THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM VỚI CÔNG TÁC LƯU CHIỂU XUẤT BẢN PHẨM 1.1 Khái quát về Thư viện Quốc Gia Việt Nam 1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Địa chỉ: Số 31 - Tràng Thi - Hoàn K
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
- -
LÊ THỊ THU HƯƠNG
CÔNG TÁC LƯU CHIỂU TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
- -
LÊ THỊ THU HƯƠNG
CÔNG TÁC LƯU CHIỂU TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Giáo viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Thúy Hạnh
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học : QH - 2009 - X
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thông tin – Thư viện đã dạy dỗ, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt 4 năm học tập, nghiên cứu tại Trường Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Nguyễn Thị Thúy Hạnh – người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này
tại Thư viện Quốc gia Việt Nam đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi cho
em trong suốt quá trình hoàn thành Khóa luận
còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi nhiều thiếu sót, rất mong quý thầy cô
và các bạn đóng góp ý kiến để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Xin chân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2013
Sinh viên
Lê Thị Thu Hương
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
Lời nói đầu…… ……… ……… ………… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… … 1
2 Mục đích, đối tượng và phương pháp nghiên cứu……… ………… ….2
2.1 Mục đích nghiên cứu……… ……… ……2
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… ……….….…2
2.3 Phương pháp nghiên cứu……… ……….… 2
2.4 Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn… ……… ……… ……2
2.5 Cấu trúc của khóa luận …… ………….……… …… 2
Chương 1 Thư viện Quốc gia Việt Nam với công tác lưu chiểu xuất bản phẩm 1.1 Khái quát về Thư viện Quốc gia Việt Nam……… …… ….4
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển……… …… ……4
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Thư viện Quốc gia Việt Nam…….…6
1.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Thư viện Quốc gia Việt Nam… … 7
1.1.4 Nguồn lục thông tin tại Thư viện Quốc gia Việt Nam ………….… …… …7
1.1.5 Cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin tại Thư viện Quốc gia Việt Nam ……… ……… ….12
1.1.6 Hình thức và phương thức phục vụ độc giả tại Thư viện Quốc gia Việt Nam ……… ……… ….13
1.2 Những vấn đề về lý luận và cơ sở pháp lý của công tác lưu chiểu xuất bản phẩm……… ……… 14
1.2.1 Lịch sử hình thành và các văn bản pháp lý về công tác lưu chiểu… … … 14
1.2.2 Nội dung công tác lưu chiểu ……….… 20
1.2.3 Ý nghĩa của công tác lưu chiểu……… ………… 22
Chương 2 Thực trạng công tác lưu chiểu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam 2.1 Chức năng, nhiệm vụ và nhân sự của phòng lưu chiểu……….…… 25
2.1.1 Chức năng và nhiệm vụ……… ……… ………… …25
2.1.2 Nhân sự của phòng lưu chiểu……… ……… … 25
2.2 Thu thập và xử lý xuất bản phẩm lưu chiểu ……… …… … 28
Trang 62.2.1 Xử lý kỹ thuật đối với sách lưu chiểu ……… ……… …………30
2.2.2 Xử lý kỹ thuật báo, tạp chí lưu chiểu ……… ……….35
2.2.3 Xử lý kỹ thuật các ấn phẩm lưu chiểu khác……… ……… ……42
2.3 Biên soạn và xuất bản Thư mục Quốc gia ……… …… ……… ….45
2.4 Công tác tổ chức và bảo quản tài liệu thuộc kho lưu chiểu Thư viện Quốc gia Việt Nam ……… ……… ….50
Chương 3 Nhận xét, kiến nghị và một số giải pháp nhằm nâng cao công tác lưu chiểu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam 3.1 Nhận xét ……… ……….……… …55
3.1.1 Thành tựu……… ……… …55
3.1.2 Nhược điểm ……… ……… …56
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lưu chiểu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam ……… ……… ……… 57
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với công tác thu nhận xuất bản phẩm lưu chiểu… ….57
3.2.2 Nhóm giải pháp về xử lý kỹ thuật , biên soạn TMQG…… ……… …60
3.2.3 Một số giải pháp khác cho công tác bảo quản lưu chiểu……… ……… ….61
KẾT LUẬN ……… ……… ….65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đã làm khối lượng thông tin gia tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây Trong đó, các loại hình tài liệu nói chung và các ấn phẩm văn hóa nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của con người
một đất nước trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật … chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc thu nhận, bảo quản lâu dài các giá trị văn hóa cho các thế hệ mai sau nghiên cứu, học tập kế thừa những cái hay, cái đẹp, tinh túy từ sách vở, báo chí lưu truyền lại
xây dựng bộ tàng trữ xuất bản phẩm dân tộc để truyền lại cho các thế hệ mai sau; cơ
sở tiến hành thống kê toàn bộ xuất bản phẩm của đất nước, biên soạn thư mục quốc gia, cung cấp thông tin kịp thời về các sản phẩm trí tuệ của dân tộc, phản ánh bức tranh toàn cảnh về tình hình xuất bản phẩm của đất nước giúp cho các thư viện bổ sung tài liệu được đầy đủ, phù hợp hơn cũng như tạo cơ sở để trao đổi thông tin, tài liệu với các nước khác
Nhà nước giao cho thư viện Quốc gia Việt Nam: Thư viện có nhiệm vụ thu nhận, tàng trữ đầy đủ, bảo quản lâu dài toàn bộ xuất bản phẩm của đất nước Thư viện chính là trung tâm đầu não của hệ thống thư viện trong cả nước, nơi cung cấp tài liệu, tri thức phong phú nhất, có thể đáp ứng nhu cầu của hầu hết người dùng tin, tiêu biểu cho nền văn hóa dân tộc Việt Nam Công tác này được thực hiện thông qua chế độ lưu chiểu với bề dày lịch sử gần một thế kỷ, bắt đầu từ Nghị định năm
1922 do toàn quyền Pháp ở Đông Dương ban hành luật lưu chiểu yêu cầu các nhà xuất bản (sách, báo, tạp chí… ) phải nộp về Thư viện các xuất bản văn hóa phẩm phục vụ cho mục đích cai quản và kiểm soát thông tin trên tất cả các lĩnh vực kinh
tế xã hội trong nước nói riêng và khu vực Đông Dương nói chung Sau đó các nước trên thế giới cũng lần lượt ban hành luật về lưu chiểu xuất bản phẩm để quản lý hoạt động xuất bản nước mình
Trang 8Mặc dù trong thời gian hoạt động thư viện đạt được rất nhiều thành tựu, tuy nhiên so với yêu cầu hiện nay của xã hội công tác lưu chiểu của Thư viện Quốc gia Việt Nam vẫn còn gặp nhiều hạn chế cần được khắc phục để hoàn thiện hơn Xuất phát từ tầm quan trọng của việc tàng trữ đời đời xuất bản phẩm dân tộc, để đi sâu
nghiên cứu công tác lưu chiểu ấn phẩm tại TVQGVN, tôi chọn đề tài “Công tác lưu
chiểu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam- Thực trạng và giải pháp” làm đề tài Khóa
luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2 1 Mục đích nghiên cứu
thấy được những ưu điểm và những mặt còn hạn chế trong công tác lưu chiểu, để đưa ra những phương hướng và giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả lưu chiểu xuất bản phẩm và phục vụ thông tin
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát thực tế
2.4 Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn
- Phản ánh một cách khách quan về thực trạng hoạt động công tác lưu chiểu tài liệu tại TVQGVN
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác lưu chiểu tại Thư viện
2.5 Cấu trúc của khóa luận
sau:
Trang 9Chương 1 Khái quát về Thư viện Quốc gia Việt Nam với công tác lưu chiểu xuất bản phẩm
Chương 2 Thực trạng công tác lưu chiểu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
Chương 3 Nhận xét, kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lưu chiểu xuất bản phẩm tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1 THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM VỚI CÔNG TÁC LƯU CHIỂU XUẤT BẢN PHẨM
1.1 Khái quát về Thư viện Quốc Gia Việt Nam
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Địa chỉ: Số 31 - Tràng Thi - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thư viện Quốc gia Việt Nam (tên giao dịch quốc tế: National Library of
thuộc Bộ Văn Hóa – Thông tin có kho sách đầy đủ nhất trong toàn bộ hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam Thư viện Quốc gia là một trong những thư viện có lịch
sử phát triển lâu năm nhất ở nước ta
gọi là thư viện Trung Ương được thành lập theo Nghị định ngày 29/11/1917 của toàn quyền Pháp Sau một thời gian chuẩn bị, thư viện mở cửa phục vụ bạn đọc vào ngày 1/9/1919 Lúc này kho sách của thư viện chỉ có 5000 cuốn được tập hợp từ các giáo đoàn ở Bắc Kỳ, báo chí chính thống của chủ nghĩa thực dân chiếm vị trí chủ yếu, chỉ một ít báo chí bằng tiếng Việt phần lớn là công cụ của thực dân Pháp và tay sai
Trang 11Năm 1935, Thư viện được toàn quyền Pháp cho phép mang tên Pie-Pako Ngày 20/10/1945 Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ra quyết định đổi tên thành Quốc gia Thư viện Năm 1953 do Thư viện sát nhập vào Viện Đại học nên
thì vốn tài liệu chỉ có khoảng 8-9 vạn bản, trang thiết bị, điều kiện hoạt động nghèo nàn, khó khăn số lượng bạn đọc hạn chế Năm 1957 Thư viện chính thức mang tên Thư viện Quốc gia Việt Nam theo quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ Phạm Văn Đồng ký
Cũng từ đó Thư viện Quốc gia đã trở thành một cơ quan ngang Cục, Viện , Vụ trực thuộc Bộ Văn Hóa – Thông tin
Là thư viện lớn nhất của cả nước, Thư viện Quốc gia lập quan hệ hợp tác và trao đổi sách báo, tài liệu với hàng trăm thư viện, cơ quan tổ chức của nhiều nước trên thế giới
mang tính nghề nghiệp với nhiều thư viện Quốc gia các nước khác như cử cán bộ sang học tập, tham gia các thư viện của các nước có trình độ tiên tiến (Uc, Pháp….) đồng thời Thư viện cũng tham gia hoạt động của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như: Hiệp hội thư viện quốc tế (IFLA), Hiệp hội Thư viện Quốc gia đã mời một số chuyên gia nước ngoài vào hội thảo và đào tạo cán bộ thư viện trong nước
thư viện có nhiều thay đổi đáng kể Có thể nói đây chính là bước phát triển hoàn toàn mới Lý do có sự thay đổi đặc biệt này là TVQGVN được TVQG Ôtxtraylia tặng một máy vi tính và tổ chức 1 lớp học cho cán bộ thư viện sử dụng nó Nhờ có phương tiện này mà năm 1987 TVQG bắt đầu tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu khác Song song với việc tạo lập cơ sở dữ liệu, Thư viện Quốc gia cũng chuyển nhượng cơ sở dữ liệu sách việt, ngoại cho các thư viện tổng hợp các tỉnh
và hoàn thiện cơ cấu tổ chức của mình để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu cụ thể của từng giai đoạn lịch sử của đất nước Cho đến nay TVQG đã có những công trình nhất định cho sự phát triển kinh tế văn hóa khoa học của đất nước
Trang 12Những cống hiến đó được Đảng và Nhà nước ta ghi nhận và trao tặng huân huy chương Lao động
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
củng cố, tăng cường vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của Thư viện Quốc gia, ngày 9/10/1976 nghị định số 401 – TT ra đời và được Thủ Tướng Chính Phủ ký duyệt Theo nghị định này, TVQG là thư viện TW của nước CHXHCNVN; đồng thời là thư viện trọng điểm của hệ thống thư viện trực thuộc Bộ Văn Hóa – Thông tin Nghị định cũng đã quy định những nhiệm vụ, chức năng quyền hạn cho Thư viện Quốc gia như sau:
1 Xây dựng và bảo quản lâu dài kho tàng ấn phẩm dân tộc (và về dân tộc) bằng cách thu nhận lưu chiểu các xuất bản phẩm trong và ngoài nước theo tinh thần sắc lệnh số 18-SL ngày 31/1/1946 về lưu chiểu Thu nhận các bản sao luận án tiến sĩ và các phát minh sáng chế của người Việt Nam, sưu tầm bổ sung hoàn chỉnh ấn phẩm nước ngoài, bản viết tay của các danh nhân Việt Nam
2 Luân chuyển sách báo tài liệu của VN ở nước ngoài thông qua hệ thống thư viện của Bộ Văn Hóa – Thông tin để phục vụ nhân dân các địa phương
3 Biên soạn thư mục thống kê, tổng thư mục VN, thư mục bậc hai và các thư mục chuyên đề …, tiến hành biên mục tập trung nhằm thống nhất các hệ thống trong các thư viện trước hết là hệ thống thư viện thuộc Bộ Văn Hóa – Thông tin công tác biên mục sách xuất bản trong nước
4 Hướng dẫn nghiệp vụ cho các hệ thống thư viện, trước hết là hệ thống thư viện thuộc Bộ Văn Hóa – Thông tin tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thư viện, xây dựng khoa học thư viện học, thư mục học Việt Nam
5 Cùng các thư viện lớn phối hợp một số hoạt động thư viện như biên soạn mục lục liên hợp, bổ sung sách báo nước ngoài, trao đổi và cho mượn giữa các thư viện
6 Trao đổi sách báo và trao đổi thư mục với nước ngoài, tổ chức mượn sách báo với nước ngoài nhằm phục vụ công tác nghiên cứu trong nước và giới thiệu văn hóa
