- Hệ thống các phòng đọc của Thư viện: + Phòng đọc chung dành cho bạn đọc có 350 chỗ + Phòng đọc báo và tạp chí có 50 chỗ + Phòng đọc sách ngoại văn và sách tra cứu có 40 chỗ ngồi + Phòn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thủ đô Hà Nội là đô thị hàng đầu, là trái tim thân yêu của đất nước Việt Nam, là một thành phố lớn, một vùng đồng bằng trù phú nổi tiếng lâu đời, Hà Nội xứng đáng là trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế, khoa học và giáo dục của cả nước
Hà Nội là thành phố có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trình độ dân trí cao và có nhu cầu hưởng thụ văn hoá lớn Hà Nội tập trung rất nhiều các trường đại học, cao đẳng với hàng trăm nghìn giảng viên và sinh viên ngoài ra còn có hơn 300 trường phổ thông với hơn 90.000 học sinh Hà Nội là nơi có rất nhiều các nhà xuất bản, các cơ quan báo chí, các trung tâm khoa học lớn, các thư viện lớn Hà Nội còn là nơi ở và làm việc của các cơ quan trung ương, các bộ các ngành, các viện nghiên cứu Người dân Thủ đô có truyền thống hiếu học, ham tìm hiểu, ham đọc sách báo Là thành phố công nghiệp, người lao động cần phải đọc, phải học để có kỹ thuật làm chủ máy móc, làm chủ quá trình lao động sản xuất Hà Nội là thành phố đông dân có tỷ lệ cư dân đi học cao hầu như 100% trẻ em đến tuổi đi học đều đến trường vì thế nhu cầu về sách báo, nhu cầu đọc rất cao
Những nét đặc thù trên của Thủ đô đã góp phần tác động rất lớn tới nhu cầu đọc của bạn đọc ở Hà Nội
Là một trong những Thư viện hàng đầu ở Thủ đô, Thư viện Thành phố
Hà Nội đã góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu đọc của bạn đọc thành phố và ngày một hoàn thiện hơn trong công tác phục vụ bạn đọc Ngày nay để Thư viện trở nên thân thiện, hướng tới gần bạn đọc nhất, các thư viện không chỉ phục vụ một chiều mà còn phục vụ bạn đọc theo nhu cầu của họ Bởi một nguồn lực thông tin dồi dào mà không phổ biến đúng đối tượng thì
Trang 2hiệu quả sẽ không cao Do đó bất kỳ một cơ quan thông tin thư viện nào muốn phục vụ tốt, có hiệu quả thì đều phải hiểu rõ nhu cầu thông tin của đối tượng mình phục vụ Vì vậy, việc tìm hiểu nhu cầu tin của bạn đọc đối với thư viện là hết sức cần thiết Đây là tiền đề quan trọng để nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc của Thư viện
Công tác tìm hiểu nhu cầu tin của người dùng tin có ý nghĩa rất quan trọng bởi mục đích cuối cùng của một cơ quan thông tin thư viện là đáp ứng tối đa, đầy đủ, chính xác, kịp thời, phù hợp nhu cầu của người dùng tin Vì thế
em đã chọn đề tài “ Tìm hiểu nhu cầu tin và việc đảm bảo thông tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình Với
mong muốn qua nghiên cứu có thể hiểu sâu sắc hơn về nhu cầu tin ngày càng
đa dạng hơn của bạn đọc qua đó vận dụng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đã được tiếp thu trong quá trình học tập về chuyên ngành thông tin - thư viện vào hoạt động thực tế để có thể cống hiến một cách tốt nhất cho đất nước sau này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát nhu cầu tin và việc đảm bảo thông tin để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tin ở Thư viện Thành phố Hà Nội
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu những đặc điểm hoạt động thông tin và nhu cầu tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội
+ Khảo sát thực trạng nhu cầu tin và khả năng đảm bảo thông tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội
+ Đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng đảm bảo thông tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội
3 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài
Trang 3- Việc nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội hiện nay chưa được đề cập tới trong các khoá luận và cũng chưa
có một luận văn, luận án, công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu toàn diện về vấn đề này Vì vậy đây là một đề tài rất mới và cần thiết để nghiên cứu, tìm hiểu bởi bất cứ một Thư viện nào cũng cần nghiên cứu nhu cầu tin của bạn đọc tại Thư viện của mình để có thể phục vụ bạn đọc một cách nhanh chóng, chính xác, đầy đủ, kịp thời
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là nhu cầu tin và việc đảm bảo thông tin cho người dùng tin
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nhu cầu tin và các hình thức, biện pháp bảo đảm thông tin cho người dùng tin của Thư viện Thành phố Hà Nội
từ năm 2000 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phân tích tổng hợp tài liệu
+ Phương pháp điều tra xã hội học (phỏng vấn và lập phiếu điều tra) + Phương pháp phân tích kết quả điều tra, khảo sát thực tiễn
+ Phương pháp thống kê so sách đối chiếu
+ Phương pháp mô hình hoá
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài
- Góp phần làm phong phú thêm lý luận về nhu cầu tin và phục vụ người dùng tin
- Góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thông tin ở Thư viện Thành phố Hà Nội
Trang 4- Là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác Thông tin - Thư viện tại Việt Nam
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, bố cục của khoá luận bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Đặc điểm hoạt động thông tin và người dùng tin tại Thư
viện Thành phố Hà Nội
- Chương 2: Thực trạng nhu cầu tin và khả năng đảm bảo thông tin
tại Thư viện Thành phố Hà Nội
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao khả năng đảm bảo thông tin
tại Thư viện Thành phố Hà Nội
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài với thời gian ngắn cộng với trình độ khả năng có hạn của một sinh viên, dù đã rất cố gắng song chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế về trình độ kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp và chỉ giáo của các thầy cô giáo, các cán bộ thư viện, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm tới đề tài để khoá luận được hoàn chỉnh và mang tính thực tiễn cao hơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Thông tin - Thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, cảm ơn các cán bộ thư viện tại Thư viện Thành phố Hà Nội, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo - Tiến sỹ Chu Ngọc Lâm (Giám đốc Thư viện Thành phố Hà Nội)
đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này
Trang 51.1.1 Giới thiệu khái quát về Thư viện Hà Nội
Thư viện Thành phố Hà Nội là một Thư viện lớn đầu ngành của hệ thống Thư viện thủ đô Thư viện được thành lập vào ngày 15/10/1956 với cái tên ban đầu là “Phòng đọc sách nhân dân Hà Nội” với địa chỉ không ổn định Năm 1959 Thư viện chính thức chuyển về số 47 Bà Triệu với tên “Thư viện nhân dân Hà Nội”, và hiện nay là Thư viện Thành phố Hà Nội
Trong hoàn cảnh hoà bình vừa lập lại, miền bắc bước vào thời kỳ phục hồi kinh tế, khắc phục tàn tích chiến tranh, thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất với mục tiêu “ đẩy mạnh sản xuất, tiến quân vào khoa học kỹ thuật, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, coi đó là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà” Hoà chung với không khí công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc, Thư viện Hà Nội đã hướng mọi hoạt động của mình
về cơ sở xây dựng các tủ sách ở các quận huyện ngoại thành đưa hàng vạn cuốn sách xuống các huyện tổ chức các túi sách, ba lô sách lưu động đưa xuống các đơn vị bộ đội, các xí nghiệp động viên quần chúng sẵn sàng chiến đấu và sản xuất phục vụ chiến tranh
Đến năm 1973, phòng Thông tin - Thư mục địa chí của Thư viện Hà Nội được thành lập và tổ chức hoạt động với mục đích phục vụ bạn đọc tìm hiểu nghiên cứu về Thủ đô Có thể nói đây là quyết định hết sức đúng đắn của
Trang 6Thư viện Hà Nội, nó đánh dấu một bước ngoặt một bước phát triển mới của hoạt động Thư viện Thủ đô
Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nam bắc thu về một mối, toàn dân phấn khởi bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước Được sự quan tâm của thành uỷ, UBND, Hội đồng nhân dân, Sở văn hoá Thông tin Hà Nội, Thư viện Hà Nội từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất, bổ sung thêm đội ngũ cán bộ có trình độ cao, tăng cường vốn tài liệu, đồng thời phát huy tốt công tác phục vụ bạn đọc thông qua một số hình thức tuyên truyền giới thiệu sách Từng bước nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc, phát triển toàn diện các hoạt động của mình cả về mặt chất và lượng nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của bạn đọc
Sau hơn 50 năm hoạt động, Thư viện đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ thủ đô cũng như “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Vì thế Thư viện Hà Nội đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 3 huân chương Lao động (1991, 1996, 2001),
và Huân chương Độc lập hạng ba (2006), được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen ba năm liền (1977, 1978, 1979) Được bộ Văn hoá thông tin và UBND thành phố tặng 5 cờ thi đua xuất sắc dẫn đầu (1997, 2000, 2002, 2004, 2005) và nhiều bằng khen
Thư viện Thành phố Hà Nội qua nửa thế kỷ xây dựng và phát triển đã không ngừng lớn mạnh xứng đáng là một địa chỉ văn hoá quen thuộc và đáng tin cậy của bạn đọc Thủ đô và cả nước Cũng như các cơ quan Thông tin - Thư viện khác, Thư viện Hà Nội có chức năng và nhiệm vụ đặc thù của mình
1.1.1.1 Chức năng của Thư viện Hà Nội
- Là trung tâm thu thập, tàng trữ, luân chuyển các loại hình sách báo tài liệu về tất cả mọi lĩnh vực phục vụ bạn đọc Thủ đô
Trang 7- Là trung tâm nghiên cứu địa chí về Thủ đô Đây là công tác đặc thù của Thư viện.Thư viện thu thập, lưu trữ, bảo quản và phục vụ bạn đọc các tài liệu địa chí có liên quan đến Hà Nội từ nhiều nguồn khác nhau
- Là trung tâm thông tin thư mục của Thủ đô
- Thư viện biên soạn và phổ biến các loại thư mục, nhất là thư mục địa chí nhằm phục vụ tích cực các nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về Thủ đô và phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của Thủ đô
- Là trung tâm hướng dẫn nghiệp vụ cho các Thư viện cơ sở trên địa bàn Hà Nội Thư viện kiểm tra thường xuyên và mở lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ cán bộ Thư viện cơ sở trên địa bàn nhằm đẩy mạnh phong trào đọc sách của nhân dân địa phương
1.1.1.2 Nhiệm vụ của Thư viện Hà Nội
- Thư viện Hà Nội có nhiệm vụ thoả mãn tối đa nhu cầu đọc sách, nghiên cứu, giải trí của đông đảo bạn đọc Thủ đô Cung cấp cho cán bộ lãnh đạo nhà nước, các nhà nghiên cứu, sản xuất và nhân dân Thủ đô những thành tựu khoa học tiến bộ của nhân loại
- Với tư cách là trung tâm thông tin - văn hoá - giáo dục có chất lượng nhất ngoài nhà trường, Thư viện không chỉ phục vụ nhu cầu đọc mà còn hướng dẫn họ đọc những tài liệu bổ ích, có giá trị, đồng thời loại bỏ những nhu cầu đọc sách không lành mạnh
- Tiến hành thu thập xử lý, phân loại lưu trữ các di sản văn hoá thành văn, các loại bản đồ, bản nhạc, tài liệu nghe nhìn và các dạng tài liệu khác Bảo quản và bổ sung các loại hình sách báo cũ và mới xuất bản trong nước và ngoài nước, phù hợp với đặc điểm và phương pháp phát triển kinh tế, văn hoá của địa phương, phục vụ nhu cầu nghiên cứu, góp phần nâng cao kiến thức văn hoá cho quần chúng
Trang 8- Không ngừng phổ biến, tuyên truyền các thành tựu khoa học công nghệ Luân chuyển sách báo, thường xuyên tiến hành soạn thảo các thư mục
trào cơ sở
P Hành chính Tài
Trang 9- Còn lại là trung cấp và lao động phổ thông
Đội ngũ cán bộ nhân viên trong Thư viện đều là những người cần cù và tâm huyết với nghề.Thư viện thường xuyên chú trọng đến việc nâng cao trình
độ tay nghề cho các cán bộ như : cho đi học lớp đào tạo về cao học Thông tin
- Thư viện, cử đi học lớp đào tạo tiếng Anh, tin học…
1.1.1.4 Vốn tài liệu của Thư viện
Thư viện có khoảng hơn 33 vạn cuốn sách, 502 loại báo và tạp chí trong và ngoài nước (có 320 loại tiếng Việt, 48 loại ngoại văn, 18 loại tạp chí
du lịch, 24 loại bản tin) Trong đó có 17.000 cuốn sách tiếng Anh, 3.114 cuốn sách tiếng Pháp, 2.036 tài liệu tiếng Slavơ, hơn 15.000 tài liệu địa chí Hà Nội (gồm tài liệu Hán nôm, Văn bia, Hương ước, Thần phả, Thần tích, Luận văn khoa học, ảnh, Bản đồ Hà Nội qua các thời đại…) Mảng tài liệu địa chí nhiều nhất là tiếng Việt 3.905 cuốn có các tài liệu đặc biệt quý hiếm như:
- Văn bia Hà Nội: 3.000 bản
Trang 10Hàng năm Thư viện Hà Nội bổ sung trung bình từ 6.000 - 8.000 cuốn sách với khoảng 1.500 tên sách khác nhau:
- Sách khoa học kỹ thuật cơ bản và sách khoa học đại chúng chiếm: 20%
- Sách văn học nghệ thuật chiếm: 30%
- Sách thiếu niên nhi đồng chiếm: 15%
- Sách chính trị cổ điển, sách viết về các vị lãnh tụ trong nước và thế giới, sách tổng loại chiếm: 25 - 30%
- Ngoài ra còn có sách y học, thể thao và các loại sách khác
