1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

V20 rèn luyện kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi ngữ văn

35 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 262,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Với chuyên đề Rèn kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi Ngữ văn, chúng tôi mong muốn: - Trang bị cho học sinh, đặc

Trang 1

và trí tuệ của con người Văn học giúp con người củng cố lòng tự hào dân tộc chânchính cùng với hoài bão nối bước người xưa, khai thác và làm giàu thêm di sản ôngcha, đưa xã hội đi lên Tuy nhiên, đã từ lâu, với đa số học sinh ở tất cả các cấp học,việc làm văn được coi là một loại lao động học tập khó khăn và cực nhọc Thực tế làngay đối với học sinh giỏi văn thì việc làm một bài văn vẫn chưa bao giờ dễ dàng.Điều đó đặt ra thử thách lớn lao đối với công việc rèn luyện, bồi dưỡng học sinh giỏivăn Lí giải hiện tượng này có nhiều nguyên nhân nhưng không thể phủ nhận một sựthực là học sinh đang thiếu kĩ năng xử lí vấn đề cụ thể Theo B.X.Naiđinxôp trong

cuốn “ Phương pháp đọc diễn cảm” thì: “ Dấu hiệu của sự nắm vững thật sự bất cứ một môn học nào là kĩ năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được vào thực tiễn” Đối với học sinh THPT, nghị luận là kiểu bài chủ yếu, quan trọng, có mặt

trong tất cả các kì thi Để làm tốt văn nghị luận chắc chắn không thể bỏ qua việc lựachọn và phân tích dẫn chứng Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi mong muốntrang bị cho học sinh giỏi văn kĩ năng chọn và đưa dẫn chứng vào bài nghị luận vănhọc

II Mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng áp dụng của đề tài

1 Mục tiêu nghiên cứu

Với chuyên đề Rèn kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi Ngữ văn, chúng tôi mong muốn:

- Trang bị cho học sinh, đặc biệt là học sinh giỏi văn những kĩ năng cơ bảnkhi chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học, giúp các em tự tin

và đạt kết quả cao hơn khi làm bài

- Đóng góp những ý kiến hữu ích vào công tác dạy và bồi dưỡng học sinh giỏivăn các cấp học, giao lưu học tập kinh nghiệm từ các đồng nghiệp để nâng caochất lượng giảng dạy

2 Phạm vi đề tài:

Trang 2

Chúng tôi nghiên cứu, khảo sát cách thức, kĩ năng chọn và phân tích dẫnchứng trong bài nghị luận văn học.

3 Đối tượng áp dụng:

Học sinh THPT đặc biệt là học sinh giỏi văn, học sinh chuẩn bị tham dự kì thichọn HSG các cấp

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thống kê, khảo sát

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp mô tả

5 Nhiệm vụ khoa học và những đóng góp mới của chuyên đề

5.1 Nhiệm vụ: Tạo nên một chuyên đề nghiên cứu có giá trị thực tiễn, giúp học sinh giỏi

văn giải quyết những vướng mắc khi chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận vănhọc

5.2 Đóng góp mới của đề tài: Không dừng lại ở lí thuyết mà đi sâu phân loại, hướng

dẫn, trao cho học sinh những cách thức cụ thể để có thể giải quyết vấn đề một cách dễdàng và đạt hiệu quả cao hơn

Trang 3

B/ PHẦN NỘI DUNG

I Tìm hiểu chung về văn nghị luận và vai trò của dẫn chứng trong văn nghị luận

1 Văn nghị luận

1.1 Khái niệm và phân loại văn nghị luận

Nghị luận là bàn bạc, tranh luận, là dùng lí lẽ và dẫn chứng xác thực cùng lập luận lô-gicchặt chẽ thuyết phục người đọc người nghe Văn nghị luận chủ yếu dựa vào tư duy, dùngkhái niệm phán đoán suy luận để thuyết minh, lí giải các vấn đề Để thuyết phục đượcngười khác thì ý kiến nêu ra phải chính xác và thái độ cũng phải đúng mực Có thể coi ý

là lí còn thái độ là tình trong văn nghị luận Sức mạnh và hấp dẫn của văn nghị luận là sựsâu sắc của tư tưởng, tình cảm, sự thuyết phục của lập luận, sự đặc sắc của các dẫn chứng,tất cả lại được trình bày bằng lời văn lưu loát, được đẽo gọt cẩn thận Như vậy, nghị luận

là thể văn đòi hỏi ở học sinh khả năng tư duy tổng hợp, lập luận chặt chẽ và biết bày tỏthái độ, lập trường riêng Căn cứ vào đối tượng nghị luận, người ta chia thành hai loại:nghị luận văn học và nghị luận xã hôi Nghị luận văn học là kiểu bài yêu cầu người viếtthể hiện sự hiểu biết, năng lực cảm thụ, thẩm bình, đánh giá về các vấn đề văn học như tácphẩm, tác giả, phong cách, trào lưu Nghị luận xã hội lại quan tâm bàn luận về các vấn

đề của đời sống như tư tưởng đạo lí, hiện tượng, trào lưu trong xã hội Đây là hai kiểu bài

đã trở nên quen thuộc đối với học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh giỏi văn Tuy nhiên,

để làm tốt văn nghị luận vẫn luôn là điều băn khoăn của cả người học và người dạy