VN ra nước ngoài
7 Thực hiện các thông tư khoa học về văn hóa nghệ thuật ngoài ra, TVQG là thư viện trung tâm của cả nước nên ngoài những chức năng nhiệm vụ trên theo điều 17
Trang 13Pháp lệnh Thư viện được UB Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 28/12/2000 thì TVQGVN có một số chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đặc thù sau:
- Khai thác các nguồn tài liệu trong nước và nước ngoài để đáp ứng nhu cầu người đọc
- Thu nhận các xuất bản phẩm lưu chiểu trong nước theo quy định xây dựng bảo quản lâu dài kho tàng xuất bản phẩm dân tộc, biên soạn, xuất bản thư mục Quốc gia và tổng thư mục VN
- Tổ chức phục vụ các đối tượng bạn đọc theo quy chế của thư viện
- Hợp tác trao đổi tài liệu trong nước và nước ngoài
- Nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực thông tin thư viện
- Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm công tác thông tin thư viện hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ thư viện theo sự phân công của Bộ Văn Hóa – Thông tin
1.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
thư viện trong đó có khoảng 20% số cán bộ trình độ trên đại học và có 80% là trình
độ đại học……
2 – Phòng lưu chiểu
3 – Phòng bổ sung trao đổi quốc tế
5 – Phòng đọc
6 – Phòng báo tạp chí
7 – Phòng thông tin tra cứu
10 – Phòng bảo quản và tu sửa tài liệu
1.1.4 Nguồn lực thông tin tại Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
Vốn tài liệu:
Trang 14 Sách: 1.500.000 đơn vị (hàng năm tăng từ 100-120 nghìn bản sách)
Sách Lưu chiểu : Được thành lập từ tháng 10 năm 1954 Đến nay kho lưu chiểu
đã có gần 200.000 tên với khoảng 300.000 bản và tăng dần theo mức độ tăng trưởng của ngành xuất bản nước ta Kho Lưu chiểu được lưu trữ riêng, được bảo quản với điều kiện tốt và an toàn nhằm chuyển giao cho các thế hệ mai sau như là một phần
di sản văn hoá thành văn của dân tộc Việt Nam
Báo, tạp chí: hơn 9.000 tên báo, tạp chí trong nước và nước ngoài
Sách, báo, tạp chí xuất bản về Đông Dương trước 1954: với hơn 67 nghìn
bản và 1.700 tên báo, tạp chí Đây là những tài liệu rất quý để nghiên cứu về Đông Dương và Việt Nam
Sách Hán – Nôm: có hơn 5.000 tên, trong đó có những cuốn sách có tuổi thọ từ
thế kỷ XV – XVI
Kho Luận án tiến sĩ: của công dân Việt Nam bảo vệ trong và ngoài nước và
của công dân nước ngoài bảo vệ tại Việt Nam gồm hơn 16.000 bản Hàng năm trung bình kho này tăng từ 700 đến 900 bản
Sách kháng chiến: 3.996 tên sách của Việt Nam được xuất bản trong các vùng
giải phóng thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được thư viện sưu tầm trong nhiều năm sau ngày giải phóng Thủ đô
đồ, hàng ngàn tên sách của nước ngoài viết về Việt Nam, của người Việt Nam viết
và xuất bản ở nước ngoài
Tài liệu số hóa toàn văn: Từ năm 2003, TVQGVN đã tiến hành số hóa tài liệu
đến nay đã số hóa được gần 2 triệu trang tài liệu, trong đó phần lớn là kho quý hiếm của thư viện như : Luận án Tiến sĩ, Hán Nôm, Đông Dương, sách tiếng Anh viết về Việt Nam
Microfilm: Đặc biệt TVQGVN có 10.000 tên sách xuất bản ở Việt Nam trước năm 1954 do TVQG Pháp trao tặng dưới dạng Microfiche
Nguồn tài liệu số hóa toàn văn
năng tiếp tục gia tăng mạnh mẽ trong thời gian tới với những dự án số hóa lớn sắp được triển khai, cùng với sự liên kết hợp tác với các nhà xuất bản
Trang 15Luận án Tiến sĩ: Bộ sưu tập Luận án tiến sĩ bao gồm hơn 30.000 bản toàn văn và
tóm tắt, đây là bộ sưu tập luận án tiến sĩ của người Việt Nam được bảo vệ trong hoặc ngoài nước, là kho tài liệu quý và đặc biệt của TVQGVN Đến năm 2010, TVQGVN đã số hóa và đưa ra phục vụ được khoảng 1.500.000 trang (tương đương với 80% số luận án hiện có tại thư viện) Một điểm thuận lợi của TVQGVN hiện nay là theo quy định của nhà nước thì tác giả luận án ngoài việc nộp lưu chiểu bản
in còn nộp cả bản điện tử, đây là một trong những nguồn số hóa quan trọng được cập nhật thường xuyên
Sách Đông Dương: Đây là kho tư liệu lịch sử quý hiếm, hiện TVQGVN đang lưu
trữ 67.000 bản sách từ trước thế kỷ 17 đến năm 1954 gồm nhiều sách có giá trị về lịch sử, văn hóa, địa lý của toàn bộ Đông Dương Nhằm bảo quản các tài liệu Pháp ngữ cổ quý giá - có giá trị, tránh hư hại do thời gian, đồng thời để các nhà nghiên cứu và độc giả có thể tìm kiếm, tra cứu những tài liệu trên dễ dàng hơn, TVQGVN kết hợp với Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam và Bộ Ngoại giao Pháp cùng một số thư viện của Việt Nam đã phối hợp thực hiện chương trình “Số hóa kho tài liệu Pháp ngữ cổ tại Việt Nam” (dự án VALEASE)
Sách Hán Nôm: Kho Hán Nôm là kho sách cổ về chữ Nôm lớn tại Việt Nam, bao
gồm trên 5.200 bản sách được làm hoàn toàn thủ công, với chất liệu giấy dó, và toàn bộ là bản viết tay bằng chữ Nôm – một chữ cổ của Việt Nam Đây là kho tư liệu cực kỳ quý mà thư viện đang lưu trữ, phục vụ Để bảo quản lâu dài, và phổ biến rộng rãi kiến thức văn hóa, lịch sử, địa lý, văn học cổ, hạn chế sử dụng bản gốc, TVQGVN đang phối hợp với Hội bảo vệ Di sản Hán Nôm số hóa toàn bộ kho sách này
Hiện tại đã số hóa và đưa vào phục vụ trực tuyến được trên 192.000 trang (khoảng 1.258 bản) tại địa chỉ: http://nom.nlv.gov.vn Đây là CSDL toàn văn trực tuyến, có giao diện bằng 2 ngôn ngữ Tiếng Anh và Tiếng Việt
Sách tiếng Anh viết về Việt Nam: Để giới thiệu với bạn bè trên thế giới về đất nước
con người Việt Nam Dự án tạo lập nguồn số hóa, chia sẻ thông tin của Hiệp hội Thư viện các nước Đông Nam Á (CONSAL) với chương trình COCI, TVQGVN
Trang 16lựa chọn và số hóa 338 cuốn sách tiếng Anh viết về Việt Nam, tương đương 92.520 trang
Sách, bản đồ về Hà Nội: Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội,
TVQGVN phối hợp với nhà xuất bản Hà Nội tiến hành xây dựng CSDL toàn văn tài liệu về Thăng Long – Hà Nội, hàng ngàn tài liệu đã được số hóa phục vụ cho công tác tuyên truyền, giới thiệu về Thăng Long – Hà Nội
CSDL trực tuyến ProQuest: http://www.il.proquest.com/pqdweb
ProQuest là một cơ sở dữ liệu điện tử do nhà xuất bản ProQuest xây dựng với gần 30.000 luận văn toàn văn, hơn 44.000 hồ sơ doanh nghiệp (Hoover’s Company Records), hơn 3.000 báo cáo công nghiệp (Snapshots Series), hơn 11.250 tạp chí (8.400 tạp chí toàn văn, 479 báo toàn văn) và một số tài liệu không phải là xuất bản phẩm định kỳ như báo cáo của OxResearch và EIU về
252 quốc gia và khu vực; hơn 60 nguồn học liệu tham khảo gồm Brookings Paper, OEF, Career Guide, Occupational Outlook Handbook với chủ đề chính gồm 160 chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau; ProQuest được hỗ trợ nhiều thứ tiếng khác nhau: Anh Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Nhật… chưa hỗ trợ tiếng Việt
CSDL trực tuyến Keesings: http://www.keesings.com
CSDL Keesings, bao gồm hơn 95.000 bài báo, là CSDL tập hợp toàn diện, chính xác và súc tích tất cả các bài báo trên thế giới về chính trị, kinh tế và xã hội, các sự kiện trên toàn thế giới từ năm 1931 – đến nay và được xuất bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Hà Lan Đây là CSDL được cập nhật hàng ngày các sự kiện trên toàn thế giới như: bầu cử, chiến tranh, các hiệp ước, các chính sách ngoại giao, hợp tác quốc tế…
CSDL điện tử Wilson
Trang 17CSDL, bao gồm 10 chủ đề cơ bản như: Khoa học Thông tin - Thư viện, Khoa học kĩ thuật ứng dụng, Nghệ thuật, Khoa học xã hội, Giáo dục, Nhân chủng học Đây là một hệ CSDL đa cấu trúc cung cấp cho người
sử dụng nội dung hoàn chỉnh về các chỉ số, bản tóm tắt và đầy đủ các tài liệu, văn bản Đây là CSDL trên đĩa CD-ROM được thư viện mua và cài đặt trong một máy chủ đặt tại phòng đọc Đa Phương tiện, để truy cập vào CSDL này, bạn đọc phải đọc trong mạng LAN thư viện và không thể truy cập trực tuyến
CSDL Tạp chí khoa học Việt Nam Trực tuyến (Vietnam Journals VJOL)
tạp chí khoa học xuất bản tại Việt Nam với mục tiêu giúp cho độc giả nghiên cứu tiếp cận dễ dàng hơn với tri thức khoa học xuất bản tại Việt Nam và giúp thế giới
biết đến nhiều hơn về một nền học thuật của Việt Nam CSDL này được Mạng Quốc tế về Ấn phẩm Khoa học (INASP) khởi xướng năm 2006 với sự tham gia của các cơ quan thông tin thư viện đầu ngành của Việt Nam: Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ thuộc Viện KH & CN Việt Nam, Viện Thông tin Khoa học Xã hội thuộc Viện KHXH Việt Nam và Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học Công nghệ thuộc Viện KH & CN Việt Nam., bạn đọc của thư viện có thể truy cập
đến CSDL này qua địa chỉ: www.vjol.info
Bộ sưu tập băng, đĩa CD-ROM, DVD
năm gần đây, hơn 2068 tên tài liệu (với nhiều lĩnh vực: Âm nhạc, Tài chính kế toán, Kinh tế, Tin học, Ngôn ngữ, Địa lý, Lịch sử, Giáo dục )
tuyến trên website của thư viện như: Thư mục Quốc gia Tháng - Năm, tài liệu đào
Trang 18tạo cuả Quỹ SIDA, các file ISO dữ liệu thư mục hàng tháng của TVQGVN chia sẻ cho các thư viện bạn
1.1.5 Cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin tại thƣ viện Quốc gia Việt Nam
* Cơ sở vật chất:
bộ nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu xã hội như: Các phòng phục vụ bạn đọc, phòng làm việc cán bộ, cảnh quan, kho tàng khang trang sạch, đẹp… hiện tại hạ tầng cơ sở đang được khai thác khá hiệu quả
* Hạ tầng công nghệ thông tin
án nâng cao năng lực hoạt động thư viện như: “Xây dựng hệ thống thông tin thư
viện điện tử/thư viện số tại TVQGVN và Thư viện 61 tỉnh thành phố” (2003); Nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin thư viện điện tử, thư viện số tại TVQGVN và hệ thống Thư viện công cộng (2005); Mở rộng và nâng cấp hệ thống thư viện điện tử/thư viện số tại TVQGVN và hệ thống TVCC (2006); Tăng cường năng lực tự động hóa tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (2007, 2009), bao gồm:
Trang 19 15 máy chủ cấu hình cao, được cài đặt các phần mềm thực hiện các chức năng: Quản trị thư viện điện tử ILIB, thư viện số DLIB, bộ sưu tập sách Hán Nôm - NLVNPF, lưu trữ thông tin, quản trị website, quản lý thư điện tử, quản lý truy cập Internet/Intranet…
và văn phòng, được nối mạng Internet thông rộng, phục vụ cho công tác xử lý tài liệu của đơn vị Trong đó có: 30 máy phục vụ cho phòng Đa phương tiện, 20 máy phục vụ cho phòng Đào tạo, 32 máy tại sảnh tra cứu tập trung cho bạn đọc tra cứu tài liệu thư viện, số lượng máy còn lại đều được phục vụ cho các phòng ban trong thư viện xử lý tài liệu và các mục đích quản lý khác
1.1.6 Hình thức và phương thức phục vụ độc giả tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
* Phương thức phục vụ tại Thư viện
các phòng đọc sách tổng hợp, phòng đọc báo tạp chí, phòng nghiên cứu đặc biệt, hình thức phục vụ theo phiếu yêu cầu của độc giả Ngoài phục vụ tại chỗ thư viện còn cho mượn về nhà đối với các nhà lãnh đạo cấp cao công tác tại Hà Nội trong trường hợp cần thiết
Hình thức phục vụ thông tin trực tiếp trao đổi thông tin tại thư viện cho người dùng tin qua Fax, qua thư điện tử, qua điện thoại
* Các hình thức cung cấp tài liệu chủ yếu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Cung cấp tài liệu cấp 1 như sách báo tạp chí…
- Cung cấp tài liệu chỉ dẫn
- Cung cấp nội dung tóm tắt tài liệu tại phòng tra cứu
TVQGVN còn tiến hành việc phục vụ thông tin tuyên truyền về tài liệu cho bạn đọc Ngoài ra Thư viện còn tổ chức các buổi nói chuyện về các đề tài thời sự, kinh
tế, chính trị, văn học, nghệ thuật
Trang 201.2 Những vấn đề về lý luận và cơ sở pháp lý của công tác lưu chiểu xuất bản phẩm
1.2.1 Lịch sử hình thành và các văn bản pháp lý về công tác lưu chiểu
* Lịch sử hình thành
Từ xa xưa khi xã hội loài người phát triển, con người đã biết lưu lại thông tin từ thế hệ này sang thế hệ sau bằng cách khắc chữ lên các vật mang tin khác nhau như: đất sét, mai rùa, lá cây, thẻ tre, mảnh gỗ, trên đá… và phát minh vĩ đại nhất là lưu lại chữ viết của mình trên chất liệu giấy dó của người Ấn Độ Trong lịch sử có ghi lại thời cổ đại các Hoàng đế rất coi trọng việc ghi chép: trong kho của Hoàng đế ngoài vàng bạc, châu báu còn có những tấm đất sét khắc chữ được xếp theo các môn ngành khoa học, ngoài ra nhà vua còn quan tâm tới việc thu nhận tìm kiếm sách vở làm phong phú thêm cho kho tàng của mình Tiêu biểu cho thời kỳ này là Thư viện Alecxandri của vua Ptoleme II được mệnh danh thư viện lớn nhất thời cổ đại
Trải qua các thời kỳ khác nhau, khi nền văn minh nhân loại ngày càng phát triển, tài liệu ngày càng đa dạng và phong phú, đòi hỏi việc xây dựng kho tàng văn hoá dân tộc lưu truyền lại cho thế hệ mai sau rất quan trọng, vì vậy chế độ lưu chiểu được định ra với mục đích đó
- Các văn bản hình thành luật lưu chiểu sớm nhất trên thế giới:
Năm 1957 Pháp là Quốc gia đầu tiên ban hành chế độ lưu chiểu để thu thập những xuất bản phẩm trên phạm vi lãnh thổ vào thư viện nhà Vua, Hoàng đế Frăngxoa Đệ Nhất đă ra Đạo luật về lưu chiểu trong đó quy định: Các nhà xuất bản phải nộp lưu chiểu 5 bản đối với mỗi tên sách (trong đó 1 bản nộp cho cơ quan thống kê xuất bản phẩm và 4 bản cho Thư viện Quốc gia) Ngoài ra các nhà in cũng phải nộp mỗi tên sách 2 bản cho thư viện Tỉnh Các thư viện Tỉnh giữ một bản còn
với các cơ quan không thực hiện đúng nghĩa vụ
đối với các nhà xuất bản phải nộp xuất bản phẩm về Thư viện Quốc gia Đức
Trang 21Năm 1783, Liên bang Nga cũng áp dụng chế độ lưu chiểu đối với xuất bản phẩm Lúc đầu, các cơ quan xuất bản phải nộp lưu chiểu 13 bản đối với mỗi tên sách, sau đó giảm xuống còn 11 bản
đầu đất nước, đă rất quan tâm đến việc gìn giữ di sản văn hoá dân tộc Trong Sắc lệnh Người đă ký về công tác thư viện có quy định xuất bản phẩm không chỉ nộp lưu chiêủ cho Thư viện Quốc gia mà còn đưa về các thư viện tỉnh nhằm xây dựng vốn tài liệu địa chí phục vụ nghiên cứu và phát triển kinh tế, xă hội ở địa phương
Có thể thấy trên thế giới, chế độ lưu chiểu tài liệu ra đời khá sớm Lưu chiểu ra đời giúp Thư viện Quốc gia thu thập đầy đủ xuất bản phẩm văn hóa của từng địa phương, trên phạm vi lãnh thổ đất nước Một xã hội phát triển phải biết giữ gìn những tinh hoa văn hóa dân tộc, bởi trong các tài liệu đó là thành quả đúc kết của cả một quá trình lao động lâu dài gian khổ do con người sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ mai sau học tập làm theo
giả, một hay nhiều bản của một ấn phẩm cần nộp cho cơ quan chuyên về bản quyền tác giả như là sở nạp bản (sổ lưu chiểu) hoặc nộp cho những thư viện được chỉ định
gửi đến cơ quan phụ trách về bản quyền hay cơ quan đứng ra xuất bản bắt buộc phải nộp cho các cơ quan quan lý xuất bản, các thư viện lớn, được quy định chặt chẽ bằng các văn bản pháp luật của nhà nước
tiền nhằm thống kê toàn bộ xuất bản phẩm của đất nước, Biên soạn thư mục Quốc gia, xây dựng bảo quản lâu dài kho tàng thư tịch văn hóa dân tộc
Điều 13 của nghị định 79/CP đề cập đến chế độ nộp lưu chiểu, ghi rõ:
+ Nộp lưu chiểu cho các cơ quan quản lý xuất bản: Bộ văn hóa thông tin và Sở văn hóa thông tin Bộ văn hóa thông tin chịu trách nhiệm lưu chiểu, kiểm tra kịp thời
Trang 22nội dung xuất bản phẩm trong cả nước; Sở văn hóa thông tin chịu trách nhiệm lưu chiểu và kiểm tra kịp thời nội dung xuất bản phẩm của NXB, của các tổ chức thuộc địa phương và các xuất bản phẩm in ở địa phương Mục đích kiểm tra nhằm đảm bảo trật tự pháp luật, quyền tự do ngôn luận và đảm bảo bản quyền tác giả
+ Nộp lưu chiểu cho Thư Viện Quốc gia Việt Nam: cơ sở tiến hành công tác thống
kê xuất bản phẩm Quốc gia, biên soạn thư mục Quốc gia và các bản thông tin thư mục chuyên đề, tàng trữ cho các thế hệ sau di sản văn hóa chữ viết của dân tộc, của đất nước và bổ sung hoàn chỉnh vốn tài liệu cho các thư viện đó
Nộp lưu chiểu theo phạm vi địa lý:
+ Lưu chiểu Trung ương: Các Nhà xuất bản thuộc Trung ương nộp xuất bản phẩm của mình về TVQGVN qua các hình thức khác nhau: qua đường bưu điện, trực tiếp mang đến…ví dụ: NXB Âm nhạc, NXB Thông Tin và Truyền Thông, NXB Chính Trị Quốc Gia, NXB Công An Nhân dân
+ Lưu chiểu Địa phương: các nhà xuất bản thuộc địa phương từng tỉnh, nộp lưu chiểu về Thư viện Tỉnh mình, thư viện tỉnh có trách nhiệm lưu trữ và nộp về cho Thư viện Quốc gia đúng số bản và thời gian quy định Ví dụ: NXB Đà Nẵng, NXB Đồng Nai, NXB Hà Nội, NXB Hải Phòng
+ Lưu chiểu nội bộ: các trường đại học ra quyết định lưu chiểu các xuất bản phẩm công trình nghiên cứu của giảng viên, sinh viên của trường tại thư viện trường Ví dụ: Trường ĐHKH Xã hội và Nhân văn ra quyết định nộp lưu chiểu bản nghiên cứu khoa học của giảng viên, sinh viên đạt giải về Thư viện Trường để bảo quản và phục vụ NDT nghiên cứu sử dụng
sử nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau:
nộp lưu chiểu, song cha ông ta đã rất coi trọng việc gìn giữ những bản thư tịch cổ Các nhà vua cũng đã nhiều lần hạ chiếu sưu tầm sách vở về thư viện Hoàng gia Đặc biệt thời Vua Lê Thánh Tông (thời Lê) và Vua Minh Mạng (thời Nguyễn) đã ra các chiếu, dụ sưu tầm sách vở trong nhân dân để lưu trữ lâu dài cho đời sau Phần
Trang 23lớn những sách vở Hán Nôm chúng ta còn giữ được làm quốc bảo ngày nay, phần lớn cũng là nhờ chủ trương sưu tầm sách cũ của vua Minh Mạng
- Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược
điểm chống Pháp và bọn tay sai cường quyền cũng dần xuất hiện Để tiến hành kiểm duyệt lượng tài liệu xuất bản, Pháp đã ban hành một số Đạo luật Sắc lệnh:
chiểu báo chí phục vụ cho việc kiểm soát và quản lý nội dung phục vụ đường lối thống trị của Pháp tại Việt Nam
xuất bản phẩm
lưu chiểu chính thức cho ấn phẩm Nghị định này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lưu chiểu văn hóa phẩm ở Việt Nam, lần đầu tiên có một văn bản pháp luật quy định khá chi tiết về các điều khoản
- Từ năm 1945 đến năm 1954:
thù trong giặc ngoài… đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn gian khổ Đảng và Nhà nước phải giải quyết nhiều việc quan trọng, tuy nhiên vấn đề lưu chiểu xuất bản phẩm vẫn được quan tâm xác đáng
19 điều quy định: Các loại văn hóa phẩm phải nộp lưu chiểu cho nhà nước, số lượng bản nộp và các hình phạt đối với các cơ quan không thực hiện đúng nghĩa vụ lưu chiểu
do Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Đỗ Đức Dục ký, gửi các Sở văn hóa trong đó giao cho các Sở văn hóa có trách nhiệm: theo dõi tình hình xuất bản ở Địa phương mình,
Trang 24kiểm tra đôn đốc chặt chẽ việc nộp lưu chiểu của các nhà in và nhà xuất bản, báo cáo hàng tháng cho cơ quan lưu chiểu văn hóa phẩm
nhận thấy cần thiết phải kiểm duyệt ấn phẩm phục vụ cho mục đích chính trị của mình nên chế độ ngụy quyền đã ban hành 3 văn bản có tính Pháp lệnh về chế độ lưu chiểu
bản do Tổng thống Ngụy Ngô Đình Diệm ban hành
Khánh ký, thay đổi một số điều của Sắc lệnh 207-GD ngày 10/10/1961
Việt Nam” do Tổng thống Ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ký
bản, nhà in, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chế độ nộp lưu chiểu xuất bản phẩm
Đức Qùy ký sửa đổi quy định nộp ấn loát phẩm đối với các nhà in
- Từ năm 1975 đến nay: sau khi đất nước thống nhất, luật lưu chiểu có các văn
bản sau:
+ Ngày 9/10/1976 Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Duy Trinh ký quyết định 401/ QĐ-TTg quy định về “ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Thư viện Quốc gia” quy định này gồm 5 điều, quy định Thư viện Quốc gia được thu thập ấn phẩm xuất bản trên lãnh thổ Quốc gia theo sắc lệnh số 18/SL về chế độ lưu chiểu văn hóa phẩm, kể cả luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ để xây dựng kho tàng văn hóa phẩm dân tộc
Trang 25+ Thông tư số 83/VHTT/VP ngày 29/6/1978 do Bộ trưởng Bộ VHTT Nguyễn Văn Hiếu ký, hướng dẫn thi hành các luật lệ về lưu chiểu văn hóa phẩm Thông tư nêu rõ tầm quan trọng, mục đích của việc nộp lưu chiểu văn hóa phẩm, quy định các cơ quan nhận lưu chiểu ( ở Trung Ương là Thư viện Quốc gia, ở địa phương là UBND tỉnh và các sở văn hóa) quy định các loại văn bản phẩm phải nộp, đối tượng nộp, thủ tục nộp lưu chiểu
617/TTLB do Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Vũ Khắc Liên và phó Viện trưởng Viện KHNV Nguyễn Văn Đạo ký, quy định và hướng dẫn chế độ xuất bản và lưu chiểu các loại lịch, trong đó quy định TVQG được nhận lưu chiểu mỗi tên lịch 5 bản
Chủ tich hội đồng Nhà nước Lê Đức Anh công bố đối với công tác xuất bản trên lãnh thổ Việt Nam Văn bản này gồm 6 chương 45 điều quy định về sự quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản
ký nhằm hướng dẫn thi hành luật xuất bản Đó là “trong thời hạn 7 ngày trước khi phát hành xuất bản phẩm nhà xuất bản hay tổ chức được phép xuất bản phải nộp 3 bản cho Bộ VHTT theo phương thức chuyển phát nhanh, 4 bản cho thư viện Quốc gia
2004 gồm 5 chương 46 điều trong đó điều 27 quy định cụ thể về việc lưu chiểu xuất bản phẩm cho TVQGVN, theo đó “ sau khi xuất bản phẩm được phát hành, nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản phải nộp 5 bản cho TVQGVN, trường hợp số lượng in dưới 300 bản thì nộp 2 bản
– BVHTT về quy chế lưu chiểu xuất bản phẩm bao gồm 5 chương và 13 điều quy định khá chi tiết về quy chế nộp lưu chiểu xuất bản phẩm cho cơ quan nhà nước nói chung, nhưng chưa có luật nộp lưu chiểu riêng cho TVQGVN
Trang 26+ Luật số 19/2012/QH13 của Quốc hội: Luật xuất bản bao gồm 6 chương, trong đó Điều 28 quy định: Tất cả xuất bản phẩm phải nộp lưu chiểu cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản chậm nhất là 10 ngày trước khi phát hành, Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày xuất bản phẩm được phát hành, nhà xuất bản, cơ quan,
tổ chức được phép xuất bản phải nộp ba bản cho Thư viện Quốc gia; trường hợp số lượng in dưới ba trăm bản thì nộp hai bản Và Điều 48 quy định việc nộp lưu chiểu xuất bản phẩm điện tử cho Thư viện Quốc gia Việt Nam: Thư viện Quốc gia Việt Nam lưu trữ và chỉ được sử dụng xuất bản phẩm điện tử vào việc phục vụ bạn đọc tại Thư viện Quốc gia Việt Nam theo quy định của pháp luật
19/2012/QH13 của Quốc hội, hai văn bản được ban hành trong khoảng thời gian gần đây nhất quy định khá chi tiết về các chế độ liên quan đến lưu chiểu văn hóa phẩm Tuy nhiên các văn bản này chỉ quy định chung chung về vấn đề nộp lưu chiểu vào các cơ quan nhà nước có nhiệm vụ thu nhận lưu chiểu, chưa đưa ra các quy định cụ thể nộp lưu chiểu về TVQGVN
giới nói chung và của Việt Nam nói riêng Luật lưu chiểu giúp cho việc gìn giữ và lưu truyền những tinh hoa văn hóa của con người từ thế hệ này sang thế hệ sau, đặc biệt chuyển từ hình thức tự phát thành một quy định có thể chế, luật lệ rõ rang, buộc các tổ chức đoàn thể có liên quan phải tuân theo
Nội dung công tác lưu chiểu
- Thu nhận xuất bản phẩm lưu chiểu: TVQGVN tiến hành thu nhận các xuất bản phẩm lưu chiểu trên toàn lãnh thổ Việt Nam dựa trên cơ sở pháp lý về luật lưu chiểu Toàn bộ sách, báo, tạp chí, các xuất bản phẩm khác được in ấn, xuất bản trên lãnh thổ Việt Nam, các luận án tiến sỹ của công dân Việt Nam bảo vệ trong và ngoài nước, người nước ngoài bảo vệ tại Việt Nam đều phải nộp lưu chiểu tại TVQGVN
- Xử lý các xuất bản phẩm lưu chiểu: với những xuất bản phẩm đã thu nhận công việc tiếp theo là xử lý các xuất bản phẩm lưu chiểu (số lưu chiểu, định ký hiệu kho,
Trang 27đóng dấu, in nhãn …… ) Xử lý xuất bản phẩm chia ra làm hai loại: xử lý sách và
xử lý báo tạp chí (bao gồm xử lý luận án), dựa trên các dữ liệu xử lý của cán bộ lưu chiểu mỗi tháng phòng tiến hành thống kê số lượng tài liệu lưu chiểu được nộp về TVQG để làm báo cáo định kỳ
- Biên soạn và xuất bản Thư mục Quốc gia: Các xuất bản phẩm sau khi được thu nhận sẽ qua khâu xử lý ( hình thức, nội dung) Trên cơ sở các dữ liệu xử lý đó cán
bộ thư viện sẽ sắp xếp, biên soạn và in thư mục Quốc gia Sản phẩm thư mục thường được công bố cập nhật trên trang web của thư viện ( nlv.gov.vn )
- Tổ chức, bảo quản kho tài liệu lưu chiểu: Sau khi được xử lý sơ bộ, một bản lưu chiểu sẽ được đưa sang phòng Phân loại – Biên mục để xử lý nội dung, sau đó nhận
về xếp lên giá, bảo quản đời đời ở Kho lưu chiểu, số xuất bản phẩm còn lại được
chia về các kho khác mang ra phục vụ NDT
Công tác lưu chiểu xuất bản phẩm muốn thực hiện tốt phụ thuộc rất nhiều yếu tố:
phẩm trên lãnh thổ cả nước, cũng như việc tổ chức bảo quản tài liệu lưu chiểu được tốt hơn
cần chấp hành nộp và thu nhận xuất bản phẩm theo đúng quy định của luật lưu chiểu, nâng cao ý thức và trách nhiệm bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng
và Nhà nước giao phó
vai trò hết sức quan trọng và cần thiết
+ Những yếu tố khách quan do đường xa, quên, … đặc biệt đối với ấn phẩm định
kỳ phải gửi thường xuyên (hàng ngày, hàng tuần …) ít nhiều gây khó khăn cho việc thu nhận lưu chiểu
bản lớn, đã phần nào ảnh hưởng đến kinh tế khi phải thực hiện chế độ lưu chiểu của các nhà xuất bản
Trang 28Trong công tác bảo quản một số yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tài liệu lưu chiểu trong kho:
sáng, bụi, vi sinh vật… nắng mưa thất thường, về mùa mưa nồm tài liệu dễ bị ẩm mốc, về mùa nắng tài liệu dễ bị ròn, rách
liệu chật chội; các giá kệ dùng để sắp xếp tài liệu trong kho chưa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật; hệ thống điều hòa không khí thường xuyên hỏng hóc chưa được thay mới, …
+ Sự phá hoại của vi sinh vật, côn trùng và động vật: nấm mốc, mối mọt, gián chuột, phát triển hủy hoại chất lượng tài liệu
động bởi phản ứng hóa học của các thành phần tạo nên nó và sự nhạy cảm với điều kiện môi trường luôn thay đổi nên chất lượng của tài liệu cũng dần bị hủy hoại + Yếu tố con người: cũng tác động ít nhiều tới tuổi thọ của vốn tài liệu Việc tuân thủ không đúng quy trình bảo quản của cán bộ làm công tác bảo quản là nguyên nhân gây hủy hoại và mất mát tài liệu Ngoài ra cán bộ làm công tác bảo quản còn thiếu kinh nghiệm và số lượng cán bộ quá ít
1.2.3 Ý nghĩa của công tác lưu chiểu
Đối với xã hội
nước về hoạt động xuất bản báo chí, tài liệu Nhằm thể hiện chức năng kiểm tra trước khi cho phép phát hành xuất bản phẩm Lưu chiểu văn hóa phẩm là cơ sở để thống kê tài liệu dân tộc, biên soạn các loại thư mục Quốc gia thông báo cho bạn đọc trong nước về số lượng tài liệu được xuất bản trong một tháng, một quý, một năm hay giúp bạn đọc có được nguồn thông tin quý giá phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình
Trang 29Xuất bản phẩm đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người, nó phản ánh đúng thực tế tình hình đất nước trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau Nhờ có chế độ lưu chiểu thu giữ toàn bộ xuất bản phẩm trên đất nước mà con người có thể khai thác sử dụng, tìm hiểu về văn hóa, cuộc sống và phong tục của các thế hệ trước, học tập những cái hay cái đẹp cha ông ta để lại, xây dựng nền văn hóa đậm
đà bản sắc dân tộc góp phần xây xã hội giàu mạnh hơn
TVQGVN đã cố gắng và nỗ lực thực hiện nhiệm vụ của mình Thư viện thành lập một phòng Lưu chiểu riêng chịu trách nhiệm thu nhận, xử lý và bảo quản xuất bản phẩm cả nước
CNTT vào việc tạo lập các sản phẩm thư mục và các cơ sở dữ liệu thư mục tra cứu trực tiếp trên website giúp người dùng tin truy cập thông tin nhanh hơn, chất lượng hơn và tiết kiệm được thời gian công sức Bảo tồn nguồn tài liệu quý giá mà không
sợ bị mai một mất mát, trao đổi nguồn thông tin trực tuyến với các thư viện nước ngoài
Đối với công tác thư viện
Thư viện quốc gia là nơi giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc, thực hiện nhiệm vụ thu thập, tàng trữ và bảo quản đời đời văn hóa phẩm tri thức của đất nước, kiểm tra tình hình xuất bản trong cả nước và quản lý sự nghiệp xuất bản cũng như kiểm soát được nội dung chủ đề xuất bản tuyên truyền cho các thế hệ mai sau và góp phần bảo
vệ quyền tác giả Nhờ thực hiện tốt các sắc lệnh về lưu chiểu và sự tận tụy với công tác bổ sung, xây dựng VTL cho nên đến nay TVQG đã có bộ sưu tập rất phong phú
truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu, giải trí cho mọi người dân Hàng năm thư viện mở cửa phục vụ hàng nghìn lượt bạn đọc đến với thư viện, tại đây bạn đọc có thể tìm thấy nguồn thông tin mà mình cần qua việc tra cứu Thư viện góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, giúp đất nước phát triển trên tất cả các lĩnh vực khoa học, công
Trang 30nghệ, kinh tế, văn hóa, xã hội đưa đất nước bước lên một kỷ nguyên mới một xã hội công nghiệp hóa hiện đại hóa
Công tác lưu chiểu có vai trò quan trọng trong việc thu thập tài liệu để xây dựng VTL Quốc gia Phòng lưu chiểu TVQGVN là nơi thu nhận, đăng ký, thống kê và tàng trữ tất cả các xuất bản phẩm trong nước, biên soạn các loại hình thư mục quốc gia, làm công tác thông tin thư mục phục vụ nghiên cứu và khai thác kho văn hóa dân tộc
Đối với văn hóa dân tộc
biết về phong tục đó không phải việc dễ dàng gì, nhờ thu thập xuất bản phẩm lưu truyền lại mà con người có thể khai thác, tìm hiểu về phong tục các dân tộc thiểu số vùng núi Thấy được nét đẹp văn hóa dân tộc các vùng miền khác nhau, thấy được
sự giàu mạnh phong phú, đa dạng của văn hóa Việt; tạo dựng tình yêu giữa con người, tình yêu tổ quốc, yêu đồng bào, xây dựng tình đoàn kết Cũng dựa trên tài liệu lưu trữ chúng ta thế hệ hôm nay biết được lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của ông cha, tạo dựng niềm tin và lòng tự hào dân tộc cho thế hệ hôm nay và mai sau
Đây cũng là nguồn tư liệu quý giá để các học giả, các nhà nghiên cứu tìm hiểu về đời sống, nét văn hóa của 54 dân tộc sinh sống trên địa bàn nước nhà, giúp Đảng và Nhà nước có những chính sách, biện pháp góp phần cải thiện đời sống cho những dân tộc thiểu số còn nghèo nàn và lạc hậu, nâng cao dân trí cho người dân, phòng chống bạo loạn, tuyên truyền chính sách của Đảng Nhà nước
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LƯU CHIỂU
TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
2.1 Chức năng nhiệm vụ và nhân sự của phòng lưu chiểu
2.1.1 Chức năng nhiệm vụ
nhiệm vụ thu nhận các xuất bản phẩm nộp lưu chiểu Phòng lưu chiểu là nơi thu nhận các xuất bản phẩm lưu chiểu được nộp về thư viện
Chức năng: Thu thập, bảo tồn và phát triển vốn tài liệu của dân tộc bằng việc theo
dõi, đôn đốc các nhà xuất bản, cơ quan xuất bản, cơ quan thông tấn báo chí, Vụ sau Đại học,… nộp đầy đủ các xuất bản phẩm, luận án tiến sĩ của người Việt Nam bảo
vệ trong nước và nước ngoài, của người nước ngoài bảo vệ tại Việt Nam trên phạm
vi cả nước
Nhiệm vụ:
chiểu; thu nhận luận án Tiến sĩ theo qui định của Nhà nước
hành sách, báo nhằm nắm vững kế hoạch xuất bản, số lượng xuất bản phẩm hàng năm, để tìm biện pháp thu nhận đầy đủ nhất về các xuất bản phẩm trong nước
- Tổ chức, sắp xếp, bảo quản và quản lý kho Lưu chiểu
- Thực hiện chế độ theo dõi, kiểm kê, đối chiếu số lượng ấn phẩm nộp lưu chiểu
công tác được phân công
2.1.2 Nhân sự của phòng lưu chiểu
Trang 32Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của phòng theo cơ cấu tổ chức mới, thì biên chế hiện nay của phòng lưu chiểu gồm 8 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 6 cán
- Viết số đăng ký cá biệt, số lưu chiểu
- Đóng dấu, dán nhãn và chia về các kho
mềm CDS/SIS
mục để xử lý nội dung
- Nhận sách về và sắp xếp sách lên kho
tiến hành làm TMQG tháng, sau đó chuyển file word cho phòng tin học giới thiệu lên trang Web thư viện phục vụ bạn đọc tra cứu thông tin Tập hợp tất cả các dữ liệu biên mục sách trong năm thống kê, sắp xếp hoàn thành bản TMQG năm đúng thời hạn 6 tháng, chuyển dữ liệu cho phòng tin học và nhà in để xuất bản TMQG năm
sách, ấn phẩm đặc biệt mà nhóm thu nhận
gọi điện hoặc gửi công văn đòi những bản thiếu mà các NXB chưa nộp đủ Báo cáo lên cấp trên
* Bộ phận thu nhận báo, tạp chí và luận án tiến sĩ: gồm 4 cán bộ
Trang 33- Một cán bộ trong tổ báo có nhiệm vụ mở hộp Thông tác xã để đưa báo, tạp chí vào phòng và phân phối kịp thời các bộ phận
tờ báo mới xuất hiện chưa có sẵn dữ liệu tại phòng báo, cán bộ phòng lưu chiểu có nhiệm vụ xử lý qua hình thức và nhập tên báo, số bản, NXB, và gửi sang phòng báo
bằng phần mềm CDS/ISIS
ILIB
- Sắp xếp toàn bộ báo, tạp chí, bản tin lên kho lưu chiểu
- Quản lý kho báo, tạp chí lưu chiểu
- Vệ sinh, làm mới kho
đòi
* Kế hoạch làm việc của phòng Lưu chiểu:
công tác lưu trữ và bảo vệ di sản Quốc gia Nhận thức rõ điều này, phòng Lưu chiểu TVQGVN luôn ý thức được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình, hoàn thành công việc trước thời hạn theo quy định Phòng lập ra kế hoạch cụ thể rõ ràng để hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc:
trong nước nộp về TVQG theo luật xuất bản và luật lưu chiểu quy định
và đủ số lượng bản mà phòng nhận được, việc phân công công việc giưã các thành viên phải bảo đảm cân đối
Trang 34- Đảm bảo tất cả các xuất bản phẩm đều được đóng dấu TVQG, ghi số lưu chiểu
và số đăng ký cá biệt, dán mã vạch ký hiệu cho sách theo đúng quy chuẩn
- Đảm bảo chu trình đường đi của tài liệu: đối với các xuất bản phẩm nộp về TVQGVN phòng lưu chiểu có thời hạn một tuần để tiến hành xử lý hình thức sau đó chuyển sang phòng Phân loại – biên mục xử lý nội dung
- Bố trí sắp xếp kho tàng hợp lý để lấy diện tích phát triển sách mới
mùi ….để bảo quản tài liệu lâu dài
trình lên các cấp lãnh đạo xem xét
nhiều thành công trong việc thu nhận lưu chiểu văn hóa phẩm: phòng thu nhận và
xử lý 76.979 bản sách, 1612 bộ luận án và 3145 bản ấn phẩm đặc biệt, tổng số tài liệu được phòng xử lý trên 81.736 bản Tất cả các xuất bản phẩm đều được phòng phân chia một cách khoa học, không bị lẫn lộn tạo thuận lợi cho việc xử lý dễ dàng thuận tiện hơn
2.2 Thu thập và xử lý xuất bản phẩm lưu chiểu
Có thể nói, việc xử lý xuất bản phẩm lưu chiểu là một công việc đòi hỏi độ chính xác cao vì chỉ cần một sơ xuất nhỏ, nếu số lưu chiểu không được liên tục, bị khuyết hay bị cách quãng sẽ gây ra nhầm lẫn trong khi nhập dữ liệu vào máy hoặc khó khăn cho các phòng khi thống kê sách hàng năm…
tên sách 5 bản (dưới 300 bản chỉ phải nộp 2 bản) Việc nộp lưu chiểu có thể trực tiếp mang đến hoặc gửi qua đường bưu điện
Trang 35Hiện nay, trong nước có 59 nhà xuất bản nộp lưu chiểu tại Thư viện Quốc gia, trong đó có 43 nhà xuất bản ở Trung ương và 16 nhà xuất bản địa phương
Truyền Thông, NXB Chính Trị Quốc Gia, NXB Công An Nhân dân, NXB Giao dục, NXB Giao thông vận tải, NXB Hội nhà văn, NXB Khoa học kỹ thuật, NXB Khoa học TNCN , NXB Khoa học xã hội, NXB Kim đồng, NXB Lao Động, NXB Lao Động Xã Hội, NXB Chĩnh Trị Hành Chính, NXB Mỹ Thuật, NXB Nông nghiệp, NXB Phụ Nữ, NXB Quân Đội Nhân Dân, NXB Sân Khấu, NXB Tài Chính, NXB Thanh Niên, NXB Thế Gioi, NXB Thể Dục Thể thao, NXB Thống Kê, NXB Thông Tấn, NXB Tôn Giao, NXB Tư Pháp, NXB Từ Điển Bách Khoa, NXB Tri Thức, NXB Văn Hóa Dân Tộc, NXB Văn Hóa Thông Tin, NXB Văn Học, NXB Xây Dựng, NXB Y Học, NXB Giao Thông Vận Tải, NXB Thời Đại, NXB Công Thương, NXB Dân Trí, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, NXB Đại Học Sư Phạm, NXB Đại Học Bách Khoa NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Hà Nội, NXB Hải Phòng, NXB Phương Đông, NXB Nghệ An, NXB Thanh Hóa, NXB TP Hồ Chí Minh, NXB Thuận Hóa, NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh, NXB Văn Hóa Sài Gòn, NXB Đại Học Thái Nguyên, NXB Hồng Đức, NXB Đại Học Huế, NXB Cần Thơ, NXB Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
ngoài ra còn một số các cơ quan xuất bản không thường xuyên như các Ban, Ngành, các Bộ, các Cục, Vụ, Viện, ……
khoa học xã hội, Cục văn hóa thông tin cơ sở……
dưới 300 bản chỉ phải nộp về TVQGVN 02 bản, ngoài ra cũng có nhà xuất bản cố tình trốn tránh không nộp hay chỉ nộp chiếu lệ 2 hoặc 3 bản, có nơi chỉ nộp 1 bản Các NXB ở phía Nam thông thường không gửi nộp lưu chiểu ngay sau khi phát hành mà thường để dồn hàng tháng, hàng quí thậm chí hàng năm mới nộp một lần
để tiết kiệm kinh phí vận chuyển Điều này gây khó khăn cho thư viện trong việc
Trang 36biên soạn Thư mục Quốc gia hàng tháng, hàng năm vì số lượng không được liên tục cập nhật gây khó khăn cho việc cập nhật thông tin phục vụ bạn đọc Để khắc phục tình trạng này cán bộ phòng lưu chiểu luôn theo dõi sát số lượng sách nộp lưu chiểu của các nhà xuất bản, nếu nộp thiếu sẽ gọi điện hoặc gửi giấy đòi số lượng bản thiếu
tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước bằng một hệ thống các văn bản pháp luật được ban hành, hiện nay các NXB đã tự giác trong việc nộp các xuất bản phẩm về TVQGVN Trong năm 2012 tỷ lệ sách xuất bản ở cấp TW nộp về TVQGVN là 13.027 tên chiếm tỷ lệ 83%, NXB Địa phương 2598 tên chiếm tỷ lệ16,5%, các cơ quan doanh nghiệp tổ chức khác 58 tên chiếm tỷ lệ 0,5%
2.2.1 Xử lý kỹ thuật đối với sách lưu chiểu:
+ Thu nhận sách lưu chiểu
+ Viết ký hiệu xếp kho (viết số đăng ký cá biệt, số lưu chiểu)
+ Đóng dấu TVQG trên trang thứ 17 và trang tên sách
+ Dán nhãn
+ Nhập thông tin xử lý vào máy tính, trên phần mềm CDS/ISIS
+ Chuyển sang phòng biên mục xử lý nội dung
Quy trình xử lý chi tiết như sau:
đây, sách sẽ được cán bộ viết ký hiệu xếp kho (số lưu chiểu, số đăng ký cá biệt) và dán nhãn, phân chia về các kho và nhập thông tin vào CSDL trên CDS/ISIS
hiệu và phân chia các kho khác nhau, sự khác biệt này cũng tùy vào khổ sách, sách khổ nhỏ có ký hiệu riêng, khổ to có ký hiệu riêng Các cuốn sách đều phải được