England Journal of
Medicine, Jama…Những năm gần đây số lượng cán bộ đến khai thác tài liệu
kho này ít, với lý do Thư viện đã triển khai phòng đọc mở, các tài liệu nước
ngoài được cập nhật, bổ sung, tặng biếu thì được ưu tiên chuyển ngay vào kho
mở, nếu số lượng nhiều bản thì mới chuyển vào các phòng phục vụ khác
Sách giáo trình và tài liệu tham khảo ít người đọc, vì đối tượng là cán bộ
giảng dạy mà chính họ là những người đã biên soạn ra tài liệu đó Tuy nhiên
việc khai thác thông tin trong các tài liệu ở kho này cũng mang lại những kết
quả nhất định
- Phòng giáo trình: Chủ yếu phục vụ sách giáo trình cho, sinh viên, học
viên sau đại học mượn về nhà Hình thức phục vụ là cho mượn trên thẻ với
một phần tiền thuê nhỏ (đối với sinh viên) và một phần cược đối với học viên
sau đại học để hồi cố lại tài liệu bị rách nát sau quá trình mượn đọc, tránh
Trang 16được tình trạng người đọc mượn sách quá lâu ảnh hưởng đến các khoá sau
không có tài liệu học tập
Hình thức phục vụ này được duy trì từ khi có thư viện cho tới nay, đáp
ứng kịp thời việc học tập của sinh viên, học viên sau đại học, Thư viện đã tổ
chức cho mượn theo từng học trình và lịch học cụ thể của phòng đào tạo gửi,
từ đó phân phối tài liệu hợp lý tránh tình trạng thiếu tài liệu
1.2.3.Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin
NDT là một cá nhân hay một tập thể nào đó có nhu cầu về thông tin
nhằm thực hiện một chức năng lao động xã hội Do tính chất phong phú đa
dạng của NDT mà mỗi một cơ quan thông tin thư viện cần phải xác định rõ
đối tượng NDT để từ đó xây dựng nên chiến lược tổ chức hoạt động thông tin
một cách hiệu quả nhất làm cho nguồn tin trở thành tài nguyên thông tin
Là một trường đại học hàng đầu trong lĩnh vực đào tạo y trong nước, do
đó NDT tại TVĐHYHNbao gồm:
- Cán bộ nghiên cứu /giảng viên
- Những người làm công tác lãnh đạo, quản lý
- Nghiên cứu sinh và học viên sau đại học
- Sinh viên
Từ đó xác định đặc điểm của NDT của TVĐHYHN:
- Có trình độ chuyên sâu hoặc hiểu biết về lĩnh vực y học
- NDT là người được xác định rõ cụ thể và thực hiện một nghĩa vụ xã hội
cụ thể là giảng dạy và học tập
- Có tri thức và kiến thức tuơng ứng để tiếp nhận thông tin, là khách
hàng vừa là người sản xuất ra thông tin
- Có nhiều thời gian và chủ động điều chỉnh thời gian công việc của
mình Có trình độ hiểu biết rộng đối với các lĩnh vực liên quan Có khả năng
tự tìm kiếm, phân tích, và tổng hợp tư liệu để lấy thông tin cho công việc của
minh Có năng lực sử dụng các công cụ tra cứu truyền thống và hiện đại
Trang 17- Có khả năng tiếp cận nguồn thông tin nhanh chóng
* Nhu cầu tin
Thành phần người dùng tin chủ yếu của TVĐHYHN rất đa dạng về trình
độ ở nhiều cấp khác nhau.Có thể khái quát thành những nhóm cơ bản sau:
- Nhóm cán bộ quản lý: bao gồm Ban Giám hiệu nhà trường, các trưởng,
phó khoa, bộ môn, các phòng ban chức năng, các tổ chức trực thuộc trường
Tuy số lượng không lớn nhưng đặc biệt quan trọng, họ vừa là người dùng tin,
vừa là chủ thể thông tin Họ vừa thực hiện chức năng quản lý giáo dục đào
tạo, vừa là người xây dựng các chiến lược phát triển của nhà trường
- Nhóm cán bộ nghiên cứu, giảng dạy: có 425 người là cán bộ giảng dạy
Họ có trình độ cao, có học hàm học vị tham gia trực tiếp công tác giảng dạy
và nghiên cứu khoa học theo từng chuyên ngành Hàng năm nhóm NDT này
có nhu cầu sử dụng hàng triệu trang tài liệu các loại trên các vật mang tin
khác nhau góp phần thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp y tế
nước nhà
- Nhóm sinh viên và học viên sau đại học: đây là nhóm người dùng tin
đông đảo nhất, là người đang theo học các chương trình đào tạo của trường
(74 đơn vị trực thuộc gồm 2 khoa, 8 bộ môn khoa học cơ bản, 12 bộ môn y
học cơ sở, 23 bộ môn y học lâm sàng, 18 phòng ban với đầy đủ các ngành đào
tạo chính quy, hàng năm nhà trường tuyển sinh hơn 800 sinh viên thuộc 6
ngành đào tạo), bao gồm sinh viên hệ chính quy, tại chức, cao đẳng, lớp liên
thông, học viên sau đại học về các vấn đề chuyên ngành y học đang theo học
Nhóm NDT này rất đa dạng mang tính chất chuyên sâu và luôn bám sát
chương trình học tập như giáo trình, bài giảng và nghiên cứu khoa học chuyên
ngành mà họ tham gia
1.2.4 Phương thức phục vụ người dùng tin
Các sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ thông tin phục vụ bạn đọc
(người dùng tin) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng việc nâng cao chất lượng giảng
dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của nhà trường Bên cạnh đó, việc tổ
Trang 18chức các hoạt động thông tin- thư viện, hướng tới NDT là một điều hết sức
cần thiết đôí với cán bộ thư viện
Phòng đọc và phòng mượn là hai phòng phục vụ cho tất cả các đối
tượng Đến nay, TVĐHYHN đã đề ra phương thức hoạt động các phòng phục
vụ đặc thù theo từng đối tượng bạn đọc:
- Phòng đọc sinh viên: phục vụ tài liệu đọc tại chỗ cho sinh viên
- Phòng mượn giáo trình và sách tham khảo cho đối tượng bạn đọc là
sinh viên
- Phòng phục vụ giáo viên: phục vụ mượn đọc tại chỗ và về nhà cho giáo
viên, cán bộ, học viên và nghiên cứu sinh
- phòng ngoại văn : phục vụ cho tất cả bạn đọc có nhu cầu sử dụng sách,
tạp chí…nước ngoài
Đến nay TVĐHYHN áp dụng hình thức phòng đọc mở đối với phòng
ngoại văn và phòng đọc sinh viên với thời gian phục vụ từ 7h30 đến 11h30
và từ 1h30 đến 16h30 hàng ngày Ngoài ra phòng đọc sinh viên còn mở vào
các buổi tối từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần với thời gian từ 6h đến 9h30 Kho
mượn được tổ chức mượn giáo trình theo kỳ học, sách tham khảo tự chọn
Ngoài ra còn mở thêm phòng máy tính giúp tra cứu trực tuyến, truy cập
Internet
1.2.5 Cơ sở vật chất và hạ tầng thông tin
TVĐHYHN được xây dựng trên khuôn viên đẹp với diện tích 1.500
m2, bao gồm 2 tầng và 7 phòng Với hệ thống trang thiết bị: 02 máy chủ và
52 máy trạm (Phòng đọc 05 máy, phòng máy tính 40 máy, phòng ngoại văn 2
máy, phòng thư mục 3 máy) máy phục vụ nhu cầu tra cứu thông tin của sinh
viên, học viên cao học và 2 máy tính cho cán bộ làm việc; 03 lục mục lục
truyền thống; 02 máy in, 02 máy photocopy và 01 máy scan tài liệu phục vụ
việc in ấn, sao chụp; các máy đọc đĩa laze
Ngoài ra, còn có hệ thống máy điều hòa, máy hút ẩm, máy hút bụi, quạt
thông gió, bàn ghế, tủ, quầy được trang bị đúng yêu cầu của thư viện hiện đại
Trang 19Với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật như vậy của TVĐHYHN đã góp
phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hoạt động chuyên môn nghiệp
vụ thông tin-thư viện của cán bộ và đáp ứng tốt nhu cầu của người dùng tin
tại thư viện
Trang 20CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN
TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 2.1 Nguồn lực thông tin tại Thư viện Đại học Y Hà Nội
Ngày nay, thông tin được coi là nguồn tài nguyên vô giá, là động lực để
phát triển kinh tế -xã hội Bước đầu tiên trong hoạt động SP&DVTT là phải
tạo được một nguồn lực thông tin đủ mạnh là điều không thể thiếu và rất quan
trọng Xuất phát từ quan điểm đó, ngay tư đầu TVĐHYHN đã tập trung vào
công tác tạo và bổ sung nguồn tin
* Tài liệu truyền thống
Theo mức độ phổ biến của tài liệu, nguồn tài liệu truyền thống của
TVĐHYHN được chia làm làm hai loại:
+ Tài liệu công bố
Tài liệu công bố còn gọi là tài liệu xuất bản bao gồm các sách, báo, tạp
chí Loại tài liệu này thường do các nhà xuất bản phát hành và thường được
đánh chỉ số ISBN hoặc ISSN được phân phối qua kênh phát hành chính thức
Đối với các cơ quan thông tin thư viện nói chung và TVĐHYHN nói riêng
nguồn tài liệu công bố là nguồn tài liệu tham khảo rất quan trọng đối với
người dùng tin Vì vậy, nguồn tài liệu công bố thường cũng chiếm một tỷ lệ
lớn so với tài liệu không công bố
Vốn tài liệu của TVĐHYHN tương đối phong phú bao gồm:
- Sách giáo trình có 218 tên với 35.965 bản; Sách tham khảo tiếng Việt
có 3.832 với 7.537 bản
- Sách ngoại văn: khoảng 5.000 đầu sách với số bản 5.833 bản
- Tạp chí tiếng Việt có 238 tên tạp chí với 5.000 bản; Tạp chí tiếng nước
ngoài có 417 tên với 70.000 bản
- Tài liệu tra cứu có 315 đầu sách với 1.000 bản
* Tài liệu không công bố
Trang 21Tài liệu không công bố được gọi là tài liệu “xám”, tuy không xuất bản
nhưng tài liệu này ngày càng thu hút sự quan tâm của NDT y dược học tại
trường ĐHYHN
Thư viện trường ĐHYHN có khoảng 7.237 cuốn luận án, bao gồm luận
án tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp 1, bác sĩ chuyên khoa cấp 2, bác sĩ
nội trú Đó là các công trình nghiên cứu khoa học được tổ chức bảo vệ tại
trường Các tài liệu này góp phần không nhỏ vào việc làm tăng khối lượng
thông tin đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của NDT
+ Tài liệu điện tử
Nguồn tài liệu điện tử là nguồn tài liệu mới được xuất bản dưới dạng
điện tử và được truyền trong các mạng máy tính để phục vụ khách hàng của
mình Đó là các loại hình sách, báo, tạp chí trên đĩa, máy tính và các nguồn
lực thông tin trên các mạng thông tin máy tính Thư viện trường đại học Y Hà
Nội đã quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin điện tử
Tại Thư viện hiện nay, nguồn tài liệu điện tử bao gồm: các CSDL, CD-
ROOM, mạng nhà trường Internet, trong đó các CSDL chiếm phần lớn của
nguồn lực này Vì vậy có thể nói CSDL đóng vai trò quan trọng của nguồn
lực thông tin điện tử tại thư viện
Hiện nay nguồn tài liệu điện tử của TVĐHYHN hiện có:
- 3 CSDL là: CSDL sách với 9.796 biểu ghi; CSDL luận án, luận văn
với 5.553 biểu ghi; CSDL giáo trình với 300 biểu ghi
- CSDL bài trích báo- tạp chí với 27.097 biểu ghi
- Đĩa Medline: khoảng 460 đĩa với 6.900 triệu biểu ghi (do Thư viện
Quốc hội Mỹ cung cấp)
- Băng hình các ca phẫu thuật của các bệnh viện: trên 50 băng
- Băng học ngoại ngữ chuyên ngành: trên 40 băng
Trang 222.2 Sản phẩm thông tin
2.2.1 Khái niệm về sản phẩm
Sản phẩm trước tiên được sử dụng trong kinh tế học và hoạt động thực
tiễn như: vật phẩm, hàng hoá Quá trình lao động để tạo ra sản phẩm thông tin
chính là quá trình xử lý thông tin( gồm: biên mục, phân loại, định từ khoá,
tóm tắt, chú giải, biên soạn tổng quan…các quá trình phân tích tổng hợp
khác)
Sản phẩm thông tin (SPTT) là kết quả của quá trình xử lý thông tin do
một cá nhân hoặc tập thể nào đó thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu của NDT
Sản phẩm thông tin là kết quả của việc xử lý- phân tích- tổng hợp các tài
liệu khoa học do một cơ quan thông tin khoa học thực hiện nhằm mục đích
cung cấp cho các nhà khoa học, chuyên gia thông tin về các thành tựu khoa
học, kỹ thuật và sản xuất trong và ngoài nước
Sản phẩm thông tin tra cứu là các tài liệu mục đích cung cấp nhanh
chóng thuộc lĩnh vực KHCN hay hoạt động thực tiễn Các thông tin là kết quả
tổng hợp, khái quát lý luận, các dữ kiện khoa học cơ bản, đặc tính quá trình
sản xuất…Sản phẩm có tri thức cao là sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của
khách hàng về cả nội dung và kiểu dáng
Sản phẩm thông tin có chất lượng cao là sản phẩm thoả mãn nhu cầu tin
với số vòng quay nhiều lần và thoả mãn tối đa nhu cầu trong điều kiện chi phí
về thời gian, sức lực, kinh phí nhất định
Thông qua hệ thống các SP&DVTT có thể xác định được mức độ đóng
góp của cơ quan thông tin vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội Nhờ vậy,
các cơ quan này khẳng định được vai trò và vị trí của mình trong xã hội
Chất lượng sản phẩm thông tin chính là tri thức chứa trong sản phẩm đó,
đứng trên góc độ nghiên cứu khác nhau chất lượng sản phẩm có nhiều cách
hiểu khác nhau Tuy nhiên trên phương diện nghiên cứu, học tập và giảng dạy
y học chúng ta có thể hiểu chất lượng sản phẩm thông tin là tổng hợp những
tri thức mang tính định hướng, cung cấp, kế hoạch, biện pháp nhằm phát triển
Trang 23sản phẩm trên cơ sở cải tiến toàn bộ hệ thống chỉ tiêu chất xám trong sản
phẩm Có ý kiến cho rằng: “Đối với một sản phẩm thông tin thì chất lượng
thông tin có trong sản phẩm là tốt nhất.” Mặt khác có ý kiến: “Chất lượng là
cái đạt trình độ chất lượng thị trường hoặc đạt chất lượng cao nhất trong điều
kiện nhất định”
Khi công nghệ thông tin phát triển, chất lượng sản phẩm thông tin là
tổng hợp những đặc tính bên trong sản phẩm có thể đo được hoặc so sánh
được, phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng những
nhu cầu định trước cho nó trong điều kiện xác định về kinh tế - xã hội
Nếu quan niệm chất lượng sản phẩm thông tin theo định hướng người
dùng tin thì chất lượng sản phẩm chính là mức độ thỏa mãn nhu cầu một cách
phù hợp với đòi hỏi của khách hàng Mức độ thỏa mãn nhu cầu tin ở những
sản phẩm thông tin là rất khác nhau, các sản phẩm thư mục có khả năng thỏa
mãn nhu cầu tra cứu thông tin về tài liệu; các sản phẩm thông tin dạng dữ
kiện, toàn văn, tổng luận… có khả năng thoả mãn nhu cầu về chính bản thân
thông tin
Trong các tài liệu về hoạt động thông tin thư viện gần đây đã xuất hiện
phổ biến thuật ngữ sản phẩm thông tin, dịch vụ thông tin…về nguyên tắc các
thuật ngữ được tạo ra trên cơ sở vận dụng các khái niệm đã từng phổ biến
trong các lĩnh vực kinh tế, thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của xã
hội Sản phẩm thông tin được xác định là kết quả của quá trình xử lý thông tin
và là các công cụ giúp cho việc tìm kiếm thông tin
Một thư viện đại học phải xác định đáp ứng các loại nhu cầu tin:
- Học tập, nghiên cứu của sinh viên từ xa, tại chỗ
- Giảng dạy
- Nghiên cứu khoa học của giảng viên, nghiên cứu sinh
- Quản lý trường đại học: quản lý công tác đào tạo, nghiên cứu của trường
Người quản lý thư viện phải biết thiết kế các dòng sản phẩm thông tin
tương ứng với các nhu cầu, trên cơ sở đó xác định nhu cầu thường xuyên,
Trang 24nhiệm vụ trọng tâm của thư viện cần thực hiện Nguồn lực của cơ quan thông
tin và thư viện là hữu hạn nên người cán bộ quản lý phải biết lựa chọn một số
loại nhu cầu thông tin được coi là quan trọng nhất để tạo ra một dòng sản
phẩm đáp ứng đúng nhu cầu thông tin
Sơ đồ quan hệ giữa NDT-NCT-SPTT
2.2.2 Sản phẩm thông tin tại Thƣ viện đại học Y Hà Nội
2.2.2.1.Hệ thống mục lục
HTML là tập hợp các đơn vị/ phiếu mục lục được sắp xếp theo một trình
tự nhất định, phản ánh nguồn tin của cơ quan thông tin thư viện
Mục lục là một tập hợp có thứ tự các điểm truy nhập cùng các mô tả thư
mục tới nguồn tài liệu của một nhóm cơ quan thư viện cụ thể Mục lục là sản
phẩm chủ yếu của quá trình biên mục là công cụ tra cứu quan trọng giúp
người NDT xác định vị trí lưu trữ tài liệu trong kho
Hiện nay, hệ thống mục lục tại TVĐHYHN đang được số hoá cùng với
việc phát triển thư viện điện tử Hệ thống mục lục không còn ở dạng mô tả
dưới dạng phiếu trên giấy truyền thống như trước đây
Hệ thống mục lục tại TVĐHYHN bao gồm:
+ Mục lục chủ đề
Người dùng tin
Nhu cầu tin
Trang 25Do tính chất chuyên ngành của thư viện do đó mục lục được phân theo
chủ đề, điều này tạo điều kiện cho cán bộ TVĐHYHN tìm kiếm tài liệu cũng
như các thao tác với tài liệu được nhanh chóng và dễ dàng, không mất quá
nhiều thời gian tìm kiếm danh mục tài liệu cũng như ký hiệu xếp giá của tài
liệu
+ Mục lục chữ cái
Đây là mục lục để xây dựng hầu hết ở các thư viện, là mục lục phổ biến
nhất và là công cụ đối với bạn đọc khi sử dụng tìm tài liệu
Mục lục chữ cái là mục lục mà trong đó các phiếu mô tả tài liệu được sắp
xếp phân loại theo trật tự chữ cái họ tên của tác giả, qua đó ta có thể xác định
được cuốn sách cụ thể hoặc một công trình nghiên cứu nào đó có trong thư
viện hay không?
Mục lục chữ cái là phương tiện tra cứu thông dụng nhất đối với bạn đọc,
giúp cán bộ thư viện trong công tác bổ sung trao đổi, chỉ dẫn thư mục, thông
tin trả lời nhu cầu của bạn đọc Mục lục chữ cái có ở phòng đọc sinh viên và
phòng mượn cán bộ
Tại phòng đọc sinh viên: Mục lục chữ cái phản ánh toàn bộ số tài liệu có
ở phòng đọc sinh viên, bao gồm: sách, giáo trinh, tài liệu tham khảo, luận
án…bằng ngôn ngữ tiếng Việt, Anh, Pháp…
Tại phòng mượn cán bộ mục lục chữ cái phản ánh toàn bộ kho tư liệu
hiếm có như: sách, báo, tạp chí…
Mục lục chữ cái có cấu tạo đơn giản phần chủ yếu là các phiếu mô tả
được sắp xếp theo vần chữ cái, họ và tên tác giả, nhan đề tài liệu Đây là loại
mục lục dễ tổ chức, dễ sử dụng, phù hợp với tâm lý, thói quen của hầu hết
người dùng tin
Mục lục chữ cái được sử dụng để trả lời câu hỏi khi chúng ta biết tác giả
hoặc nhan đề như: sách, báo,luận văn, tạp chí…Các phiếu trong mục lục chữ
cái được sắp xếp theo vần chữ cái tác giả và tên tài liệu, các phiếu được chia
theo ngôn ngữ và được sắp xếp theo vần chữ cái của ngôn ngữ Phiếu tên tác
Trang 26giả cá nhân được sắp xếp theo họ tên tác giả Các tài liệu có cùng tác giả được
sắp xếp theo tuyển tập, sau đó đến các tác phẩm riêng lẻ của tác giả đó Đối
với phiếu tác giả tập thể thì bắt đầu bằng tên của tác giả đầu tiên trong cuốn
sách đó
Hiện nay, công tác mô tả tài liệu tại TVĐHYHN được tiến hành thống
nhất theo tiêu chuẩn quốc tế ISBD đối với mọi loại hình tài liệu Do đó, việc
sắp xếp phiếu trong mục lục chữ cái cũng thực hiện thống nhất theo nguyên
tắc: Họ tên đệm, tên tác giả đối với tài liệu tiếng Việt cũng như tài liệu nước
ngoài
Trong mục lục chữ cái phiếu mô tả chính giữ vai trò quan trọng Thông
qua đó NDT có thể tim được tất cả các chỉ dẫn trong các thư mục như: tên tác
giả, tên tài liệu, …để tìm tài liệu mình cần
Tại TVĐHYHN phiếu mô tả được in vi tính sau đó ép plastic, có kích
thước 12.5cm x 7.5cm Trên phiếu có vạch kẻ dọc thứ nhất 1cm, có kẻ từ 8
đến 10 hàng ngang Từ vạch dọc thứ nhất trở về tay trái ta ghi khoảng mô tả
của tài liệu, góc bên trái ghi ký hiệu kho và ký hiệu xếp giá Đó là phiếu mô tả
tác giả cá nhân, tác giả tập thể, mô tả tên sách
Ví dụ:
Phiếu mô tả theo tên tác giả
Tìm tài liệu của tác giả Phan Thị Phi Phi ta có mẫu phiếu sau:
MVA 639 PHAN THỊ PHI PHI
Phát hiện, đánh giá các chất chống ưng thư / Phan Thị Phi Phi.- Trung tâm nghiên cứu chất lượng cao đào tạo cán
bộ y tế, 1990 - 64tr
M ẫu phiếu mô tả của mục lục chữ cái
Trang 27+ Mục lục phân loại
Mục lục phân loại được xây dựng trên cơ sở bảng phân loại áp dụng
cho công tác phân loại tài liệu của thư viện Trong mục lục truyền thống thì
mục lục phân loại là một trong các bộ máy tìm tin quan trọng nhất của thư
viện là tấm gương phản chiếu kho tài liệu của Thư viện theo các lĩnh vực
khoa học Chính vì vậy, việc tổ chức hệ thống tra cứu trong đó có mục lục
phân loại trong thư viện là điều rất quan trọng và cần thiết Theo điều tra khảo
sát, mục lục phân loại tại TVĐHYHN được nhiều NDT ưu thích hay sử dụng
(chiếm hơn 85%) vì đây là một hệ thống rất dễ tra cứu Qua hệ thống này nếu
cần tìm kiếm một tài liệu về một bộ môn khoa học nào đó, thì chỉ cần tra cứu
một lần là được nhiều thông tin nhất về các tài liệu chuyên ngành bằng các
loại ngôn ngữ có trong kho sách của Thư viện Do đo mục lục phân loại có 2
chức năng cơ bản là chức năng giáo dục và chức năng thông tin
Mục lục phân loại có nhiệm vụ giới thiệu thành phần, nội dung của
kho tài liệu Mục lục phân loại của TVĐHYHN được xây dựng trên cơ sở của
“ Bảng phân loại Thư viện y dược học” (Classification of national library of
medicine) của Viện Thông tin - Thư viện y học trung ương, có tác dụng giới
thiệu nội dung vốn tư liệu theo hệ thống bộ môn tri thức, hướng dẫn người
đọc một cách có hệ thống, đi sâu nghiên cứu cụ thể hoàn chỉnh
Khung phân loại chủ đề do TVĐHYHN biên soạn gồm 100 đề mục
chính, trong đó mỗi đề mục chính lại chia thành các đề mục nhỏ hơn, phản
ánh trình tự logic của các đề mục Các lớp chính trong khung phân loại tiếp
theo, mục lục phân loại chi tiết cho mỗi ngành
Ví dụ: một số chuyên ngành được phân loại như sau:
Trang 28Cách phân loại này có các ưu điểm và nhược điểm sau:
Ưu điểm: Đơn giản, dễ sử dụng đối với người dùng tin không biết
chuyên môn về y dược và có thể mượn được tài liệu vì vậy rất phổ biến
Nhược điểm: Rất mất thời gian, công sức cho người phục vụ để chia sẻ
nguồn lực thông tin với các thư viện khác và gặp khó khăn vì không có sự
thống nhất, không chuẩn hoá quốc gia và quốc tế.( xem phụ lục 1)
+ Mục lục OPAC
Là mục lục chủ yếu được dùng tại TVĐHYHN tra cứu trực tuyến là
cổng thông tin chung cho một đối tượng để khai thác tài nguyên và dịch vụ
thư viện theo cách riêng phù hợp với từng cá nhân Là môi trường giao tiếp và
trao đổi thông tin giữa bạn đọc khác nhau, giữa bạn đọc và thư viện và giữa
bạn đọc với các thư viện khác
TVĐHYHN đã sử dụng phân hệ OPAC của phần mềm ILib 4.0 bắt đầu
từ năm 2010 trong việc tạo nên sản phẩm mục lục truy cập trực tuyến với các
khả năng cho phép của phân hệ như sau:
Trang 29- Tích hợp trên mạng Intranet/Internet để tạo ra môi trường phục vụ bạn
đọc tra cứu và sử dụng thông tin do thư viện cung cấp
- Thông quan giao thức Z39.50 với tính năng tra cứu liên thư viện giúp
thư viện có thể kết nối khai thác, chia sẻ nguồn tài nguyên tạo nên sản phẩm
mới, làm phong phú thêm sản phẩm thông tin
- Mang đến cho bạn đọc không chỉ là ấn phẩm ở dạng truyền thống mà
còn cả những ấn phẩm ở dạng điện tử, đặc biệt là khả năng tìm kiếm tài liệu
toàn văn
- Các tính năng hỗ trợ bạn đọc đặt mượn, giữ chỗ, gia hạn; cho phép bạn
đọc tự tìm mục lục thông báo sách mới phù hợp yêu cầu
- Các tiện ích đi kèm như tra cứu từ điển, hội thoại, diễn đàn điện tử giúp
bạn đọc tìm và chia sẻ thông tin
Thực tế tại TVĐHYHN đã ứng dụng phân hệ tra cứu OPAC hỗ trợ bạn
đọc tìm kiếm dữ liệu thư mục về các ấn phẩm có trong thư viện, qua đó xác
định tài liệu trong các kho sách, biết loại nào được mượn về hay đọc tại chỗ
Đối tượng phục vụ của OPAC là tất cả các đối tượng bạn đọc bao gồm
giáo viên, học viên, nghiên cứu sinh và sinh viên
Tuy nhiên hiện nay NDT tại TVĐHYHN tìm tin trên OPAC không nhiều
do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là họ chưa tiếp cận với mục lục tra cứu trực
tuyến mà vẫn quen với cách tiếp cận truyền thống, mặt khác các biểu thức tìm
cũng còn xa lạ với họ Vì vậy cần có sự hướng dẫn của cán bộ thư viện
2.2.2.2 Ấn phẩm thông tin.
Trong hệ thống sản phẩm thông tin, ấn phẩm thông tin giữ vai trò quan
trọng Nó là sản phẩm truyền thống của bất kỳ một cơ quan thông tin- thư
viện nào với một loạt đặc tính: dễ tiếp cận người dùng tin, hàm lượng thông
tin cao, có thể sử dụng được trong mọi điều kiện, đối tượng phục vụ rộng
khắp, rất thuận lợi cho viêc phổ biến thông tin, thời gian bỏ ra tìm tài liệu ít
Ấn phẩm thông tin hiện nay vẫn đóng vai trò quan trọng
Các ấn phẩm thông tin bao gồm:
Trang 30 Danh mục
TVĐHYHN đã in các loại danh mục tài liệu tham khảo, danh mục tài
liệu luận án, luận văn được lưu trữ, danh mục thông báo sách mới được bổ
sung có trong Thư viện
Thư mục thông báo
Sản phẩm thông tin trên giấy
* Ấn phẩm thông tin dạng hình tài liệu như: Sách, giáo trình; Báo, tạp
chí; Luận văn; Luận án; Đề tài khoa học; Báo cáo hội thảo, hội nghị …
TVĐHYHN rất chú trọng việc bổ sung nguồn tin trên giấy, ngân sách
đầu tư cho bổ sung giáo trình và tài liệu tham khảo không ngừng được tăng
cường Hiện nay, sách giáo trình có 218 tên với 35.965 bản; Sách tham khảo
tiếng Việt có 3.832 với 7.537 bản; Sách ngoại văn: khoảng 5.000 đầu sách với
số bản 5.833 bản; Tài liệu tra cứu có 315 đầu sách với 1.000 bản Trong đó
70% là sách chuyên ngành y gồm: sách giáo khoa, giáo trình và 30% là sách
tham khảo Đây là nguồn tin giúp sinh viên có điều kiện tham khảo về chuyên
ngành của mình Các tài liệu này đều do giáo sư, tiến sĩ, cán bộ nghiên cứu,
giảng dạy thuộc các bộ môn chuyên ngành trong trường nghiên cứu và biên
soạn
Các tạp chí tiếng Việt có 238 tên tạp chí với 5.000 bản; Tạp chí tiếng
nước ngoài có 417 tên với 70.000 bản rất phong phú, đa dạng về thể loại như:
tạp chí y học thực hành, tạp chí y dược Mỗi loại tạp chí có nội dung chuyên
ngành, liên quan đến đào tạo của nhà trường ( xem sơ đồ sau)
Trang 31* Ấn phẩm thông tin theo ngôn ngữ
Hiện tại ở TVĐHYHN ngôn ngữ chủ yếu là tiếng Việt, do tính chất
chuyên ngành của trường là học tập và giảng dạy do đó mà các ấn phẩm bằng
tiếng Việt chiếm tỉ lệ lớn Tuy nhiên không thể thiếu những ấn phẩm thông tin
bằng ngôn ngữ khác Ngôn ngữ nước ngoài chính bao gồm: tiếng Anh, tiếng
trình
Luận án ĐTKH HT
Số đầu ấn phẩm theo dạng hình tài liệu
0 20000 40000 60000 80000 100000 120000 140000 160000 180000 200000
vie eng fre rus ger
S? b?n ph?m theo ngôn ng? tài li?u
Trang 322.2.2.3 C ơ sở dữ liệu
Xuất phát từ thực tế là lượng thông tin ngày càng nhiều, số lượng tài liệu
trong kho tư liệu ngày càng cao Mặt khác trước xu thế công nghệ thông tin
ngày càng phát triển, khả năng ứng dụng đã phát triển sâu rộng trong mọi lĩnh
vực, yêu cầu tin của NDT ngày càng đòi hỏi cao hơn Đó không chỉ còn là
những sản phẩm thông tin trên giấy thông thường mà còn là những sản phẩm
thông tin đã được số hoá, lưu trữ trên máy tính điện tử, trên đĩa mềm,
CD-ROM, có khả năng trao đổi qua mạng máy tính, tra cứu thông tin nhanh,
chính xác, in ấn được… tiết kiệm thời gian và công sức Chính vì vậy mà việc
ứng dụng công nghệ thông tin để tạo ra các sản phẩm thông tin là hết sức
quan trọng và trở thành xu thế chung
Để làm được điều này việc xây dựng CSDL là vấn đề được đầu tư xây
dựng và phát triển
TVĐHYHN với việc áp dụng phần mềm ILib 4.0 trong công tác tổ chức
và tạo lập, xây dựng thông tin thì đã cho phép việc quản lý kho tư liệu của
Thư viện từng bước số hoá Đồng thời việc phổ biến và trao đổi trong mạng
lưới thông tin chuyên dạng Y với các cơ quan thông tin khác trong và ngoài
nước thuận tiện, tiết kiệm về không gian, thời gian, tiền của và công sức
CSDL được xây dựng dựa trên 3 chức năng chính đó là:
- Mô tả dữ liệu
- Cập nhật dữ liệu: Thông tin có trong CSDL có thể được cập nhật thông
tin thường xuyên
- Tìm kiếm dữ liệu trên CSDL ưu việt hơn hẳn công cụ tra cứu thủ công
Việc tìm kiếm thông tin mang tính độc lập theo mỗi thông tin Quá trình tìm
rất nhanh chóng đặc biệt có thể tìm đối với các CSDL ở xa (tìm kiếm online)(
xem phụ lục 2)
Trang 33
* Hệ thống CSDL tại Thư viện đại học Y Hà Nội
Sau khi nguồn tin được xử lý thông qua viết phiếu nhập tin sẽ được nhập
vào các CSDL Nhập tài liệu vào CSDL là rất quan trọng có sự tham gia của
máy tính
Để sản phẩm đầu ra là các bản thư mục, bản tin điện tử…đúng với yêu
cầu chất lượng thì công tác xử lý trên máy là rất quan trọng Để xử lý nội
dung tài liệu nhập vào CSDL Thư viện đã sử dụng Bảng phân loại Thư viện Y
dược học của Viện Thông tin – Thư viện y học trung ương và đặc biệt khi sử
dụng việc tin học hoá vào công tác xử lý áp dụng các chuẩn quốc tế trong
phân loại tài liệu như: MARC 21, ISBD, AACR2… Từ khoá được xử lý theo
phương pháp tự do, có tham khảo bảng tra cứu thuật ngữ theo vần
Hệ thống CSDL tra cứu dữ kiện gồm:
- CSDL trên MTĐT
- CSDL trên CD-ROM
Hệ thống CSDL dữ liệu thư mục
Hệ thống thư mục là hệ thống được xây dựng trên CSDL trên CD-ROM
dành cho NDT khai thác trên máy tính độc lập Ngoài ra còn có hệ thống mục
lục được lưu trữ trên máy tính, trên mạng thông tin khai thác theo chế độ trực
tuyến
Thư mục tại TVĐHYHN là dạng ấn phẩm thư mục và CSDL thư mục
được xử lý mô tả theo ISBD, điều này cho phép người dùng tin tìm theo tìm
kiếm nâng cao Ngoài ra còn dưới dạng tìm kiếm đơn giản, tìm kiếm chi tiết
Thư mục chủ yếu là dữ liệu thư mục chuyên ngành y do tính chất của
Thư viện là phục vụ giáo dục và đào tạo về y dược Thư mục chủ yếu là thư
mục hiện tại, mặt khác có các thư mục hồi cố và được xây dựng theo chuẩn
chung theo nội dung tài liệu tức là tìm theo nhan đề Tuy nhiên vẫn cho phép
NDT tìm kiếm theo ngôn ngữ hoặc tên tác giả, nhà xuất bản, năm xuất bản
(xem phụ lục 3)
Một số CSDL tại TVĐYHN:
Trang 34CSDL thư mục:
- CSDL sách với 9.796 biểu ghi
- CSDL luận án, luận văn với 5.553 biểu ghi
- CSDL giáo trình với 300 biểu ghi
- CSDL bài trích báo- tạp chí với 27.097 biểu ghi
- Đĩa Medline: khoảng 460 đĩa với 6.900 triệu biểu ghi (do Thư viện
Quốc hội Mỹ cung cấp)
- Băng hình các ca phẫu thuật của các bệnh viện: trên 50 băng
- Băng học ngoại ngữ chuyên ngành: trên 40 băng
CSDL toàn bộ
CSDL toàn bộ của Thư viện là CSDL tích hợp chứa đựng nguồn thông tin
về tất cả các loại tài liệu như: Dữ liệu thư mục sách; Dữ liệu thư mục giáo
trình; Dữ liệu thư mục luận văn; Dữ liệu thư mục đề tài khoa học; Dữ liệu thư
mục bài tạp chí; Dữ liệu thư mục sưu tập số; Dữ liệu thư mục tài liệu điện tử;
Dữ liệu thư mục toàn văn; Dữ liệu thư mục đề mục
Biểu ghi được cấu tạo dựa trên nguyên tắc mô tả thư mục của ISBD bao
gồm các trường: Trường nhan đề; Trường tác giả; Trường nhà xuất bản;
Trường ký hiệu phân loại; Trường ngôn ngữ; Trường từ khoá
Với tính năng này NDT có thể tra cứu bất kỳ dạng ấn phẩm nào bằng
cách đặt ra điều kiện tìm kiếm trên những biểu mẫu được thiết kế sẵn ở các
mức khác nhau (xem phụ lục 4 và phụ lục 5 )
CSDL sách, giáo trình
CSDL này của TVĐHYHN đã tương đối được hoàn chỉnh được dùng
cho NDT mà không cần phải đến thư viện, với chiếc máy tính nối mạng bạn
đọc có thể truy cập trực tuyến vào trang của Thư viện trường để tìm kiếm
danh mục thư mục tài liệu CSDL này đã tích hợp những đặc điểm và tác
dụng của mục lục truyền thống như: mục lục chữ cái, mục lục phân loại, mục
Trang 35lục chủ đề, mục lục bài trích báo tạp chí Bạn đọc có thể tìm kiếm và tiếp cận
thông tin trên diện rộng
- Đối tượng phục vụ: chủ yếu là học viên và sinh viên bởi đây là lớp đối
tượng tiếp thu thông tin nhằm phục vụ cho việc hiểu bài giảng của giáo viên,
do đó tài liệu tham khảo là chủ yếu
- CSDL sách bao gồm các trường sau: Nhan đề; Tập; Tác giả; Nhà xuất
bản; Năm xuất bản; Ký hiệu phân loại; Ngôn ngữ; Từ khoá
* Ví dụ về tìm kiếm tài liệu trên CSDL sách:
Tìm tất cả các sách có tiêu đề “bệnh viêm phổi cấp”
Buớc 3: Từ màn hình sẽ hiện ra kết quả tìm kiếm tài liệu cần tìm, bạn đọc
chỉ cần nhấp chuột vào tài liệu mình cần để xem thông tin chi tiết của biểu
ghi, xác định vị trí sách trong kho và tình trạng sách bận hay rỗi để có thể
mượn đọc.Hình thức tra tìm CSDL giáo trình thực hiện như CSDL sách (xem
phụ lục 6)
CSDL luận án, luận văn
Đây là CSDL có 5.553 biểu ghi có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin
cho bạn đọc
Cơ sở dữ liệu này phản ánh các luận văn tiến sĩ, thạc sĩ của học viên, bác
sĩ nội trú Sản phẩm đầu ra của CSDL này là thư mục tóm tắt luận án tiến sĩ
và luận văn thạc sĩ Đối tượng phục vụ: Bao gồm học viên và nghiên cứu sinh
trong đó học viên chiếm tỉ lệ cao
với chức năng tìm kiếm nâng cao hoặc đơn giản bạn đọc chỉ cần điền thông