Bên cạnh những thành tích đã đạt được, trong hoạt động thực tiễn công tác đáp ứng nhu cầu tin tại Thư viện Trung ương Quân đội vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như chưa nắm bắt, cũng như
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Văn Nhật, người đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và toàn
thể cán bộ của Thư viện Trung ương Quân đội đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi trong suốt quá trình thực tập và quá trình thực hiện đề tài này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do thời gian có hạn, trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên khóa luận
không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng
góp của các thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 06 tháng 02 năm 2012
Trần Thị Loan
Trang 3DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Cơ cấu vốn tài liệu theo nội dung
Bảng 2: Cơ cấu vốn tài liệu theo ngôn ngữ
Bảng 3: Các loại cơ sở dữ liệu của Thư viện
Bảng 4: Nội dung tài liệu mà người dùng tin quan tâm
Bảng 5: Nhu cầu về loại hình tài liệu
Bảng 6: Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu
Bảng 7: Nhu cầu về thời gian xuất bản tài liệu
Bảng 8: Địa điểm người dùng tin thường sử dụng
Bảng 9: Các thư viện cụ thể mà người dùng tin thường sử dụng
Bảng 10: Thời gian khai thác thông tin của người dùng tin
Bảng 11: Các công cụ khai thác thông tin
Bảng 12: Số lượng người dùng tin phân theo độ tuổi
Bảng 13: Mức độ thỏa mãn nhu cầu tin
Bảng 14: Chất lượng dịch vụ của Thư viện
Trang 4Danh m ục các từ viết tắt
I/ Ti ếng Việt
CNTT : Công nghệ thông tin
CSDL : Cơ sở dữ liệu
CSDL CĐ : Cơ sở dữ liệu chuyên đề
CSDL BTC : Cơ sở dữ liệu báo – tạp chí
KH&CN : Khoa học và công nghệ
KH – CN – MT : Khoa học công nghệ môi trường
KHKTTW : Khoa học kỹ thuật trung ương
Trang 5M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Tình hình nghiên cứu 9
3 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Nhi ệm vụ của đề tài 10
6 Đóng góp của đề tài 10
7 Bố cục của khóa luận 11
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 12
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện Trung ương Quân đội 12
1.2 Ch ức năng và nhiệm vụ của Thư viện Trung ương Quân đội 15
1.2.1Chức năng 15
1.2.2 Nhi ệm vụ 16
1.3 Đội ngũ cán bộ và cơ cấu tổ chức 17
1.3.1 Đội ngũ cán bộ 17
1.3.2 Cơ cấu tổ chức: 17
1.4 Khái quát nguồn lực thông tin tại Thư viện Trung ương Quân đội 20
1.4.1 Tài liệu dạng giấy 21
1.4.2 Tài liệu điện tử 22
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 26
2.1 Cơ sở lý luận về nhu cầu tin 26
2.1.1 Khái niệm về nhu cầu tin 26
2.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhu cầu tin 26
2.2 Khảo sát thực trạng nhu cầu tin của Thư viện Trung ương Quân đội 28
2.2.1 Đặc điểm nhu cầu tin của từng nhóm người dùng tin 28
2.2.2 Đặc điểm nội dung nhu cầu tin 30
2.2.3 Đặc điểm tập quán sử dụng thông tin của người dùng tin 36
Trang 62.3 Kh ảo sát thực trạng đáp ứng thông tin tại Thư viện Trung ương Quân đội.
40
2.3.1 Xây dựng nguồn lực thông tin 40
2.3.2 X ử lý thông tin 42
2.3.3 Tổ chức bộ máy tra cứu 44
2.3.4 Tổ chức phục vụ 46
2.5 Nhận xét, đánh giá về nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin tại Thư viện Trung ương Quân đội 48
2.5.1 Yếu tố chủ quan 48
2.5.2 Y ếu tố khách quan 51
CHƯƠNG 3.GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU NHU C ẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU TIN TẠI THƯ VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 53
3.1 Tăng cường nghiên cứu nhu cầu tin thường xuyên và có kế hoạch 53
3.2 Ti ến hành đào tạo người dùng tin 53
3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin vào các khâu hoạt động của Thư viện 55
3.4 Hoàn thiện, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin 56
3.5 Đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ 57
3.6 Đào tạo đội ngũ cán bộ 58
3.7 Vận dụng phương pháp Marketing để kích thích nhu cầu tin 60
3.8 Tăng cường hợp tác, trao đổi, chia sẻ nguồn lực thông tin 60
K ẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI nhân loại đang bước sang một nền kinh tế tri
thức xã hội thông tin, mở ra một kỷ nguyên mới, với xu thế chung của thế
giới là hội nhập, toàn cầu hóa Nhiều quốc gia, nhiều dân tộc đã và đang tiến vào xã hội thông tin, tiến vào nền kinh tế tri thức Đặc trưng của xu thế toàn
cầu là hợp tác, giao lưu, cạnh tranh công bằng, cùng thúc đẩy kinh tế, văn hóa
của thế giới phát triển Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời
sống xã hôi, kinh tế, thương mại, và khoa học thông tin – thư viện cũng nằm trong sự ảnh hưởng của nó
Nắm bắt được xu thế chung của thời đại, Đảng và Nhà nước ta đã và đang lãnh đạo toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cụ thể là: chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, mở cửa nền kinh tế, cùng giao lưu văn hóa với tất
cả các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Đảng ta chú trọng phát triển
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, áp dụng những thành tựu của khoa học để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống cho người dân, xây dựng xã hội học
tập Chính vì vậy công tác thông tin – thư viện cũng được Đảng rất quan tâm chú trọng
Cùng với hệ thống thư viện công cộng thuộc Bộ Văn Hóa thông tin như Thư viện Quốc gia, thư viện các tỉnh thành phố, thư viện quận, huyện…còn
có một loại hình thư viện không kém phần quan trọng đó là các thư viện khoa
học chuyên ngành Thư viện Trung ương Quân đội là một thư viện khoa học
tổng hợp chuyên ngành về quân sự cấp nhà nước Là Thư viện trung tâm đầu ngành của hệ thống thư viện trong quân đội, những năm qua và nhất là những năm gần đây, Thư viện Trung ương Quân đội đã nêu cao tinh thần chủ động, tích cực đổi mới nội dung và hình thức hoạt động, phát huy sức mạnh và tính
hiệu quả của một công cụ rất quan trọng trong việc truyền bá tri thức, cung
Trang 8cấp thông tin phục vụ đắc lực công tác nghiên cứu khoa học quân sự, tổng kết chiến tranh, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, học tập và giải trí của nhiều đối tượng trong và ngoài quân đội
Tuy nhiên, đứng trước nhiệm vụ mới, tình hình mới đòi hỏi thư viện
phải đổi mới nhiều hơn, nâng cao chất lượng phục vụ Để làm được điều đó
thư viện phải tiến hành đồng thời nhiều nhiệm vụ Và một trong những nhiệm
vụ quan trọng là phải tiến hành nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại thư viện và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho họ Bởi vì người dùng tin là một trong bốn yếu tố cấu thành thư viện, đóng vai trò quan trọng trong
hoạt động của mọi cơ quan thông tin – thư viện Họ vừa là người sử dụng các
sản phẩm, dịch vụ thông tin, vừa là người cung cấp thông tin phản hồi đánh giá hoạt động của thư viện Thư viện Trung ương Quân đội đã nhận thấy rằng nhu cầu của người dùng tin hiện nay là rất lớn và vô cùng đa dạng, phong phú Yêu cầu phải đáp ứng nhanh chóng, kịp thời, chính xác những nhu cầu
của người dùng tin là vấn đề hết sức quan trọng đối với tổ chức hoạt động
của Thư viện Do đó việc xác định cụ thể nội dung nhu cầu tin là tìm hiểu thói quen sử dụng thông tin của người dùng tin, trên cơ sở đó Thư viện Trung ương Quân đội mới có thể xây dựng nguồn lực thông tin, xử lý thông tin, xây
dựng bộ máy tra cứu tin hiện đại để đáp ứng nhu cầu của người dùng tin Bên cạnh những thành tích đã đạt được, trong hoạt động thực tiễn công tác đáp ứng nhu cầu tin tại Thư viện Trung ương Quân đội vẫn còn một số tồn
tại, hạn chế như chưa nắm bắt, cũng như đáp ứng đầy đủ nhu cầu tin của người dùng tin và cần phải tiếp tục nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tìm các
giải pháp cụ thể để tháo gỡ nhằm đưa công tác phục vụ bạn đọc nói chung và
khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho bạn đọc ngày càng tốt hơn
Bởi vậy, tôi đã chọn đề tài: “ Nghiên cứu Nhu cầu tin và khả năng đáp
ứng thông tin tại Thư viện Trung ương Quân đội” để làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào công tác thông tin – thư viện nói chung và làm sang tỏ nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư
Trang 9viện Trung ương Quân đội để đưa ra những giải pháp thực tiễn góp phần vào
việc nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng nhu cầu tin của Thư viện trong
hiện tại cũng như trong tương lai
2 Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu nhu cầu tin là vấn đề tất yếu khách quan của bất kỳ
một cơ quan thông tin – thư viện nào Cho đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về nhu cầu tin của người dùng tin tại các cơ quan khác nhau như: “ Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại Viện Thông tin khoa học
xã hội” của tác giả Phạm Thanh Huyền – cán bộ Viện Thông tin khoa học xã
hội
“ Nghiên cứu nhu cầu tin và việc đảm bảo thông tin tại thư viện trường đại học sư phạm kỹ thuật Thành Phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thanh Tùng “ Nghiên cứu nhu cầu đọc và việc thỏa mãn nhu cầu đọc của cán bộ viện
Xã hội học” của Đặng Bảo Khánh
“ Nghiên cứu nhu cầu tin và hoạt động thông tin của ban thông tin – tư
liệu và thư viện tại viện chiến lược và chính sách KH&CN” của Nguyễn Ngọc Dung
“ Tìm hiểu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin khoa học công nghệ tại trung tâm thông tin thư viện trường đại học” của Nguyễn Thị Viên
“ Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm Người dùng tin tại trung tâm học
liệu trường Đại học Điện lực” của Lê Thị Hiền…
Tuy nhiên tại Thư viện Trung ương Quân đội hiện chưa có đề tài nào nghiên cứu về nhu cầu tin của người dùng tin tại đây một cách có hệ thống và khoa học Vì vậy tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn được góp một phần nhỏ cho sự phát triển của Thư viện Trung ương Quân đội
3 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin
- Phạm vi nghiên cứu: Thư viện Trung ương Quân đội từ năm 2006 – 2011
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Dựa trên những quan điểm của triết học Mác – Lênin, quán triệt tư tưởng
Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của Đảng về phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội nói chung và ngành thông tin thư viện nói riêng
- Phương pháp cụ thể:
+ Thu thập tài liệu, số liệu, dữ kiện…
+ Phân tích, tổng hợp tài liệu
+ Thống kê số liệu
+ Điều tra xã hội học: phỏng vấn trực tiếp,thông qua các phiếu hỏi, quan sát…
5 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài của khóa luận này tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ nghiên
cứu sau:
- Nghiên cứu khái quát sự hình thành, phát triển và những thành tựu chủ
yếu mà Thư viện Trung ương Quân đội đã đạt được trong những năm qua
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin tại Thư viện Trung ương Quân đội
- Thực trạng nhu cầu tin của Thư viện Trung ương Quân đội
- Khả năng đáp ứng thông tin của Thư viện Trung ương Quân đội
- Trên cơ sở phân tích được những mặt mạnh và mặt hạn chế để đề ra những
giải pháp thiết thực, khoa học nhằm nâng cao chất lượng nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin tại Thư viện
6 Đóng góp của đề tài
- Lý luận:
Qua quá trình thực tập và việc nghiên cứu đề tài này một lần nữa tôi được
học hỏi thêm nhiều hơn, sâu sắc hơn những lý luận về thông tin thư viện, tiếp
nhận nó một cách đầy đủ hơn để sau này vận dụng những lý thuyết này vào công việc và thực tế một cách có hiệu quả
Trang 11- Thực tiễn:
+ Việc tìm hiểu đề tài này giúp tôi có cơ hội nghiên cứu và am hiểu nhiều
hơn các vấn đề về thông tin – thư viện, trang bị thêm kiến thức phục vụ cho nghề nghiệp thực tiễn của tôi sau này
+ Và tôi mong muốn đề tài của tôi có thể trở thành tài liệu tham khảo,
gợi ý để cho các nhà quản lý của thư viện và các bạn đồng nghiệp vận dụng trong công việc của mình
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 03 chương:
Chương1 : Giới thiệu khái quát về Thư viện Trung ương Quân đội
Chương 2: Thực trạng nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin tại Thư
vi ện Trung ương Quân đội
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu nhu cầu tin và khả
năng đáp ứng nhu cầu tin tại Thư viện Trung ương Quân đội
Trang 12CHƯƠNG 1
QUÂN ĐỘI
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện Trung ương Quân đội
Ngày 15/11/1957 Thư viện Quân đội được thành lập theo chủ trương
của Tổng Quân uỷ mà trực tiếp là đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm
Tổng cục Chính trị Những ngày đầu mới thành lập, Thư viện Quân đội mới
chỉ là một tủ sách của Tổng Quân uỷ ở chiến khu Việt Bắc với gần 500 cuốn sách, cơ sở vật chất nghèo nàn Vì vậy, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác nghiên cứu chỉ đạo, học tập, giải trí của cán bộ, chiến sĩ, phục vụ nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng của quân đội
Trải qua thời gian cùng với sự phát triển của quân đội, Thư viện Quân đội đã không ngừng lớn mạnh, từ một thư viện phổ thông trở thành một thư
viện khoa học tổng hợp về quân sự cấp Nhà nước Trong cùng thời gian này,
hệ thống thư viện trong quân đội cũng được hình thành, nhiều thư viện nhà trường trong quân đội, thư viện các quân khu, quân đoàn, các cơ quan, đơn vị được thành lập
Thực hiện theo chủ trương của Tổng cục Chính trị Thư viện Quân đội
đã và đang có rất nhiều cố gắng trong công tác Đặc biệt đứng trước tình hình, nhiệm vụ mới của đất nước, Thư viện Quân đội từng bước đổi mới hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ nhằm phục vụ tốt nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của bạn đọc, đặc biệt là truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và Quân đội tới cán bộ, chiến sĩ trong quân đội và nhân dân để góp phần xây dựng quân đội vững
mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hơn 50 năm xây dựng và phát triển của Thư viện Quân đội được phân
ra làm những giai đoạn, thời kỳ sau:
Trang 13* T ừ năm 1957 đến 1965
Đây là giai đoạn đầu tiên, xây dựng nền móng cho Thư viện Quân đội
Vốn tài liệu ban đầu của Thư viện gồm 500 bản sách của Tổng Quân uỷ và
một số sách báo quốc văn, ngoại văn của Bộ Quốc phòng Khi đó Thư viện
nằm trong một thành phần của Câu lạc bộ quân đội với 3 cán bộ biên chế Họ
vừa làm chỉ đạo nghiệp vụ, vừa thực hiện công việc cụ thể
Đến năm 1958, do yêu cầu của đất nước, của công tác chính trị nên thư viện đã được tách ra khỏi Câu lạc bộ quân đội để trở thành thư viện trung tâm của toàn quân Để nhanh chóng tăng vốn tài liệu của Thư viện, Thư viện Trung ương Quân đội đã đặc biệt chú ý đến công tác bổ sung, sưu tầm vốn sách báo Sau một thời gian sưu tầm, vốn tài liệu của Thư viện đã tăng lên thành hơn 3.000 cuốn sách, báo
Cùng với sự gia tăng của lượng sách báo, số lượng cán bộ của Thư
viện Quân đội cũng tăng lên Năm 1959 Tổng cục Chính trị đã điều về cho Thư viện thêm 7 cán bộ Từ 1962 đến 1965 Thư viện đã tổ chức hai lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho 60 cán bộ
Đây là giai đoạn khởi đầu nên Thư viện Quân đội đã gặp nhiều khó khăn, trắc trở Tuy nhiên, Thư viện Quân đội đã vươn lên và sớm khẳng định được vai trò của thư viện trung tâm, đầu ngành của hệ thống thư viện toàn quân
* T ừ năm 1965 đến 1975
Đây là thời kỳ cả nước có chiến tranh, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh tiến hành phá hoại miền Bắc Vì vậy, thư viện phải sơ tán, di chuyển kho sách và nơi làm việc đến các địa điểm khác nhau như từ Hà Nội chuyển
về Hoà Bình, rồi Hà Tây Trong giai đoạn này cung cấp sách cho bội đội ở chiến trường là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Thư Viện Quân Đội, sách đi cùng súng đạn, thuốc men, thực phẩm đến tận tay người chiến sĩ, sách
nằm trong ba lô của những anh bộ đội trên cánh võng của những chiến binh
Trang 14Trong những năm từ 1968 đến 1972 số lượng cán bộ biên chế của thư
viện được tăng thêm lên thành 15 người Đầu năm 1973, đế quốc Mỹ phải ký
hiệp định Pari ngừng ném bom Miền Bắc Để có điều kiện thực hiện những nhiệm vụ mới, Thư viện Quân Đội được Bộ Quốc Phòng quyết định chuyển
trụ sở về nhà 83 Lý Nam Đế - Hà Nội Đây là một bước ngoặt lớn trong việc xây dựng và phát triển Thư viện Quân đội Do yêu cầu của đất nước, đòi hỏi
Thư viện phải nhanh chóng ổn định kho sách, mặt khác phải khẩn trương
phục vụ tốt yêu cầu của độc giả
Năm 1975, Miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước được thống
nhất, thư viện đã chuyển hàng trăm tấn sách vào miền Nam cụ thể là các Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 4 để kịp thời cấp phát cho bộ đội và nhân dân vùng mới giải phóng Đồng thời làm nhiệm vụ thu hồi các loại sách, báo
của Mỹ - Ngụy chuyển ra Hà Nội Thư viện Quân đội đã đưa ra Bắc hàng trăm tấn sách, báo với hàng vạn ấn phẩm các loại
Trong thời kỳ này, thư viện đã biên soạn các loại thư mục giới thiệu, thư mục chuyên đề, thư mục trích dẫn…
Như vậy, trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Thư viện Quân đội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ do Tổng cục Chính trị giao cho Thư viện đã góp
phần nhỏ bé của mình vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc
* T ừ năm 1975 đến 1985
Từ sau 1975 đất nước ta hoà bình, thống nhất nước nhà, quân đội đi vào ổn định và mạng lưới thư viện toàn hệ thống dần được hình thành để kịp
thời phục vụ nhu cầu của đất nước và quân đội
Đến thời kỳ này, Thư viện Quân đội phát triển mạnh, từ một Thư viện
phổ thông trở thành một Thư viện khoa học, số cán bộ biên chế là 40 người,
cơ cấu gồm các phòng, ban.Trong giai đoạn này, thư viện vẫn tiếp tục đẩy
mạnh việc xây dựng nguồn lực sách báo bằng nhiều biệp pháp như thu hồi sách Mỹ - Nguỵ ở miền Nam, bổ sung sách mới, quan hệ phối hợp với các cơ quan liên quan khác
Trang 15* T ừ năm 1986 đến nay
Trong điều kiện mới, đòi hỏi Thư Viện Quân đội và thư viện toàn hệ
thống phải đảm nhiệm những nhiệm vụ mới Trong 3 năm 1986, 1987, 1990, Thư viện Quân đội đã tổ chức hai hội nghị thư viện toàn quân để đánh giá lại
thực trạng hoạt động và đề ra định hướng phát triển công tác thư viện trong
thời kỳ mới
Đến cuối năm 1992, Thư viện Quân đội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng nhì Ngoài ra, thư viện còn được nhận nhiều
bằng khen và cờ thưởng luân lưu của Nhà nước và quân đội
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Thư viện Quân đội đã
thực sự trở thành Thư viện khoa học tổng hợp về quân sự, là Thư viện trung tâm đầu ngành của hệ thống thư viện trong quân đội Đến nay, Thư viện đã xây dựng được một khu nhà khang trang, rộng rãi, vốn tài liệu của thư viện trên 350.000 bản sách quốc văn và ngoại văn, gần 2000 loại báo, tạp chí trong
và ngoài nước Hiện nay, thư viện đang tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường công tác bổ sung tài liệu và thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ của thư viện và các đơn vị trong toàn quân
1.2 Ch ức năng và nhiệm vụ của Thư viện Trung ương Quân đội
1.2.1 Chức năng
- Tham mưu cho thủ trưởng Tổng cục Chính trị và Bộ quốc phòng về công tác thông tin – thư viện và hoạt động sách báo trong quân đội
- Sưu tầm, bảo quản, tàng trữ lâu dài tài liệu, vật mang tin về quân sự và
có liên quan ở trong và ngoài nước
- Bổ sung sách tập trung để cấp phát cho các thư viện đơn vị trong toàn quân để góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn đội
- Tổ chức khai thác và phục vụ chung vốn tài liệu nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thong tin phục vụ nhu cầu nghiên cứu học tập, giái trí của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội và nhân dân góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân
Trang 16lực, bồi dưỡng anh tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Biên soạn và phát hành thông tin - thư mục về các nội dung có liên quan đến quân sự, quốc phòng, an ninh để cung cấp thông tin và định hướng đọc cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội
- Hướng dẫn và kiểm tra nghiệp vụ, bồi dưỡng đào tạo cho cán bộ thư
viện trong toàn hệ thống; tổ chức nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm
giữa các thư viện trong quân đội và kết hợp với các thư viện trong nước và
- Tuyên truyền, giới thiệu tài liệu tới bạn đọc: tổ chức giới thiệu sách, triển lãm sách báo, toạ đàm, chuyên đề, hội thảo
- Bổ sung, sưu tầm, trao đổi tài liệu của thư viện để phục vụ công tác học
tập, nghiên cứu lâu dài trong quân đội Tiếp nhận ấn phẩm lưu chiểu của các đơn vị trong toàn quân
- Xử lý kỹ thuật tài liệu trong thư viện để tạo ra các cơ sở dữ liệu phục vụ
việc xây dựng mục lục tra cứu, thư mục phục vụ cho quá trình tìm tin
- Tổ chức các phòng đọc, phòng mượn một cách hợp lý và kịp thời với yêu cầu của bạn đọc
- Tổ chức sắp xếp, bảo quản và đưa vào sử dụng lâu dài kho tài liệu của Thư viện
- Biên soạn các loại Thư mục: Thư mục giới thiệu sách báo mới, thư mục chuyên đề, các tài liệu nghiên cứu phục vụ lãnh đạo…
Trang 17- Nhập và cấp phát sách cho các đơn vị trong toàn quân một cách có định hướng
- Hướng dẫn nghiệp vụ Thư viện cho cán bộ, nhân viên thư viện của các thư viện trong toàn quân
1.3 Đội ngũ cán bộ và cơ cấu tổ chức
1.3.1 Đội ngũ cán bộ
Thư viện Quân đội có trên 39 cán bộ, công nhân viên Trong đó:
- 38 Cán bộ biên chế và 1 nhân viên hợp đồng
- 07 thạc sĩ thông tin thư viện và công nghệ thông tin
- 23 cử nhân chuyên ngành thông tin thư viện
- 03 kỹ sư công nghệ thông tin
- 02 cử nhân ngoại ngữ
- 03 cử nhân các ngành khác
1.3.2 Cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức của thư viện được bố trí theo chức năng, nhiệm vụ của
từng bộ phận Bao gồm các bộ phận: Ban giám đốc, Hội đồng khoa học, Ban hành chính, và các phòng chức năng như:
* Phòng bổ sung và xử lý kỹ thuật
- B ộ phận Bổ sung: Nghiên cứu tình hình xuất bản trong nước và nước ngoài,
xác định diện bổ sung tài liệu Thu thập, lựa chọn các loại hình tài liệu bằng các hình thức mua, nhận lưu chiểu, trao đổi, biếu, tặng, sao chụp
- B ộ phận xử lý kỹ thuật: Sách báo được nhập vào Thư viện phải được chuyển
sang khâu xử lý kỹ thuật trước khi đưa ra sử dụng Công việc của khâu này
Trang 18 Nhập và xây dựng cơ sở dữ liệu
bạn đọc kịp thời và tại điều kiện để họ tiếp xúc trực tiếp với những tài liệu
mới nhất, phòng đọc tổng hợp đã tổ chức một kho mở các tài liệu mới ngay
tại nơi phục vụ
+ Phòng tra cứu
Kho tài liệu tra cứu là một trong những bộ phận cấu thành của bộ máy tra cứu tìm tin ở bất cứ một cơ quan thông tin thư viện nào Kho tài liệu này càng phong phú và được tổ chức khoa học bao nhiêu thì việc phục vụ tra cứu tìm tin càng dễ dàng bấy nhiêu Bao gồm toàn bộ các tài liệu tra cứu được tổ
chức dưới dạng kho mở với 14 giá tài liệu và gần 7.000 tài liệu tra cứu khác nhau gồm:
+ Tài liệu chỉ đạo: Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, các văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước, các tác phẩm quan trọng của Đảng và Nhà nước ta
+ Tài liệu tra cứu: Các loại bách khoa, từ điển, cẩm nang, sách dẫn, sổ tay tra
cứu
+ Phòng đọc nghiên cứu
Để phục vụ cho các cán bộ quản lý, các sĩ quan trung, cao cấp trong quân đội, các nhà nghiên cứu, các giáo sư, tiến sĩ…Bạn đọc có thể tự chọn cho mình các luận văn, luận án của các thạc sĩ, tiến sĩ thuộc các học viện trong quân đội và các trường đại học, viện nghiên cứu ngoài quân đội nhưng
có liên quan đến đề tài chiến tranh, quân đội và quốc phòng; các tài liệu nộp
Trang 19lưu chiểu chỉ lưu hành nội bộ quân đội Trong trường hợp cần thiết bạn đọc có
thể được phục vụ cả các tài liệu mật
+ Phòng báo – tạp chí
Bao gồm những ấn phẩm chứa đựng những thông tin nhanh, tính thời
sự cao Người đọc tại phòng này chủ yếu thuộc: nhóm những người làm báo, làm thông tin, nhân viên các cơ quan, văn phòng…Ngoài chức năng phục vụ
bạn đọc thủ thư phòng báo – tạp chí còn phải thường xuyên tính hành công
việc trích các bài báo, tạp chí vào máy tính để phục vụ độc giả theo chuyên
đề
+ Phòng mượn
Ngoài phục vụ tại chỗ, TVTWQĐ còn tổ chức phục vụ mượn về nhà Hình thức phục vụ này được Thư viện áp dụng từ những ngày sơ khai Được
tổ chức như một thư viện thu nhỏ với kho sách và bộ máy tra cứu tìm tin riêng, đối tượng phục vụ riêng Chủ yếu thực hiện chức năng của thư viện phổ thông: phục vụ cho công tác tuyên truyền, công tác đảng, công tác chính trị, đáp ứng nhu cầu học tập nâng cao trình độ văn hóa, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, giúp người đọc giải trí lành mạnh Đối tượng phục vụ của phòng mượn là các sĩ quan, công nhân viên quốc phòng đóng quân tại địa bàn
Hà Nội Kho tài liệu của phòng mượn là các ấn phẩm có nội dung tổng hợp và được tổ chức dưới dạng kho mở
+ Tổng kho: là nơi lưu trữ toàn bộ các tài liệu được nhập vào thư viện
* Phòng thông tin – thư mục – máy tính
Phòng Thông tin – Thư mục có nhiệm vụ biên soạn các thư mục khác nhau như thư mục chuyên đề, thư mục thông báo sách mới, thư mục giới thiệu sách cấp phát trong quân đội, thư mục giới thiệu sách quân sự…Và xử lý hồi
cố các tài liệu của Thư viện nhập về từ trước năm 1997nhằm thực hiện số hóa toàn bộ kho sách, báo, tư liệu của thư viện để quản lý trên máy tính
Trang 20bằng kinh phí tự chi
* Phòng nghiệp vụ
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban giám đốc, các trợ lý nghiệp vụ có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề nghiệp vụ thông tin thư viện, lên kế hoạch chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ, xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn cho cán bộ
của Thư viện Quân đội và hệ thống thư viện toàn quân; biên soạn, cung cấp sách giáo trình, văn bản pháp quy, tài liệu sổ sách, phích phiếu, tủ giá nghiệp vụ cho các thư viện đơn vị, mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn cho nhân viên thư viện đồng thời kiểm tra công tác thư viện và hoạt động sách báo của các đơn
vị cơ sở…
1.4 Khái quát nguồn lực thông tin tại Thư viện Trung ương Quân đội
Tính đến năm 2009 tổng số vốn tài liệu đã có hơn 350.000 bản sách, tư
liệu các loại( trong đó có hơn 230.000 cuốn sách quốc văn, hơn 70.000 cuốn sách ngoại văn, hơn 22.000 cuốn tư liệu, hơn 5000 cuốn luận văn, luận án), khoảng hơn 1600 tên báo, tạp chí trong nước và nước ngoài với các thứ tiếng
Việt, Nga, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc và một số ngôn ngữ khác, hơn 400 đĩa CD-ROM, khoảng 50.000 trang tài liệu điện tử Trong tổng số vốn tài liệu này thì tài liệu quân sự và chính trị chiếm ưu thế
Đặc biệt Thư viện Quân đội có nhiều tài liệu quý hiếm như: Các bộ Bách khoa thư, các loại từ điển, sách tra cứu các chuyên ngành, các tài liệu về
Trang 21quân sự Nguồn tài liệu quý hiếm do chính các đơn vị trong quân đội phát hành như: Các văn bản, hội thảo khoa học, các báo cáo nghiên cứu khoa học, sáng
kiến, sáng chế, luận án tiến sĩ trong và ngoài nước Nguồn tài liệu của Thư viện Trung ương Quân đội được tạo nên từ việc bổ sung và từ nguồn biếu, tặng, trao đổi Tuy nhiên, tài liệu từ nguồn này không nhiều, chỉ mang tính tuyên truyền và ngoại giao là chủ yếu
Xét về loại hình tài liệu, hiện nay Thư viện Trung ương Quân đội có các loại hình tài liệu sau:
- Tài liệu dạng giấy: bao gồm các loại sách, báo – tạp chí, tư liệu, luận văn
– luận án, thư mục
- Tài liệu điện tử: gồm các cơ sở dữ liệu điện tử, các CD-ROM, băng video,
nguồn thông tin điện tử trên mạng Intranet MISTEN, sách điện tử toàn văn
1.4.1 Tài liệu dạng giấy
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển , từ 500 cuốn sách đầu tiên tính đến thời điểm hiện nay Thư viện đã có tổng số vốn tài liệu dạng giấy
là 336.157 bản sách, tư liệu các loại (trong đó có 236.604 cuốn sách quốc văn, 22.280 cuốn tư liệu, 5.586 cuốn luận văn, luận án, 71.687 cuốn sách ngoại văn), khoảng 1.600 loại báo, tạp chí Vốn tài liệu dạng giấy của Thư viện Quân đội có cơ cấu nội dung và ngôn ngữ rất phong phú
Có thể thấy điều này qua 2 bảng thống kê sau đây:
Loại tài liệu
Nội dung
Toàn bộ vốn tài liệu
Sách Báo – tạp chí
Việt Ngoại văn Việt Ngoại văn
Tài liệu về quân sự 34% 28% 45% 30% 40%
Tài liệu về chính trị 29% 32% 33% 43% 45%
TL văn học nghệ thuật 28% 36% 7% 20% 8%
Các loại tài liệu khác 9% 4% 15% 7% 7%
Bảng 1: Cơ cấu vốn tài liệu theo nội dung
Trang 22Loại tài liệu
Bảng 2: Cơ cấu vốn tài liệu theo ngôn ngữ
1.4 2 Tài liệu điện tử
Vốn tài liệu điện tử tại Thư viện Quân đội được chia thành 3 nhóm:
- Các ấn phẩm điện tử:
Ngày nay CD-ROM đang được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong các
cơ quan Thông tin- thư viện Nhiều tạp chí khoa học, nhiều ấn phẩm thông tin bên cạnh việc xuất bản dưới dạng in truyền thống còn được đưa ra thị trường dưới dạng CD – ROM Từ năm 1999 Thư viện Quân đội bắt đầu quan tâm đến việc sưu tầm các ấn phẩm điện tử này Tuy nhiên với điều kiện kinh phí
có hạn hiện Thư viện có hơn 400 đĩa CD-ROM, 200 băng video, gồm các cơ
sở dữ liệu dữ kiện và tài liệu toàn văn như: bách khoa, từ điển, các thông tin mang nội dung chuyên ngành chính trị, xã hôi, quân sự
- Các cơ sở dữ liệu:
Trong nguồn tài liệu dạng điện tử các cơ sở dữ liệu đóng vai trò chủ đạo.Việc xây dựng cơ sở dữ liệu do phòng thông tin thư mục đảm nhiệm được xây dựng bằng phần mềm CDS/ISIS
+ Cơ sở dữ liệu thư mục sách Thư viện Quân đội: 91.593 biểu ghi thư mục
+ Cơ sở dữ liệu đăng ký báo, tạp chí
+ Cơ sở dữ liệu bài trích báo, tạp chí
+ Cơ sở dữ liệu sách điện tử: bao gồm hơn 1.000 tài liệu điện tử
Trang 23toàn văn
+ Cơ sở dữ liệu chuyên đề
+ Cơ sở dữ liệu quản lý bạn đọc: với gần 3.000 biểu ghi về bạn đọc thường xuyên của Thư viện
Ta có thể khái quát như sau:
STT Tên CSDL Phạm vi bao quát Tổng số
biểu ghi
Thời gian bắt đầu
Mức độ cập nhật
Thường xuyên
Mục lục các tên báo, tạp chí có trong TV
Thường xuyên
Bảng 3: Các loại Cơ sở dữ liệu của Thư viện
- Nguồn lực thông tin trên mạng Intranet MISTEN:
Đây là mạng của ngành thông tin khoa học – công nghệ - môi trường quân sự, có chức năng cung cấp và thu nhận thông tin khoa học – công nghệ - môi trường phục vụ lãnh đạo chỉ huy, quản lý nghiên cứu trong toàn quân Hệ thống máy chủ và thiết bị cơ bản của mạng đặt tại Trung tâm Khoa học Quân
sự Bộ Quốc Phòng do trung tâm vận hành, quản lý và bảo quản Mạng MISTEN là mạng cung cấp thông tin lớn nhất, là nguồn khai thác cập nhật thông tin hiệu quả nhất mà Thư viện Quân đội đang sử dụng hiện nay
Thư viện Quân đội đã xây dựng trang web phục vụ thông tin trên mạng, đưa lên mạng các cơ sở dữ liệu của mình đồng thời tạo điều kiện truy
Trang 24cập và nhận thông tin của các cơ quan thông tin, thư viện trong quân đội làm phong phú thêm kho tài liệu điện tử của mình, góp phần đáp ứng nhu cầu tin
đa dạng và phong phú của bạn đọc ngày càng nhanh chóng, chính xác, đầy đủ
1.5 Cơ sở vật chất
Hiện nay, được sự quan tâm của nhà nước và Bộ Quốc Phòng, thư viện Quân đội đã có được trụ sở khang trang gồm khu lưu trữ 5 tầng, hệ thống phòng Đọc, phòng Mượn, Phòng Hội nghị, hội thảo, phòng máy tính, phòng
Bổ sung và Xử lý kỹ thuật Và một khu nhà 2 tầng là phòng xử lý nghiệp vụ
nằm ở bên dưới Trong mỗi phòng ban làm việc của TVTWQĐ có các trang thiết bị phục vụ cho công tác thư viện như: bàn, ghế, tủ, giá sách, máy tính, máy in, máy photocopy
Hiện nay, Thư viện có hệ thống máy tính gồm gần 30 máy tính được trang bị ở các phòng Trong đó ở Phòng đọc điện tử có 12 máy tính được nối
mạng internet để phục vụ bạn đọc Thư viện được trang bị 3 máy in, 1 máy photocoppy, 1 máy scaner
Bàn ghế chỗ ngồi:
- Phòng Báo – tạp chí: tại phòng báo có 25 bộ bàn ghế, với khoảng 50
chỗ ngồi cho bạn đọc
- Phòng Đọc tổng hợp và phòng Tra cứu: được bố trí cùng một phòng chia thành hai bên, mỗi bên có khoảng 20 bộ bàn ghế với khoảng 50-60 chỗ
ngồi cho bạn đọc
Hệ thống giá kệ:
- Phòng tra cứu có 14 giá tài liệu và phòng đọc tổng hợp có 21 giá
- Phòng Báo – Tạp chí: có hệ thống giá kệ tương đối đầy đủ, với khoảng 20 giá gỗ kê tại phòng đọc báo – tạp chí, và trong kho có khoảng 50 giá Trong đó có khoảng 30 giá nén, để lưu trữ số lượng lớn báo khổ vừa và
tạp chí đóng tập
- Phòng mượn: Có khoảng 50 giá tài liệu, chứa một số lượng lớn tài
liệu
Trang 25 Máy móc, trang thiết bị:
- Tại phòng đọc điện tử của Thƣ viện có gần 20 máy tính có nối mạng internet để bạn đọc có thể đọc thông tin trên mạng và cũng có thể tra cứu tài
liệu tại phòng này
- Tại các phòng của Thƣ viện đều có 1 đến 2 máy tính để bạn đọc tra
cứu và 1 máy tính, máy in để cán bộ thực hiện công việc chuyên môn nghiệp
vụ Ngoài ra còn có một máy Photocoppy để phục vụ cho những bạn đọc có nhu cầu sao chụp tài liệu
- Tại tất cả các phòng đều đƣợc trang bị hệ thống ánh sáng, quạt, bàn
ghế…
Trang 26
CHƯƠNG 2
THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI
2.1 Cơ sở lý luận về nhu cầu tin
2.1.1 Khái niệm về nhu cầu tin
Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người muốn được tiếp nhận
và sử dụng thông tin phục vụ cho các hoạt động sống của mình
Các nhu cầu tin của người dùng tin thường nảy sinh khi họ cần nắm bắt được
những kết quả của một lĩnh vực mà họ quan tâm, khi họ cần nắm bắt được các thông tin dữ kiện, những số liệu và phương pháp cần cho công việc của họ Các nhu cầu tin này thay đổi tuỳ theo bản chất công việc và nhiệm vụ mà người dùng tin phải hoàn thành
2.1.2 Nh ững nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhu cầu tin
Nhu cầu tin là một loại nhu cầu của người dùng tin, chịu ảnh hưởng của
những đặc điểm tâm sinh lý, điều kiện sống và các hoạt động xã hội của chính người dùng tin đó, nhu cầu tin luôn biến đổi dưới tác động của các yếu tố
khách quan: Môi trường hoạt động, tính chất hoạt động nghề nghiệp và nhiều
yếu tố khác của người dùng tin, tạo nên bản sắc và sự đa dạng của hoạt động thông tin
- Hoàn cảnh lịch sử, xã hội
Nhu cầu tin được hình thành và phát triển trong quá trình phát triển của
xã hội, chịu ảnh hưởng của điều kiện lịch sử xã hội cụ thể Hoàn cảnh lịch sử,
xã hội thể hiện trên 2 phương diện là chế độ chính trị xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Hiện nay, khoa học kỹ thuật càng phát triển thì nhu cầu tin càng phong phú và đa dạng, đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ thông tin như hiện nay thi việc nắm bắt thông tin nhanh chóng là việc vô cùng cần thiết
Trang 27- Ngh ề nghiệp
Nghề nghiệp là hoạt động lao động chủ yếu của con người trong xã
hội, đòi hỏi con người cần có kỹ năng kỹ xảo riêng để đáp ứng yêu cầu của công việc Để nâng cao trình độ, con người có nhu cầu tin đến các thông tin phù hợp với nghề nghiệp của mình Tại thư viện Trung ương Quân đội với đối tượng bạn đọc phong phú, đa dạng hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau:
học tập và nghiên cứu khoa học… càng thôi thúc nhu cầu tin ngày một nâng cao
- Trình độ văn hoá
Trình độ văn hoá chứng tỏ sự phát triển trong đời sống tinh thần, người
hiểu biết càng cao thì nhu cầu đọc càng lớn, nhu cầu thông tin càng sâu và
rộng Và những người có trình độ văn hóa khác nhau thì có nhu cầu tin cũng khác nhau
- L ứa tuổi
Tuổi tác có ảnh hưởng đến năng lực nhận thức, tâm lý của con người,
do đó nó có ảnh hưởng đến nhu cầu tin của họ
- Gi ới tính
Đặc điểm về giới tính được hình thành bởi các yếu tố như: Cấu trúc sinh
lý, năng lực, tâm lý Những đặc điểm đó có ảnh hưởng đến nhu cầu tin của con người
- Chất lượng phục vụ thông tin của Thư viện/ Trung tâm thông tin
Được thể hiện ở chỗ thư viện có thoả mãn đầy đủ, chính xác và kịp
thời thông tin cho người đọc không Nếu được thoả mãn thì tính chu kỳ của nhu cầu sẽ được lặp lại và nội dung của nhu cầu được nâng cao Nếu không thoả mãn thì sẽ là một trong các nguyên nhân là cho nhu cầu bị triệt tiêu
- S ở thích cá nhân
Sự tác động của môi trường đến mỗi con người không giống nhau, sự
tiếp thu của từng người đọc trước tác động của các nhân tố khách quan cũng
Trang 28khác nhau Bởi vậy sở thích cá nhân khác nhau ở từng người dùng tin cụ thể,
dẫn đến nhu cầu tin của mỗi người lại khác nhau
2.2 Kh ảo sát thực trạng nhu cầu tin của Thư viện Trung ương Quân đội 2.2.1 Đặc điểm nhu cầu tin của từng nhóm người dùng tin
Thư viện Trung ương Quân đội có chức năng góp phần nâng cao kiến
thức mọi mặt, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho cán bộ và chiến sĩ quân đội Với chức năng như vậy, đối tượng bạn đọc của Thư viện ngày càng được mở rộng mang tính xã hội hóa cao: từ chỗ chỉ đơn thuần phục vụ cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân đến nay thư viện mở cửa phục vụ tất cả các đối tượng
bạn đọc khác như: cán bộ công nhân viên nhà nước, cán bộ hưu trí, học sinh, sinh viên…Thành phần bạn đọc của thư viện hiện nay rất đa dạng, sự đa dạng
đó được thể hiện trong cương vị công tác, nghề nghiệp tuổi tác… do đó nhu
cầu tin của họ cũng khác nhau, rất đa dạng và phong phú
Thông qua việc quan sát và nghiên cứu người dùng tin, chúng tôi
nhận thấy rằng Thư viện Trung ương Quân đội có 4 nhóm người dùng tin chủ
yếu để từ đó có những nhận xét về nhu cầu tin của từng nhóm và ra những chính sách phát triển phù hợp
Nhóm người làm công tác lãnh đạo quản lý
Người thuộc nhóm này gồm các thủ trưởng tổng cục, những người làm công tác lãnh đạo quản lý, chỉ huy các cấp trong và ngoài quân đội Họ
cần những thông tin để ra quyết định, chỉ đạo và điều hành công việc Yêu
cầu thông tin của họ vừa có tầm bao quát rộng, vừa có giá trị thông tin cao, chính xác đầy đủ và cụ thể Việc lựa chọn thông tin cho nhóm này cần được nghiên cứu kỹ, phù hợp với trình độ và yêu cầu của họ Thông tin cần cho nhóm này thường là những vấn đề thời sự nóng hổi, các vấn đề có liên quan đến khoa học lãnh đạo, khoa học quản lý, các phương hướng phát triển của đất nước, quân đội…Phương pháp phục vụ chủ yếu cho nhóm người đọc này
là phục vụ từ xa bằng cách cung cấp đến từng người các thư mục và ẩn phẩm thông tin, cho mượn tài liệu theo yêu cầu cụ thể
Trang 29 Nhóm những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy
Gồm những người đang tham gia các đề tài nghiên cứu cấp Bộ, cấp Nhà nước, các giáo sư, phó giáo sư, các giảng viên đại học…Họ thường quan tâm đến những tài liệu chuyên sâu, tài liệu về một ngành khoa học nào đó ở diện
hẹp nhưng phải thực sự là những tài liệu có giá trị nghiên cứu Ngoài những thông tin mới cập nhật họ còn cần cả những tài liệu hồi cố Người đọc nhóm này là những người hiểu biết, nắm vững nguồn tài liệu của ngành mình Do
tiếp xúc với thư viện nhiều nên họ biết cách tra tìm tài liệu trên máy vi tính
Họ thường biết một đến hai ngoại ngữ, biết cách trình bày chính xác các nhu
cầu và yêu cầu về tài liệu của mình Người đọc nhóm này rất cần được thư
viện quan tâm Tính khoa học của thư viện được thể hiện rõ nhất trong việc
phục vụ nhu cầu tin cho chính nhóm người này
Nhóm nghiên cứu sinh, học sinh, sinh viên
Hiện nay, Thư viện tổ chức phục vụ nhóm bạn đọc là nghiên cứu sinh,
học viên cao học, sinh viên các trường trong và ngoài quân đội Người đọc thuộc nhóm này cần thông tin và tài liệu phục vụ cho việc học tập và làm khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án Thông tin mà họ sử dụng thường rộng
và không quá chuyên sâu Đó là những kiến thức cơ bản về các ngành khoa
học Do không thường xuyên đến thư viện nên họ thường bỡ ngỡ trong việc tìm kiếm thông tin Vì vậy cán bộ thư viện cần chú ý hướng dẫn họ phương pháp sử dụng mục lục thư viện, sử dụng các tài liệu tra cứu, cách tìm tin trên máy vi tính…
Cán bộ hưu trí trong và ngoài quân đội
Người đọc nhóm này thường là các cán bộ, sĩ quant rung cao cấp trong quân đội, các cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý ở các viện…đã nghỉ hưu Họ
là những người hiểu biết rộng, có nhiều kinh nghiệm, đến thư viện để củng
cố, cập nhật kiến thức, để viết hồi ký và để giải trí…Họ thường quan tâm đến các tài liệu chính trị - xã hội, lịch sử và văn học Họ có nhiều thời gian nên
Trang 30đến thư viện đều đặn nhất và thường rất tâm huyết với việc góp sức xây dựng Thư viện, là những người đọc tích cực, là những hạt nhân của phong trào đọc sách và tuyên truyền
2.2.2 Đặc điểm nội dung nhu cầu tin
Nhằm phát huy việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực thông tin, thu hút ngày càng đông bạn đọc đến với Thư viện Việc nghiên cứu khảo sát nhu cầu tin của bạn đọc có một ý nghĩa quan trọng, giúp xác định rõ hơn mối quan hệ
giữa Thư viện với bạn đọc, nó giúp đưa ra những luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển Thư viện trước mắt cũng như lâu dài
Để góp phần khắc phục những hạn chế, tồn tại trong công tác phục vụ Tôi đã tiến hành việc phát phiếu điều tra nhu cầu tin cho bạn đọc tại Thư viện Trung ương Quân đội Với mục đích điều tra, xác định nhu cầu tin của bạn đọc, công tác phục vụ bạn đọc cũng như những kiến nghị khác liên quan đến
hoạt động của Thư viện
Trong tổng số phiếu đã phát đi là 150 phiếu và thu về la 120 phiếu (80%) Qua phân tích các nội dung chính được đề cập trong “ Phiếu điều tra Nhu cầu tin” đã nhận được, bước đầu có thể đưa ra những đánh giá sau:
*) Nhu c ầu về nội dung thông tin mà người dùng tin thường sử dụng
Theo kết quả điều tra cho thấy, thì nhóm người dùng tin chủ yếu tại Thư
viện là Nhóm cán bộ quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và nhóm cán bộ hưu trí
là lực lượng chiếm tỷ lệ cao nhất Nhu cầu tin của họ rất đa dạng và phong phú Mỗi người dùng tin đều lựa chọn cho mình lĩnh vực nghiên cứu phù hợp
với chuyên ngành của họ
Trang 31l ời
T ổng
tỷ lệ (%)
Cán bộ lãnh đạo,
ch ỉ huy, quản lý
Cán bộ nghiên
c ứu, giảng dạy
Học sinh, sinh viên
Cán bộ hưu trí
Bảng 4: Nội dung tài liệu mà người dùng tin quan tâm
Qua việc phân tích phiếu điều tra cho thấy người dùng tin tại Thư viện
có nhu cầu tin rất đa dạng phong phú
Do đặc thù của Thư viện Trung ương Quân đội là Thư viện khoa học
tổng hợp về quận sự nên bạn đọc đến đây tìm đọc những tài liệu về quân sự ngày càng nhiều và chiếm tỷ lệ cao 87.5% Đó là những tài liệu có nội dung
về quá trình hình thành, phát triển của lịch sử Việt Nam, những chiến dịch,
những trận đánh, những địa danh trong lịch sử, hồi ký của các tướng lĩnh…
Trang 32Đối tượng bạn đọc sử dụng những tài liệu có nội dung này chủ yếu là các cán
bộ hưu trí chiếm tỷ lệ 38.1 %, và cán bộ lãnh đạo quản lý chiếm tỷ lệ 34.3% trong tổng số phiếu của lĩnh vực này, bởi đa số họ đều là những người từng tham gia hoạt động trong quân đội Và một số ít là học sinh, sinh viên ( chiếm
tỷ lệ 8.6%) họ tìm đọc những tài liệu này với mục đích phục vụ cho việc học
tập, nghiên cứu, giảng dạy của họ
Những tài liệu có nội dung chính trị, xã hội, kinh tế cũng được người dùng tin tại thư viện quan tâm và chiếm tỷ lệ cao 74.2% Nhóm bạn đọc quan tâm đến những tài liệu này chủ yếu là nhóm cán bộ quản lý, lãnh đạo chỉ huy ( chiếm tỷ lệ 49.5 %) Họ thường đọc những tài liệu chung về phương hướng phát triển quân đội, tình hình chính trị, kinh tế xã hội, những văn kiện chỉ đạo,
những tài liệu tổng kết, chỉ thị nghị quyết… được trình bày một cách tổng
hợp, phạm vi rộng, đề cập đến nhiều lĩnh vực Còn những nhóm người dùng tin khác thì sử dụng loại tài liệu này không nhiều, họ chủ yếu tìm đọc với mục đích tham khảo, mở rộng hiểu biết
Người dùng tin sử dụng những tài liệu có nội dung về lịch sử, văn học nghệ thuật cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao: trên 40% Nhóm người dùng tin sử
dụng những tài liệu có nội dung này cũng đa dạng, không đặc trưng cho một nhóm nào Bởi những cán bộ hưu trí ( chiếm tỷ lệ 22.1 %) đọc những tài liệu này với mục đích giải trí; nhóm cán bộ giảng dạy (37.6%); học sinh, sinh viên (30.4%) chiếm tỷ lệ cao trong việc sử dụng tài liệu thuộc lĩnh vực này,
họ đọc những tài liệu này để tìm hiểu, nghiên cứu phục vụ giảng dạy và học
tập vì đây là lĩnh vực có liên quan và hỗ trợ nhiều đến công việc giảng dạy,
Trang 33các loại tài liệu khác có nội dung phong phú cũng thu hút được nhiều đối tượng bạn đọc khác nhau
*) Nhu c ầu về loại hình tài liệu
B ảng 5: Nhu cầu về loại hình tài liệu
Ngày nay, do ứng dụng công nghệ thông tin, các loại hình tài liệu ngày càng phong phú đa dạng, sử dụng thuận tiện, có hiệu quả cao Thông tin ngày càng tăng, người dùng tin đứng trước nhiều sự lựa chọn, vấn đề là họ sẽ lựa
chọn nguồn tin nào và dạng tài liệu gì Theo kết quả điều tra cho thấy, người dùng tin tại Thư viện Trung ương Quân đội sử dụng nhiều loại hình tài liệu, nhưng nhìn chung lại tài liệu truyền thống vẫn được ưa chuộng nhất và chiếm
tỷ lệ cao nhất
Sách là loại hình tài liệu nhiều nhất của Thư viện, và cũng được sử dụng nhiều nhất chiếm tỷ lệ tuyệt đối là 100% Tất cả các nhóm người dùng tin ai cũng sử dụng sách là chủ yếu Vì thông tin trên sách có độ tin cậy cao, kiến
thức được xuất bản chủ yếu dưới dạng sách Nhóm người dùng tin là học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh và nhóm cán bộ giảng dạy sử dụng loại hình này là chủ yếu
Nhu cầu lớn thứ 2 sau sách là sử dụng Báo – tạp chí chiếm tỷ lệ 77.5% Người dùng tin sử dụng báo – tạp chí chủ yếu là các cán bộ hưu trí, hằng ngày
họ đến đọc báo với mục đích giải trí, cập nhật thông tin mang tính thời sự
hằng ngày Ngoài ra nhóm người dùng tin là nghiên cứu sinh cũng thường sử
Trang 34dụng báo, tạp chí Họ nghiên cứu các loại tạp chí chuyên ngành phục vụ cho lĩnh vực nghiên cứu của họ, và đặc biệt là các bạn sinh viên học về chuyên ngành lịch sử cũng thường xuyên đến đọc các loại báo xuất bản từ những năm trước được Thư viện đóng tập và lưu lại Bên cạnh đó các loại báo, tạp chí
tiếng nước ngoài cũng được sử dụng hầu hết tập trung ở những người có trình
độ chuyên môn cao, ngoại ngữ giỏi
Nhu cầu sử dụng internet tại Thư viện cũng chiếm tỷ lệ cao 55.8% Hiện nay, Thư viện có một phòng máy nối mạng phục vụ cho bạn đọc Tại đây họ
có thể tìm bất kỳ thông tin nào mà họ quan tâm Thông tin được tìm nhanh chóng, dễ dàng, không mất nhiều thời gian công sức Nếu người dùng tin thấy khó khăn trong cách tìm kiếm thông tin, hoặc cách thức tìm kiếm, sử dụng máy tính có thể nhờ cán bộ tại phòng máy chỉ dẫn.Ngoài ra họ có thể tra cứu
tại phòng này.Và được phục vụ hoàn toàn miễn phí
Tài liệu luận văn, luận án chiếm tỷ lệ trung bình 19.2 % Do những tài
liệu này chủ yếu là các sinh viên năm cuối và học viên, nghiên cứu sinh quan tâm Hiện nay, Thư viện cũng bổ sung rất nhiều luận văn, luận án có giá trị khoa học giúp bạn đọc tham khảo, nghiên cứu
Tư liệu của Thư viện Quân đội đã có hơn 22.000 bản Đây là những tài liệu gốc được đánh máy, sao chụp, các tư liệu được bảo quản ở kho riêng biệt Nội dung kho tư liệu này cũng rất phong phú, đa dạng và trong số những tài liệu này có rất nhiều tư liệu mật, không phổ biến Các tài liệu này đáp ứng nhu cầu thông tin thời sự của đông đảo bạn đọc, đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo quản lý, chỉ huy trong quân đội Nên chiếm tỷ lệ cũng tương đối 14.2%
Số người sử dụng tài liệu điện tử của Thư viện còn ít, chiếm tỷ lệ thấp 10% Các nguồn tin cho Thư viện cần phải được số hóa, trong đó có cả tài liệu điện tử toàn văn để người dùng tin có thể tra cứu và đọc tài liệu trực tiếp
mà không cần đến Thư viện
Trang 35*) Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu
B ảng 6: Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu
Cùng với sự đi lên của xã hội, nhu cầu học hỏi, giao lưu, hội nhập là điều kiện rất cần thiết để bạn đọc có thể bổ sung những kiến thức phong phú Tuy nhiên, hiện nay ngoại ngữ vẫn là rào cản lớn đối với việc giao tiếp, chuyển giao công nghệ, chia sẻ nguồn lực thông tin Với Thư viện Trung ương Quân đội vấn đề tiếp cận và sử dụng tài liệu ngoại văn cũng con nhiều
hạn chế do người dùng tin chủ yếu là nhóm lãnh đạo, quản lý, cán bộ hưu trí
Số người dùng tin có trình độ ngoại ngữ cao là rất ít
Ngôn ngữ được người dùng tin sử dụng nhiều nhất là tiếng Việt, 100% người dùng tin đều dùng tài liệu Tiếng Việt
Do Tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trên thế giới, mặc
dù tỷ lệ không cao nhưng cũng chiếm 12.5% Bạn đọc sử dụng ngôn ngữ này
chủ yếu là các bạn học sinh, sinh viên, và các cán bộ lãnh đạo, quản lý
Trước đây tài liệu ngoại văn chủ yếu là tiếng Nga Nhưng do tiếng Nga ngày càng ít người học và sử dụng, nên nhu cầu sử dụng sách tiếng Nga cũng không nhiều 7.5% Chủ yếu là nhóm cán bộ hưu trí đã từng học và làm việc
bằng tiếng Nga Còn các loại ngôn ngữ khác rất ít được người dùng tin sử
dụng
Trang 36*) Nhu c ầu về thời gian xuất bản tài liệu
B ảng 7: Nhu cầu về thời gian xuất bản tài liệu
Nhìn vào bảng trên ta thấy, số lượng người sử dụng tài liệu tỷ lệ thuận
với thời gian xuất bản tài liệu Tài liệu càng mới thì số lượng người dùng tin càng nhiều Do tài liệu mới được bổ sung kiến thức, được chỉnh sửa phù hợp
và cập nhật những thông tin mới nên thu hút được nhiều bạn đọc
Những tài liệu xuất bản trước năm 1990 chiếm tỷ lệ thấp 19.2% Những người dùng tin sử dụng tài liệu xuất bản thời gian này chủ yếu là nhóm học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh cần nghiên cứu về lịch sử
Tài liệu xuất bản từ năm 2000 đến nay được quan tâm nhiều nhất chiếm 93.3% Do nhu cầu về tính mới và cập nhật thông tin mới nên những tài liệu
xuất bản trong thời gian này được bạn đọc quan tâm và sử dụng nhiều
2.2.3 Đặc điểm tập quán sử dụng thông tin của người dùng tin
Tập quán chính là thói quen hằng ngày trong đời sống xã hội cũng như sinh hoạt của con người Tập quán sử dụng thông tin là thói quen tìm kiếm thông tin, khai thác thông tin và sử dụng chúng Việc tìm hiểu, phân tích thói quen và tập quán sử dụng thông tin của người dùng tin là một vấn đề then
chốt trong quá trình điều tra, bởi nó sẽ giúp các cơ quan thông tin – thư viện
có những giải pháp điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp và thỏa mãn nhu cầu tin cho người dùng tin đạt hiệu quả cao
*) Địa điểm người dùng tin thường sử dụng
Trang 37Nhìn chung, người dùng tin thu thập thông tin chủ yếu ở Thư viện, chiếm tỷ lệ 87.5%, và chủ yếu họ là các cán bộ hưu trí, họ có nhiều thời gian
rảnh để đến thư viện đọc tài liệu Hơn nữa các phòng đọc tại Thư viện rộng rãi, thoáng mát, vốn tài liệu phong phú, bạn đọc có thể tìm được những tài
liệu phục vụ cho nhu cầu tức thời của họ
Nhóm người dùng tin thu thập thông tin ở nhà chủ yếu là các nhóm bạn đọc còn lại: nhóm cán bộ quản lý, lãnh đạo, nhóm cán bộ giảng dạy, học sinh, sinh viên Do thời gian rảnh của họ ít, lại không có điều kiện đến thư viện thường xuyên do tính chất công việc của họ, nên họ thường mượn sách hoặc đến photo tài liệu mang về nhà nghiên cứu
Ngoài Thư viện Trung ương Quân đội, còn có rất nhiều cơ quan thông tin – thư viện khác là nguồn khai thác thông tin cho người dùng tin Những người dùng tin ngoài việc thu thập thông tin ở Thư viện Trung ương Quân đội
Bảng 9: Các thư viện cụ thể mà người dùng tin thường sử dụng
Thư viện Quốc gia là một thư viện lớn, đa ngành, có số lượng tài liệu
lớn có giá trị và đáp ứng được hầu hết nhu cầu của tất cả các ngành nghề, các lĩnh vực mà người dùng tin quan tâm Do vậy số người dùng tin đến Thư viện
Quốc gia chiếm tỷ lệ lớn 70.8% Và các thư viện mang tính chất chuyên
Trang 38ngành khác cũng được người dùng tin quan tâm Họ chủ yếu là nhóm nghiên
cứu sinh, sinh viên, họ đến để tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về chuyên ngành của họ
*) Đặc điểm về thời gian khai thác thông tin
B ảng 10: Thời gian khai thác thông tin của người dùng tin
Nhìn chung nhóm người dùng tin này thu thập thông tin nhiều nhất từ
2 – 4 tiếng chiếm tỷ lệ 55.8% Chỉ có một số ít người dành thời gian tìm kiếm thông tin trên 6 tiếng 6.6% Theo điều tra thì nhóm các cán bộ hưu trí có thời gian sử dụng thông tin nhiều nhất Họ là các cán bộ đã hết tuổi công tác có nhiều thời gian để đọc tài liệu Còn phần lớn những người dành trên 6 tiếng
để thu thập tài liệu là các nghiên cứu sinh, ngoài thời gian tìm kiếm thông tin
ở các thư viện họ còn dành nhiều thời gian nghiên cứu ở nhà
*) Đặc điểm về công cụ khai thác thông tin
Trong giai đoạn hiện nay, nền tri thức phát triển nhanh, môi trường giao lưu học hỏi khoa học đã thúc đẩy hoạt động thông tin khoa học phát triển tạo
ra nhiều loại hình dịch vụ và sản phẩm thông tin phong phú đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng tin
Trang 39B ảng 11: Các công cụ khai thác thông tin
Qua thống kê cho thấy hệ thống mục lục truyền thống vẫn là nguồn thông tin, công cụ tra cứu phổ biến, quan trọng nhất với người dùng tin tại thư
viện Trung ương Quân đội Hệ thống mục lục của Thư viện được xây dựng tương đối hoàn chỉnh nhiều loại khác nhau, thường xuyên được bổ sung,
chỉnh lý, nhằm đáp ứng nhu cầu tra cứu của người đọc.Còn hệ thống tra cứu trên mạng chiếm tỷ lệ không cao 20.8%, do Thư viện Trung ương Quân đội
cơ bản vẫn là thư viện truyền thống Bộ máy tra cứu hiện đại còn ít, máy tính
phục vụ bạn đọc tra cứu đa số đã cũ và chậm
Dịch vụ sao, chụp tài liệu chiếm tỷ lệ tương đối cao 74.2% Do đặc trưng của Thư viện quy định một số đối tượng mới được mượn tài liệu về nhà, nên để có thời gian nghiên cứu tài liệu được nhiều hơn bạn đọc thường sử
dụng dịch vụ photo tài liệu Tuy nhiên Thư viện chỉ có một máy Photocoppy,
mà số lượng người dùng tin sao chụp tài liệu tương đối lớn Vì thế người dùng tin muốn sao chụp tài liệu phải hẹn giờ đến lấy
Trang 40Dịch vụ tìm kiếm thông tin trên cơ sở dữ liệu chưa được sử dụng nhiều,
do CSDL chưa phong phú và cũng chưa được phổ biến, hơn nữa công cụ để tra cứu CSDL cũng bị hạn chế
2.3 Kh ảo sát thực trạng đáp ứng thông tin tại Thư viện Trung ương Quân đội
2.3.1 Xây dựng nguồn lực thông tin
Ở dạng chung nhất, nguồn lực thông tin được hiểu là sự tổ hợp các thông tin nhận được và tích lũy trong quá trình phát triển khoa học, hoạt động
thực tiễn của con người Nguồn lực thông tin phản ánh các quá trình, hiện tượng tự nhiên – xã hội được ghi nhận trong kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức
và thực tiễn
Thực tế cho thấy nguồn lực thông tin của các thư viện ngày càng trở nên bất cập do nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người dùng tin Để giải quyết vấn đề này Thư viện Trung ương Quân đội đã tăng thêm nguồn lực thông tin bằng nhiều biện pháp, khai thác từ nhiều nguồn khác nhau Ngoài
việc đặt mua tài liệu, nhận lưu chiểu, Thư viện còn tranh thủ khai thác các nguồn trao đổi, biếu tặng, trong mạng thông tin…
Thư viện Trung ương Quân đội được thành lập từ ngày 15-11-1957 trên
cơ sở 500 cuốn sách tách từ kho của Tổng quân ủy cùng với một số sách báo
quốc văn, ngoại văn do các cơ quan bộ quốc phòng lưu giữ được
Tính đến năm 2009 tổng số vốn tài liệu đã có hơn 350.000 bản sách, tư
liệu các loại( trong đó có hơn 230.000 cuốn sách quốc văn, hơn 70.000 cuốn sách ngoại văn, hơn 22.000 cuốn tư liệu, hơn 5000 cuốn luận văn, luận án), khoảng hơn 1600 tên báo, tạp chí, hơn 400 đĩa CD-ROM, khoảng 50.000 trang tài liệu điện tử
Do có nhiều cố gắng trong công tác sưu tầm, lựa chọn bổ sung vốn tài
liệu, trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành đến nay Thư viện đã xây
dựng vốn tài liệu với cơ cấu như sau: