Đi sâu vào lí giải nguyên nhân dẫn đến bài viết văn nghị luận của họcsinh chưa đạt yêu cầu, phần lớn chúng ta đều xác nhận một điều là kỹ năngchọn và phân tích dẫn chứng của các em rất y
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU ……… 2
B PHẦN NỘI DUNG ……… 4
I Dẫn chứng trong bài văn nghị luận ……… 4
1 Đặc trưng của văn nghị luận ……… 4
2 Vai trò của dẫn chứng và phân tích dẫn chứng ……… 4
II Những lỗi thường gặp trong việc chọn và phân tích dẫn chứng ……… 6
1 Lỗi về chọn và đưa dẫn chứng ……… 7
2 Lỗi về việc phân tích dẫn chứng ……… 8
III Cách chọn và phân tích dẫn chứng ……… 9
1 Chọn dẫn chứng ……… 9
2 Cách đưa dẫn chứng vào bài làm ………12
3 Một số hình thức đưa dẫn chứng vào bài làm ………12
4 Phân tích dẫn chứng ………13
IV Luyện tập … ……… 19
C PHẦN KẾT LUẬN ……… 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 25
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
Văn nghị luận là một loại văn khó nhất trong chương trình THPT Khó
là vì nó đòi hỏi một năng lực tư duy sắc bén, một vốn kiến thức phong phú,một sự am hiểu và vận dụng thuần thục những kỹ năng làm bài… Những đòihỏi ấy không phải học sinh nào cũng đáp ứng được Trong khi đó, kết quả họctập bộ môn Ngữ Văn THPT chủ yếu dựa vào các bài viết văn nghị luận Vìvậy, kết quả học tập của học sinh thường không cao
Đi sâu vào lí giải nguyên nhân dẫn đến bài viết văn nghị luận của họcsinh chưa đạt yêu cầu, phần lớn chúng ta đều xác nhận một điều là kỹ năngchọn và phân tích dẫn chứng của các em rất yếu, kể cả học sinh chuyên, nhất
là ở lĩnh vực nghị luận văn học Đứng trước một luận điểm, các em khôngbiết chọn dẫn chứng như thế nào là tiêu biểu, không biết phân tích ra sao, ởmức độ nào là đủ, và thậm chí không biết đưa dẫn chứng vào bài làm như thếnào…
Thực trạng ấy đặt ra vấn đề đối với tất cả giáo viên dạy bộ môn chúng
ta Chọn và phân tích dẫn chứng trong nghị luận văn học là một kỹ năng thựchành quan trọng Tuy nhiên, thời lượng thực hành kỹ năng này theo phân phốichương trình không nhiều, học sinh vận dụng chưa thuần thục Do vậy, đểnâng cao chất lượng bộ môn nhất thiết phải nâng cao chất lượng các bài viếtcủa học sinh mà đặc biệt là các bài nghị luận văn học Để nâng cao chất lượngbài nghị luận văn học thì phải đồng thời bồi dưỡng, nâng cao những kiếnthức, kỹ năng cho học sinh, nhất là kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng
Khi nói đến việc chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận vănhọc là đồng nghĩa với việc chúng ta đã chấp nhận một số tiền đề có sẵn ở họcsinh Thứ nhất là tiền đề về kiến thức Nghĩa là học sinh đã được trang bị đầy
đủ những hiểu biết về các tác phẩm trong chương trình và mở rộng Vì chỉ khi
đó mới đặt ra vấn đề chọn Nếu không, thao tác này trở nên vô nghĩa Thứ hai
Trang 3là tiền đề về việc xác định luận điểm cho bài viết đã rõ ràng, đầy đủ Nếu họcsinh không xác định được luận đề, phân chia các luận điểm thì việc chọn vàphân tích dẫn chứng cũng trở nên vô nghĩa, vì dẫn chứng ấy làm sáng tỏ chocái gì.