Tài liệu đặc biệt có:
- Sách chữ nổi: 2000 cuốn
- Băng casette, đĩa CD: 589 băng, đĩa
- Là một Thư viện lớn của Thủ đô, do vậy Thư viện luôn quan tâm đầu tư phát triển vốn tài liệu của mình Nguồn tư liệu của Thư viện thường xuyên được bổ sung làm mới để phục vụ bạn đọc dưới nhiều hình thức, đồng thời chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng bộ máy tra cứu truyền thống và hiện đại với 7 cơ sở dữ liệu và 120.000 biểu ghi Liên kết phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tin thư viện, các ban ngành, các tổ chức kinh
tế - văn hoá - xã hội, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chia sẻ nguồn lực thông tin, nâng cao hiệu quả hoạt động Thư viện cả về quy mô và chất lượng
1.1.1.5 Cơ sở vật chất của Thư viện Hà Nội
Trước đây, Thư viện có diện tích sử dụng gần 2.500m2 bao gồm 3 toà nhà:
+ Kho, phòng đọc mượn sách thiếu nhi: 2 tầng 400m2
+ Kho và phòng mượn sách người lớn: 3 tầng 540m2
+ Kho và phòng đọc sách người lớn: 3 tầng 360m2
Trang 11- Hệ thống các phòng đọc của Thư viện:
+ Phòng đọc chung dành cho bạn đọc có 350 chỗ
+ Phòng đọc báo và tạp chí có 50 chỗ
+ Phòng đọc sách ngoại văn và sách tra cứu có 40 chỗ ngồi
+ Phòng đọc sách báo thiếu nhi có 80 chỗ ngồi
+ Phòng đọc các tư liệu địa chí có 10 chỗ ngồi
+ Phòng đọc sách báo Pháp văn thiếu nhi
+ Phòng phục vụ người khiếm thị
- Thư viện còn có các thiết bị máy móc như:
+ Máy hút bụi
+ Máy điều hoà nhiệt độ
+ Hệ thống tự động phòng chống hoả hoạn của từng kho sách
+ Các thiết bị về ánh sáng
+ Quạt thông gió
Thư viện có 16 máy vi tính phục vụ cho việc lưu trữ các cơ sở dữ liệu
sử dụng phần mềm ISIS for WINDOW Thư viện còn trang bị 4 máy in, trong
đó có 3 máy in lazer và một máy in kim phục vụ cho việc in văn bản, in phích, nhập worsheet, xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu Có 8 máy điện thoại, 2 máy phôtôcopy phục vụ sao in tài liệu cho bạn đọc có nhu cầu Ngoài
ra Thư viện còn có các thiết bị phục vụ nhu cầu giải trí như: tivi, cassette…
Trụ sở của Thư viện Hà Nội tại 47 Bà Triệu đang được xây dựng lại với quy mô 9 tầng có tổng diện tích sử dụng là 8.000m2 sàn, với mức đầu tư
là 50 tỷ đồng VN Trụ sở mới sẽ được hoàn thành vào tháng 4 năm 2008 Cùng với việc đầu tư xây dựng trụ sở là một dự án công nghệ thông tin với mức đầu tư 10 tỷ đồng VN
Trang 12Hiện tại, Thư viện Hà Nội đang hoạt động tạm thời tại khu Di tích Thành Cổ, 19 phố Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội Đây là khu vực thuộc Bộ quốc phòng trước đây nên nhiều người dân chưa được biết tới Khuôn viên Thành Cổ rộng lớn, yên tĩnh, gắn với lịch sử 1000 năm Thăng Long, nhưng diện tích dành cho Thư viện Hà Nội không nhiều nên Thư viện chỉ tổ chức được 6 phòng phục vụ bạn đọc Đó là các phòng báo - tạp chí, phòng đọc, phòng mượn người lớn, phòng đọc - mượn thiếu nhi, phòng khiếm thị, phòng đọc địa chí
1.1.2 Đặc điểm hoạt động thông tin của Thư viện Hà Nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện định hướng phát triển văn hoá do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đề ra là phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo tồn tôn tạo các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể làm nền tảng cho sự giao lưu văn hoá với bên ngoài Thư viện đã có nhiều đổi mới trong hoạt động thông tin nhằm quán triệt nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao phó, đồng thời theo kịp sự phát triển và hội nhập của đất nước trong giai đoạn hiện nay
- Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay được áp dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực thông tin - thư viện
- Tìm tin bằng phương pháp truyền thống về cơ bản là phương pháp chủ yếu trong các thư viện khi mà phương pháp tìm tin hiện đại chưa triển khai rộng rãi
- Song cùng với quá trình phát triển của Thư viện cũng như thời đại bùng nổ thông tin, việc tra cứu truyền thống không còn phù hợp hay nói một cách khác tốc độ tìm kiếm chậm hơn so với tìm trên máy tính vừa nhanh vừa
dễ thao tác
Trang 13- Nhu cầu tin của bạn đọc cũng thay đổi họ không chỉ khai thác thông tin trên dạng giấy nữa mà còn có nhu cầu khai thác thông tin trên mạng máy tính, chỉ cần ngồi nhà cũng có thể tra cứu tài liệu một cách dễ dàng
- Xu hướng người dùng tin sử dụng máy tính để tra tìm tài liệu rất phổ biến đòi hỏi thư viện cũng phải đổi mới theo để hội nhập với thời đại Trong thời đại mới Thư viện Hà Nội cũng có những thay đổi tích cực, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động thông tin thư viện
- Thư viện đang sử dụng phần mềm CDS/ISIS for window cải tiến có nhiều tính năng hơn có thể quản lý bạn đọc, quản lý vốn tài liệu, bổ sung, xử
- Để phục vụ bạn đọc trong thời kỳ mới một cách tốt nhất, Thư viện
đã tiến hành đa dạng hoá các hình thức phục vụ bạn đọc:
+ Tổ chức phục vụ bạn đọc tại chỗ, mượn về nhà, luân chuyển sách xuống
cơ sở qua thành viên tình nguyện, phục vụ tại nhà các đối tượng chính sách, người tàn tật, khiếm thị, phục vụ qua mạng thông tin, phục vụ qua thư mục
+ Tăng thời gian phục vụ bạn đọc: phục vụ liên tục từ 8h sáng đến 19h30’ tối và phục vụ cả ngày thứ bảy
+ Phục vụ mọi đối tượng bạn đọc từ các nhà quản lý, nghiên cứu khoa học, đến thanh thiếu nhi, người cao tuổi, người khuyết tật…
Trang 14+ Nhiều sản phẩm và dịch vụ mới : khai thác thông tin trên internet, bản tin điện tử, thông tin chọn lọc, thư mục chuyên đề, thư mục trích báo tạp chí
- Đổi mới hình thức và đa dạng hoá các nội dung tuyên truyền sách mới, tuyên truyền sách chuyên đề, tuyên truyền sách thiếu nhi (ứng dụng công nghệ thông tin, thi trắc nghiệm…) Để nâng cao tính hấp dẫn và hiệu quả của công tác tuyên truyền giới thiệu sách
- Tích cực xây dựng các dự án khả thi để phát triển sự nghiệp thư viện Thủ đô như : Xây dựng bộ sưu tập di sản thư tịch Thăng Long - Hà Nội, xây dựng thư viện điện tử, phát triển hệ thống thư viện thủ đô trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Thư viện Thành phố Hà Nội với những hoạt động thông tin trong thời
kỳ hội nhập và phát triển cũng đã có những bước chuyển mình tích cực để hoà mình vào xu thế chung của thời đại, của xã hội Thư viện hiện nay đang xây dựng trụ sở mới tại số 47 Bà Triệu với kinh phí đầu tư trên 50 tỷ đồng Đây sẽ
là một công trình văn hoá khang trang để có thể phục vụ bạn đọc một cách tốt nhất Cùng với trụ sở mới Thư viện cũng có dự án xây dựng thư viện điện tử
mở ra một tương lai, bộ mặt mới cho Thư viện của Thủ đô Trong năm 2007 Thư viện đặt cho mình một chương trình hoạt động cụ thể:
- Tiếp tục củng cố, sáng tạo đổi mới các hình thức hoạt động tại thư viện trung tâm
- Tăng cường các biện pháp bảo quản và phát triển vốn tài liệu của thư viện đảm bảo cả về chất lượng và số lượng để triển khai hoạt động tại trụ
sở mới vào năm 2008
- Tiếp tục cải cách các thủ tục cấp thẻ cho bạn đọc, đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện, không ngừng đổi mới các hình thức
Trang 15hoạt động, phương thức phục vụ bạn đọc để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thư viện
- Tăng cường phối hợp với quận, huyện, các nhà trường, các cơ quan làm tốt công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo phục vụ nhiệm vụ chính trị, thu hút đông đảo nhân dân đến với thư viện
- Biên soạn 25 bộ thư mục chuyên đề
- Cập nhật thông tin cho trang Web Thư viện Hà Nội
- Tích cực luân chuyển sách báo xuống cơ sở, phối hợp với quận, huyện duy trì, củng cố phát triển thư viện quận huyện và cơ sở Giúp đỡ các địa phương xây dựng các thư viện, tủ sách mới
- Tổ chức tập huấn kiến thức nghiệp vụ mới cho cán bộ thư viện trung tâm, thư viện quận huyện về biên mục MARC 21, áp dụng khung phân loại thập phân DEWEY
- Chú trọng công tác sưu tầm thu thập tài liệu về địa chí Hà Nội đáp ứng các nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
- Hoàn thiện các văn bản pháp quy về tổ chức và hoạt động của hệ thống Thư viện Thủ đô trình Uỷ ban nhân dân Thành phố ban hành, tạo hành lang pháp lý cho Thư viện Thành phố, các thư viện quận huyện và cơ sở phát triển mạnh mẽ
- Xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với dự án Thư viện
hiện đại tại trụ sở mới 47 Bà Triệu
- Phấn đấu xây dựng Thư viện Hà Nội trở thành thư viên kiểu mẫu ở Thủ đô
ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI 1.2.1 Đặc điểm chung
- Thư viện Hà Nội là Thư viện công cộng nên người dùng tin của Thư viện là tất cả mọi tầng lớp nhân dân với trình độ và nghề nghiệp khác nhau
Trang 16Với thành phần bạn đọc đa dạng cùng với sự tăng trưởng kinh tế, phát triển về văn hoá, sự tăng nhanh và phong phú của các xuất bản phẩm, việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giới thiệu sách báo trên các phương tiện thông tin đại chúng đã tạo điều kiện cho nhu cầu đọc tăng lên nhanh chóng Qua số lượng thống kê của Thư viện Hà Nội những năm gần đây đã thể hiện rõ điều này
Năm Số thẻ Số lượt bạn đọc Lượt sách báo luân chuyển
Chúng ta có nhiều dấu hiệu khác nhau để phân loại người dùng tin ở Thư viện Hà Nội
- Nếu căn cứ vào lứa tuổi ta phân chia người dùng tin thành các nhóm sau:
+ Dưới 20 tuổi
Trang 17- Nhóm bạn đọc là học sinh, sinh viên
- Nhóm bạn đọc là người cao tuổi, lao động, khiếm thị
Thư viện Hà Nội là một trong những trung tâm văn hoá, thông tin đầu ngành của Thủ đô nên đối tượng bạn đọc đến Thư viện rất đông đảo và thuộc mọi thành phần trong xã hội chính vì vậy mà nhu cầu tin của họ cũng trở nên rất phong phú, đa dạng, yêu cầu cao và có phần phức tạp Vì vậy ta phải hiểu
rõ nhu cầu tin của đối tượng mà mình phục vụ
Trang 18Để nghiên cứu các đặc điểm của từng đối tượng người dùng tin ta phải trả lời những câu hỏi:
- Họ là ai?
- Bao nhiêu tuổi?
- Trình độ văn hoá?
- Thuộc khu vực nào?
- Thường sử dụng loại tài liệu gì?
- Thường sử dụng tài liệu bằng ngôn ngữ gì?
- Sách tra cứu mà họ thường sử dụng?
- Họ đánh giá thế nào về chất lượng phục vụ thông tin ở Thư viện Hà Nội?
- Họ mong muốn có thêm loại tài liệu nào mà Thư viện Hà Nội cần cung cấp thêm?
- Họ đánh giá như thế nào về thái độ, tinh thần phục vụ của cán bộ thông tin?
- Họ có ý kiến nào khác để cải tiến và nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin của Thư viện Hà Nội?
Qua việc điều tra những câu hỏi như trên ta xác định được tính chất, nội dung của từng loại nhu cầu tin của từng nhóm người dùng tin để tránh cung cấp những thông tin, tài liệu không phù hợp với các đối tượng người dùng tin khác nhau
1.2.2 Nhóm bạn đọc trí thức
- Bao gồm các cán bộ quản lý, lãnh đạo, các nhà nghiên cứu, các giáo
sư, tiến sỹ, các cán bộ giảng dạy tại các trường đại học cao đẳng, giáo viên,
kỹ sư, bác sỹ, các phóng viên báo chí, các văn nghệ sỹ…
Trang 19- Nhóm bạn đọc tri thức chiếm 25% tổng số bạn đọc của Thư viện Thành phố Hà Nội
- Về tính chất thông tin: Cần những thông tin định hướng chiến lược,
dự báo chung (thông tin ở tầm vĩ mô), ưu tiên sự tổng hợp về tài liệu, về những vấn đề, đề tài cụ thể Họ không chỉ cần những tài liệu mới xuất bản mà
cả những tài liệu cũ đặc biệt là tài liệu địa chí
- Về hình thức thông tin: chủ yếu ở dạng văn bản
- Nguồn gốc thông tin: trong và ngoài nước
- Nhóm bạn đọc này thường không ổn định Họ đến Thư viện nhiều hay ít tuỳ thuộc vào số đề tài mà họ nghiên cứu cần tới nhiều tài liệu hay ít tài liệu tham khảo Ngoài ra còn có một số nhà nghiên cứu người nước ngoài đến đọc tài liệu về Hà Nội tìm hiểu về phong tục tập quán, truyền thống đấu tranh anh dũng của người Hà Nội
1.2.3 Nhóm bạn đọc là học sinh, sinh viên
- Nhóm bạn đọc là sinh viên đông đảo nhất chiếm 65% tổng số bạn đọc của Thư viện Hà Nội Họ là sinh viên của các trường đại học, cao đẳng trong thành phố Hà Nội với các chuyên ngành khác nhau nên nhu cầu tin của
họ rất đa dạng Họ cần tài liệu về nhiều lĩnh vực khác nhau như: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, công nghệ, nghệ thuật… để đáp ứng nhu cầu nâng cao kiến thức học tập trong nhà trường
- Nhóm bạn đọc là học sinh chiếm 6% gồm các em học sinh phổ thông trong thành phố Nhu cầu đọc của nhóm này khá đơn giản và ổn định Các em chủ yếu đọc là sách văn học nghệ thuật, sách khoa học thường thức
để khám phá những điều mới lạ, để hiểu biết cuộc sống; Các sách viết về các tấm gương anh hùng liệt sỹ, các danh nhân, người tốt việc tốt, truyện cười, truyện tranh, truyện khoa học viễn tưởng…
1.2.4 Nhóm bạn đọc là người cao tuổi, lao động, khiếm thị
Trang 20- Bao gồm các cán bộ hưu trí, công nhân, nông dân, tiểu thương, cư dân sống trong địa bàn Thành phố, người khiếm thị đến Thư viện để giải trí, nghỉ ngơi, khám phá, tìm hiểu, nâng cao tri thức trong mọi lĩnh vực đời sống
- Nhóm bạn đọc này chiếm số lượng là 4%, nhu cầu đọc sách của nhóm này là khá phong phú nhưng không chuyên sâu Nhu cầu chủ yếu về các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, sản xuất kinh doanh, bảo vệ sức khoẻ, văn học nghệ thuật…Một số bạn đọc lại say mê những cuốn sách thường thức hàng ngày như hướng dẫn giữ gìn sắc đẹp, nghệ thuật cắm hoa, nấu ăn, các biện pháp chăm sóc giáo dục con cái, giữ gìn hạnh phúc gia đình Nhìn chung nhu cầu đọc của nhóm này là khá ổn định
Trang 21Chương 2
THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐẢM BẢO THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. NHU CẦU TIN
2.1.1 Khái niệm nhu cầu tin
- Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người (cá nhân, nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người
- Nhu cầu tin có thể chia làm 3 giai đoạn chủ yếu trong một vòng đời của con người:
+ Nhu cầu tin ở tuổi chưa đến trường: là sự khởi đầu của giao tiếp với môi trường xung quanh
+ Nhu cầu tin trong quá trình đào tạo (phổ thông, đại học và sau đại học) + Nhu cầu tin trong quá trình làm việc
- Trong thông tin học người ta chia nhu cầu tin thành 3 nhóm chủ yếu:
+ Nhu cầu tin cá nhân
+ Nhu cầu tin tập thể (của một nhóm xã hội)
+ Nhu cầu tin của cộng đồng xã hội
Nhu cầu tin cá nhân là sự phản ánh một phần cụ thể của nhu cầu tin tập thể và nhu cầu tin của cộng đồng xã hội, nhu cầu tin của tập thể và của cộng đồng xã hội không tồn tại bên ngoài hoặc bên cạnh nhu cầu tin cá nhân, đồng thời không được coi chúng là tổng cộng máy móc của các nhu cầu thông tin
cá nhân
- Mỗi quốc gia, dân tộc ở những thời điểm lịch sử cụ thể có nhu cầu tin khác nhau hay nói cách khác nhu cầu tin luôn luôn thay đổi theo sự phát
Trang 22triển của xã hội, trình độ phát triển của khoa học công nghệ, văn minh, văn hoá, lối sống và truyền thống dân tộc
- Qua sự phân tích trên, chúng ta thấy: Nhu cầu tin là loại nhu cầu tinh thần đặc biệt mang tính khách quan không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người và là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
- Các hệ thống thông tin xã hội nói chung, đặc biệt là hệ thống thông tin khoa học công nghệ phải có trách nhiệm làm thoả mãn nhu cầu tin của xã hội vừa là mục tiêu, là động lực thúc đẩy sự phát triển, cung cấp các thông tin
mà xã hội có nhu cầu chứ không được đưa ra thị trường những thông có sẵn của hệ thống mà xã hội không cần (thông tin bị lỗi thời, thông tin thiếu chính xác)
2.1.2 Sở thích tin
- Sở thích tin là nhu cầu tin thể hiện qua ý thức chủ quan của con người
- Con người muốn tồn tại và phát triển ai cũng phải có nhu cầu khác nhau (nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần) đặc biệt là nhu cầu khám phá thế giới xung quanh Tuy nhiên sự biểu hiện nhu cầu tin của mỗi người khác nhau, thậm chí nhu cầu con người ở mỗi thời điểm cũng khác nhau, những bối cảnh sinh hoạt khác nhau và những chức năng xã hội khác nhau nó còn phụ thuộc vào trạng thái tâm lý, lối sống Nhu cầu tin và sở thích tin có sự tương đồng nhưng không thống nhất, quá trình chuyển hoá từ nhu cầu tin thành sở thích tin có sự chế định của ý thức chủ quan mỗi cá nhân, trong hoàn cảnh khách quan và chủ quan của mỗi con người mối quan hệ giữa nhu cầu tin và
sở thích tin có thể xảy ra hai tình huống:
+ Nhu cầu tin hoàn toàn trùng khớp với sở thích tin (nhu cầu tin và sở thích tin là một)
+ Nhu cầu tin không trùng khớp với sở thích tin (sở thích tin chỉ biểu đạt một phần nhu cầu tin)
Trang 23- Như vậy nếu con người có sở thích tin thì có nghĩa rằng con người
có nhu cầu tin nhưng nếu con người có nhu cầu tin thì chưa chắc con người
đó có sở thích tin
- Đây là một kết luận có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan phục vụ thông tin bằng mọi hình thức, bằng mọi phương pháp khoa học, các cơ quan thông tin - thư viện phải khơi dậy tiềm năng nhu cầu tin của mỗi cá nhân, tập thể và của cộng đồng xã hội, phải biến nhu cầu tin thành sở thích tin nói cách khác các cơ quan thông tin - thư viện phải nắm được các sở thích tin của người dùng tin nói chung và làm thoả mãn được yêu cầu của họ tức là đã làm thoả mãn nhu cầu tin
2.1.3 Yêu cầu tin
- Yêu cầu tin là sự thể hiện bằng lời hoặc bằng văn bản một phần nhu cầu tin của người dùng tin đối với hệ thống thông tin nào đó tại một thời điểm nhất định
- Trong công tác phục vụ thông tin, chu trình “Nhu cầu tin - yêu cầu tin” xảy ra hai trường hợp:
+ Nhu cầu tin hoàn toàn trùng khớp với yêu cầu tin (người dùng tin có khả năng diễn đạt đầy đủ nhu cầu tin trong yêu cầu tin)
+ Yêu cầu tin chỉ phản ánh được một phần (phụ thuộc vào yếu tố chủ quan, người dùng tin không có khả năng diễn đạt hết nhu cầu tin của mình) Trong trường hợp này người dùng tin phải có sự hỗ trợ đắc lực của các cán bộ thông tin thì họ mới diễn đạt đầy đủ nhu cầu tin của mình trong yêu cầu tin
Chu trình “Nhu cầu tin - yêu cầu tin” bao gồm 3 quá trình liên hoàn có quan hệ hữu cơ với nhau:
+ Quá trình “nhu cầu tin - sở thích tin”
+ Quá trình “sở thích tin - yêu cầu tin”
+ Quá trình “yêu cầu tin - nhu cầu tin”
Trang 24Nhu cầu tin
Sở thích tin Yêu cầu tin
Sơ đồ chu trình “nhu cầu tin - yêu cầu tin”
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin
Cũng như các loại nhu cầu khác nhu cầu tin cũng chịu sự tác động nhiều yếu tố khác nhau bao gồm các yếu tố chủ quan và khách quan
2.1.4.1 Yếu tố chuyên môn nghề nghiệp
- Thông tin tồn tại nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tin của xã hội hay nói một cách khác thông tin tồn tại phát triển được là do nhu cầu tin của xã hội Mỗi ngành nghề đều có nhu cầu tin khác nhau, trong xã hội hiện đại căn
cứ vào nền sản xuất xã hội, người ta chia thành 5 nhóm lĩnh vực hoạt động:
+ Quản lý tổng hợp (quản lý chiến lược, sách lược và tác nghiệp)
+ Nghiên cứu khoa học (nghiên cứu triển khai)
+ Thiết kế chế tạo (chế tạo sản phẩm sản xuất và tiêu dùng)
+ Giáo dục đào tạo (đào tạo con người cho xã hội tương lai)
+ Sản xuất kinh doanh - dịch vụ (trực tiếp sản xuất kinh doanh dịch vụ)
- Mỗi nhóm ngành nghề có vai trò và chức năng khác nhau, tạo ra những sản phẩm khác nhau, cần những lĩnh vực tri thức và thông tin khác nhau chính vì vậy nhu cầu tin cũng phụ thuộc vào từng ngành nghề khác nhau
2.1.4.2 Yếu tố cá nhân
Trang 25Mỗi con người có trình độ hiểu biết, trình độ học vấn khác nhau vì vậy
mà lượng thông tin, lĩnh vực tri thức họ cần là khác nhau chính vì vậy mà nhu cầu tin của họ cũng khác nhau hay nói một cách khác là nhu cầu tin phải phụ thuộc vào yếu tố cá nhân
2.1.4.3 Yếu tố xã hội
Như Mác đã nói “ Con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội”, con người tồn tại trong xã hội phụ thuộc vào các mối quan hệ xã hội khác nhau và ở mỗi mối quan hệ con người lại cần những thông tin khác nhau, có những nhu cầu khác nhau Vì vậy mà nhu cầu tin chịu sự tác động từ yếu tố
xã hội
2.1.4.4 Các yếu tố tâm lý
Yếu tố tâm lý có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới người dùng tin bởi mỗi cá nhân đều có đời sống nội tâm khác nhau do đó nhu cầu tin của họ cũng khác nhau mặc dù có thể sống trong cùng một thời điểm lịch sử, thậm chí là cùng trong một đất nước, một gia đình
2.1.4.5 Các yếu tố khác
Ngoài ra nhu cầu tin còn chịu tác động từ các yếu tố khác với những mức
độ khác nhau như: tự nhiên, kinh tế, văn hoá, môi trường, lịch sử, tập tục, hệ thống chính trị Trong các yếu tố này hệ tư tưởng, chính trị, trình độ phát triển kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tin Chúng có vai trò định hướng cho sự phát triển của nhu cầu tin theo hướng chính đảng của giai cấp cầm quyền của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, thời đại
2.1.5 Ý nghĩa
2.1.5.1 Ý nghĩa của việc nắm bắt nhu cầu tin của người dùng tin
Hệ thống thông tin muốn đạt được hiệu quả kinh tế và khoa học thì phải nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin thuộc mọi tầng lớp xã hội khác nhau vì nó mang lại những ý nghĩa sau:
Trang 26- Giúp chúng ta tạo ra một nguồn tin phù hợp với từng loại người dùng tin, từng mức độ người dùng tin
- Tổ chức xây dựng các sản phẩm dịch vụ, dịch vụ thông tin, thiết kế các hệ thống thông tin và xây dựng các công cụ thông tin tương ứng đảm bảo cho các hệ thống thông tin đạt hiệu quả
- Thiết kế các mối quan hệ thông tin
- Xây dựng chương trình đào tạo người dùng tin đảm bảo cho họ có những kiến thức sâu, rộng về thông tin, sử dụng thành thạo các phương tiện hiện đại
2.1.5.2 Ý nghĩa của sự phù hợp và thích hợp trong việc đáp ứng nhu cầu tin
- Sự thích hợp thông tin là sự tương hợp một cách kết quả giữa nội dung thông báo tin và yêu cầu thông tin
- Mẫu tìm và biểu thức tìm phải trùng hợp hoàn toàn
- Sự phù hợp thông tin: là sự phù hợp giữa nội dung thông báo tin và
sở thích thông tin
- Trong lĩnh vực đáp ứng thông tin nếu nắm bắt được mối quan hệ giữa phù hợp và thích hợp sẽ giúp cho các nhà thông tin bổ sung đầy đủ các nguồn thông tin khác nhau để đáp ứng cho mọi yêu cầu của người dùng tin
- Qua đó các nhà thông tin phải nghiên cứu kỹ toàn diện, sâu sắc tất cả các nguồn tin hiện có trong vốn tài liệu của mình để đáp ứng yêu cầu thông tin
- Nếu chúng ta đảm bảo hai yêu cầu trên thì ta sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế của cơ quan thông tin, thông qua việc nghiên cứu đó ta có thể định ra được chiến lược và sách lược cho việc phục vụ người dùng tin
Trang 27
Sơ đồ mối quan hệ giữa phù hợp và thích hợp
ỨNG THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI
Với đối tượng người dùng tin đông đảo và đa dạng cùng với nhu cầu tin phong phú đòi hỏi Thư viện phải nắm bắt được nhu cầu tin của họ và tổ chức đáp ứng nhu cầu tin sao cho nhanh chóng, chính xác, hiệu quả nhất Vì vậy các cơ quan thông tin cần phải hiểu rõ nhu cầu tin của người dùng tin mà mình phục vụ
Chúng tôi đã tiến hành điều tra nghiên cứu nhu cầu tin của 100 bạn đọc gồm các nhóm đối tượng sau:
Trang 28Đối tượng Tổng số người Thành phần
B ảng 1: Các đối tượng người dùng tin
Như vậy phân theo nhóm sẽ là:
- Nhóm bạn đọc trí thức là: 30 người chiếm 30%
- Nhóm bạn đọc là học sinh, sinh viên là: 60 người chiếm 60%
- Nhóm bạn đọc là người cao tuổi, lao động, khiếm thị là: 10 người chiếm 10%
Trang 29Hỡnh 1: Biểu đồ cỏc nhúm đối tượng người dựng tin
động khiếm thịNhóm bạn độc làhọc sinh viên
Nhóm bạn đọc tríthức
2.2.1 Kết quả phõn tớch phiếu điều tra
Sau đõy chỳng tụi xin đưa ra kết quả nghiờn cứu nhu cầu tin của 100 phiếu điều tra được phỏt cho bạn đọc và thu được như sau:
Bảng 2: Thời gian người dựng tin dành cho việc đọc sỏch nghiờn cứu tài liệu
Thời gian SL Nhúm trớ thức Nhúm HS -
SV
Nhúm cao tuổi, LĐ
Trang 30Bảng 4: Nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện của
người dùng tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội
Các sản phẩm SL Nhóm trí
thức Nhóm HS - SV
Nhóm người cao tuổi, LĐ
Thư mục giới thiệu sách mới 3 1 33.3% 1 33.3% 1 33.4%
Trang 31Tra cứu thông tin 30 12 40% 16 53.3% 2 6.7%
Trang 32Bảng 7: Nhu cầu sử dụng phương tiện tra cứu hiện đại
Nhu cầu sử
dụng SL Nhóm trí thức Nhóm HS - SV
Nhóm người cao tuổi, LĐ
Bảng 8: Nhu cầu hướng dẫn tìm tin
Nhu cầu hướng
dẫn SL Nhóm trí thức Nhóm HS - SV
Nhóm người cao tuổi, LĐ
2.2.1.1 Nhu cầu tin của nhóm bạn đọc trí thức
- Về thời gian người dùng tin dành cho đọc sách và nghiên cứu tài liệu:
Do đặc điểm của nhóm bạn đọc trí thức là những người có trình độ học vấn cao hoạt động chủ yếu của họ là nghiên cứu, quản lý, giảng dạy nên thời gian họ dành cho việc đọc sách và nghiên cứu tài liệu là khá lớn Thời gian là
từ 10 - 20% chiếm 40%, từ 20 - 30% là 34.3% đặc biệt >30% là 25%
Do nhu cầu tính chất công việc khác nhau nên họ dành khá nhiều thời gian cho việc đọc sách tại Thư viện bởi đặc thù của công việc nhóm này là cần rất nhiều tài liệu bậc 1, bậc 2, tài liệu gốc… Điều này cho thấy sách báo là công
cụ không thể thiếu của những nhà trí thức trong hoạt động khoa học của họ
- Về nội dung nhu cầu đọc tại Thư viện Hà Nội:
Nhu cầu đọc lớn nhất tại Thư viện Hà Nội của nhóm bạn đọc tri thức là sách xã hội chính trị (35%), sách văn học nghệ thuật (40%) Sách tâm lý và
Trang 33sách kinh tế cũng dành được khá nhiều sự quan tâm của nhóm bạn đọc này tỷ
lệ đọc là 33,3% Nhu cầu đọc sách khoa học chưa cao 27.8% điều này cho thấy bạn đọc hướng nhu cầu vào đọc sách khoa học ở các thư viện chuyên ngành khác ở Hà Nội như: Viện thông tin khoa học xã hội, Thư viện Khoa học kỹ thuật, Thư viện Quốc gia…
- Về nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ thông tin của người dùng tin tại Thư viện Hà Nội:
Đối với bạn đọc tri thức các sản phẩm mà họ sử dụng chủ yếu là: sách, báo tạp chí, tài liệu tham khảo tra cứu, tài liệu dịch, tài liệu nghe nhìn do tính chất công việc của họ chủ yếu là nghiên cứu học tập là chính
- Về ngôn ngữ người dùng tin sử dụng:
Ngôn ngữ được nhóm bạn đọc này thường sử dụng chủ yếu là: tiếng Việt, tiếng Anh, Pháp, Trung, Đức Do họ có kiến thức sâu rộng, có trình độ hiểu biết và am hiểu nhiều ngôn ngữ nên để có kết quả nghiên cứu tốt nhất họ không chỉ sử dụng những tài liệu dịch trong nước mà họ còn sử dụng cả tài liệu bằng tiếng nước ngoài nhằm mục đích cuối cùng là có công trình nghiên cứu hoàn thiện đầy đủ nhất
- Về hình thức phục vụ hay sử dụng:
Đối với nhóm đối tượng này họ sử dụng hầu hết tất cả các loại hình phục vụ ở Thư viện sao cho đạt hiệu quả tối đa yêu cầu tìm tin của mình trong
đó có hình thức tra cứu thông tin (40%) và sao chụp tài liệu (25%) là khá cao
- Về nhu cầu sử dụng phương tiện tra cứu hiện đại và nhu cầu hướng dẫn tìm tin:
Tuyệt đại đa số người dùng tin ở nhóm này cho rằng sử dụng bộ máy tra cứu hiện đại sẽ thuận tiện hơn (20 người trên 30 người sử dụng) Con số này chứng minh một điều họ thường xuyên đến Thư viện và sử dụng hình
Trang 34thức tra cứu này nên đã quen, tra cứu đơn giản, dễ dàng thậm chí cả những yêu cầu tin phức tạp
Họ có thể sử dụng bộ máy tra cứu dễ dàng nên không có nhiều nhu cầu cần hướng dẫn tra cứu tìm tin
* Nhận xét đặc điểm nhu cầu tin của nhóm bạn đọc trí thức:
- Qua điều tra cho thấy họ là đối tượng bạn đọc tích cực của Thư viện, nhu cầu tin của họ khá đa dạng do mức độ đề tài nghiên cứu và nhu cầu tham khảo tài liệu của bản thân để trau dồi kiến thức làm giàu thêm, phong phú thêm hệ kiến thức của mình Vì vậy nhu cầu tham khảo tài liệu ở mọi lĩnh vực
là rất lớn Điều này tác động đến quá trình tổ chức và hoạt động của thư viện sao cho đạt hiệu quả, thoả mãn nhu cầu tin, nâng cao chất lượng phục vụ có như vậy Thư viện mới thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình
- Mục tiêu của nhóm người dùng tin này là nghiên cứu giải quyết những vấn đề về Khoa học tự nhiên, Khoa học kỹ thuật và Khoa học xã hội Thông thường người nghiên cứu có dạng đề tài cụ thể do đó việc sử dụng thông tin để thường xuyên cập nhật kiến thức để thu được các thông tin là hoạt động không thể thiếu
- Để tiến hành các công tác nghiên cứu họ cần những tri thức, thông tin chuyên đề về lĩnh vực mà họ quan tâm Thực tế cho thấy tài liệu mà họ cần chủ yếu là tài liệu gốc, các thông tin mới nhất mà họ đang nghiên cứu Về thời gian họ có khá nhiều thời gian nên khả năng đảm bảo thông tin cho họ chủ động hơn Nhóm bạn đọc này thường quan tâm trước hết là tính đầy đủ của thông tin, nghĩa là họ muốn nghiên cứu đến toàn bộ tài liệu có liên quan đến đề tài mà họ nghiên cứu Đối tượng người dùng tin này cần tài liệu gốc,
tự xử lý và rút ra thông tin cần thiết họ đòi hỏi chiều sâu của thông tin
Trang 35- Nhu cầu thông tin của họ nhiều khi không cụ thể mang tính chất chung khó diễn đạt thành yêu cầu Họ muốn biết tất cả những gì đã được nghiên cứu và chưa được nghiên cứu để tham khảo đồng thời để chủ động tiến hành và phát triển đề tài nghiên cứu
- Bởi vậy việc phục vụ nhóm bạn đọc này trước hết phải đảm bảo tính đầy đủ, kịp thời mà họ quan tâm, tiếp đó là cung cấp tài liệu gốc Quá trình phục
vụ thông tin cho nhóm bạn đọc trí thức thường được chia làm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: trước khi họ bắt đầu nghiên cứu cung cấp các thư mục
chuyên đề, đồng thời đảm bảo cho họ tài liệu mà họ cần
+ Giai đoạn 2: khi họ đang tiến hành nghiên cứu, phục vụ thông tin
theo chế độ phân phối có chọn lọc, cập nhật cho họ những thông tin mới nhất
+ Giai đoạn 3: trước khi kết thúc công trình, đề tài nghiên cứu, cung
cấp các thông tin dữ kiện, số liệu, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật…
- Đây chính là nhóm đối tượng sử dụng thông tin phong phú và đa dạng, có nhu cầu sử dụng nhiều loại hình tài liệu, các mạng thông tin, các cơ
sở dữ liệu rất thường xuyên
- Đối với nhóm đối tượng trí thức việc sử dụng thông tin để bồi dưỡng kiến thức, tăng hàm lượng thông tin khoa học là một hoạt động không thể thiếu , đây cũng là đội ngũ đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
2.2.1.2 Nhu cầu tin của nhóm bạn đọc học sinh, sinh viên
- Về thời gian người dùng tin dành cho việc đọc sách và nghiên cứu tài liệu:
Thời gian dành cho việc đọc sách và nghiên cứu tài liệu của nhóm này
là khá cao chủ yếu là từ khoảng 10 - 20% (52%) và khoảng 20 - 30% (57.1%) Do họ phải thường xuyên đến thư viện để học tập, giải trí và tìm hiểu, tiếp cận, tiếp thu những tri thức mới
- Về nội dung nhu cầu đọc tại Thư viện Thành phố Hà Nội:
Trang 36Học sinh, sinh viên có nhu cầu rất cao về các lĩnh vực chính trị - xã hội (55%), các lĩnh vực khoa học (66.7%), kinh tế (60%), văn học nghệ thuật (40%) Đây là những lĩnh vực gắn liền với chương trình học tập trong nhà trường
- Về nhu cầu sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của người dùng tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội:
Các sản phẩm và dịch vụ thông tin mà học sinh, sinh viên thường dùng
ở Thư viện Thành phố Hà Nội là: sách, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, tài liệu tra cứu, tài liệu ngoại văn, báo tạp chí Do đó là những loại hình sản phẩm thông tin chứa nhiều lượng kiến thức phù hợp với trình độ của họ phục
vụ nhu cầu học tập, giải trí
- Về ngôn ngữ người dùng tin thường sử dụng:
Họ thường sử dụng ngôn ngữ là tiếng Việt, tiếng Anh, Pháp, Trung do tài liệu sử dụng của họ chủ yếu là giáo trình và tài liệu tham khảo phục vụ cho mục đích trong nhà trường Trong đó tiếng Anh được sử dụng khá nhiều (61.1%) điều này nói lên xu hướng toàn cầu hoá, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ quốc tế được sử dụng một cách phổ biến trong các lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, ngoại thương
- Về hình thức phục vụ hay sử dụng:
Họ sử dụng hầu hết mọi hình thức phục vụ nhưng cao nhất là hình thức đọc tại chỗ (80%) do sinh viên thường đến Thư viện để tự học trong các phòng đọc Tiếp đến là hình thức sao chụp tài liệu, và mượn về nhà do họ cần nhiều tài liệu tham khảo trong quá trình tự học ở nhà
Hình thức tra cứu thông tin cũng được nhóm này sử dụng khá nhiều bởi
họ thường xuyên đến Thư viện, tiếp thu nhanh cái mới và công nghệ thông tin nên hình thức này đối với họ khá dễ dàng và thuận tiện Điều này do yêu cầu khách quan của quá trình học tập nghiên cứu, họ có nhu cầu sử dụng bởi tính
Trang 37thiết thực của môn học, phạm vi tra cứu rộng đòi hỏi tốn nhiều thời gian mà tra cứu bằng phương pháp hiện đại lại rất nhanh, kết quả chính xác
- Về nhu cầu sử dụng phương tiện tra cứu hiện đại và hướng dẫn tìm tin
Họ là nhóm đối tượng người dùng tin có nhu cầu khá cao trong việc sử dụng nhu cầu tra cứu hiện đại, ngoài ra họ khá thân thuộc trong việc tìm tin cả truyền thống và hiện đại nên họ có thể tra cứu một cách tìm kiếm thông tin một các dễ dàng mà không cần hướng dẫn tìm kiếm
* Nhận xét đặc điểm nhu cầu tin của nhóm bạn đọc học sinh, sinh viên:
- Nhóm bạn đọc là học sinh, sinh viên với nhu cầu học tập, nghiên cứu trau dồi kiến thức đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại Trình độ khả năng làm việc của sinh viên phản ánh chất lượng đào tạo của nhà trường, nói như vậy không có nghĩa phụ thuộc vào điều kiện khách quan mà cơ bản vẫn phụ thuộc vào ý thức chủ quan của mỗi cá nhân đó là khả năng rèn luyện, ý chí nỗ lực phấn đấu, đó là quá trình tự học tự nghiên cứu Qua kết quả điều tra ta thấy sinh viên, học sinh lượng thông tin họ cần là khá phong phú với mức độ tăng dần do yêu cầu đào tạo nhất là giai đoạn trang bị kiến thức căn bản (giai đoạn đại cương gồm 2 năm đầu) Giai đoạn 2 là giai đoạn trang bị kiến thức chuyên ngành là hệ kiến thức vừa sâu lại vừa rộng vì thế lượng tài liệu tham khảo là rất cần thiết cho mỗi sinh viên vì thế Thư viện phải thường xuyên bổ sung cập nhật tài liệu mới tạo điều kiện cho sinh viên tham khảo nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
2.2.1.3 Nhu cầu tin của nhóm bạn đọc là người cao tuổi, lao động, khiếm thị
- Về thời gian người dùng tin dành cho việc đọc sách và nghiên cứu tài liệu:
Ở nhóm bạn đọc này thời gian dành cho việc nghiên cứu tài liệu và đọc sách là không cao chủ yếu là vào khoảng từ 1 - 10% (15%), tiếp theo là khoảng từ 10 -20% (8%).Vì mục đích của họ đến Thư viện chủ yếu để nâng cao hiểu biết và giải trí Điều này cho thấy đây không phải là nhu cầu chiếm
Trang 38ưu thế trong việc sử dụng thời gian rỗi của nhóm bạn đọc này, ngoài đọc sách
họ còn dành thời gian cho hoạt động thể dục thể thao, xem ti vi, nghỉ ngơi và giải trí
- Về nội dung nhu cầu đọc tại Thư viện Thành phố Hà Nội:
Nội dung nhu cầu đọc của nhóm bạn đọc này là khá phong phú nhưng không chuyên sâu Nhu cầu chủ yếu là về lĩnh vực kinh tế 13.3%, khoa học
kỹ thuật 5.5%, sản xuất kinh doanh, bảo vệ sức khoẻ…Nhìn chung nhu cầu đọc của nhóm này là khá ổn định
- Về nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện của người dùng tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội:
Nhóm bạn đọc là người cao tuổi, lao động, khiếm thị họ chủ yếu sử dụng các sản phẩm thông tin như: sách, báo, tạp chí, tài liệu ngoại văn để phục vụ nhu cầu giải trí nâng cao hiểu biết là chính
Họ ít và không sử dụng các sản phẩm mang tính chuyên môn như: thư mục giới thiệu sách mới, thư mục chuyên đề, thông tin tóm tắt tổng thuật, thông tin chuyên đề
- Về ngôn ngữ người dùng tin thường sử dụng:
Với mục đích như trên tài liệu họ tìm kiếm và sử dụng chủ yếu viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh là chủ yếu nên tiếng Việt và tiếng Anh là ngôn ngữ họ sử dụng nhiều nhất
- Về hình thức phục vụ hay sử dụng:
Họ sử dụng các hình thức khác nhau nhưng chủ yếu họ sử dụng hình thức là mượn tài liệu về nhà (12%), sao chụp tài liệu (15%) do họ không thường xuyên đến Thư viện
- Về nhu cầu sử dụng phương tiện tra cứu hiện đại và hướng dẫn tìm tin:
Trang 39Nhóm bạn đọc này chủ yếu sử dụng phương tiện tra cứu truyền thống do thói quen Nhu cầu sử dụng phương tiện tra cứu hiện đại là không cao (8.4%)
Nhu cầu hướng dẫn tra cứu tìm tin là khá cao ở nhóm bạn đọc này do chỉ quen sử dụng bộ máy tra cứu truyền thống nên khi tra cứu hiện đại thì họ không có khả năng diễn đạt nhu cầu tin chính xác vì vậy đây là nhu cầu cần thiết đối với họ Chỉ một số rất nhỏ người dùng tin ở nhóm này có thể tra cứu thành thạo mà không cần hướng dẫn tìm tin
* Nhận xét đặc điểm nhu cầu tin của nhóm bạn đọc là người cao tuổi, người lao động và khiếm thị:
Tuy đây là nhóm bạn đọc chiếm số lượng không cao nhưng để làm tốt chức năng của Thư viện là thư viện công cộng phục vụ tất cả mọi tầng lớp bạn đọc Thủ đô Thư viện cần chú trọng nâng cao chất lượng tài liệu cần bổ sung phong phú tài liệu mới đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, khoa học, sản xuất kinh doanh, khoa học thường thức… nhằm tạo cho bạn đọc sự thích thú khi đến Thư viện giúp bạn đọc có những kiến thức toàn diện hơn, thoải mái hơn khi đến Thư viện
2.2.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội
Việc đảm bảo thông tin cho người dùng tin cả về nội dung, hình thức
và số lượng là bài toán khó đặt ra cho bất kỳ một cơ quan thông tin thư viện nói chung và Thư viện Hà Nội nói riêng Là một thư viện nằm trong hệ thống thư viện công cộng với số lượng bạn đọc thuộc mọi tầng lớp nhân dân, với nhu cầu tin phong phú, đa dạng đòi hỏi thư viện không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động để đáp ứng yêu cầu tin của người dùng tin nói chung Vấn đề thoả mãn nhu cầu tin cho người đọc người dùng tin là một việc làm hết sức phức tạp phải tạo mọi điều kiện về vốn tài liệu, hình thức tra cứu, cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ nhu cầu đọc Vì vậy để nâng cao chất lượng thoả
Trang 40mãn yêu cầu đọc Thư viện phải thiết lập mối liên hệ ngược giữa hệ thống thông tin và người dùng tin bằng các bước sau:
- Xác định chủ đề tìm
- Đối tượng người dùng tin
- Nghiên cứu chiến lược tìm
- Hình thức và khối lượng trả lời
Từ đó người dùng tin tự đánh giá kết quả hoạt động thông tin và tài liệu nhận được theo tiêu chuẩn sau:
- Tính phù hợp
- Tính chính xác
- Tiêu chuẩn phù hợp về ngữ nghĩa
Thông qua mối liên hệ ngược này người đọc người dùng tin có thể diễn đạt nhu cầu của mình một cách chính xác, rõ ràng hơn
Trên thực tế qua việc khảo cứu và phân tích những năng lực đảm bảo thông tin ở các cơ quan hiện nay có thể có một số tình trạng sau:
1 Nguồn lực thông tin nằm ngoài nhu cầu thông tin thực tế của cơ quan Việc đầu tư cho hoạt động thông tin liên lạc mất định hướng
2 Một phần nguồn lực thông tin đáp ứng một phần nhu cầu thông tin thực tế Đây là tình hình thông tin rất thực đối với phần đông cơ quan thông tin hiện nay