1.2 Đặc điểm của văn nghị luận

Như trên đã nói, văn nghị luận dùng lí lẽ và dẫn chứng cùng lập luận lô-gic để thuyếtphục người đọc người nghe Để tăng tính thuyết phục, người viết văn nghị luận cần xâydựng được hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng mạch lạc, khoa học, đáp ứng yêu cầu

- Để các yếu tố của luận điểm, luận cứ đến với người đọc một cách thuyết phục thì rấtcần chú ý vai trò của lập luận Lập luận là cách trình bày và triển khai luận điểm, là biếtdùng lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều mình muốn nói

Trang 4

Từ những đặc điểm cơ bản trên, có thể thấy cùng với lí lẽ thì dẫn chứng là yếu tố rấtquan trọng làm nên thành công hay thất bại của một bài văn nghị luận

2 Dẫn chứng trong văn nghị luận

2.1 Khái niệm dẫn chứng

Dẫn chứng là cái được đưa ra làm cơ sở cho điều nói ra, viết ra Trong văn nghị luận,dẫn chứng là hệ thống ngữ liệu được người viết lựa chọn để làm sáng tỏ luận điểm Nó cóthể là những số liệu thống kê, sự việc, hiện tượng, lời nói đối với nghị luận xã hội và tácphẩm văn, thơ, hình tượng nhân vật, chi tiết hay một phương diện nghệ thuật nào đó trongvăn học đối với nghị luận văn học

2.2 Vai trò của dẫn chứng

Dẫn chứng có vai trò rất quan trọng, là yếu tố sống còn đối với văn nghị luận Không

có dẫn chứng, bài văn sẽ thiếu đi chất sống và sức thuyết phục Nói như Goethe : “ Líthuyết thì màu xám, chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi” Khi đó, những lí lẽ đưa ra sẽ không

có cơ sở thực tế, không được chứng minh, đồng nghĩa với việc vấn đề nghị luận chưađược giải quyết thấu đáo Mặt khác, dẫn chứng cũng tạo nên yếu tố sáng tạo trong từngbài viết, tránh cảm giác nhàm chán ở người chấm bài Trong khuôn khổ chuyên đề này,chúng tôi xin phép bàn sâu về dẫn chứng trong bài nghị luận văn học

2.3 Một số sai lầm khi đưa dẫn chứng trong bài nghị luận văn học

Mặc dù học sinh đã quen với văn nghị luận từ cấp học dưới, đã biết nghị luận văn họccần kết hợp lí lẽ và dẫn chứng Nhưng thực tế dạy và chấm bài cho thấy nhiều học sinhcòn lúng túng khi chọn và nêu dẫn chứng Ngay cả học sinh giỏi văn cũng chưa phải đãthành thục trong kĩ năng này Các em vẫn mắc một số sai lầm ngỡ ngẩn, đáng tiếc:

- Trích dẫn sai nguồn dẫn chứng hoặc câu chữ trong dẫn chứng làm ảnh hưởng đến tínhchính xác của văn nghị luận

- Đưa dẫn chứng không kết hợp với việc phân tích, đánh giá dẫn chứng Như thế, dẫnchứng không bám sát luận điểm, không có giá trị làm minh xác cho luận điểm

- Chọn dẫn chứng không tiêu biểu nên không làm sáng tỏ được vấn đề cần chứng minh

- Nêu những dẫn chứng quá quen thuộc, nhàm chán, trùng lặp, không mới mẻ, làm giảm

đi tính hấp dẫn của bài văn

- Số lượng dẫn chứng đưa ra không hợp lí Quá ít dẫn chứng, không đủ sức chứng minhcho luận điểm Hoặc liệt kê nhiều dẫn chứng khiến bài viết thành ra dài dòng, lan man,sáo rỗng

- Không xác định được vai trò của từng loại dẫn chứng trong bài, dẫn đến tình trạng bàiviết chung chung, không có nhấn lướt, đậm nhạt rõ ràng

2.4 Những lưu ý khi đưa dẫn chứng vào bài nghị luận văn học

Trang 5

2.4.1 Dẫn chứng phải chính xác

Sự chính xác là một yêu cầu quan trọng đối với văn nghị luận Chính xác mới thuyếtphục được lí chí con người Muốn vậy thì dẫn chứng đưa ra cũng phải đảm bảo tính chínhxác

- Thứ nhất là sự chính xác về câu chữ trong diễn đạt Trích dẫn trực tiếp cần đảm bảo độchính xác tuyệt đối của văn bản Ví dụ câu thơ của Huy Cận: “Nắng xuống trời lên sâuchót vót” mà viết thành “Nắng xuống trời lên sầu chót vót” là sai Còn trích dẫn gián tiếpphải đảm bảo giữ đúng ý của tác giả, chủ đề của tác phẩm, không được làm thay đổi.Muốn vậy, cần giữ nguyên một số từ ngữ then chốt trong văn bản được chọn làm dẫnchứng Ví dụ, bà cụ Tứ mặc dù không được chuẩn bị tâm lí trước cuộc hôn nhân củaTràng nhưng ngoại trừ ít phút “cúi đầu nín lặng” thì bà “mừng lòng” rộng mở vòng tayđón người “vợ nhặt” của con về nhà

- Thứ hai, chính xác về nguồn gốc trích dẫn như tên tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác,

vị trí đoạn thơ hay chi tiết trong tác phẩm

2.4.2 Dẫn chứng cần và đủ

Mặc dù dẫn chứng có vai trò quan trọng nhưng không phải cứ nhiều dẫn chứng là tốt.Người viết cần xác định về chất lượng, dẫn chứng nào cần, về số lượng bao nhiêu là đủ?

- Dẫn chứng cần là dẫn chứng đáp ứng đúng yêu cầu của đề, có khả năng làm sáng tỏ vấn

đề nêu trong luận điểm Ví dụ luận điểm “Văn học nhân đạo hóa con người” thì lấy dẫnchứng về Truyện Kiều của Nguyễn Du là cần thiết Nhưng với luận điểm “Tinh thần yêunước của dân tộc Việt Nam” mà chọn Truyện Kiều thì lại sai lầm

- Dẫn chứng đủ là số lượng bao nhiêu trong bài cho hợp lí Thực tế mỗi bài văn đòi hỏi sốlượng dẫn chứng khác nhau Tuy nhiên về cơ bản thì mỗi luận điểm cần được soi sáng bởi

ít nhất một dẫn chứng Tùy vào số luận điểm trong bài mà người viết lựa chọn dẫn chứngcho phù hợp Cũng có trường hợp, một luận điểm nhưng cần làm rõ bởi vài dẫn chứng

2.4.3 Dẫn chứng phải điển hình, tiêu biểu, mới mẻ và hấp dẫn

Trong thực tế khi làm bài, một số học sinh có thói quen “tủ” dẫn chứng Các em thườnghọc kĩ một vài dẫn chứng sau đó dùng trong các đề khác nhau Dẫn chứng như thế có thểkhông sai nhưng không thể tiêu biểu, điển hình Bởi vì dẫn chứng vốn rất phong phú, sinhđộng Việc lựa chọn dẫn chứng nào rất cần năng lực và sự thông minh nhanh nhạy củangười viết Làm thế nào để trong nhiều khả năng có thể, người viết chọn được khả năng

đắc dụng nhất Ví dụ với luận điểm “Nỗi buồn trong Thơ mới” học sinh có thể chọn dẫn

chứng trong các bài thơ của các tác giả Thơ mới nhưng nếu chọn thơ Nguyễn Bính hoặcXuân Diệu thì là dẫn chứng chưa điển hình

Trang 6

Cùng với yêu cầu về tính điển hình thì dẫn chứng còn cần mới mẻ, hấp dẫn Có như vậymới thuyết phục và truyền cảm hứng cho người đọc và tạo tính hấp dẫn cho bài viết.

2.4.4 Dẫn chứng phải được phân tích, đánh giá thấu đáo

Việc chọn dẫn chứng đã khó nhưng phân tích, thuyết minh dẫn chứng một cách thấuđáo còn khó hơn nhiều Thực tế, bài văn nghị luận không thể dừng lại ở việc liệt kê dẫnchứng theo kiểu phô trương hiểu biết của người viết Muốn dẫn chứng soi sáng cho luậnđiểm thì rất cần quá trình thuyết minh, phân tích, bình giá Và sự phân tích đó lại phảibám sát luận điểm, hướng vào luận đề chứ không phải phân tích chung chung

2.4.5 Dẫn chứng đảm bảo tính lô-gic và hệ thống

Khi đưa dẫn chứng vào bài nghị luận văn học, người viết cần chú ý đến tính hệ thống.Nghĩa là dẫn chứng phải được sàng lọc, sắp xếp theo một trình tự lô- gic nào đó phù hợpvới yêu cầu cụ thể của luận đề Ví dụ dẫn chứng sắp xếp theo trình tự thời gian, khônggian, thể loại hoặc mức độ nhận thức

Trên đây là những vấn đề chung nhất về văn nghị luận và dẫn chứng trong văn nghịluận Có thể nhận thấy việc lựa chọn và phân tích dẫn chứng quyết định lớn đến thànhbại của bài văn nghị luận Nhưng các bài học thuộc phân môn Làm văn trong chươngtrình Ngữ văn vẫn chưa chú ý hướng dẫn học sinh một cách chi tiết, tỉ mỉ kĩ năng quantrọng này Thực tế học sinh vẫn lung túng khi chọn dẫn chứng để phân tích Đối với họcsinh giỏi, kĩ năng này càng cần thiết

II Chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi Ngữ văn.

1 Yêu cầu về dẫn chứng trong các đề thi chọn HSG Quốc gia

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi không thể tách rời yêu cầu và xu hướng thi cử trongnhững năm gần đây Trước khi tìm hiểu cách chọn và phân tích dẫn chứng, thiết nghĩ cầnkhảo sát yêu cầu về dẫn chứng trong các đề thi chọn HSG Quốc gia

Theo khảo sát trong những năm gần đây, đề thi chọn HSG Quốc gia câu nghị luận vănhọc thường có xu hướng mở về phạm vi dẫn chứng:

Trang 7

Bằng việc phân tích một số nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong các tác phẩm đã học từvăn học dân gian đến văn học hiện đại, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Ý kiến của anh/chị về nhận định trên? Hãy phân tích hai trong những hình tượng đồ vật,

sự vật đã nêu để làm sáng tỏ ý kiến của mình

Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực

sự sống bằng tâm trí của người đọc.

Bằng tri thức và trải nghiệm văn học của mình, bạn hãy bình luận ý kiếntrên

- Đề thi năm 2016:

Marcel Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”.

Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”.

Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình luận những nhậnđịnh trên

- Đề thi năm 2017:

Trang 8

Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn, về thực chất, là sự cất tiếng bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời.

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên

- Đề thi năm 2018:

Chế Lan Viên viết trong bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?: “Hãy biết

ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn!”

Trong bài Làm thế nào để có tác phẩm tốt? Lưu Trọng Lư cho rằng: “sự sống phải được chắt lọc, phải được trau chuốt, phỉa được nâng lên, phải được tập trung cao độ, nó mới biến thành nghệ thuật, cũng như dâu xanh phải biến thành kén vàng, gạo trắng phải bốc thành men rượu sự thực phải được sáng tạo, phỉa được nâng cao lên đôi cánh của tư tưởng để lại tác động vào lòng người còn sâu mạnh hơn cả sự sống”

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/ chị hãy bình luận những quanniệm trên

2 Cách chọn dẫn chứng trong bài nghị luận văn học

2.1 Căn cứ vào một số hạn định nêu trong đề bài

Trang 9

Tuy đề mở, không giới hạn phạm vi dẫn chứng, không bắt buộc chọn dẫnchứng nào nhưng vẫn có những câu lệnh có ý nghĩa gợi ý, định hướng cho ngườiviết lựa chọn dẫn chứng Trong trường hợp này, học sinh nên chú ý đọc kĩ nhữngthông tin quý giá đó để việc lựa chon dẫn chứng được chính xác hơn.

Ví dụ:

“Tác phẩm chân chính không kết thúc ở trang cuối cùng, không bao giờ hết khả năng kể chuyện khi câu chuyện về các nhân vật đã kết thúc Tác phẩm nhập vào tâm hồn và ý thức của bạn đọc, tiếp tục sống và hành động như một lực lượng nội tâm, như sự dằn vặt và ánh sáng của lương tâm, không bao giờ tàn tạ như thi ca của sự thật.” (Aimatop)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến nhận định trênqua một vài tác phẩm truyện ngắn giai đoạn 1930 – 1945

Với đề trên, vấn đề lí luận là sức sống của tác phẩm trong quá trình tiếpnhận văn học Ngữ liệu dẫn chứng thuộc thể loại truyện ngắn giai đoạn 1930-

1945 Học sinh có thể chọn các tác phẩm của Nam Cao, Thạch Lam, NguyễnTuân…để phân tích chứng minh

2.2 Căn cứ vào nội dung, kiến thức, vấn đề lí luận văn học nêu trong đề bài

Trong ý kiến nhận định được trích dẫn sẽ là những vấn đề lí luận như đặctrưng, chức năng của văn học, phong cách tác giả, đặc trưng thể loại (tự sự, trữtình), mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, nhà văn và quá trình sángtác…Học sinh phải xác định chính xác vấn đề lí luận đó, xem đâu là nội dungchính cần làm sáng tỏ Từ đó mà định hướng cho việc lựa chọn dẫn chứng

Ví dụ:

Ngoài việc phản ánh đầy đủ sự thật đời sống, văn học còn có nhiệm vụ buộc người đọc nhìn chăm chú hơn, nghiêm khắc hơn vào bản thân mình, từ đó hiểu sâu sắc hơn sự thật của bản thân mình (Hoàng Ngọc Hiến, Văn học và học

Trang 10

Việc đề mở phần dẫn chứng là một cách khuyến khích sự sáng tạo và cảmhứng của học sinh, tránh tình trạng gò ép theo một khuôn mẫu cố định Đây làhướng ra đề nhận được nhiều phản hồi tích cực của học sinh giỏi văn Mặt khác,

do đặc trưng bộ môn, văn học là môn khoa học-nghệ thuật nên yếu tố cảm hứngchủ quan rất có ý nghĩa quyết định thành bại của bài viết Khi xác định đúng vấn

đề lí luận cần chứng minh, học sinh sẽ rà soát kiến thức về văn bản, lựa chọn tácphẩm mà bản thân yêu thích hoặc hiểu biết sâu sắc về nó làm dẫn chứng Thực

tế là người học văn rồi dạy văn, chúng ta phải thừa nhận không phải tác phẩmnào được học cũng gây hứng thú cho mình Học sinh cũng vậy, mỗi em có cảmhứng đặc biệt với một số tác phẩm Khi đó, các em sẽ tìm hiểu kĩ hơn, khắc ghisâu hơn Chọn những tác phẩm như thế làm dẫn chứng, bài viết có khả năngthành công cao hơn

Ví dụ:

Trong tác phẩm văn học, sáng tạo nghệ thuật quan trọng, đặc sắc nhất, nhiều khi không phải ở hình tượng con người mà ở hình tượng đồ vật, sự vật: một thứ thuốc chữa bệnh quái lạ (Thuốc – Lỗ Tấn), một bức thư pháp đẹp và quý (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân), một công trình kiến trúc kì vĩ tinh xảo (Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng), một cây đàn huyền thoại (Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo) Đó là những đồ vật, sự vật mang ý nghĩa biểu trưng cho nhận thức, nhân cách, ý chí, khát vọng, số phận của con người.

Ý kiến của anh/chị về nhận định trên? Hãy phân tích hai trong những hình tượng đồvật, sự vật đã nêu để làm sáng tỏ ý kiến của mình

(Đề thi chọn HSG Quốc gia năm 2013)

Vấn đề lí luận là sức sống, giá trị của hình tượng nghệ thuật (đồ vật) trong tácphẩm văn học Đề có gợi ý cho học sinh chọn hai trong số bốn hình tượng đồ vật

để phân tích-chứng minh Đội tuyển năm đó có 6 học sinh thì 5 em chọn phântích hình tượng Chữ (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân) và Đàn ghi-ta (Đàn ghi-tacủa Lor-ca – Thanh Thảo), chỉ 1 em chọn phân tích hình tượng “Chiếc bánh baotẩm máu người” (Thuốc – Lỗ Tấn) và Cửu Trùng Đài ( Vũ Như Tô – NguyễnHuy Tưởng) Khi được hỏi vì sao chọn như thế, em học sinh đó trả lời: “Emthích” Kết quả là em học sinh đó đoạt giải cao nhất trong đội tuyển Một ví dụ

cụ thể để thấy tầm quan trọng của hiểu biết và sở trường người viết trong việcchọn dẫn chứng phân tích, chứng minh luận đề

2.4 Chọn dẫn chứng mới mẻ, phát huy cá tính sáng tạo

Trang 11

Với đề không hạn định dẫn chứng là cơ hội cho học sinh thể hiện cá tính sángtạo và phát huy khả năng tự học, tự tìm hiểu những văn bản ngoài chương trình.

Có một điều mà không phải học sinh nào cũng chú ý khi làm văn đó là nhiệm vụcùng lúc tương tác với nhiều đối tượng Thứ nhất là tương tác với đề, hỏi gì trảlời nấy Thứ hai, tương tác với giám khảo, thể hiện trong hình thức trình bày,cách lập luận, diễn đạt, bảo vệ ý… Cuối cùng, rất đáng lưu tâm là yêu cầu tươngtác với những bài thi khác Học sinh cần hình dung được là bài của mình phải cóyếu tố vượt trội, khác biệt với các bài khác thì mới dễ thành công Có nhiều yếu

tố làm nên sự khác biệt, độc đáo nhưng trong phạm vi chuyên đề này chỉ bànđến sự khác biệt trong cách chọn dẫn chứng phân tích Cùng một vấn đề lí luậnsau khi sàng lọc các điều kiện bắt buộc, chúng ta vẫn có nhiều cơ hội để lựachọn Lúc này, hãy nghĩ đến khả năng một loạt bài thi cùng chọn một vài dẫnchứng là những ngữ liệu quen thuộc trong sách giáo khoa Điều đó chắc chắn sẽtạo cảm giác nhàm chán đối với giám khảo.Vậy tại sao mình không chọn mộtdẫn chứng hoàn toàn mới? Dẫn chứng có thể là các văn bản đọc thêm ngoàichương trình, các tác phẩm văn học đương đại, tác phẩm văn học kinh điển cổkim Đông Tây… Việc chọn dẫn chứng là những ngữ liệu ngoài nội dung chươngtrình sách giáo khoa sẽ đem lại màu sắc mới lạ, độc đáo cho bài viết mà vẫn đạtmục đích chứng minh cho luận đề

Ví dụ: Chứng minh cho luận điểm về sự sáng tạo hình ảnh trong thơ Thay vì

chọn những hình ảnh trong các bài Thơ mới đã trở nên quen thuộc như “Vộivàng” (Xuân Diệu), “Tràng giang” (Huy Cận), “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử)

… học sinh có thể chọn thơ hiện đại ngoài chương trình như bài “Át cơ” của Lê

Đạt: “Hình ảnh “lá trầu”, “quả cau” đã rất quen thuộc trong đời sống văn hóa người Việt Nam, gợi nhắc chuyện nhân duyên, đến sự gắn bó trong tình yêu đôi lứa Nhưng trong bài “Át cơ” của Lê Đạt, những hình ảnh quen thuộc đó lại hiện ra qua cái nhìn độc đáo, hiện đại:

Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ Nhà số lẻ

phố trò chơi bỏ dở Mộng anh hường

tim môi em bói đỏ Giàn trầu già

khua những át cơ rơi…

Trang 12

Lá trầu được so sánh với những con át cơ trong bộ bài Tây Cách ví von này kết hợp với những từ “trò chơi”, “mộng”, “bói”, “anh”, “em” khiến người đọc liên tưởng đến trò chơi bói tú cầu duyên Mặt khác, những từ “lẻ”, “bỏ dở”,

“rơi” nằm trong cùng hệ thống biểu đạt cho sự dở dang, hao hụt Từ đó, có thể

“đọc”được ý nghĩa của hình ảnh “giàn trầu già, khua, những át cơ rơi” biểu thị cho sự rơi rụng, trôi mất những cơ may tình duyên thuở nhỏ Lối viết xuống dòng kiểu bậc thang cùng dấu chấm lửng của câu kết góp phần đắc lực thể hiện tâm trạng khắc khoải, thất vọng của nhân vật trữ tình”.