Rèn luyện kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng suy cho cùng chỉ làmột khâu trong chuỗi các kỹ năng làm bài Nghĩa là khâu này không tồn tạiđộc lập mà luôn chịu sự chi phối tương tác với các thao tác lập luận và cáchluận chứng Do vậy, đây là một kỹ năng phức hợp đòi hỏi người dạy lẫmngười học phải làm việc hết mình mới mong có kết quả tốt
Vì vậy, việc đặt vấn đề về rèn luyện kỹ năng chọn và phân tích dẫnchứng trong nghị luận văn học cho học sinh chuyên và nhất là các học sinhtrong đội tuyển HSG của các trường chuyên khu vực duyên hải và đồng bằng
là việc làm có ý nghĩa thiết thực, bổ ích Chúng tôi, với tư cách là một thànhviên của Hiệp hội, xin được đóng góp cách tiếp cận và giải pháp cho vấn đềnày Rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý từ quý đơn vị bạn Chân thànhcảm ơn
Trang 4B NỘI DUNG
I Dẫn chứng trong bài văn nghị luận
1 Đặc trưng của văn nghị luận
Văn nghị luận là văn dùng lí lẽ dẫn chứng nhằm thuyết phục ai đó vềmột vấn đề nào đó
Đặc trưng cơ bản nhất của văn nghị luận là lập luận Để thực hiện mộtlập luận cần phải có 3 yếu tố: luận điểm, luận cứ và luận chứng
Luận điểm được hiểu là một ý của bài văn, là nội dung cần được làmsáng tỏ trong bài văn
Luận cứ bao gồm những lí lẽ và dẫn chứng
Luận chứng là cách tổ chức, sắp xếp luận điểm và luận cứ Luận chứngcòn được gọi là phương pháp lập luận Có những phương pháp sau: quy nạp,diễn dịch, song hành, móc xích, tổng phân hợp …
Để hoàn thành một đoạn văn hoàn chỉnh không đơn giản chỉ có 3 yếu
tố ấy mà cần có sự kết hợp linh hoạt các thao tác lập luận tùy theo mục đíchlập luận
Mỗi yếu tố trong lập luận có những vai trò và yêu cầu riêng Trongphạm vi của chuyên đề, chúng tôi chỉ tập vào những vấn đề liên qua tới dẫnchứng, một phần của luận cứ
2 Vai trò của dẫn chứng và phân tích dẫn chứng
Người xưa dạy “nói có sách, mách có chứng” hay chúng ta thườngkhuyên nhủ nhau “nói phải có chứng cứ” “Sách”, “chứng”, “chứng cứ” đều
có hàm ý chỉ dẫn chứng Viết cũng vậy Khi trình bày một vấn đề nào đó, nhấtthiết phải có dẫn chứng Có khi không cần lí lẽ dài dòng, tự thân cái dẫnchứng đã làm sáng tỏ vấn đề và tạo được độ tin cậy, tăng tính thuyết phục ởngười nghe/đọc
Trang 5Dẫn chứng là cái có trong thực tế được đưa ra để chứng minh, làm cơ
sở cho điều nói/viết ra
Như vậy, dẫn chứng có vai trò to lớn trong việc soi sáng, khẳng địnhbảo vệ luận điểm (điều nói/viết ra)
Trong bài nghị luận văn học, dẫn chứng là những hình ảnh, chi tiết,câu văn, câu thơ, tác phẩm, tác giả …, nghĩa là rất đa dạng, phong phú Đặcbiệt, do đặc trưng của văn học là có tính hình tượng và đa nghĩa nên bản thânnhững dẫn chứng tự nó không phải lúc nào cũng rõ ràng để minh chứng choluận điểm mà cần phải được phân tích, mổ xẻ, cắt nghĩa lý giải…bởi ngườiviết Cho nên, khi nói đến việc dùng dẫn chứng tất yếu phải nói đến việc phântích dẫn chứng
Đánh giá một bài văn thực chất là đánh giá người viết văn Văn hay cónghĩa là người viết tài giỏi Việc dưa và phân tích dẫn chứng không dừng lại ởviệc nhằm soi sáng, bảo vệ luận điểm và tăng tính thuyết phục của bài văn màsâu sắc hơn, việc làm ấy giúp đánh giá vốn hiểu biết, năng lực tư duy và cảmthụ văn học của người viết
Sau dây là ví dụ tiêu biểu và tương đối ngắn gọn, dễ hiểu cho việc chọn
và phân tích dẫn chứng
Lại trở lại thi pháp Tú Xương phối hợp cả hiện thực cả trữ tình, lấy cái hơi trữ tình mà làm sống động lên những sự vật thường dụng và sự việc dung tục Như trong bài Đi hát mất ô:
Đêm qua anh đến chơi đây Giày giôn anh dạn, ô tây anh cầm Rạng ngày sang trông canh năm Anh dậy em hãy còn nằm trơ trơ Hỏi ô, ô mất bao giờ
Hỏi em, em cứ ậm ờ không thưa Chỉn e rày gió mai mưa
Lấy gì đi sớm về trưa với tình
Ở tám câu lục bát này thì 42 tiếng trắc bằng của sáu câu đầu tôi gạt sang cho phần hiện thực, với những tiếng choang
Trang 6choang lên chất tả thực: giày giôn - ô tây - nằm trơ trơ - hỏi ô mất - ậm ờ không thưa Sáu câu đầu, nói rành rọt về một chuyện mất ô, mất ở đâu mất trong trường hợp nào, và có thể đoán được người ăn cắp và thấy hiển hiện nỗi ấp úng lúng túng của kẻ gian đó Câu chuyện kể lại bằng thơ ít lời nhưng đủ sự việc tình tiết không kém gì lời văn xuôi, có thể làm thỏa mãn được một ông quan tòa dự thẩm, và có thể làm mẫu cho một cách giảng văn ở một lớp văn nào Có thể ngừng ở đó Nếu làm văn xuôi (làm một cách xuôi xuôi), được phép ách lại đó
Nhưng đây là làm thơ, chưa ngừng được, chưa thấy gì là mùi thơ tiếng thơ, chưa thấy ló ra thi sĩ Cho nên phải đi bước nữa, nếu thật sự muốn làm thơ Chỉ thêm có hai câu nữa mà cứu được đoạn văn xuôi xuôi dễ dàng đó, và chuyển tất cả sang phạm vi thơ Chuyển thể tài, chuyển đề tài và chuyển cả chủ
đề Bài thơ nổi gió lên từ hai câu cuối cùng Từ một chuyện ăn cắp đồ vật, đáng lý chỉ gây nổi một chút tiếc của, Tú Xương trang trọng nâng nó lên thành một nỗi niềm hồi hộp xót thương của những cặp tình nhân muôn thuở, - vẫn trên cái cơ sở thực
tế đề hạ ấy mà nâng lên, chứ không vu đàm khoát luận gì cả
(Thời và thơ Tú Xương, Nguyễn Tuân)
Ở ví dụ này, Nguyễn Tuân đã chọn và phân tích bài Đi hát mất ô để làm
sáng tỏ cho luận điểm “ thi pháp Tú Xương phối hợp cả hiện thực cả trữ tình,
lấy cái hơi trữ tình mà làm sống động lên những sự vật thường dụng và sự việc dung tục.” Và đằng sau điều ấy lại hiện lên một Nguyễn Tuân đầy cá
tính, cực kỳ tinh tế sắc sảo trong lĩnh vực phê bình văn học
II Những lỗi thường gặp trong việc chọn và phân tích dẫn chứng
Cuộc sống vận hành theo nguyên lý “thử và sai” Đó là cái nguyên lýdang dở, bỏ ngỏ một điều quan trọng sau đó là “sửa sai” Để có thể sửa sai thìphải biết sai chỗ nào? Vì sao sai?
Rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong văn nghị luận văn họccho học sinh THPT nói chung và học sinh THPT chuyên nói riêng thực chất làviệc sửa sai cho học sinh ở công việc này trong quá trình làm bài Muốn sửatốt phải biết rõ những cái lỗi của học sinh Đây cũng là cơ sở thực tiễn quantrọng của chuyên đề này
Trang 71.Lỗi về chọn và đưa dẫn chứng
1.1 Không có dẫn chứng và dẫn chứng không chính xác: Đó là viết văn
“chay” ( có luận điểm mà không có dẫn chứng) Đó là việc trích dẫn sai dẫn
chứng, chẳng hạn như trường hợp trích dẫn ngữ liệu từ bài thơ Tràng giang của tác giả Huy Cận: “Nắng xuống, trời lên cao chót vót” hoặc “Nắng xuống
trời lên xanh bát ngát” ; hoặc nhầm lẫn về chi tiết, cốt truyện trong Vợ chồng
A Phủ: Mị vốn là người yêu của A Phủ nhưng bị A Sử bắt về làm vợ; hoặc
nhầm lẫm chi tiết giữa các tác phẩm: Màu nước sông Đà luôn thay đổi, sớm
xanh, trưa vàng, chiều tím…
Đây là kiểu lỗi phổ biến nhất ở học sinh Kiểu lỗi này là do học sinhkhông thâm nhập, nhớ và hiểu rõ từng tác phẩm văn học Đối với thơ khôngchịu học thuộc lòng, với truyện ký thì lười biếng đọc và không chịu khó nhớcốt truyện, những chi tiết, sự việc tiêu biểu Khi làm bài, học sinh đứng trướcmột trang giấy trắng bằng cái đầu rỗng thì làm sao tìm cho ra dẫn chứng vànếu có thì dẫn chứng không thể chính xác được
Kiểu lỗi này phản ánh tình trạng học sinh không học, hoặc có họcnhưng không mặn mà, thiếu đam mê Do vậy, kiểu lỗi này rất nghiêm trọng vàkhó sửa Nó liên quan đến thái độ học tập bộ môn, cơ chế thi cử…
Với những trường hợp không có dẫn chứng thì chắc chắn không cóchuyện phân tích dẫn chứng Với những trường hợp dẫn chứng sai kéo theoviệc phân tích cũng sai và dĩ nhiên cuối cùng hiệu quả lập luận bằng không
1.2 Dẫn chứng không tiêu biểu : Là dẫn chứng không/chưa làm sáng rõ
được vấn đề cần nghị luận Trong trường hợp này, học sinh ít nhiều có kiếnthức, có ý thức chứng minh vấn đề nhưng chưa biết chọn dẫn chứng nào đủsức làm sáng tỏ luận điểm
1.3 Dẫn chứng quá quen thuộc, không mới mẻ: Đây cũng là một hạn
chế khá phổ biến Hầu như khi luận bất cứ điều gì, học sinh cứ dẫn đi dẫn lạidẫn chứng trong các tác phẩm quen thuộc Chuyện gì cũng đen Chí Phèo ra
Trang 8nói, đành rằng đây là tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao nói riêng, của văn họchiện đại Việt Nam Điều này làm giảm đi tính hấp dẫn của văn bản nghị luận.Kiểu lỗi này xuất phát từ lối học thụ động, học tủ, không chủ động khám phá,thiếu linh hoạt sáng tạo
1.4 Dẫn chứng quá nhiều: Là kiểu lỗi do học sinh không biết tiết chế
khi viết Có thể là do học sinh muốn thể hiện sự hiểu biết của mình, hoặc dokhông biết thế nào là đủ, thà thừa hơn thiếu Do đưa quá nhiều dẫn chứng nênhọc sinh thường thiếu khâu phân tích dẫn chứng hay phân tích sơ sài, và nhưthế dẫn đến hiệu quả lập luận không cao, không đủ sức thuyết phục cho luậnđiểm
1.5 Đưa dẫn chứng không kết hợp với việc phân tích dẫn chứng: khiến
lí lẽ đưa ra trở nên hời hợt và không sâu sắc
2 Lỗi về việc phân tích dẫn chứng
Phân tích dẫn chứng là một kỹ năng quan trọng để làm sáng tỏ vẫn đềcần nghị luận Tuy nhiên, học sinh rất hạn chế ở kỹ năng này, hiếm có trườnghợp phân tích đúng yêu cầu Ở đây chúng tôi xin khái quát một số kiểu lỗithường gặp
2.1 Phân tích theo cảm tính, không bám sát luận điểm
Kiểu lỗi này là do học sinh không quan tâm đến luận điểm, không ýthức mục đích của việc phân tích nên chỉ phân tích cho có, qua loa hoặc phântích một cách máy móc do học vẹt Và như thế giữa luận điểm với dẫn chứng
và nội dung phân tích không ăn nhập với nhau
2.2 Diễn xuôi thơ và kể chuyện đối với văn xuôi
Thường khi phân tích tác phẩm văn học, học sinh thường sa vào diễnxuôi (đối với thơ) và kể chuyện (đối với văn xuôi)
Tràng là người dân ngụ cư nghèo khổ, có phẩm chất hiền lành, tốt bụng; sẵn lòng cưu mang người đồng cảnh ngộ trong nạn đói khủng khiếp Tràng vốn xuất thân từ xóm ngụ cư, làm nghề đẩy xe bò thuê Gia cảnh rất nghèo khó Đã
Trang 9vậy anh còn xấu xí Đầu thì nhẵn thín, cái mặt thì “quai hàm bạnh, mắt nhỏ tý gà gà”, lưng thì “to như lưng gấu” Một hôm Tràng kéo xe bò lên dốc tỉnh, mệt quá Tràng hò một câu chơi cho đỡ mệt thì có một người con gái chạy ra đẩy xe cho Tràng Người con gái đó vừa đẩy xe vừa cười tít mắt Tràng sung sướng lắm vì từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ chưa có ai cười với hắn một cách tình từ đến thế…
(Bài làm của học sinh)
Trên là kiểu bài làm kể chuyện không có chất văn chương Với luận
điểm đưa ra là: “Tràng là người dân ngụ cư nghèo khổ, có phẩm chất hiền
lành, tốt bụng; sẵn lòng cưu mang người đồng cảnh ngộ trong nạn đói khủng khiếp” , nhưng học sinh chỉ làm bài bắt đầu bằng việc kể chuyện
2.3 Phân tích chưa đầy dủ
Khi phân tích dẫn chứng nhiều học sinh không biết phân tích tới đâu là
đủ, giống như đi đường nhưng không biết đích Điều này khiến cho việc phântích lan man, dăng dở, phân tích chưa đầy đủ khía cạnh của dẫn chứng để làmsáng tỏ luận điểm
Từ đó, việc chọn dẫn chứng còn thể hiện năng lực, tầm hiểu biết về vănhọc của người viết Nói cách khác, căn cứ vào việc chọn dẫn chứng, chúng ta
có thể phần nào thẩm định năng lực, trình độ của người viết
1.2 Yêu cầu
Để chọn được dẫn chứng tôt, đáp ứng yêu cầu, mục đích lập luận, họcsinh cần chú ý tới các yêu cầu sau đây:
Trang 10– Thứ nhất, khi chọn lọc dẫn chứng trong văn nghị luận phải đảm bảo
sự chính xác Vì chúng ta không thể dùng một cái sai để làm sáng tỏ một cái
đúng, không thể dùng cái điều mà mọi người không thừa nhận để nắt ngườikhác phải thừa nhận một điều nào đó Thất bại đầu tiên của lập luận là lý lẽkhông thuyết phục và dẫn chứng thiếu chính xác
Nếu không đảm bảo được yếu tố chính xác, dẫn chứng sẽ không làmsáng rõ được luận điểm Đối với dẫn chứng là thơ, người viết cần trích dẫnđúng nguyên văn Đối với văn xuôi thì tóm lược ý nhưng cần đảm bảo tínhchính xác về nội dung, tác giả, tác phẩm
– Thứ ba, khi đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận phải đảm bảo tính
điển hình, tiêu biểu
Ngoài việc đưa dẫn chứng phong phú, người viết còn cần biết chọn lọcdẫn chứng, ưu tiên những dẫn chứng điển hình và tiêu biểu Thông thường,học sinh thường chọn những dẫn chứng quen thuộc
Ví dụ, với luận điểm “Tràng là một người hiền lành, tốt bụng, có tinh
thần cưu măng đùm bọc.” ta phải chọn chững dẫn chứng sau:
Trang 11+ Thân thiện với mới người, chan hòa với trẻ con trong xóm.
+ Quyết định cho người đàn bà về về làm vơ sau khi đùa một câu và vàigiây phút phân vân khi người đàn bà đồng ý
Hay khi đánh giá về tài năng trong việc tả người của Nguyễn Du thìngười viết phải đưa ra được những dẫn chứng thuyết phục
Đó là cách tả người của ông không giống với bất kì ai, hơn nữa trong cách tả mỗi nhân vật Nguyễn Du lại sử dụng một bút pháp khác nhau Chẳng hạn, khi miêu tả chị em Thuý Kiều, ông dùng bút pháp ước lệ tượng trưng như: “Mai cố cách, tuyết tinh thần”,” Hoa cười, ngọc thốt đoan trang”, “ Làn thu thuỷ, nét xuân sơn”… Nhưng đến lượt Mã Giám Sinh ông lại sử dụng bút pháp tả thực: “Hỏi tên rằng: “Mã Giám Sinh” Hỏi quê rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”/ Quá niên trạc ngoại tứ tuần /Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”…
(Bài làm của học sinh)
– Thứ tư, khi đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận phải kết hợp với
việc phân tích dẫn chứng.
Khi đưa dẫn chứng vào bài, cần kết hợp với việc phân tích, đánh giádẫn chứng Thao tác này sẽ khiến cho dẫn chứng phát huy hết vai trò, hiệuquả Nếu không phân tích, đánh giá, bài văn sẽ trở nên hời hợt, sáo rỗng.Không sâu sắc và đủ sức tác động đến người đọc Để làm được điều này,người viết cần hiểu đúng, đánh giá đúng và cảm thụ đúng về giá trị của dẫnchứng
– Thứ năm, khi đưa dẫn chứng trong văn nghị luận cần đảm bảo tính
logic và hệ thống
Khi đưa dẫn chứng trong văn nghị luận, người viết cần đảm bảo tính hệ
thống Nghĩa là các dẫn chứng phải được sắp xếp theo một trình tự, quy luậtnhất định Ví dụ như việc sắp xếp dẫn chứng theo trục thời gian tuyến tính (từlịch sử, quá khứ đến thời điểm hiện tại) Hoặc theo chiều không gian (từ rộngđến hẹp, từ xa đến gần,… hoặc ngược lại) Tính hệ thống sẽ giúp cho ngườiviết tránh được tình trạng đưa dẫn chứng một cách tràn lan và mất kiểm soát
Trang 122 Cách đưa dẫn chứng vào bài làm
*Trích trực tiếp
Đây là cách đưa dẫn chứng thông thường nhất khi làm văn Tuy nhiên,thực tế việc vận dụng cách này khá linh hoạt Đối với các dẫn chứng thuộc tácphẩm tự sự, ta nên đưa dẫn chứng vào ngay mạch văn Còn đối với các dẫnchứng về thơ, ta có thể xuống dòng Khi trích trực tiếp, nhất thiết phải bỏ vàodấu ngoặc kép Trích dẫn trực tiếp đòi hỏi tính chính xác tuyệt đối của dẫnchứng
* Dẫn gián tiếp
Cách đưa dẫn chứng này phù hợp với các trường hợp tóm tắt các tácphẩm tự sự, hoặc nêu những chi tiết trong các tác phẩm mà người viét khôngthể nhớ chính xác
Về mặt lý thuyết thì đơn giản vậy nhưng thực tế học sinh vaanx lúngtúng, khó vận dụng, bởi lẽ khi đưa dẫn chứng vào bài làm học sinh cần phảibiết đến vấn đề hình thức
3 Một số hình thức đưa dẫn chứng vào bài làm
* Đưa dẫn chứng bằng hình thức liệt kê
Với các luận điểm có tầm khái quát một vấn đề nào đó, người viết cóthể sử dụng hình thức liệt kê các dẫn chứng và cũng không nhất thiết phântích hết các dẫn chứng ấy vì sự liệt kê đã lột tả bản chất của vẫn đề Xem ví
dụ sau:
Tú Xương là một chứng từ về đạo học thành Nam tàn cục vào đuôi một thế kỷ và kéo cái tàn lụi ấy sang cả dần thế kỷ chúng ta Thơ và phú Tú Xương là tập ký sự chi tiết về đời sống thành Nam, về sinh hoạt vật chất và tinh thần của một lớp nhà nho tỉnh Nam lúc Tây sang, cũng lều chõng như ai, nhưng nghĩ thấy nó chả ra làm sao cả:
( )Một việc văn chương thôi cũng nhảm Trăm năm thân thế có ra gì
( )Dại chốn văn chương ấy dại khôn ( )Nói dơi nói chuột khối người khen
Trang 13( )Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng
(Thời và thơ Tú Xương, Nguyễn Tuân)
Nguyễn Tuân đã kê ra 5 dẫn chứng và tự nó đã làm sáng tỏ cho luận
điểm “Tú Xương là một chứng từ về đạo học thành Nam tàn cục vào đuôi một
thế kỷ và kéo cái tàn lụi ấy sang cả dần thế kỷ chúng ta.”
* Đưa dẫn chứng bằng hình thức thống kê
Ở một số trường hợp có nhiều dẫn chứng những có chung một yếu tốhình thức thì người viết có thể thống kê để đưa vào bài làm Hãy xem ví dụsau đây:
Tâm sự cô đơn lạc loài ấy được thể hiện qua hệ từ “nhất độc – cô” trong thơ chữ Hán của ông (Nguyễn Du) […] Trong
-Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Lê Thị Thu
Yến thống kê hệ từ “nhất - độc – cô” xuất hiện đến 204 lần trong tổng số 250 bài thơ Còn Nguyễn Thị Nương thì khẳng định Nguyễn Du đã 77 lần diễn tả trạng thái, hình ảnh “một con người cô đơn, mệt mỏi, u sầu” trong những bài thơ tự thuật của mình…
(Văn học so sánh, Lê Tự Hiển)
Ở trường hợp này, những con số có một sức mạnh thuyết phục hơn hẳnnhững lý lẽ dài dòng
4 Phân tích dẫn chứng
4.1 Vai trò
Phần lớn những dẫn chứng cần phải được phân tích để soi sáng, bảo vệluận điểm Việc phân tích dẫn chứng góp phần quan trọng làm nên hiệu quảlập luận Phân tích dẫn chứng còn thể hiện năng lục cảm thụ văn học, tư duylập luận sắc sảo của người viết Dẫn chứng mà không phân tích chẳng khác gìnhân chứng câm lặng trước tòa
4.2 Yêu cầu
Xuất phát từ việc nhận diện những lỗi của học sinh khi phân tích dẫnchứng, chúng tôi đưa ra một số yêu cầu sau: