Đến nay, VinaREN kết nối 60 mạng thành viên, bao gồm hàng trăm Viện nghiên cứu, trường Đại học, Bệnh viện lớn tại 11 tỉnh và Thành phố trong cả nước tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng
Trang 1L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung Khóa luận do bản thân tự nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi, dưới sự hướng dẫn và chỉ bảo của giáo viên hướng dẫn là Thạc
sỹ Đồng Đức Hùng
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, bên cạnh sự nỗ lực không ngừng
cố gắng của bản thân, tôi đã luôn nhận được sự động viên và giúp đỡ nhiệt tình từ phía các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè Qua đây, tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành tới các thầy cô giáo và các học khoa Thông tin – Thư viện khóa
2007 – 2011
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Đồng Đức Hùng đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian thực hiện khóa luận này
Do còn hạn chế về kiến thức, thời gian cũng như các nguồn tài liệu tham khảo, khóa luận của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những đóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luận của tôi
có thể hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, Ngày 20/05/2011 Sinh viên
Lê Thị Thúy
Trang 3DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT
APAN Asia Pacific Advanced Network (Mạng thông tin
Châu Á – Thái Bình Dương)
NASATI National Agency for Science and Technology
Information (Cục Thông tin Khoa học Công nghệ và
Quốc gia)
NOC Network Operation Centre (Trung tâm vận hành mạng)
TEIN Trans – Eurasia Information Network (Mạng thông tin
liên châu lục Á- Âu)
VinaREN Vietnam Research and Education Network (Mạng
nghiên cứu và đào tạo Việt Nam)
VISTA Vietnam Information for Science and Technology
Advance (Mạng Thông tin Khoa học và Công nghệ
Việt Nam)
VNNOC Vietnam Network Operating Centre (Trung tâm vận
hành mạng Quốc gia)
Trang 4M ỤC LỤC
PH ẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 M ục đích của đề tài 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của khóa luận 9
6 C ấu trúc của Khóa luận 9
PH ẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: C ỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA V ỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH MẠNG VINAREN 10
1.1 C ục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia 10
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 10
1.1.2 Ch ức năng, nhiệm vụ 11
1.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 11
1.1.4 Nh ững dịch vụ thông tin cơ bản 13
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của mạng VinaREN 16
1.2.1 M ạng thông tin liên châu lục Á – Âu (TEIN) 16
1.2.2 M ạng thông tin liên châu lục Á – Âu giai đoạn 2 (TEIN 2) 16
1.2.3 M ạng thông tin liên châu lục Á – Âu giai đoạn 3 (TEIN 3) 17
1.2.4 M ạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (VINAREN) 18
CHƯƠNG 2: HẠ TẦNG MẠNG VÀ CÁC DỊCH VỤ CƠ BẢN CỦA VINAREN 25
2.1 H ạ tầng mạng và cơ sở kỹ thuật của VinaREN 25
2.1.1 H ạ tầng mạng của VinaREN 25
2.1.2 Cơ sở kỹ thuật 27
2.1.3 H ạ tầng viễn thông 29
Trang 52.1.4 Phân bố và sử dụng IP của VinaREN 30
2.1.5 Qu ản lý kỹ thuật VinaREN 31
2.2 Các dịch vụ cơ bản của VinaREN 33
2.2.1 D ịch vụ IP, định tuyến và tên miền 34
2.2.2 D ịch vụ IP Telephone trong VinaREN 36
2.2.3 D ịch vụ Video conference và truyền hình chất lượng cao (DVTS) 36
2.2.4 D ịch vụ e-learning 37
2.2.5 D ịch vụ tính toán lưới (Grid computing) 39
2.2.6 D ịch vụ y tế từ xa (Telemedicine) 40
2.2.7 D ịch vụ dự báo thời tiết và cảnh báo thiên tai 41
2.2.8 D ịch vụ truy cập các cơ sở dữ liệu trực tuyến 41
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG MẠNG VINAREN TẠI MỘT SỐ ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN VÀ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ 42
3.1 Ứng dụng mạng VinaREN tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghê Quốc gia 42
3.1.1 Quá trình triển khai mạng VinaREN tại Cục Thông tin Khoa h ọc và Công nghệ Quốc gia 42
3.1.2 Th ực trạng ứng dụng mạng VinaREN tại Cục Thông tin Khoa h ọc và Công nghệ Quốc gia 42
3.1.3 Nh ận xét, đánh giá 47
3.2 Ứng dụng mạng VinaREN tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 48 3.2.1 Quá trình triển khai mạng VinaREN tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 48
3.2.2 Th ực trạng ứng dụng mạng VinaREN/ TEIN 3 tại trường Đại h ọc Bách Khoa Hà Nội 50
3.2.3 Nh ận xét, đánh giá 51
Trang 63.3 Ứng dụng mạng VinaREN tại Trung tâm Dự báo khí tƣợng Thủy Văn Trung 52
3.3.1 Quá trình triển khai mạng VinaREN tại Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương 53 3.3.2 Th ực trạng ứng dụng VinaREN tại Trung tâm Dự báo khí tượng
Th ủy văn Trung ương 55 3.3.3 Nh ận xét, đánh giá 57
3.4 Nh ận xét, đánh giá và giải pháp về mạng nghiên cứu và đào tạo VinaREN 58
3.4.1 Ưu điểm 58 3.4.2 Nhược điểm 61 3.4.3 M ột số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động của Mạng nghiên
c ứu và đào tạo VinaREN 61
PH ẦN KẾT LUẬN 64 DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PH Ụ LỤC
Trang 7
PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI cuộc cách mạng Khoa học và Công nghệ (KH&CN) hiện đại tiếp tục có những tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời
sống xã hội KH&CN thực sự trở thành nguồn lực, động lực cho sự phát triển
và sự phồn vinh của mỗi quốc gia, việc xây dựng và phát triển hệ thống thông tin KH&CN là nhiệm vụ hàng đầu, là tiền đề cho sự phát triển hiện đại của đất nước
Đồng thời, nhu cầu kết nối để cập nhật, trao đổi và chia sẻ thông tin về KH&CN, về nghiên cứu đào tạo trở thành một nhu cầu tất yếu của mọi ngành,
mọi nghề trong xã hội Các Viện nghiên cứu, các Bệnh viện hay các trường Đại học đều muốn chủ động nắm giữ những thông tin mới nhất ở trong nước
và trên thế giới để phục vụ cho công tác nghiên cứu và đào tạo
Chính vì điều đó đã sớm đưa VinaREN (Mạng Nghiên cứu và Đào tạo
Việt Nam) đến với cộng đồng các nhà khoa học, các bệnh viện và các trung tâm nghiên cứu Đến nay, VinaREN kết nối 60 mạng thành viên, bao gồm hàng trăm Viện nghiên cứu, trường Đại học, Bệnh viện lớn tại 11 tỉnh và Thành phố trong cả nước tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam kết nối mạng tốc độ và hiệu năng cao với 45 triệu đồng nghiệp tại hơn 8.000 trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Thê giới
Tuy ra đời chưa lâu nhưng VinaREN đã kết nối các nhà nghiên cứu và đào tạo Việt Nam với cộng đồng 30 triệu nhà khoa học ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Châu Âu và các khu vực khác Với việc xây dựng và đưa VinaREN vào khai thác trên quy mô toàn quốc, Việt Nam có thể sánh vai với các quốc gia có hệ thống mạng tiên tiến và hiện đại trong lĩnh vực nghiên cứu
và đào tạo trên thế giới
Trang 8Nhằm tìm hiểu quá trình ra đời, phát triển và cơ sở hạ tầng của mạng Nghiên cứu và đào tạo (VinaREN) cũng như vai trò, ý nghĩa và ứng dựng của VinaREN tại một trung tâm cụ thể, tôi xin mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Tìm
hiểu Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam – VinaREN (Vietnam Research and Education Network)” làm đề tài khóa luận
Với đề tài này, tôi muốn tìm hiểu sâu về cách thức tổ chức, vận hành
hoạt động của mạng cũng như những ứng dụng của mạng mang lại hiệu quả ở
một số đơn vị thành viên Qua đó, giới thiệu một mạng nghiên cứu và đào tạo quy mô lớn nhất Việt Nam tới đông đảo bạn đọc ở các viện nghiên cứu, các
bênh viện và các trường đại học…
2 M ục đích của đề tài
- Giới thiệu chung về Mạng VinaREN (quá trình ra đời, sự phát triển,
hạ tầng cơ sở vật chất, các dịch vụ…);
- Tìm hiểu các ứng dụng hiệu quả của VinaREN ở các Viện nghiên
cứu, các Bệnh viện và các trường Đại học;
- Tìm hiểu ứng dụng của mạng VinaREN tại Cục Thông tin Khoa học
và Công nghệ Quốc gia, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Trung tâm Dự
báo khí tượng Thủy văn Trung ương
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam
(VinaREN) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian:
Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia Trung tâm Dự báo khí tượng Thủy văn Trung ương
Đại học Bách Khoa Hà Nội
Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia
+ Phạm vi về thời gian: Từ tháng 6/ 2006 – nay
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát thực tế
- Phỏng vấn
- Phân tích và tổng hợp tài liệu
- Trao đổi
5 Đóng góp của khóa luận
- Khóa luận giới thiệu Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam (VinaREN) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia
- Đánh giá hiệu quả ứng dụng thực tiễn của Mạng VinaREN tại Trung
tâm Dự báo khí tượng Thủy văn Trung ương, Đại học Bách Khoa Hà Nội,
Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia
- Khóa luận đưa ra một số nhận xét, đánh giá về Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam (VinaREN) Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm
hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt đông của mạng VinaREN
6 C ấu trúc của Khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Khóa luận bao gồm 3 phần chính sau:
Chương 1: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia với quá
trình hình thành Mạng VinaREN
Chương 2: Hạ tầng mạng và một số dịch vụ cơ bản của VinaREN Chương 3: Ứng dụng VinaREN tại một số đơn vị thành viên Nhận
xét, đánh giá và giải pháp
Trang 10PH ẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
C ỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA VỚI
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH MẠNG VINAREN 1.1 Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia( sau đây viết tắt là
Cục TT KH&CN QG) là đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ (sau đây
viết tắt là Bộ KH&CN), được thành lập trên cơ sở triển khai thực hiện Nghị định 28/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ KH&CN cũng như các Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 của Chính phủ về Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, Nghị định 30/2006/NĐ-CP ngày 29/03/2006 của Chính phủ về Thống kê khoa học và công nghệ
Cục TT KH&CN QG được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm
Thông tin KH&CN Quốc gia Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia được
thành lập ngày 24/09/1990 với tên gọi ban đầu là Trung tâm Thông tin – Tư
liệu KH&CN Quốc gia theo Quyết định số 487/TCCB của Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Nhà nước (nay là Bộ KH&CN) Trung tâm Thông tin – Tư liệu được thành lập trên cơ sở hợp nhất 2 đơn vị đuợc thành lập trước đó là : Thư
viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương (thành lập năm 1960) và Viện Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung ương (thành lập năm 1972)
Tên giao dịch quốc tế của Cục là National Agency for Science and Technology Information (viết tắt là NASATI)
Cục TT KH&CN QG thực hiện chức năng thông tin, phổ biến, tuyên truyền về KH&CN; tổ chức hoạt động và quản lý Chợ Công nghệ và thiết bị
Việt Nam; Thư viện trung tâm về KH&CN; Mạng thông tin KH&CN quốc
Trang 11gia; thực hiện đăng ký chính thức các tài liệu, kết quả thực hiện các chương trình đề tài, dự án nghiên cứu và phát triển, điều tra cơ bản cấp nhà nước và
Tuyên truyền thông tin KH&CN;
Tổ chức các Chợ Công nghệ và Thiết bị (Techmart);
Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thông tin thư viện;
Đại diện Việt Nam tham gia một số tổ chức hoặc mạng lưới thông tin thư viện quốc tế như IFLA, Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc tế (ICSTI),
Mạng lưới ISSN Quốc tế;
Phát triển mạng thông tin KH&CN (VISTA), Mạng Nghiên cứu và Đào
tạo Việt Nam (VinaREN)
1.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
Hiện nay, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia có đội ngũ cán bộ thông tin - thư viện có trình độ cao, có tính chuyên nghiệp với trên 160 cán bộ, trong
đó 72% số cán bộ có trình độ từ đại học trở lên, trong đó có 7 tiến sỹ (chiếm 4,37%), trên 20 thạc sỹ (chiếm trên 13 %)
Bộ máy lãnh đạo của Cục bao gồm: Cục trưởng và một số Cục phó
Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ KH&CN bổ nhiệm chịu trách nhiệm trước
Bộ trưởng Bộ KH&CN và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Cục Thông tin KH&CN
Trong cơ cấu tổ chức của Cục có 2 loại đơn vị:
- Các tổ chức quản lý Nhà nước
Trang 12- Các đơn vị sự nghiệp
Các tổ chức giúp Cục thực hiện chức năng quản lý nhà nước:
Văn phòng Phòng Quản lý thông tin và Thống kê Phòng Hợp tác quốc tế
Phòng Kế hoạch- Tài chính Các tổ chức giúp Cục thực hiện chức năng sự nghiệp
Thư viện Khoa học Công nghệ và Quốc gia Trung tâm Xử lý và Phân tích Thông tin Trung tâm Thông tin phát triển
Trung tâm Thống kê Khoa học và Công nghệ Trung tâm Giao dịch Thông tin Công nghệ Việt Nam Trung tâm Quản lý Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam Trung tâm Tin học và Đào tạo
Tạp chí Thông tin Tư liệu
Trang 131.1.4 Nh ững dịch vụ thông tin cơ bản
1.1.4.1 D ịch vụ tra cứu, cung cấp tài liệu
Với nguồn lực thông tin phong phú, đa dạng và đội ngũ cán bộ thông tin chuyên nghiệp, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia thực hiện dịch vụ tra
cứu, tìm tin theo yêu cầu của người dùng tin Kết quả tìm tin có thể là danh
mục các tài liệu phù hợp tra cứu từ các CSDL trong nước và nước ngoài
Người dùng tin có thể yêu cầu được sử dụng dịch vụ cung cấp tài liệu toàn văn (Document Delivery Service) Với nguồn tạp chí điện tử và kho dữ
liệu quy mô lớn, Bộ phận Tra cứu và chỉ dẫn thuộc Thư viện KH&CN Quốc gia và những đơn vị liên quan khác sẽ đáp ứng yêu cầu của người dùng tin
một cách nhanh nhất (như chuyển file qua thư điện tử hoặc gửi file trên CDROM)
1.1.4.2 D ịch vụ xử lý, phân tich thông tin
Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia cung cấp các dịch vụ thông tin phân tích như:
- Biên soạn các tài liệu phân tích tổng hợp; biên soạn các tổng luận,
tổng quan theo yêu cầu;
- Thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tổng hợp, thông tin chuyên đề, thông tin chiến lược, chính sách, định hướng phát triển;
- Bao gói, xây dựng CSDL thư mục hoặc toàn văn theo chuyên đề;
- Dịch thuật tài liệu KH&CN
1.1.4.3 D ịch vụ số hoá
Với hệ thống số hoá tài liệu hiện đại và công suất cao gồm 2 máy Kirtas 1600 và hệ thống thiết bị và phần mềm xử lý và lưu trữ dữ liệu số, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia cung cấp dịch vụ số hoá tài liệu cho các trường đại học, viện nghiên cứu, các trung tâm lưu trữ, thư viện ở quy mô công nghiệp.Với các máy Kirtas, tài liệu gốc được bảo đảm không phải tháo rời
Trang 14Công suất số hoá của thiết bị đạt đến 1.600 trang/giờ
Sản phẩm số hoá có thể ở nhiều khổ mẫu dữ liệu theo lựa chọn như:
dạng PDF, ảnh GPEG, dạng TIFF,
1.1.4.4 D ịch vụ mạng, hội nghị thông tin
Cục Thông tin KH&CN Quốc gia là cơ quan chủ trì xây dựng và phát triển Mạng thông tin KH&CN Việt Nam (VISTA), xây dựng, vận hành và
quản lý Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (VinaREN) có đội ngũ cán
bộ công nghệ thông tin lành nghề và cơ sở hạ tầng mạng mạnh cung cấp đa
dạng các dịch vụ mạng, từ nghiên cứu phân tích hệ thống, tư vấn xây dựng các hệ thống mạng thông tin và thư viện điện tử đến tổ chức các hội nghị hội
thảo trực tuyến
Đặc biệt với cơ sở hạ tầng mạng của VinaREN, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia có thể tổ chức các cuộc hội thảo nhiều điểm cầu
1.1.4.5 Dịch vụ bạn đọc đặc biệt
Đây là loại hình dịch vụ thư viện đặc biệt mà Cục Thông Tin- KH&CN
Quốc gia cung cấp cho một số bạn đọc nhất định của mình nhằm đáp ứng yêu
cầu sử dụng đọc và sử dụng tài liệu điện tử theo phương thức trực tuyến
Khi tham gia sử dụng dịch vụ, người dùng tin được cấp quyền truy cập
trực tuyến thông qua mạng internet đến các nguồn tin khoa học và công nghệ
có giá trị cao trong và ngoài nước
Dịch vụ được cung cấp theo thời hạn 1năm trên cơ sở đóng góp cho phí
tổ chức và đảm bảo thực hiện dịch vụ Phí đăng ký sử dụng và khai thác Dịch
vụ bạn đọc đặc biệt năm 2011 là 300.000VNĐ/năm/bạn đọc
1.1.4.6 M ạng Thông tin Khoa học Công nghệ Việt Nam– VISTA
Mạng VISTA là một hệ thống thông tin - tư liệu khoa học và công nghệ
do Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia thuộc Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường xây dựng Thời kỳ ban đầu mạng có tên
là IDNET (Information Databasse Network) Đến năm 1995 đổi thành mạng
Trang 15thông tin khoa học kỹ thuật, kinh tế Việt Nam (VESTENET) và ngày nay gọi
là mạng thông tin khoa học công nghệ Việt Nam (VietNam information Network for Science and Technology Advance) Mạng được xây dựng phục
vụ cho các đối tượng làm công tác khoa học và công nghệ, đồng thời phổ biến
kiến thức cho quảng đại quần chúng nhân dân, nâng cao dân trí trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
Từ năm 1996 trở đi, VISTA được hình thành công nhờ sự kết hợp việc
sử dụng công nghệ mạng dựa trên nền tảng Internet
Tháng 11/1998, mạng VISTA đã được cấp giấy phép và trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet dùng riêng
Mạng VISTA bao gồm các ngâ hang dữ liệu Ngoài việc truy cập các thông tin dưới dạng thư điện tử, tạp chí điện tử nước ngoài, mạng còn cung
cấp dịch vụ Internet cho người dùng tin của mạng
Mạng VISTA hiện nay bao gồm các cơ sở dữ liệu( CSDL) sau:
+ CSDL thư mục về tài liệu khoa học công nghệ Việt Nam( STD); + CSDL về mục lục tạp chí mới nhập về ở Thư viện khoa học kỹ thuật trung ương;
+ CSDL sách của Thư viện khoa học kỹ thuật trung ương;
+ CSDL tài liệu tiếng nước ngoài từ CD- ROM như Pascal, DIALOG; + CSDL về đăng ký và kết quả các đề tài nghiên cứu;
+ Các tạp chí điện tử của nước ngoài;
+ Các tài liệu nước ngoài thu thập được qua Internet;
+ Các tài liệu công nghệ;
+ CSDL các “ Công ty ASEAN ở Việt Nam”;
+ CSDL các “ Cơ quan thông tin công nghệ”;
Trang 161.2 Quá trình hình thành và phát triển của mạng VinaREN
1.2.1 M ạng thông tin liên châu lục Á – Âu (TEIN)
TEIN (Trans – Eurasia Information Network viết tắt là TEIN) là một sáng kiến nhằm thiết lập mạng thông tin liên châu lục Á – Âu của các nguyên
thủ quốc gia trong hội nghị thượng đỉnh Á – Âu lần thứ 3 thông qua vào tháng
10 năm 2000
Mạng TEIN có mục đích kết nối mạng nghiên cứu khoa học giữa Châu
Á và Châu Âu để nâng cao năng lực trao đổi thông tin trong nghiên cứu phát triển và giáo dục đào tạo Vào tháng 12/ 2001 đã thực hiện kết nối thành công
mạng thông tin Á- Âu với mạng viễn thông cho nghiên cứu và đào tạo của Pháp và Hàn Quốc, nhằm nâng cao khả năng phối hợp chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin qua môi trường mạng trong công tác nghiên cứu và đào tạo
giữa hai nước
Dự án kết nối mạng thông tin Á – Âu của Việt Nam (TEIN- VN) do Bộ Khoa học và Công nghệ (sau đây viết tắt là Bộ KH&CN) triển khai có mục tiêu là xây dựng Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam (Vietnam Research and Education Network - VINAREN) và kết nối với mạng thông tin Á- Âu giai đoạn 2 (TEIN 2)
1.2.2 M ạng thông tin liên châu lục Á – Âu giai đoạn 2 (TEIN 2)
TEIN 2 là một dự án bắt đầu vào năm 2004 nhằm nâng cao khả năng
kết nối mạng trong nghiên cứu và đào tạo giữa Châu Âu và khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương vì lợi ích các nước đang phát triển trong ASEM
(The Asia-Europe Meeting - Diễn đàn hợp tác Á–Âu) nhằm đóng góp để phát triển hơn nữa sáng kiến mạng thông tin Á - Âu TEIN
Khi phạm vi của mạng TEIN được mở rộng sang khu vực Châu Đại
Dương, Châu Á, Châu Âu (EC) và DANTE (Delivery of Adanced Network
Technology to Europe - Delivery của công nghệ mạng tiên tiến Châu Âu) đã
nhất trí để tài trợ để kết nối mạng thông tin Á - Âu giai đoạn 2 (TEIN 2) nhằm
Trang 17hỗ trợ các nước đang phát triển trong ASEM Mục đích của TEIN 2 là cung
cấp, củng cố đường trục cho liên khu vực Âu- Á, tạo điều kiện bình đẳng trong truy nhập tài liệu nghiên cứu, làm cầu nối trong hợp tác về công nghệ
thông tin, truyền thông và nâng cao khả năng phối hợp trong nghiên cứu và
giáo dục của các nước trong ASEM, đặc biệt chú trọng các nước đang phát triển Đông Nam Á trong đó có Việt Nam
Hiện nay, ngoài các nước khối EC cam kết tài trợ 9,75 triệu euro cho TEIN 2 còn có sự đóng góp tài chính của các nước tham gia như: Nhật Bản,
Hàn Quốc, Singapore… nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển được hưởng
thụ việc kết nối liên Châu Âu – Châu Á
Tại Việt Nam, công ty Viettel là công ty cung cấp đường truyền quốc tế cho mạng Nghiên cứu và Giáo dục Việt Nam
Việc kết nối mạng thông tin Á – Âu (TEIN - VN) do Bộ Khoa học và
Công nghệ triển khai với mục tiêu là xây dựng Mạng Nghiên cứu và Đào tạo
Việt Nam (Vietnam Research and Education Network VINAREN) và kết nối
với mạng thông tin Á-Âu giai đoạn 2 (TEIN 2) Mụch đích sẽ cung cấp hạ
tầng mạng tốc độ cao cho mạng VINAREN truy cập tới mạng trong TEIN 2
tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức Nghiên cứu và Giáo dục Việt Nam trao đổi thông tin, chia sẻ tài nguyên mạng, hợp tác chặt chẽ với nhau và với cộng đồng các nước trên Thế giới
1.2.3 M ạng thông tin liên châu lục Á – Âu giai đoạn 3 (TEIN 3)
TEIN 3 là giai đoạn 3 của sáng kiến Mạng Thông tin Á - Âu do ASEM
đề xuất tại ASEM 7, Bắc Kinh 2008 với khoản đầu tư 12 triệu Euro do Liên minh Châu Âu tài trợ Một trong những mục tiêu chính của TEIN 3 là giúp
xây dựng 1 tương lai ổn định lâu dài cho các hoạt động nghiên cứu trong
Châu Á
Hiện nay, TEIN 3 đã kết nối các tổ chức nghiên cứu và đào tạo ở các
nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào,
Trang 18Malaysia, Nepal, Pakistan, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Thai Lan, Viet Nam, Đài Loan và Australia, Bangladesh, Bhutan và Campuchia đang được
kết nối trong thời gian tới và nâng tổng số thành viên TEIN 3 lên 19 nước
1.2.4 M ạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (VINAREN)
VinaREN (Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam - Vietnam Research anh Education Network) là kết quả triển khai thực hiện Dự án Mạng
Thông tin Á - Âu giai đoạn 2 tại Việt Nam (viết tắt là TEIN 2 VN) VinaREN
chính thức được khai truơng toàn quốc tại Hội nghị Mạng Nghiên cứu và Đào
tạo Việt Nam lần thứ ba (từ 27 đến 28 tháng 3 năm 2008) tại Thành Phố Hồ
Chí Minh Đến nay, VinaREN đã thực sự trở thành mạng nghiên cứu và đào
tạo quốc gia của Việt Nam với 6 Trung tâm vận hành mạng (Network Operation Centre, gọi tắt là NOC) VinaREN kết nối 60 mạng thành viên, bao
gồm hàng trăm viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện lớn tại 11 tỉnh và
thành phố trong cả nước tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam kết nối mạng tốc độ và hiệu năng cao với 45 triệu đồng nghiệp tại hơn 8.000 trung tâm nghiên cứu và đào tạo Thê giới
VinaREN là Mạng viễn thông dùng riêng được cho giới Nghiên cứu và Đào tạo, được Nhà nước cấp giấy phép hoạt động vào tháng 5 năm 2008 và
Giấy phép bổ sung năm 2009
a, Mục tiêu và ý nghĩa của VinaREN
Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam - VinaREN là mạng viễn thông dùng riêng, phục vụ hoạt động nghiên cứu và đào tạo của Việt Nam, mang tính học thuật và phi lợi nhuận
VinaREN được kết nối vào Mạng thông tin xuyên Âu - Á TEIN2 VinaREN liên kết mạng máy tính của các tổ chức nghiên cứu phát triển, trường đại học, trung tâm thông tin, thư viện để chia sẻ nguồn lực thông tin,
hợp tác giải quyết các bài toán khoa học
Trang 19VinaREN là mạng hiện đại có tốc độ cao, chất lượng và hiệu năng lớn;
khả năng cung cấp, chia sẻ nội dung thông tin phong phú, thiết thực cho hoạt động nghiên cứu và đào tạo cùng các ứng dụng, dịch vụ quan trọng trên mạng đòi hỏi tốc độ và hiệu năng cao như hội nghị truyền hình, đào tạo từ xa, y học
từ xa, cảnh báo động đất và sóng thần, truy cập thư viện điện tử, dự báo thời
tiết
VinaREN sau khi kết nối với TEIN2 đã tạo ra một môi trường mạng toàn cầu để các tổ chức nghiên cứu, giáo dục Việt Nam và trên thế giới trao đổi thông tin, hợp tác nghiên cứu khoa học, cùng nhau hợp tác giải quyết các bài toán khoa học trên quy mô quốc tế
Thông qua VinaREN, các tổ chức khoa học và công nghệ, nhà nghiên
cứu có cơ hội tham gia tích cực vào các chương trình hợp tác nghiên cứu của khu vực và toàn cầu Các ứng dụng tiên tiến của y tế từ xa, học trên mạng, trao đổi văn hóa trên mạng được triển khai và đem lại những lợi ích thiết
thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Về nguyên tắc, các thành viên của VinaREN bao gồm các mạng của các tổ chức nghiên cứu và phát triển, các trường đại học có nhiều hoạt động nghiên cứu và đào tạo sau đại học, có nhiều nội dung hợp tác nghiên cứu và đào tạo trong và ngoài nước, các tổ chức dịch vụ KH&CN, các thư viện, các trung tâm thông tin KH&CN có tiềm năng và năng lực chia sẻ nguồn lực phục
vụ nghiên cứu và đào tạo cũng như các tổ chức, cơ quan có vai trò thúc đẩy, phát triển môi trường hợp tác nghiên cứu và đào tạo của đất nước
Các thành viên chính của VinaREN bao gồm:
- Các tổ chức nghiên cứu và phát triển, đặc biệt là các phòng thí nghiệm
trọng điểm quốc gia, các viện nghiên cứu tầm quốc gia và đầu ngành;
- Các đại học Quốc gia, đại học khu vực, các trường đại học lớn;
Trang 20- Các bệnh viện đầu ngành có nhiều chương trình hợp tác nghiên cứu trong nước và quốc tế;
- Các trung tâm thông tin, thư viện KH&CN tầm quốc gia và khu vực Đầu năm 2008, VinaREN đã có 44 thành viên chính thức Năm 2009 được bổ sung thêm 12 thành viên nâng tổng số lên 56 đơn vị 4 thành viên
mới là Học viện Bưu chính Viễn Thống, Bệnh viện Việt Đức, Khu Công nghệ Cao Hòa Lạc và Cục An toàn và Bức xạ hạt nhân kêt nối VinaREN vào đầu
năm 2010 nâng tổng số thành viên lên 60 thành viên
Các cơ quan, tổ chức KH&CN có nhu cầu kết nối với VinaREN cần có văn bản đề nghị và cam kết tự nguyện tham gia VNNOC sẽ xem xét và quyết định phù hợp với Quy chế quản lý và khai thác VinaREN do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
Cục TT KH&CN QG thay mặt Bộ KH&CN trực tiếp quản lý, vận hành VNNOC/NOC-HN, kết nối quốc tế của VinaREN, duy trì mạng trục quốc gia, triển khai và chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các NOC cấp 1 và cấp 2 cũng như phối hợp cùng các cơ quan chức năng hữu quan, các thành viên của VinaREN thúc đẩy và hỗ trợ triển khai mạnh mẽ các hoạt động ứng dụng, khai thác và phát huy vai trò của VinaREN trong nghiên cứu và đào tạo của đất nước Cục TT KH&CN QG là đầu mối của Việt Nam trong hợp tác với các mạng nghiên cứu và đào tạo của các nước và các tổ chức quốc tế (TEIN2/TEIN3, APAN, GLORIAD, )
Bộ KH&CN là cơ quan chủ quản VinaRen Cục TT KH&CN QG là cơ quan thực hiện chức năng quản lý VinaRen
Cục TT KH&CN QG đã thành lập Trung tâm quản lý mạng VinaRen (Gọi tắt là trung tâm VinaREN) Đây là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Cục có
chức năng quản trị, vận hành và phát triển VinaREN và là đầu mối kế hoạch
Trang 21hoạt động chung hàng năm của VinaREN Trung tâm VinaREN chịu trách nhiệm quản lý tài sản và tổ chức thực hiện công việc được giao với nguồn kinh phí do Bộ KH&CN cấp theo kế hoạch hàng năm và số kinh phí do các đơn vị thành viên mạng VinaREN đóng góp theo Quy chế tạm thời về quản
lý, khai thác và sử dụng mạng VinaREN
Tài sản, trang thiết bị của VinaREN đặt tại các Trung tâm vận hành
mạng, các nút (POP) của VinaREN do Trung tâm VinaREN thay mặt Cục
Thông tin Khoa học Công nghệ và Quốc gia trực tiếp quản lý
quốc tế do EU tài trợ Bộ Khoa học và Công nghệ đóng góp 20% kinh phí kết
nối quốc tế Hà Nội – Hồng Kông TEIN2 sẽ kết thúc vào 30 tháng 9 năm
2008
Giai đoạn 3 của Mạng Thông tin xuyên Á-Âu (TEIN3) sẽ bắt đầu từ 30-10-2008 đến 31-12-2011 Ủy ban Châu Âu đã quyết định tài trợ cho TEIN3, theo đó, từ 1-10-2008 đến 31-12- 2010, Việt Nam được hưởng 70%
và từ 1-1-2011 được hưởng 60% phí kết nối quốc tế do EU tài trợ Số kinh phí tương ứng 30% và 40% được Bộ Khoa học và Công nghệ đóng góp cho việc thuê đường truyền kết nối quốc tế Từ năm 2012, Việt Nam phải trả nhiều hơn
và dần đi đến trả hoàn toàn phí kết nối quốc tế (nếu không có nguồn tài trợ
quốc tế khác) Bộ Khoa học và Công nghệ đã có thư cam kết với EU về việc
Việt Nam sẽ tiếp tục tham gia và đóng góp tài chính đối với TEIN3 trong thời gian từ tháng 10-2008 đến hết tháng 12 năm 2011
- Nhà nước đảm bảo chi trả các chi phí sau:
Trang 22Chi phí kết nối quốc tế với TEIN2/TEIN3 và kết nối Internet thương
mại
Các chi phí quản lý chung và xúc tiến VinaREN, đảm bảo hoạt động
của Ban chỉ đạo, Ban tư vấn chính sách và kỹ thuật, Nhóm chuyên gia của VinaREN
Chi phí tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế liên quan tới VinaREN
- Các đơn vị tham gia kết nối VinaREN sẽ đảm bảo các chi phí:
Thuê bao đường truyền kết nối đến NOC khu vực hoặc miền
Chi đảm bảo các hoạt động thường xuyên vận hành mạng, vật tư, năng lượng và bảo trì, bảo hành hệ thống thiết bị của đơn vị
Chi phí khai thác, sử dụng, ứng dụng trên mạng phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, quản lý của mình
Để có đường truyền tốc độ cao, giá thành hạ Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để phát triển cơ sở hạ tầng riêng cho VinaREN
Ngoài ra, các thành viên tham gia VinaREN có nghĩa vụ đóng góp kinh phí tham gia sử dụng mạng Phí tham gia sẽ bù đắp một phần chi phí đường truyền do Nhà nước chi trả
Sau năm 2008, mạng VinaREN từng bước chuyển thành mạng tự quản
của các đơn vị tham gia, mở rộng và phát triển các hoạt động, dịch vụ có thu đảm bảo tự trang trải một phần, đảm bảo vận hành và khai thác hiệu quả
mạng VinaREN
Cơ chế chính sách và quản lý VinaREN từ năm 2009 trở đi sẽ được nghiên cứu xây dựng và ban hành trong quá trình triển khai VinaREN 2008Từ
năm 2008 trở về trước, toàn bộ chi phí xây dựng, vận hành NOC và triển khai
các hoạt động trên mạng do Bộ Khoa học và Công nghệ cấp thông qua dự án
Trang 23Mạng Thông tin Á- Âu giai đoạn 2 tại Việt Nam Chi phí đường truyền kết
nối quốc tế được Cộng đồng Châu Âu tài trợ 80% (từ 2006 đến hết tháng 9/2008) và 70% từ tháng 10/2008 đến 31/12/2010 và 60% trong năm 2011
Khi kết nối vào mạng VinaREN, các thành viên sẽ có điều kiện thuận
lợi để trao đổi chia sẻ và cập nhật thông tin với nhau và với các tổ chức nghiên cứu, giáo dục khác trên thế giới có kết nối vào mạng Qua đó các thành viên có thể phối hợp nghiên cứu, tận dụng các nguồn lực của nhau
Các nhà khoa học Việt Nam, thông qua VinaREN sẽ có cơ hội tham gia vào các chương trình hợp tác nghiên cứu của khu vực và toàn cầu, ví dụ tham gia Chương trình sáng kiến truyền dữ liệu điện tử giữa các đài thiên văn vô tuyến của thế giới (e-VLBI), tham gia vào các hệ thống cảnh báo thiên tai, v.v Thông qua VinaREN các ứng dụng tiên tiến của y tế từ xa (e-health),
học trên mạng (e-learning), trao đổi văn hoá trên mạng (e-culture) v.v… có
thể đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế
VinaREN kết nối nghiên cứu và đào tạo nước ta với cộng đồng nghiên
cứu và đào tạo của các nước châu Á - Thái Bình dương, châu Âu, Bắc Mỹ và toàn cầu Việt Nam đã xuất hiện trên bản đồ thế giới các mạng nghiên cứu và đào tạo Chúng ta có đủ điều kiện sẵn sàng tham gia các dự án hợp tác trong nước và quốc tế trên cơ sở mạng thông tin hiện đại, hiệu ứng cao, tốc độ lớn,
tạo điều kiện tối đa để giới nghiên cứu và đào tạo nước ta tham gia và tiến hành các chương trình hợp tác nghiên cứu và đào tạo ở quy mô quốc gia, khu
vực và quốc tế, góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền, các cơ
sở nghiên cứu, đào tạo trong nước và với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
Trang 24Với việc đưa VinaREN vào khai thác trên quy quốc gia và toàn cầu,
giới nghiên cứu và đào tạo nước ta chắc chắn sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi
để tăng cường sự gắn kết, hợp tác giữa nghiên cứu và đào taọ với sản xuất, kinh doanh, góp phần khẳng định vai trò quốc sách hàng đầu của khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước
Đối tượng phục vụ của Vinaren là các tổ chức nghiên cứu - phát triển, các trường đại học, bệnh viện, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, thư viện, trung tâm thông tin khoa học và công nghệ có năng lực chia sẻ nguồn lực
phục vụ nghiên cứu và đào tạo, cũng như các tổ chức cơ quan có vai trò thúc đẩy, phát triển môi trường hợp tác nghiên cứu và đào tạo của cả nước
Với những lợi ích như vậy, VinaREN thực sự là môi trường và công cụ
kết nối, hợp tác cùng phát triển trong thời kỳ hội nhập Là một “xa lộ” thông tin lớn, cho phép người sử dụng vừa truy cập nhanh, vừa chuyển tải được khối lượng lớn thông tin
Trang 25viễn thông trong nước
b, Hạ tằng mạng của VinaREN tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
Các mạng thành viên được kết nối với VinaREN thông qua các NOC
hoặc các điểm kết nối (Point Of Present, sau đây viết tắt là POP) bằng cáp quang trực tiếp theo chuẩn Fast Ethernet/Giga Ethernet (sau đây viết tắt là FE/GE - Chuẩn cáp mới truyền thông Ethernet Gigabit) hoặc bằng kênh thuê
riêng của các công ty viễn thông trong nước
Tại Hà Nội, do nhu cầu thực tế về kết nối mạng giữa các thành viên
viên với Trung tâm vận hành mạng quốc gia (sau đây viết tắt là VNNOC) rất
lớn nên đã hình thành các POP Các POP này được kết nối với VNNOC tạo
thành vòng RING (Mạng dạng vòng - Ring Topology), đảm bảo kết nối cho
các mạng thành viên tại Hà Nội
Tại TP.Hồ Chí Minh, kết nối của các mạng thành viên vào VinaREN
thông qua NOC-HCM
c, Hạ tầng mạng VinaREN tại các tỉnh và thành phố khác
Việc kết nối các mạng thành viên vào VinaREN tại các thành phố như
Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Thái Nguyên được thực hiện bằng kết nối cáp quang
trực tiếp vào các NOC tương ứng
Trang 26Kết nối các mạng thành viên vào VinaREN tại các tỉnh và thành phố
khác được thực hiện thông qua kênh thuê riêng và được kết nối vào NOC gần
nhất
Trong tương lai, ở các tỉnh và thành phố nói trên khi có nhiều đơn vị tham gia VinaREN sẽ xem xét để hình thành các NOC/POP tương ứng
d, Băng thông kết nối của VinaREN
Băng thông kết nối mạng trục quốc gia của VinaREN từ năm 2009 đến nay như sau:
thông trong nước
Các POP tại Hà Nội được kết nối với nhau theo chuẩn FE/GE
Các mạng thành viên kết nối với các NOC theo chuẩn FE/GE với băng
thông 100 Mbps Tốc độ này có thể được nâng lên theo chuẩn Giga khi cần thiết
e, K ết nối quốc tế
VinaREN có hai cổng kết nối quốc tế:
- Kết nối với mạng TEIN3 thông qua NOC- TEIN ở Hồng Kông
Trang 27Từ tháng 3 năm 2009 đến nay, đường kết nối đi TEIN3 theo tuyến Hà Nội - Hồng Kông thuê kênh trắng với băng thông 155 Mbps do các
nhà cung cấp đường truyền quốc tế PCCW thực hiện Phần đường truyền trên
lãnh thổ Việt Nam do Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (nhà thầu phụ) thực
hiện
- Kết nối Internet
VinaREN được kết nối Internet trực tiếp với băng thông 40 Mbps
để phục vụ chủ yếu cho việc truy cập và khai thác các nguồn tin điện tử (các CSDL, các tạp chí, sách điện tử do Liên hợp Thư viện Việt Nam mua của
nước ngoài, một số CSDL miễn phí, một số site thường sử dụng trên Internet
và các CSDL của Cục TT KH&CN QG)
2.1.2 Cơ sở kỹ thuật
Giải pháp thiết kế kỹ thuật mạng VinaREN tuân thủ theo mô hình
phân lớp: lớp lõi - lớp xương sống; lớp phân phối và lớp truy cập Đây là mô
hình kiến trúc tiêu chuẩn, thuận tiện cho việc vận hành, mở rộng và phân bố
lại, dễ quản lý, cân bằng tải, tối ưu hóa năng suất mạng, có tính dự trữ và độ
sẵn sàng cao, hạn chế tắc nghẽn và khôi phục nhanh khi sự cố xảy ra
Hệ thống được xây dựng bao gồm 6 NOC đặt tại các thành phố Hà Nội,
Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh và Cần Thơ
Các lớp mạng khác nhau đảm nhiệm các chức năng khác nhau:
L ớp lõi (Core): cung cấp khả năng chuyển giao các gói tin với tốc độ
cao giữa các thiết bị định tuyến lớp lõi với nhau và với thiết bị định tuyến lớp
phân phối
Trong mô hình thiết kế của mạng VinaREN, lớp lõi gồm các thiết bị định tuyến đặt tại sáu NOC: VNNOC, NOC - TN, NOC - HCM, NOC - ĐN, NOC - HUE, NOC - CT Kết nối giữa các thiết bị định tuyến lớp lõi theo mô
hình Partial Mesh, trong đó ba NOC bao gồm VNNOC, NOC - HCM, NOC -
Trang 28ĐN kết nối tam giác với nhau NOC - TN kết nối với VNNOC, NOC - HUE
kết nối với NOC - ĐN, NOC - CT kết nối với NOC - HCM
L ớp phân phối (Distribution): cung cấp các kết nối tới lớp truy cập
Lớp phân phối cung cấp các chính sách về mặt kết nối như an ninh, chính
sách về QoS (Chất lượng dịch vụ) Các thiết bị mạng như; firewall, IPS, IDS, NAM (Network Analysis Module) và VPN được tích hợp trong các thiết bị chuyển mạch trung tâm (Core switch) nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nêu
trên
Trong mô hình thiết kế, lớp phân phối là lớp các thiết bị định tuyến và chuyển mạch đặt tại sáu NOC: VNNOC, NOC - TN, NOC - HCM, NOC -
ĐN, NOC - HUE, NOC - CT Các thiết bị chuyển mạch trung tâm cung cấp
các kết nối cáp quang tốc độ cao (FE/GE) đến các mạng đơn vị thành viên
Các thiết bị định tuyến lớp phân phối cung cấp các kết nối WAN đến các
mạng thành viên bằng kênh thuê riêng – leased line
L ớp truy cập (Access): cung cấp các kết nối tới các mạng thành viên
và những người dùng đầu cuối
Tại Trung tâm vận hành mạng quốc gia – VNNOC được trang bị các thiết bị mạng và phần mềm nhằm thực hiện các chức năng quản lý toàn bộ hệ
thống mạng
b, Thiết bị kỹ thuật và phần mềm
Tại các NOC được trang bị các thiết bị định tuyến và chuyển mạch với
bộ xử lý của Router CISCO 7906S cùng các thiết bị mạng phục vụ việc tổ
chức mạng cho từng NOC
Riêng VNNOC, được trang bị đầy đủ các thiết bị và phần mềm để quản
trị toàn bộ hệ thống Các phần mềm sử dụng để quản trị hệ thống như sau:
+ Phần mềm quản trị mạng LAN (CiscoWorks LMS 3.0, 300 devices license);
Trang 29+ Phần mềm quản trị, theo dõi năng lực mạng (Cisco Performace
Ngoài ra, VNNOC đã nghiên cứu thử nghiệm các phần mềm nguồn mở
có thể áp dụng để quản trị hệ thống mạng tại các NOC như sau:
+ Phần mềm quản lý băng thông và hiệu năng
+ Phần mềm quản trị mạng LAN
+ Phần mềm phòng và phản ứng lại các cuộc tấn công;
Với các trang thiết bị và các phần mềm được trang bị đã giúp cho hệ
thống hoạt động ổn định, đáp ứng được yêu cầu của các mạng thành viên
Để đảm bảo cho hệ thống hoạt động ổn định, việc đào tạo nguồn nhân
lực cho VinaREN phải được đặt lên hàng đầu Các kỹ sư vận hành hệ thống
phải được học qua các lớp đào tạo về routing, switching, bảo mật và an ninh
mạng
Mục đích đào tạo là triển khai và duy trì phát triển VinaREN Mỗi khóa
tổ chức đào tạo có khoảng 10 – 15 học viên với chương trình đào tạo ngắn
hạn từ 2 đến 4 tuần
2.1.3 Hạ tầng viễn thông
+) Hạ tầng viễn thông tại thành phố Hà Nội
Hạ tầng viễn thông của VinaREN tại thành phố Hà Nội được xây dựng theo vòng RING bao gồm 3 nút chính (VNNOC, POP-VAST – Viện Khoa
học và Công nghệ Việt Nam và POP-WRU – Trường đại học Thủy lợi) Các
mạng thành viên được kết nối trực tiếp vào VNNOC, POP-VAST, POP-WRU
Trang 30bằng cáp quang theo chuẩn Fast Ethernet Các mạng có điều kiện kỹ thuật có
thể kết nối trực tiếp vào POP hoặc NOC theo chuẩn Giga Ethernet
+) Hạ tầng viễn thông tại thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng có bốn mạng kết nối vào NOC-ĐN Các mạng thành được kết nối vào NOC-ĐN bằng cáp quang trực tiếp
+) Hạ tầng viễn thông tại thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh có mười bốn mạng kết nối vào NOC-HCM
bằng cáp quang trực tiếp theo Fast Ethernet hoặc Giga Ethernet
+) Hạ tầng viễn thông tại thành phố Cần Thơ
Thành phố Cần Thơ có bốn mạng kết nối vào NOC-CT Các mạng thành viên được kết nối vào NOC-CT bằng cáp quang trực tiếp theo chuẩn FE
hoặc GE
2.1.4 Phân bố và sử dụng IP của VinaREN
Dự kiến đến tháng 12 năm 2010 sẽ sử dụng 24 lớp C địa chỉ IPv4 Các đơn vị thành viên VinaREN được cấp n x 32 địa chỉ IP (số n tùy thuộc vào nhu cầu thực tế của từng đơn vị) Toàn bộ mạng VinaREN đã được cấp 2406:9000::/32 địa chỉ Ipv6 Căn cứ vào nhu cầu về Ipv4 và IPv6 của các
mạng thành viên, VNNOC sẽ phân bổ số lượng IP tương ứng
Trong trường hợp có nhu cầu sử dụng Ipv4 nhiều hơn, VNNOC sẽ xin
cấp thêm để phân bổ cho các mạng thành viên
Trang 31Danh sách phân bổ IP của VinaREN 2006-2009
3 lớp C Dự phòng Phân cho các miền
Trong giai đoạn 2008-2009 sẽ sử dụng thử nghiệm IPv6, từ năm 2010
trở đi, khuyến khích các đơn vị sử dụng Ipv6 và dần dần chuyển sang sử dụng IPv6
2.1.5 Qu ản lý kỹ thuật VinaREN
Các Trung tâm vận hành mạng hoạt động dưới sự điều hành triển khai
các NOC Ban triển khai các NOC được thành lập tháng 3 năm 2008 tại Hội nghị VinaREN lần thứ 3
Ban triển khai các NOC được trang bị đầy đủ các phương tiện và thiết
bị văn phòng cũng như thiết bị mạng đảm bảo liên lạc thông suốt giữa các NOC
Việc quản lý kỹ thuật do các NOC đảm nhiệm Các NOC được chia
thành ba cấp: Quốc gia; miền và khu vực VinaREN có các NOC sau:
- NOC quốc gia gọi tắt là VNNOC;
- NOC miền Nam gọi tắt là NOC-HCM;
Trang 32- NOC miền Trung gọi tắt là NOC-ĐN;
- NOC khu vực Bắc Trung Bộ - NOC-HUE;
- NOC khu vực đồng bằng sông Cửu Long- NOC-CT;
- NOC khu vực trung du miền núi phí Bắc- NOC-TN
a, Trung tâm vận hành mạng quốc gia – VNNOC
Trung tâm vận hành mạng quốc gia (Vietnam Network Operating
Centre - VNNOC) được đặt tại 24 Lý Thường Kiệt- Hà Nội, Cục TT KH&CN
QG VNNOC có nhiệm vụ quản trị và giám sát hoạt động của toàn bộ
VinaREN và các cổng kết nối quốc tế của VinaREN Trước mắt VinaREN có
kết nối quốc tế với TEIN2/TEIN3 và kết nối với Internet thương mại phục vụ truy cập tới các nguồn tin điện tử trong nước và trên thế giới qua Liên hợp các thư viện Việt Nam Sau này có thể có các kết nối với mạng GLORIAD cũng như
VNNOC là đầu mối quốc gia của VinaREN, VNNOC có các nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Xúc tiến, triển khai, duy trì và phát triển mạng VinaREN;
- Quản lý tài nguyên và hoạt động của mạng VinaREN;
- Đảm bảo Cổng truy cập tới các nguồn tin điện tử trên Internet;
- Làm đầu mối hợp tác quốc tế của mạng VinaREN;
- Đầu mối tổ chức các hoạt động triển khai trên mạng qui mô quốc gia
và quốc tế
Để triển khai các nhiệm vụ trên, VNNOC được trang bị các máy chủ cài đặt các phần mềm để quản trị mạng (Ciscowork LML 2.6), phòng chống virus, quản lý băng thông, quản lý hiệu năng, giám sát hoạt động hệ thống và v.v
Năm 2009 và 8 tháng đầu năm 2010, về cơ bản VNNOC hoạt động ổn định, không có lỗi kỹ thuật Một số lần VNNOC phải ngừng hoạt động trong
thời gian ngắn do nguồn điện cung cấp không ổn định Vấn đề này đã được
Trang 33khắc phục bằng máy phát điện dự phòng Trong thời gian qua, việc cắt điện
thường xuyên và lâu dài đã làm ảnh hưởng không ít việc duy trì kết nối cũng
như tính ổn định của thiết bị mạng
b, Các Trung tâm vận hành mạng miền và khu vực – NOC
Các NOC miền và khu vực của VinaREN thực hiện các nhiệm vụ cụ
thể như sau:
- Duy trì hoạt động ổn định NOC;
- Đảm bảo kết nối NOC với các NOC khác và các thành viên của
VinaREN thuộc miền, khu vực;
- Theo dõi, phát hiện và phối hợp với VNNOC, các NOC khác cũng
như các nhà cung cấp đường truyền để khắc phục sự cố;
- Phối hợp với các VNNOC và hỗ trợ các mạng thành viên triển khai
các hoạt động trên mạng của VinaREN/APAN/TEIN3
Tình hình hoạt động của các NOC miền và khu vực cũng tương tự như VNNOC và bị ảnh hưởng nhiều do cắt điện thường xuyên
Từ năm 2009 đến nay, hoạt động của các NOC ổn định, không có sự cố
kỹ thuật xảy ra Năm 2010 do tình trạng nguồn điện bị cắt thường xuyên, máy
nổ và acquy dự phòng hoạt động quá công suất, thêm vào đó việc cải tạo, sửa
chữa các công trình giao thông, nhất là việc hạ ngầm các tuyến cáp đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc duy trì hoạt động của các NOC cũng như hạ tầng
viễn thông VinaREN
2.2 C ác dịch vụ cơ bản của VinaREN
Các dịch vụ trên mạng của VinaREN từ năm 2009 đến nay được triển khai mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu VinaREN có tất cả 8 dịch vụ cơ
bản Bao gồm:
- Dịch vụ IP, định tuyến và tên miền
- Dịch vụ IP Telephone trong VinaREN
- Dịch vụ Video conference và DVTS