Trên đây là một số cách chọn dẫn chứng trong bài nghị luận văn học đối với

đề thi không giới hạn dẫn chứng Mỗi cách chọn đều có mặt mạnh và hạn chế riêng nên người học cần tinh tế suy xét để lựa chọn cách thức phù hợp nhất Và

dù bằng cách nào cũng luôn phải đảm bảo một nguyên tắc là dẫn chứng đáp ứng đúng yêu cầu của đề, soi sáng cho luận điểm

3 Cách sắp xếp dẫn chứng trong bài nghị luận văn học

Sau khi chọn được dẫn chứng, người viết cần biết cách sắp xếp dẫn chứng theo một trình tự hợp lí để phân tích Việc sắp xếp này đảm bảo tính khoa học, mạch lạc ý và tạo tâm lí dễ dàng cho người tiếp nhận Ngoài ra trong một số trường hợp, trình tự xuất hiện của dẫn chứng cũng là một minh chứng cho tính đúng đắn, toàn diện của luận đề đang được chứng minh

3.1 Đối với đề có giới hạn giai đoạn, trào lưu văn học trong dẫn chứng

Trong trường hợp đề có giới hạn vùng dẫn chứng thì học sinh có thể sắp xếp theo thời gian, thể loại, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm chọn làm dẫn chứng

Ví dụ :

“Tác phẩm chân chính không kết thúc ở trang cuối cùng, không bao giờ hết khả năng kể chuyện khi câu chuyện về các nhân vật đã kết thúc Tác phẩm nhập vào tâm hồn và ý thức của bạn đọc, tiếp tục sống và hành động như một lực lượng nội tâm, như sự dằn vặt và ánh sáng của lương tâm, không bao giờ tàn tạ như thi ca của sự thật.” (Aimatop)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến nhận định trênqua một vài tác phẩm truyện ngắn giai đoạn 1930 – 1945

Với đề trên, giới hạn dẫn chứng là một vài truyện ngắn giai đoạn 1930 –

1945 Học sinh có thể liệt kê tên những tác phẩm lựa chọn như: “Chí Phèo”(Nam Cao), “Chữ người tử tù” ( Nguyễn Tuân), “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam)…Tiếp đó, nếu căn cứ vào thời gian sáng tác thì nên sắp xếp theo trình tự phân tích

là : “Hai đứa trẻ”, “Chữ người tử tù”, “Chí Phèo” Nếu dựa vào trào lưu văn học

Trang 13

thì có thể chia ra hai tác phẩm lãng mạn là “Hai đứa trẻ” và “Chữ người tử tù”,một tác phẩm hiện thực là “Chí Phèo”…

3.2 Đối với đề không giới hạn nguồn dẫn chứng

Trong trường hợp đề chỉ hỏi chung chung, không giới hạn nguồn dẫn chứngthì học sinh phải nghĩ đến trình tự thời gian, thể loại ngay từ khi chọn dẫnchứng Sau đó sắp xếp chúng theo trình tự thời gian, không gian để tiện cho việctiếp nhận

Ví dụ

Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn, về thực chất, là sự cất tiếng bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời.

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên

Với đề trên, dẫn chứng có thể được chọn rất rộng, bao gồm tác phẩm văn học cổkim, Đông Tây thuộc các trường phái, trào lưu, giai đoạn khác nhau… Khi đó, học sinh lựa chọn dẫn chứng nên chú ý đến trình tự thời gian Ví dụ chọn một tác phẩm văn học Trung đại (Việt Nam hoặc nước ngoài), một tác phẩm văn học giai đoạn 1930 – 1945, một tác phẩm văn học hiện đại hoặc đương đại

4 Cách phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học

4.1 Phân tích dẫn chứng để liên hệ so sánh.

So sánh là một thao tác lập luận gắn với tư duy của con người So sánh giúp nhận thức rõ hơn về đối tượng, phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt nhằm khắc sâu ấn tượng Khái niệm so sánh văn học được hiểu theo ba lớp nghĩa: một biện pháp tu từ, một thao tác lập luận, một phương pháp trình bày ý trong văn nghị luận Ở đây, chúng ta nhìn nhận so sánh ở góc độ thứ ba So sánh

là lấy dẫn chứng tương đồng hoặc dị biệt để làm nổi bật đặc điểm nào đó của đốitượng chính đang được phân tích Nghĩa là trong trường hợp này, dẫn chứng so sánh phải có tác dụng làm nổi bật ngữ liệu chính Muốn làm tốt, học sinh phải cóvốn hiểu biết rộng, khả năng làm chủ kiến thức và lập luận sắc sảo Khi đưa dẫn chứng so sánh vào bài cần ý thức được vai trò, mức độ của nó để không đi lạc hướng Phân tích dẫn chứng so sánh phải trên cơ sở đối sánh với ngữ liệu chính

và hướng vào làm sáng tỏ luận đề chứ không cần làm rõ tất cả các khía cạnh của

nó Sau khi so sánh xong phải rút ra được kết luận về giá trị, đặc điểm của đối tượng phân tích

Trang 14

Ví dụ: Để chứng minh luận điểm “Thơ mới phảng phất nỗi buồn thời thế”, học

sinh chọn phân tích bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận trong đó có đoạn liên hệ

so sánh với thơ Nguyễn Trãi như sau:

“Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

Câu thơ gợi ra dấu hiệu về sự hiện diện của con người nhưng mơ hồ không

rõ nét ‘Tiếng làng xa” là tiếng người vọng lại từ một ngôi làng xa xôi nào đó vào buổi chiều tà khi vãn chợ Từ “đâu” diễn tả cái mơ hồ, dường có lại dường không của âm thanh đó Nhưng mơ hồ mà để lại nhiều xao động trong hồn người, gợi nhớ tới nỗi niềm của Nguyễn Trãi năm xưa:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ”

(Cảnh ngày hè) Cũng vẫn cảm xúc về một thanh âm vọng lại từ phiên chợ buổi chiều quê nhưng ngẫm ra mới thấy sự khác biệt của hai tâm hồn, hai thời đại Trong thơ Nguyễn Trãi âm thanh tuy xa nhưng hiển hiện rõ nét, được hữu hình hóa bằng

từ láy “lao xao” Còn trong thơ Huy Cận, âm thanh mơ hồ chỉ góp phần tô đậm cái vắng lặng tịch mịch của không gian Có thể nói khi lắng nghe những âm thanh của cuộc sống là nhà thơ khao khát được hòa nhập, giao cảm Nhưng kết quả của sự đón nhận ấy là không gian vắng lặng, âm thanh mơ hồ Điều này tạo cảm giác hụt hẫng buồn trong lòng người Con người hiện đại khác người trung đại ở nỗi cô đơn và khao khát hòa nhập Nỗi buồn trong “Tràng giang” là nỗi buồn không được hòa nhập chứ không phải vì xa lìa cõi nhân sinh Nguyễn Trãi xưa về Côn Sơn cư ẩn nhưng lòng vẫn tha thiết với thế sự, vẫn nghe được trong chiều muộn những tín hiệu của một cuộc sống ấm no sung túc Huy Cận nay đứng giữa cuộc đời mà khao khát một âm thanh chứng tỏ sự hiện diện của con người Có thể thấy cùng với nỗi buồn không gian, bài thơ còn mang nỗi buồn thời thế, nỗi sầu vạn kỉ.

4.2 Phân tích dẫn chứng để chứng minh cho luận điểm

Đây là phần nội dung chính của chuyên đề Từ thực tế dạy và bồi dưỡng học sinh chuyên, trải qua các kì thi chọn học sinh giỏi các cấp, chúng tôi nhận thấy học sinh của mình có kiến thức nhưng khâu xử lí kiến thức còn hạn chế Cụ thể, các em vẫn lúng túng khi phân tích dẫn chứng chứng minh cho luận điểm, luận

đề Sai lầm phổ biến của học sinh là phân tích dẫn chứng chung chung theo côngthức làm sáng tỏ những giá trị nghệ thuật, nội dung của ngữ liệu chứ không bám

Trang 15

sát vấn đề cần nghị luận Vì vậy, bài viết lan man dàn trải, phô diễn kiến thức một cách vụng về, không đọng lại ấn tượng gì và đương nhiên không thể đạt điểm cao Vậy làm thế nào để khắc phục tình trạng trên? Sau nhiều năm đứng lớp và trăn trở, chúng tôi nhận thấy cần phải trang bị cho các em những cách thức đơn giản ngắn gọn dễ nhớ, dễ thực hiện Cụ thể, từ luận điểm phân tích, chọn dẫn chứng phù hợp sau đó phân tích dẫn chứng cần trải qua ba bước sau đây:

4.2.1 Bước thứ nhất: Giới thiệu dẫn chứng

Bài văn của chúng ta là bài nghị luận về một vấn đề thuộc lí luận văn học Vấn đề đó rất rộng, có thể nhận định về tác phẩm, tác giả, đặc trưng văn học, ngôn từ hay mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống… Để giải quyết trọn vẹnyêu cầu của đề, học sinh cần trải qua các thao tác giải thích, lí luận rồi mới đến phần chứng minh Vì thế giới thiệu dẫn chứng là một kỹ năng cần chú ý Giới thiệu thế nào để ăn khớp nhịp nhàng với mạch văn, tạo sự liền mạch trong lập luận Muốn vậy, câu mở đoạn trong phần phân tích dẫn chứng phải nêu được hainội dung: một phần vấn đề lí luận cần chứng minh và một phần nêu dẫn chứng

4.2.2 Bước thứ hai: Tái hiện dẫn chứng

Đây là bước quan trọng nhất Học sinh sau khi giới thiệu dẫn chứng thì phảiphân tích, thuyết minh, bình giá để dẫn chứng phát huy giá trị làm minh xác choluận điểm Công đoạn này đòi hỏi ở học sinh khả năng cảm thụ, phân tích hìnhtượng, bình giá câu chữ nhưng lại phải tinh tế để hướng dẫn chứng tới vấn đềcần chứng minh Tùy theo luận điểm cần chứng minh mà chia tách dẫn chứngthành các ý cho phù hợp.Trong khi phân tích, có thể trích dẫn trực tiếp, gián

Trang 16

tiếp, nêu đại ý của dẫn chứng cũng được miễn người viết thể hiện được sự amhiểu sâu sắc vấn đề và khả năng làm chủ ngòi bút của mình

Ví dụ:

Với đề đã dẫn ở trên, phân tích truyện ngắn “Hai đứa trẻ” để chứng minh cho

luận điểm: Tác phẩm nghệ thuật là nơi bày tỏ và trao gửi những điều thầm kín trong đời sống tâm hồn con người Chúng ta có thể viết phần phân tích theo các

ý sau:

- Truyện thể hiện những rung cảm tinh tế, sâu lắng của tác giả về thiên nhiên, cảnh vật và cuộc sống con người Điều đó được gửi gắm qua cái nhìn và sự cảm nhận của nhân vật Liên: bức tranh thiên nhiên phố huyện khi chiều về, mùi ẩm mốc của rác sau phiên chợ nghèo, hoa bàng từng đợt rụng xuống, bầu trời ngàn sao lấp lánh, ngọn đèn con nơi quán hàng của chị Tí

- Niềm thương cảm với những phận người nhỏ bé sống mòn mỏi, lay lắt, buồn thương: mẹ con chị Tí, bác phở Siêu, gia đình bác xẩm, bà cụ Thi

- Nâng niu, trân trọng những ước mơ, khát vọng của con người: hình ảnh ngọn đèn con của chị Tí, những hoài niệm về quá khứ của chị em Liên, giấc mơ và niềm hi vọng về tương lai của những người dân phố huyện, hình ảnh chuyến tàu đêm

4.2.3 Bước thứ ba: Từ dẫn chứng khẳng định tính đúng đắn của luận điểm

Đây là công đoạn cuối cùng Sau khi hoàn tất quá trình phân tích dẫn chứngthì cần chốt ý, bám sát luận điểm, chỉ ra rằng dẫn chứng đã soi sáng cho luậnđiểm, nhờ dẫn chứng mà vấn đề nghị luận được làm sáng tỏ Nếu coi luận điểm

là lí thuyết thì dẫn chứng là thực tế sinh động, phong phú Chỉ khi được sàng lọcbởi thực tế thì lí thuyết mới phát huy hết giá trị của nó, mới trở thành chân lí.Xét ở khía cạnh lập luận, việc chốt ý này còn có ý nghĩa tạo sự liền mạch nhấtquán trong bài văn để người đọc nhận ra chúng ta vẫn đang đi rất đúng hướng,không vì phân tích dẫn chứng mà lầm đường, lạc lối

Trang 17

III Rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi Ngữ văn.

1 Rèn kỹ năng thu thập dẫn chứng.

Học tập là một quá trình tích lũy lâu dài trong đó vai trò tự học có ý nghĩaquyết định thành công của mỗi người Với học sinh chuyên văn, việc tự học, tựđọc tác phẩm lại càng quan trọng Lượng kiến thức lớn, số tác phẩm nhiều,không phải tác phẩm nào cũng được học trong chương trình Vì thế, học sinhcần tự giác tích lũy kiến thức song song với quá trình học trên lớp Nhưng trênthực tế, không phải học sinh nào cũng tự biết tìm đọc văn bản làm nguồn dẫnchứng Giáo viên cần định hướng quá trình đọc tư liệu từ những ngày đầu các

em vào lớp Kinh nghiệm của bản thân là yêu cầu học sinh thực hiện các việcsau:

1.1 Sổ tay Văn học

Mỗi học sinh chuyên Văn nên có một cuốn sổ tay ghi chép, lưu giữ nhữngđiều các em tâm đắc trong quá trình học tập Đó có thể là những bài thơ, câuvăn, những thông tin bổ ích về một tác giả, tác phẩm nào đó Mặc dù thời đạicông nghệ số nhưng việc tự tay các em nắn nót, chi chép lại những điều tâm đắctrong cuốn sổ nhỏ xinh đó vẫn tạo nên nét riêng cho khối chuyên Tình yêu mônhọc được tạo dựng từ những cái nhỏ nhặt như thế

1.2 Review về tác phẩm Văn học

Mỗi tuần giáo viên yêu cầu học sinh viết lời nhận xét, đánh giá về một tácphẩm tùy chọn mà các em đã đọc, đã tìm hiểu Tất nhiên, giáo viên cần có địnhhướng về tác phẩm theo kế hoạch giáo dục hoặc tiến độ chương trình Ví nhưkhi học về tác giả Nam Cao, ngoài truyện ngắn “Chí Phèo” và “Đời thừa”, giáoviên có thể yêu cầu học sinh tìm đọc các tác phẩm khác như: tiểu thuyết “Sốngmòn”, truyện ngắn “Trăng sáng”, “Nước mắt”, “Tư cách mõ”, “Đòn chồng”, “Ởhiền”… Như thế, học sinh vẫn được tự do trong phạm vi giới hạn cho phép Saukhi kiểm tra, đánh giá các bài review của học sinh, giáo viên có thể chỉnh sửa vàtập hợp lại, cho các học sinh khác tham khảo Như vậy, mỗi học sinh chỉ tìmhiểu một vài tác phẩm nhưng lại có những thông tin bổ ích về nhiều tác phẩmkhác học được từ các bạn

2 Rèn kỹ năng sắp xếp, phân loại dẫn chứng

Sau khi đã thu thập được dẫn chứng, học sinh cần biết phân loại dẫn chứngmột cách khoa học Sự phân loại này có thể được ghi chép lại hoặc khắc sâutrong tâm trí Miễn sao, học sinh nhớ được những gì mình đã có Thường thì

Ngày đăng: 10/10/2020, 19:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w