1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

V05 rèn luyện kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi ngữ văn

65 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 108,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạng đề NLVH trong đề thi học sinh giỏi thường là nghị luận ý kiến bàn về văn học, vấn đề được đưa ra cótính lí luận văn học sâu sắc.Để làm sáng tỏ các nhận định trên học sinh cần có ngữ

Trang 1

A. PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

1 Môn Ngữ văn trong chương trình phổ thông chính là bộ môn quan trọng hìnhthành năng lực ngôn ngữ, bên cạnh bồi dưỡng khả năng cảm thụ nghệ thuật cho họcsinh Học sinh sẽ có đầy đủ kỹ năng, kiến thức để tạo lập các văn bản nói hoặc viết sửdụng trong học thuật, làm việc và cuộc sống Để làm được điều đó,dạy và rèn kĩ nănglàm văn là một khâu quan trọng có ý nghĩa thực tiễn không thể phủ nhậnbên cạnhviệc giảng dạy và cung cấp kiến thức văn học cho học sinh Từ kiến thức học sinhlĩnh hội qua bài giảng của thầy cô, qua các tài liệu tham khảo mà các em tự học đếnmột bài văn nghị luận hoàn chỉnh là cả một quá trình rèn luyện công phu, nghiêm túcđòi hỏi sự cố gắng nỗ lực của cả thầy lẫn trò Đối với học sinh chuyên văn, việc rèn

kĩ năng làm văn càng quan trọng, đòi hỏi sự dày công của mỗi một giáo viên dạychuyên

2 Xuất phát từ cấu trúc của đề thi học sinh giỏi tỉnh, quốc gia môn Ngữ văn, câu nghịluận văn học chiếm tỉ trọng lớn về thời gian và điểm đánh giá Dạng đề NLVH trong

đề thi học sinh giỏi thường là nghị luận ý kiến bàn về văn học, vấn đề được đưa ra cótính lí luận văn học sâu sắc.Để làm sáng tỏ các nhận định trên học sinh cần có ngữliệu phân tích là các tác phẩm văn học Chúng tôi thấy rằng xu hướng ra đề nhằmgiúp phát huy sự sáng tạo, năng lực cảm thụ của học sinh người viết thường khônggiới hạn ngữ liệu cần phân tích, hoặc định hướng có tính chất mở đòi hỏi học sinh cầntinh nhạy trong việc chọn ngữ liệu phân tích làm nên màu sắc cho bài văn của mình.Chọn dẫn chứng thế nào giữa vô vàn tác phẩm văn học Việt Nam và nước ngoài, vănhọc dân gian và văn học viết, văn học trung đại và hiện đại , phân tích khía cạnh gìcủa dẫn chứng được chọn tất cả đòi hỏi học sinh giải quyết yêu cầu một cách có ýthức chứ không chỉ là cảm tính

Trang 2

3 Nội dung bài văn nghị luận được tạo nên bởi những lí lẽ và dẫn chứng Nếu như lí

lẽ nghiêng về việc làm cho người đọc hiểu, thì dẫn chứng thiên về phía làm chongười đọc tin Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng sẽ thành lập luậnthuyết phục Như vậy, lí lẽ hay dẫn chứng, phân tích hay chứng minh đều có tầmquan trọng như nhau.Để giải quyết yêu cầu của các đề thi chọn học sinh giỏi quốc giamôn ngữ văn, học sinh phải vận dụng rất nhiều các thao tác lập luận trong văn nghịluận, trong đó không thể không sử dụng thao tác phân tích, chứng minh để đảm bảotốt điều này cần có sự lựa chọn ngữ liệu phân tích tốt Đây là một phần chiếm dunglượng lớn về kiến thức trong bài, có vai trò định hướng quan trọng đối với việc triểnkhai và giải quyết vấn đề ở phần bình luận Nói cách khác, nếu chọn dẫn chứng, ngữliệu phân tích, chứng minh không đúng yêu cầu của đề, không tiêu biểu bài viết sẽdẫn đến lạc đề, xa đề hoặc sơ sài, không thuyết phục Như vậy, thực hiện tốt thao tácchọn ngữ liệu, phân tích chứng minh thuyết phục sẽ giúp bài văn triển khai đúnghướng, bàn luận vấn đề một cách toàn diện

4 Qua thực tế giảng dạy và quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT chuyên,

chúng tôi nhận thấy vấn đề Rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi Ngữ vănlà một vấn đề có ý nghĩa thực

tiễn quan trọng, góp phần củng cố và nâng cao kĩ năng viết phần phân tích, chứngminh trong bài làm của học sinh, đáp ứng yêu cầu của kì thi học sinh giỏi các cấp Đềtài này góp phần đem đến cho các giáo viên và học sinh chuyên văn một định hướng

về phương pháp rèn kĩ năng làm văn, từ đó vận dụng chuyên đề vào thực tế dạy, học

và làm văn sao cho có hiệu quả

II Mục đích nghiên cứu.

1 Xây dựng cách thức rèn kĩ năng chọn dẫn chứng, phân tích dẫn chứngcho bàivăn nghị luận văn họccho học sinh giỏi văn

Trang 3

2 Vận dụng lí thuyết, hình thành và định hướng hệ thống đề luyện tập, thực hànhviết và sửa lỗi phần chọn ngữ liệu phân tích trong đề văn đáp ứng yêu cầu bài văn họcsinh giỏi.

III Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu ở đây là kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bàinghị luận văn học dành cho học sinh ở các lớp chuyên văn

IV Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này tập trung vào vấn đề rèn luyện cho học sinh giỏi văn ở các lớpchuyên và học sinh đội tuyển quốc gia kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trongcác bài nghị luận văn học Đây được coi là yêu cầu không thể thiếu trong kĩ năng làmvăn nghị luận

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG Phần I: Giới thuyết chung

I.1.Đặc trưng dạy và học của HS chuyên Văn

Học sinh chuyên là những học sinh giỏi được tuyển chọn qua kỳ thi tuyển vàotrường THPT chuyên để đào tạo chuyên sâu ở một môn học nào đó (môn chuyên).Vìvậy, học sinh học các lớp chuyên Văn trước hết phải đạt được những yêu cầu về kiếnthức và kĩ năng chung của môn Ngữ Văn Quan trọng hơn hết, học sinh các lớpchuyên Văn cần phải đáp ứng thêm một số yêu cầu khác cao hơn, sâu hơn về mônhọc này so với học sinh phổ thông Bởi vì theo quan niệm chung của một số nướcphát triển “học sinh giỏi” (gifted student) là những học sinh chứng minh được trí tuệ

ở trình độ cao, có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt, đạtthành tích xuất sắc trong lĩnh vực lí thuyết/ khoa học; những người cần một sự giáodục đặc biệt hoặc sự phục vụ đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với năng lựccủa họ (Đỗ Ngọc Thống, Tài liệu chuyên Văn, NXB Giáo dục)

Vì những yêu cầu đó, học sinh chuyên Văn không chỉ đáp ứng những yêu cầu cơbản của môn Ngữ Văn mà còn phải có khả năng cảm thụ văn học sâu sắc, phươngpháp nghiên cứu văn học khoa học, đặc biệt có năng khiếu văn chương, chất vănriêng của mình

Trong quá trình học tập môn Văn chuyên, học sinh phải thể hiện được khả năngthẩm mĩ, cảm thụ văn chương; quá trình học văn - viết văn cũng chính là cách rènluyện, bày tỏ thế giới quan của mình về cuộc đời, con người, về mục đích, lối sống…Những điều đó không có trong sách vở mà cần phải có sự trải nghiệm của chủ thể, sựrèn luyện, trau dồi thường xuyên, liên tục bằng nhiều con đường: tự học, tự đọc sách,luyện viết, kết hợp với công tác bồi dưỡng của giáo viên

Ở học sinh chuyên Văn, để viết được bài văn hay, có chất văn, đáp ứng nhữngyêu cầu của kì thi học sinh giỏi tỉnh, khu vực, quốc gia, … đòi hỏi kiến thức và kĩ

Trang 5

năng của học sinh chuyên Vănphát triển mức độ cao về kiến thức lí luận văn học,kinh nghiệm sống, vốn tích lũy văn chương, kĩ năng làm bài, năng lực thẩm mĩ…Qua quá trình giảng dạy, có thể thấy học sinh chuyên Văn thường có đức tínhsay mê tự học: miệt mài tự học, tự đọc; số lượng sách văn học, sách lí luận cần đọctương đối nhiều và khó, đòi hỏi các em phải vận dụng nhiều mức độ đọc, dành nhiềuthời gian cho quá trình đọc – ghi chép tích lũy – thẩm thấu – vận dụng linh hoạt cáckiến thức đã đọc khi làm văn.

Giáo viên dạy học Ngữ Văn ở các lớp chuyên là một bộ phận ưu tú của các địaphương - những người cần đi trước một bước trong nhận thức và thực hiện các tưtưởng đổi mới trong văn học; cũng đồng thời là những người rất cần phải quan tâmđến xu hướng chung của quốc tế, nắm bắt được những thay đổi theo chiều hướng tíchcực để điều chỉnh, vận dụng vào công việc nghiên cứu và dạy học hằng ngày củachính mình

Với một đối tượng học sinh như trên, rõ ràng cần có một nội dung và phươngpháp dạy học đặc biệt tương ứng mới có thể phát huy được hết khả năng tiềm ẩn ởđối tượng ấy Đòi hỏi phải đảm bảo cho học sinh chuyên Văn hệ thống kiến thức cơbản, chính xác về tác phẩm văn học, kiến thức về văn học sử, lí luận văn học…,Hướng dẫn, bồi dưỡng học sinh có năng lực tiếp nhận văn bản và tạo lập văn bảnđàm bảo tính khoa học, sâu sắc, có chất văn, lập luận sắc sảo, chặt chẽ

Ngoài ra, quá trình bồi dưỡng, dạy học môn Văn chuyên còn là quá trình thắplửa, truyền cảm hứng, khơi gợi sự tò mò thưởng thức cái đẹp, cảm thụ cái đẹp vàđánh giá cái đẹp cho học sinh Khi đó, người học sẽ sống cùng tác phẩm văn chương

và chuyển hóa cái đẹp của tác phẩm thành cái đẹp trong lòng mình, thành tài sản tinhthần của mình Đó là quá trình “ đồng sáng tạo” cùng tác giả để tạo ra những bài vănhay giàu “chất văn” của học sinh chuyên Văn

Như vậy, trong quá trình dạy – học môn Văn chuyên, giáo viên cần nỗ lực tìmtòi, vận dụng các phương pháp dạy học để rèn luyện cho học sinh chuyên năng lực

Trang 6

xét, đánh giá,…); hai yếu tố này thường gắn bó, hòa quyện với nhau trong quá trìnhngười học tiếp xúc với vẻ đẹp của văn chương và tiếng Việt.

Dạy học môn Văn chuyên chính là công việc phát triển năng lực thẩm mĩ chohọc sinh - ở đây chính là bồi dưỡng cho thế hệ trẻ về cả hai mặt cảm xúc và lí trí quacác khâu phát hiện cái đẹp, cảm thụ cái đẹp, đánh giá cái đẹp,… Để phát triển tốtnăng lực thẩm mĩ, cần hướng vào người học là chủ yếu chứ không phải hướng vàotác phẩm hay văn bản như cách dạy truyền thống trước đây; từ đó có thể mở ra cơ hội

và tạo điều kiện thuận lợi để người học khám phá và thưởng thức vẻ đẹp của tácphẩm văn chương

I.2.Đặc trưng của kiểu bài nghị luận văn học

I.2.1 Khái niệm văn nghị luận văn học

“Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ đểbàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạođức) Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ Luận là bàn vềđúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí,đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình Sức mạnh của văn nghịluận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ vàtrình bày, sự thuyết phục của lập luận Vận dụng các thao tác như giải thích, phântích, chứng minh, bác bỏ, so sánh…” (Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, tập 2)

Như vậy, nghị luận là bàn bạc đánh giá một vấn đề Văn nghị luận là dạng bàivăn người viết bàn bạc, trao đổi ý kiến, trình bày quan điểm, thái độ của mình về mộtvấn đề nhằm thuyết phục người đọc, người nghe chấp nhận, đồng tình với quan điểmcủa mình Để thực hiện điều này, người viết phải vận dụng hợp lí, nhuần nhuyễn cácthao tác lập luận như giải thích, chứng minh, lập luận, bác bỏ, so sánh… Văn nghịluận có tính khoa học, đòi hỏi khả năng phân tích, tổng hợp bên cạnh khả năng diễnđạt, cảm thụ Nhìn từ đề tài, đối tượng nghị luận, có thể chia văn nghị luận thành hailoại lớn: nghị luận xã hội và nghị luận văn học

Trang 7

Trong đó, nghị luận văn học là những bài văn về các vấn đề văn chương – nghệthuật Đây là dạng đề phổ biến và cơ bản trong chương trình Ngữ Văn THPT Đốitượng của dạng bài này là một vấn đề văn học hoặc lí luận văn học Đó có thể là mộtnhân vật văn học, giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật của tác phẩm; đặc điểm nổi bậtcủa một khuynh hướng, trào lưu, giai đoạn văn học; cũng có thể là một vấn đề lí luận

về nhà văn, quá trình sáng tác, phong cách tác giả, tiếp nhận văn học…

I.2.2 Đặc điểm của vănnghị luận văn học

- Kiểu bài nghị luận văn học hai dạng đề cơ bản: Nghị luận về một tác phẩm vănhọc và nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Nghị luận về tác phẩm văn học Dạng đề này nhằm kiểm tra năng lực cảm thụ

văn học (hiểu, phân tích, lí giải, bình giá…) của người viết Đối tượng cảm thụ có thể

là bài thơ/đoạn thơ, khía cạnh của bài thơ/đoạn thơ, truyện, kịch hoặc văn nghị luận;

có thể là toàn bộ tác phẩm, nhưng cũng có thể là một đoạn trích

Ví dụ:

-“Cái tôi” của Xuân Diệu trong bài thơ Vội vàng

-Cảm hứng vũ trụ và nỗi sầu nhân thế trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận.-Nghệ thuật Thơ mới qua những câu thơ sau:

Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh

Những luồng run rẩy rung rinh lá…

Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

(Xuân Diệu, Đây mùa thu tới)

- Cảm nhận của anh (chị) về đoạn văn sau:

Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rấtdài Cũng như những người say tỉnh dậy, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn.Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc Hay là đói rượu? Nghĩ đến rượu, hắnhơi rùng mình Ruột gan nôn nao lên một tí Hắn sợ rượu cũng như những người ốm

Trang 8

người đi chợ.Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá Những tiếng quen thuộc ấy hômnào chả có Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!

(Nam Cao, Chí Phèo)

Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học Đối tượng bàn luận ở đây có thể là

một nhận định về văn học sử, về nội dung hay nghệ thuật của tác phẩm; hoặc một ýkiến về lí luận văn học

Ví dụ:

-Dấu ấn của văn học dân gian đối với văn học viết qua một số tác phẩm đã học.-Anh (chị) hiểu như thế nào về quan niệm của Bạch Cư Dị trong Thư gửiNguyên Cửu: “Với thơ, tình là gốc, lời là ngọn, âm thanh là hoa, ý nghĩa là quả”?-Anh (chị) hãy làm sáng tỏ lời nhận xét của Vũ Ngọc Phan về sự phát triển củavăn học Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỉ XX: “một năm nước ta có thể kể như bamươi năm của người”

-Bàn về sự nghiệp của Xuân Diệu, Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định: “Nhìn mộtcách tổng quát, toàn bộ sự nghiệp văn học của Xuân Diệu, thấy có một tư tưởng chiphối tất cả, ấy là niềm khát khao giao cảm với đời – cuộc đời hiểu theo nghĩa chânthật và trần thế nhất”

-Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Xuân Diệu viết:

Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây

(Cảm xúc)Sau Cách mạng ông viết:

Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi,Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu, Tôi sống với cuộc đời chiến đấuCủa triệu người yêu dấu gian lao

(Những đêm hành quân)

Trang 9

Anh (chị) hãy bình luận sự thay đổi quan niệm của Xuân Diệu về mối quan hệgiữa nhà thơ và hiện thực cuộc sống.

- Nhà phê bình Belinsky viết: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sốngchỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hoặc lời ca tụng hân hoan,nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc không trả lời những câu hỏi đó” (Lí luậnvăn học, NXB Giáo dục, 1993, trang 62)

Trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT, đặc biệt là giảng dạy môn chuyên

và bồi dưỡng học sinh giỏi, ngoài việc trang bị kiến thức thì việc rèn kĩ năng nghịluận văn học có vai trò vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định chất lượng và hiệuquả của công tác giảng dạy Việc hình thành và rèn luyện kỹ năng nghị luận văn họccho học sinh là phương pháp giúp học sinh có khả năng vận dụng tri thức, hiểu biết

về các vấn đề của văn học và đời sống vào giải quyết các yêu cầu thực tế của cácdạng đề nghị luận

- Những yêu cầu của một bài nghị luận văn học

Để tạo lập được một văn bản nghị luận, cần lưu ý tới những yêu cầu cơ bản về nộidung và hình thức:

+ Về nội dung tư tưởng, bài văn nghị luận cần nêu được vấn đề mới mẻ, sâusắc, có ý nghĩa, thể hiện những tư tưởng, lí tưởng nhân văn cao đẹp của con người.Văn nghị luận cần có tình cảm lớn làm thành mạch chìm của văn bản, thiếu tìnhcảm lớn thì văn nghị luận trở nên khô khan, dù lí lẽ có sắc bén cũng khó đi đếnđược với trái tim con người

+ Văn nghị luận đòi hỏi sự chặt chẽ của lập luận, sự xác đáng của luận cứ, sựchính xác, tinh tế của lời văn; đạt tới yêu cầu thấu lí đạt tình, không chỉ thuyết phụcngười ta bằng cách nêu vấn đề, cách luận giải sắc sảo, chặt chẽ mà còn tác động cảtới tình cảm của người đọc (người nghe)

+ Đảm bảo kiến thức mang màu sắc chính trị - xã hội: những hiểu biết về chínhtrị, xã hội: những hiểu biết về chính trị - pháp luật, những kiến thức cơ bản về truyền

Trang 10

+Đảm bảo sự trong sáng trong diễn đạt Lời văn nghị luận cần tự nhiên, linhhoạt, giản dị, tối kị dùng những từ ngữ xa lạ, những từ ngữ mình không hiểu, hoặcđưa từ ngữ bằng tiếng nước ngoài vào bài văn một cách không cần thiết.

+ Có kĩ năng lựa chọn và sử dụng dẫn chứng : là việchuy động dẫn chứng, chọndẫn chứng cho phong phú, đa dạng và sử dụng hiệu quả Kĩ năng trích dẫn dẫnchứng :yêu cầu dẫn chứng phải chính xác; dẫn chứng phải đủ trong phạm vi yêu cầucủa đề về tư tiệu; dẫn chứng phải tiêu biểu, xác đáng, có tính mới Khi lấy dẫn chứngcần chú ý đến tính hệ thống, sắp xếp theo trục thời gian tuyến tính, không gian từ xađến gần

- Những lỗi thường gặp khi làm bài nghị luận văn học:

Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy khi làm bài nghị luận văn học, họcsinh hay mắc phải những lỗi sau đây:

Xác định sai vấn đề nghị luận/ dạng đề nghị luận dẫn đến hệ thống luận điểmsai, không đi vào trọng tâm đề bài yêu cầu

Kĩ năng, thao tác làm bài còn yếu, chưa biết cách phân bố thời gian dẫn đến bàivăn “đầu voi đuôi chuột”, không cân đối độ dài các phần

Trong bài làm còn ôm đồm kiến thức, hệ thống dẫn chứng chưa thuyết phục, tiêubiểu

Lỗi về kiến thức văn học sử: lẫn lộn thời kì sáng tác và các tác phẩm của các tácgia, lẫn lộn các giai đoạn, các thời kì trong tiến trình phát triển của lịch sử văn họcdân tộc, không nắm được đặc điểm, nguồn gốc và hoàn cảnh ra đời của một trào lưuvăn học, một xu hướng văn học, không nắm được hoàn cảnh ra đời và tác động củahoàn cảnh đó đối với tác phẩm

Lỗi về kiến thức lí luận văn học: không nắm chắc nội dung khái niệm và thuậtngữ lí luận văn học nên sử dụng thiếu chính xác, khả năng vận dụng kiến thức lí luậnvăn học vào bài kém hiệu quả, vụng về, thiếu sức thuyết phục

I.3 Dẫn chứng trong bài văn nghị luận

Trang 11

Đối với bất cứ dạng văn nghị luận nào, dù nghị luận văn học hay nghị luận xãhội, dẫn chứng có vai trò vô cùng quan trọng Trong bài văn nghị luận, dẫn chứng và

lí lẽ là hai bộ phận cấu thành luận điểm và làm tăng thêm tính thuyết phục, hấp dẫncho hệ thống lập luận

Nếu không có dẫn chứng, những lí lẽ được đưa ra dù hay và sắc sảo đến đâu thìvẫn không đủ sức thuyết phục và không thể tác động mạnh mẽ đến người đọc, ngườinghe Bài văn nghị luận sẽ trở thành những lời bàn luận mang tính chất là những kháiniệm, lí thuyết suông

Dẫn chứng và lí lẽ là hai yếu tố quan trọng tạo nên luận cứ trong bài văn nghịluận Tuy nhiên, học sinh thường mắc một số lỗi không đáng có trong quá trình chọnlọc dẫn chứng trong văn nghị luận:

– Thường trích dẫn sai dẫn chứng, làm ảnh hưởng đến tính xác thực của văn bản nghịluận

– Đưa dẫn chứng không kết hợp với việc phân tích dẫn chứng, khiến lí lẽ đưa ra trởnên hời hợt và không sâu sắc

– Chọn lọc dẫn chứng không tiêu biểu nên không làm sáng rõ được vấn đề cần nghịluận

– Đưa những dẫn chứng quá quen thuộc, không mới mẻ làm giảm đi tính hấp dẫn củavăn bản nghị luận

– Trong bài có quá ít dẫn chứng dẫn đến không đủ sức thuyết phục cho luận điểm.Hoặc đưa quá nhiều dẫn chứng vào bài khiến bài văn lan man, sáo rỗng và không sâusắc

Những lưu ý khi đưa dẫn chứng trong văn nghị luận

Dẫn chứng có vai trò quan trọng Tuy nhiên khi đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận,học sinh cần lưu ý những vấn đề sau:

– Thứ nhất, khi chọn lọc dẫn chứng trong văn nghị luận phải đảm bảo sự chính xác

Trang 12

Nếu không đảm bảo được yếu tố chính xác, dẫn chứng sẽ không làm sáng rõ đượcluận điểm Đối với dẫn chứng là thơ, người viết cần trích dẫn đúng nguyên văn Đốivới văn xuôi thì tóm lược ý nhưng cần đảm bảo tính chính xác về nội dung, tác giả,tác phẩm Có không ít trường hợp trích dẫn sai dẫn chứng, chẳng hạn như trường hợptrích dẫn ngữ liệu từ bài thơ “Tràng giang” của tác giả Huy Cận: Nắng xuống, trời lêncao chót vót (Đúng phải là Nắng xuống, trời lên sâu chót vót); hoặc nhầm lẫn về chitiết, cốt truyện trong “Vợ chồng A Phủ”: Mị vốn là người yêu của A Phủ nhưng bị A

Sử bắt về làm vợ

Những sai sót này ảnh hưởng không nhỏ đến tính thuyết phục của bài văn nghị luận

Do đó, chúng ta cần nắm dẫn chứng một cách chính xác, rõ ràng

Lấy dẫn chứng trong văn nghị luận phải đảm bảo sự chính xác

– Thứ hai, khi đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận phải đảm bảo yếu tố cần và đủBài văn nghị luận cần có nhiều hơn một dẫn chứng Lấy quá ít dẫn chứng thì vấn đềnghị luận sẽ không được làm sáng tỏ Bên cạnh những dẫn chứng mang tính chất bản

lề và bắt buộc, người viết cần liên hệ thêm những dẫn chứng để có sự liên hệ, sosánh Tuy nhiên, nếu đưa quá nhiều dẫn chứng vào bài sẽ khiến bài văn nghị luận bịloãng Bởi vậy, khi đưa dẫn chứng vào bài cần lưu ý yếu tố cần và đủ, không thiếudẫn chứng nhưng cũng không có quá nhiều dẫn chứng Việc đưa dẫn chứng tùy thuộcvào việc có bao nhiêu vấn đề được nêu ra trong luận điểm Thông thường, với mỗimột lí lẽ, người viết cần đưa ra ít nhất một dẫn chứng đi kèm

– Thứ ba, khi đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận phải đảm bảo tính điển hình, tiêubiểu

Ngoài việc đưa dẫn chứng phong phú, người viết còn cần biết chọn lọc dẫn chứng, ưutiên những dẫn chứng điển hình và tiêu biểu Thông thường, học sinh thường chọnnhững dẫn chứng quen thuộc Chẳng hạn như khi bàn luận về vấn đề “Nghị lực sốngvượt lên trên hoàn cảnh”, học sinh thường lấy những dẫn chứng về thầy giáo NguyễnNgọc Kí kiên trì luyện viết chữ bằng chân Hay Mạc Đĩnh Chi bắt đom đóm cho vào

Trang 13

vỏ trứng, lấy ánh sáng học bài Rõ ràng, những dẫn chứng này đều đúng Nhưng vì đãquá quen thuộc nên sẽ không tạo ra được tính hấp dẫn cho bài văn.

Người viết nên sử dụng những dẫn chứng mới mẻ hơn Chẳng hạn như câu chuyện vềNic Vujicic- tấm gương vượt khó, dù sinh ra không có tay chân nhưng vẫn mạnh mẽvượt lên để trở thành diễn giả nổi tiếng Rõ ràng dẫn chứng này sẽ truyền thêm cảmhứng cho rất nhiều người Như vậy, chúng ta nên chọn lọc những dẫn chứng mới mẻthông qua việc thường xuyên tìm hiểu và cập nhật các thông tin về đời sống văn hóa-

– Thứ năm, khi đưa dẫn chứng trong văn nghị luận cần đảm bảo tính logic và hệthống

Khi đưa dẫn chứng trong văn nghị luận, người viết cần đảm bảo tính hệ thống Nghĩa

là các dẫn chứng phải được sắp xếp theo một trình tự, quy luật nhất định Ví dụ nhưviệc sắp xếp dẫn chứng theo trục thời gian tuyến tính (từ lịch sử, quá khứ đến thờiđiểm hiện tại) Hoặc theo chiều không gian (từ rộng đến hẹp, từ xa đến gần,… hoặcngược lại) Tính hệ thống sẽ giúp cho người viết tránh được tình trạng đưa dẫn chứngmột cách tràn lan và mất kiểm soát

Phần II: Một số phương pháp tổ chức dạy học

II.1 Một số hình thức, phương pháp dạy học hỗ trợ rèn kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong kiểu bài NLVH

II.1.1 Phương pháp thảo luận nhóm kết hợp các kĩ thuật DH tích cực

Trang 14

Như đã biết: “Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó HScủa một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗinhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làmviệc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.”[1].

Trong học tập, không phải mọi kiến thức, tài năng, thái độ hoài nghi đều đượchình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường tiếp xúcvới nhau giữa thầy – trò , trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trêncon đường chiếm lĩnh nội dung Thông qua học hỏi, đàm luận, tranh luận trong tậpthể, quan điểm mỗi cá nhân được bộc lộ, người học tự tin tuyên bố hay bác bỏ, qua

đó nâng mình lên một trình độ mới

Trước tiên, cùng lí giải vì sao phương pháp thảo luận nhóm lại có thể hỗ trợ rènluyện kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong kiểu bài NLVH:

“Đọc sai” là một hiện tượng quy luật trong quá trình tiếp nhận văn bản nghệthuật Nguyên nhân căn cốt của vấn đề “đọc sai” là ở chỗ chất liệu của văn chương làngôn ngữ, mà bản chất của ngôn ngữ chính là đa âm và đa nghĩa Sự đa nghĩa củangôn ngữ đã dẫn người đọc đi theo những con đường khác nhau, vì vậy người đọc dễ

đi đến kết quả sai Vì lẽ đó, tùy năng lực, tùy tư duy của từng người đọc, họ sẽ tìmcách tái tạo bức tranh ngôn ngữ để từ đó xây dựng bức tranh thế giới theo những cáchkhác nhau Nguyên nhân thứ hai nằm ở tính hình tượng hóa sinh động, không ít lần

đã khiến độc giả đồng nhất hình tượng trong tác phẩm với các hiện tượng ngoài đờisống Vì vậy mới có chuyện, khi Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư ra đời, cómột anh cán bộ ở Cà Mau phát biểu rằng mình không thích tác phẩm vì câu chuyện

về mối quan hệ gia đình, cha con trong truyện này phản ánh không đúng cuộc sống,tâm tư của người dân Cà Mau…Nhưng một vấn đề quan trọng không kém cũng cóthể dẫn đến hiện tượng đọc sai là do yếu tố ngữ cảnh Yếu tố ngữ cảnh xuất phát từcác vấn đề tâm lí, sinh lí, giới tính, lứa tuổi, xã hội, thời đại… Bởi chính hiện tượng

Trang 15

“đọc sai” tồn tại như một quy luật tất yếu, thế nên trong quá trình HS đọc tác phẩmtrong SGK và hệ thống văn bản mở rộng, người GV cần lưu ý sự chi phối của quátrình “đọc sai” đến việc chọn lựa và phân tích dẫn chứng của HS Việc tổ chức thảoluận nhóm theo các kĩ thuật DH tích cực, hiện đại sẽ góp phần tạo ra môi trườngtương tác ý tưởng và giúp các HS tiếp cận được trường tiếp nhận riêng từ bạn học.Phương pháp thảo luận nhóm suy cho cùng là một cách thức học tập phát huy đượctiềm năng và ưu điểm của phương thức “đọc sai”, cũng như tạo ra môi trường thíchhợp để HS rèn luyện kĩ năng chọn lựa dẫn chứng trọng tâm, kĩ năng so sánh đối chiếucác phương thức phân tích khác nhau.

Có rất nhiều hình thức làm nhóm phối hợp với kĩ thuật dạy học tích cực mànhững nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhằm dạy học sinh không chỉ tiếp thu kiếnthức tốt mà còn phát triển năng lực Điều quan trọng là giáo viên linh hoạt tuỳ theobài học để chọn kĩ thuật phù hợp

Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên vàhọc sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trìnhdạy học Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học.Một số kĩ thuật DH hiện đại được sử dụng phổ biến là: Kĩ thuật mảnh ghép, KT khăntrải bàn, KT ổ bi, KT tia chớp, KT bể cá, KT phòng tranh, KT chia sẻ nhóm đôi, KTKipling (Phát huy hiệu quả đặc biệt ở thao tác đọc lấy thông tin trong quá trình đọchiểu văn bản văn học), KT KWL, KT đọc tích cực, KT/Phương pháp đóng vai,v.v…

Ví dụ minh họa: Chuyên đề Kĩ năng So sánh văn học – Chương trình Ngữ văn

Chuyên lớp 10 HK 2

-Hình thức: HS làm việc nhóm

-Kĩ thuật DH:Nêu vấn đề, gợi mở, hoạt động nhóm

-Mục tiêu của bài học là HS tiến hành So sánh để nhận ra những điểm khác

Trang 16

khác nhau của đối tượng so sánh, đi đến lí giải nguyên nhân sự khác nhau của cáchiện tượng văn học.

-Trong phần hoạt động Thực hành hoạt động so sánh, HS cần chọn và phân

tích ngữ liệu làm sao để giải quyết yêu cầu: Phân tích điểm giống và khác nhau giữa sử thi Ô đi xê và sử thi Đăm Săn.

-Nhiệm vụ của các nhóm

+ Nhóm 1, Nhóm 2:Làm rõ điểm giống nhau (kết hợp lí giải)+ Nhóm 3, Nhóm 4: Làm rõ điểm khác nhau (kết hợp lí giải)

-Cách thức thực hiện:

+ Hai hoặc ba dãy tạo thành một nhóm

+Thời gian thảo luận và ghi lên giấy là 6 phút Sau khi hết giờ, HS lầnlượt dán kết quả lên bảng và trình bày

-Kết quả tập hợp dẫn chứng của HS:

*Giống nhau:

+Đều là anh hùng sử thi: hội tụ phẩm chất tốt đẹp và ước mơ của cộng đồng

• Đăm Săn: Sức mạnh phi thường, nhân cách cao đẹp ; Thể hiện ước

mơ cuộc sống thịnh vượng

• Uy lít xơ: mạnh mẽ, tài trí ; ước vọng cuộc sống ổn định, khám phávùng đất mới, ước mơ trở về quê hương của những kẻ tha phương

+Xây dựng nhân vật: hành động, đối thoại => Dựng cảnh: màn kịch đầy căngthẳng, hấp dẫn

+Con người sánh ngang thần linh => Tự chủ (Tư duy thần thoại >Sử thi)

+Biểu tượng tượng trưng tình yêu: Miếng trầu của Hơ nhị; Chiếc giường của Uylít xơ

+Ngôn ngữ giàu nhạc điệu, hình ảnh so sánh hấp dẫn; Giọng điệu ngợi ca

Trang 17

=>khát vọng khám phá, mởmang bờ cõi

thuộc và tôn trọng tự nhiên (tư

duy đặc trưng của văn hóa nông

nghiệp)

Chống lại những vị thần tối cao

=>Muốn chinh phục và cải tạothiên nhiên (tư duy đặc trưngvăn hóa du mục)

-Chặt cây sinh mệnh của vợ và

cầu hôn nữ thần mặt trời =>

muốn chiến thắng tập tục (vươn

-Cuộc hôn nhân chung thủy=>

Sự tiến bộ (XH nguyên

thủy >văn minh)-Chiếc giường: tượng trưng tìnhyêu, sự chung thủy, thử tháchcần thiết

-Cảnh đoàn tụ: Không gianriêng tư, ấm cúng =>Con người

cá nhân, đời tư

Như vậy, phương pháp thảo luận nhóm có thể trong một thời gian ngắn tạo rahiệu quả cao, HS huy động dẫn chứng đồng thời và hỗ trợ cho nhau để giải quyết vấn

đề Các dẫn chứng vừa thuộc ngữ liệu trong tác phẩm vừa huy động đến kiến thứcvăn hóa phương Đông – Phương Tây (Biểu tượng, phong tục, tâm lí), đặc trưng thipháp sử thi mang tính chất đặc thù dân tộc, v.v

Trang 18

Vì giới hạn của chuyên đề, chúng tôi chỉ đề xuất, trình bày hai kĩ thuật DH tíchcực như những ví dụ thực tiễn có giá trị chứng minh:

* Kĩ thuật “ Hỏi và trả lời”

Đây là KTDH giúp cho HS có thể củng cố, khắc sâu các kiến thức đã họcthông qua việc hỏi và trả lời các câu hỏi Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau: GVnêu chủ đề GV (hoặc 1 HS) sẽ bắt đầu đặt một câu hỏi về chủ đề và yêu cầu một HSkhác trả lời câu hỏi đó HS vừa trả lời xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câuhỏi nữa và yêu cầu một HS khác trả lời HS này sẽ tiếp tục quá trình trả lời vàđặt câuhỏi cho các bạn cùng lớp, Cứ như vậy cho đến khi GV quyết định dừng hoạt độngnày lại

Mục đích: Kích thích, dẫn dắt học sinh suy nghĩ, khám phá ngữ liệu có sẵn

và nguồn kiến thức cá nhân

Yêu cầu câu hỏi: Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với thời gian thực tế

GV Không ghép nhiều câu hỏi cùng thành một câu hỏi móc xích, không hỏi nhiềuvấn đề cùng một lúc

Kĩ thuật này một số GV thường áp dụng khi day các tiết tự chọn về các tácphẩm văn học, khi cần hệ thống lại, ôn lại kiến thức cả tác phẩm Tùy theo tính chấtbài mà GVcó thể giao cho HS tự chuẩn bị câu hỏi, hoặc GV biên soạn sẵn, ghi ranhiều phiếu nhỏ, gấp lại và sau câu trả lời của HS thì chính em đó tự đặt câu hỏi hoặclại gắp thăm câu hỏi cho bạn kế tiếp

Ví dụ minh họa:Bài “Ông già và biển cả” (E Hemingway) – CT Ngữ văn 12

tập 2

Hệ thống câu hỏi để dẫn dắt HS tiếp cận với hình ảnh cá kiếm và mối quan hệông lão – cá kiếm

• Hệ thống câu hỏi có vấn đề:

Trang 19

? Em hãy tìm đoạn văn khắc họa khoảnh khắc kề cận cái chết của cá kiếm.

? Em cảm nhận lần xuất hiện cuối cùng này của cá kiếm như thế nào? Qua đó,

ta có kết luận gì về thái độ của tác giả dành cho cá kiếm

? Qua hình ảnh cá kiếm, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên ở đây

? Con cá là sức mạnh của thiên nhiên, một sinh vật của tự nhiên Vậy cần ứng

xử như thế nào khi phải chinh phục thiên nhiên, phải khai thác thế giới tự nhiên đểphục vụ con người?

Qua việc áp dụng kĩ thuật này trong việc dạy kiểu bài Nghị luận văn học,GV

có thể kiểm tra nhanh khả năng khai thác ngữ liệu trên văn bản của HS, đồng thời yêucầu HS nhanh trí xử lí các yêu cầu được đặt ra xâu chuối theo mạch giải quyết các chitiết trong tác phẩm, chủ đề thông điệp và cái lí của sự phát triển tâm lí, hành độngnhân vật

*Kĩ thuật Viết tích cực

Kĩ thuật này có thể sử dụng sau tiết học để tóm tắt nội dung đã học, có thể sửdụng trong các tiết luyện tập kĩ năng viết để HS phản hồi cho GV về việc nắm kiếnthức của các em và những chỗ HS còn hiểu sai

Trang 20

Cách thực hiện :

- GV đặt câu hỏi và dành thời gian cho HS tự do viết câu trả lời GV cũng cóthể yêu cầu HS liệt kê ngắn gọn những gì các em biết về chủ đề đang học trongkhoảng thời gian nhất định

- GV yêu cầu một vài HS chia sẻ nội dung mà các em đã viết trước lớp Vớinhiệm vụ viết nhằm chứng minh luận điểm, HS sẽ có nhiều cơ hội thể hiện khả năngthu thập và phân tích dẫn chứng trong giới hạn thời gian Việc trình bày trước lớp kếtquả viết tích cực cũng là một cách thức hiệu quả để GV và các HS khác quan sát cáchlấy dẫn chứng cũng như những lỗi lựa chọn dẫn chứng của HS

Ví dụ minh họa : Bài Luyện tập viết đoạn văn nghị luận – Chương trình Ngữ

văn Nâng cao lớp 10 HK 2

-Hình thức HĐ: Làm việc cá nhân

-Kĩ thuật DH: Nêu vấn đề, gợi mở, KT viết tích cực

-Hoạt động Luyện tập – Vận dụng – Mở rộng, GV hướng dẫn và kiểm trả HSviết đoạn văn NL văn học

GV giao nhiệm vụ: Nhà thơ nổi tiếng người Đức Hai – nơ cho rằng: Cuộc đời

của nhà thơ, giá trị của nhà thơ không nên tìm ở đâu khác mà phải chính trong tácphẩm của họ.Từ việc cảm nhận một số bài thơ trong chương trình Ngữ văn 10 THPT,anh/chị hãy bình luận ý kiến trên

-Kết quả thu nhận: Kiểm tra 5 đoạn văn nghị luận của HS GV không chỉ tậptrung đánh giá, nhận xét về câu chủ đề, sự phù hợp của cách lập luận, tính liên kếttrong đoạn văn mà còn cần tập trung vào việc triển khai dẫn chứng có làm rõ được

vấn đề không Có thể liệt kê ở đây hai luận điểm chính mà HS tập trung khai triển,

phân tích dẫn chứng nhằm làm rõ:

Trang 21

+Đặc trưng của thơ là sự tự thể hiện, bộc lộ trực tiếp thế giới tinh thần nhà thơ

=> qua tác phẩm, người đọc nhận ra bóng dáng cuộc đời, hiểu cách nhìn, cách cảm,lắng nghe được điệu hồn riêng của nhà thơ

+Mỗi bài thơ là kết quả của quá trình lao động nghệ thuật đầy khổ hạnh vànghiêm túc tìm tòi, sáng tạo =>Tác phẩm là căn cứ đánh giá tài năng, tâm huyết củanhà thơ

Nói tóm lại, phương pháp làm nhóm và việc phối kết hợp các kĩ thuật DH tíchcực sẽ tạo nên môi trường thích hợp để HS rèn luyện kĩ năng chọn và phân tích dẫnchứng trong kiểu bài nghị luận văn học

II.1.2.Phương pháp dạy học nghiên cứu tình huống và Giải quyết vấn đề

Như chúng ta đã biết, trong bối cảnh giáo dục hiện đại, giáo viên phải từngbước chuyển từ phương pháp giảng dạy truyền thụ kiến thức một chiều sang phươngpháp dạy học mới, trong đó học sinh dưới sự tổ chức, gợi mở, dẫn dắt của giáo viên

tự mình chiếm lĩnh bài văn, tự rút ra những kết luận, những bài học cần thiết chomình với sự chủ động tối đa Có như vậy, học sinh mới thấy hứng thú và cảm thấymình cũng là người “đồng sáng tạo” với tác giả Đối với vấn đề khai thác dẫn chứngcũng vậy, GV không liệt kê dẫn chứng có sẵn, cũng như không bắt buộc HS chỉkhoanh vùng phạm vi tài liệu nhất định, mà GV cần gợi ý, dẫn dắt HS đến các tìnhhuống thực sự có vấn đề, lúc ấy, HS mới có nhu cầu phát hiện tối đa tiềm năng ngữliệu, vận dụng dẫn chứng làm sao để giải quyết được vấn đề (GQVĐ)

Không những vậy PPDH GQVĐ trong môn Ngữ văn còn hướng đến thực hiệnhiệu quả ba phương diện của trình độ đọc (trong năng lực đọc hiểu): Thu thập thôngtin, giải thích văn bản, phân tích và đánh giá Dạy học GQVĐ không hề mâu thuẫnvới thuộc tính nghệ thuật của môn ngữ văn mà vô cùng cần thiết cho phương pháphọc văn hiệu quả

Trang 22

Vậy vì sao việc tổ chức giải quyết các tình huống có vấn đề lại hỗ trợ hiệu quảcho quá trình HS giỏi văn rèn luyện kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng? Cũng như

GV cần chú ý điều gì khi triển khai PP DH giải quyết vấn đề ?

Thứ nhất,Chương trình tiếp cận năng lực hướng đến chia văn bản theo phương

án: VB hư cấu (văn xuôi hư cấu, truyện thơ và kịch); Văn bản văn xuôi phi hư cấu(bao gồm văn bản các thể văn phi hư cấu và văn nhật dụng); văn bản thơ (bao gồmthơ trữ tình, trào phúng và thơ văn xuôi)

Với hệ thống văn bản hư cấu, việc hướng dẫn HS phân tích dẫn chứng để tiếpnhận sâu sắc có một số khác biệt nhất định đối với văn bản phi hư cấu Trong văn bản

hư cấu, HS cần hiểu và tiếp cận với những vấn đề liên quan đến năng lực tưởngtượng của người nghệ sĩ Tưởng tượng là sự tự do vượt lên trên hiện tại, thực tại vàtrở về đó một cách sâu sắc hơn, chính xác hơn, bản chất hơn Để phản ánh chân thực

và xúc động về cuộc sống, người nghệ sĩ không chỉ “nhập thân” bằng tưởng tượngđối với nhân vật của mình mà còn phát xem xét mạch vận động logic của đối tượngtrong bối cảnh xã hội cụ thể Chính những hiểu lầm của HS về sự hư cấu có dụng ýtrong các văn bản văn học và cách HS xa rời dẫn chứng là lí do cản trở các em nhìnnhận vấn đề trong mối liên hệ với thông điệp tác phẩm cũng như thực tiễn được phảnánh GV cần giúp HS gỡ bỏ những hiểu nhầm liên quan đến năng lực tưởng tượngcủa người nghệ sĩ

Ví dụ minh họa: Khi tiếp nhận phần kết thúc truyện “Chí Phèo” (Nam Cao) –

CT Ngữ văn 11 HK 1

GV đặt ra vấn đề: Tại sao Chí Phèo không thỏa hiệp với Bá Kiến để tránh cáichết bi phẫn ? , có HS cho rằng: cái kết đau đớn là sự áp đặt của một trí tưởng tượngtùy tiện, để nhân vật sống thì có mất gì đâu GV cần hướng dẫn HS giải quyết vấn đềthông qua việc bám sát đặc điểm của một tác phẩm hiện thực nhân đạo: điển hình hóa

và quy luật phát triển tâm lí nhân vật GV cần kiểm tra khả năng gợi ra dẫn chứng

Trang 23

(ngữ liệu, kiến thức lí luận VH) của HS để chứng minh Cụ thể trong trường hợp trênlà:

+Điển hình hóa: cái “lạ” trong xây dựng Chí Phèo là ở chỗ Chí không thể thỏahiệp với Bá Kiến như Binh Chức hay Năm Thọ, vì chúng còn vợ con, kế sinh nhai vàthật ra chúng chỉ cần tiền – thứ bị bóc lột mà thôi Còn cuộc đời Chí, hoàn toàn côđộc, chẳng còn gì để mất (Ngữ liệu về ngôn ngữ đối thoại xen độc thoại của Chí)

+Quy luật phát triển tâm lí: Cuộc gặp gỡ với Thị đã nhen nhóm ngọn lửa lươngthiện trong Chí Thế nhưng, hắn không thể tiếp tục sống cuộc sống như trước, khi bị

bỏ rơi và khi ý thức chính mình trở về (HS cần phát hiện được sự khác nhau trongmiêu tả tâm lí Chí Phèo ở từng giai đoạn)

Như vậy, để HS có thể giải quyết những vấn đề nảy sinh từ yếu tố tưởng tượngcủa văn bản hư cấu, thì GV cần hỗ trợ, hướng dẫn HS khai phá mạch logic của vấn đề(ví dụ minh họa cụ thể : phép biện chứng tâm hồn, dụng ý của biện pháp phóng đạitrong tác phẩm hiện thực trào phúng, ), đó là những dẫn chứng đắt giá nhất

Thứ hai, trong công tác thiết kế giáo án, GV phải dự trù các tình huống có vấn

đề (cách giải quyết và cách tổ chức, hướng dẫn HS giải quyết) nhằm đánh vào khảnăng khai thác ngữ liệu cũng như kĩ năng phân tích sâu ngữ liệu của HS GV cần lưu

-Khi xây dựng tình huống, GV cần chú trọng kĩ năng xử lí văn bản của HS

*Khảo sát một số ví dụ:

Trang 24

Ví dụ minh họa:Bài “Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn” (Ngô Sĩ Liên) – CT

Ngữ văn lớp 10 HK 2

-Xác định những nội dung có tính vấn đề (hỗ trợ cho việc hình thành kĩ năng):Chi tiết “mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, nhân dân đến lễ ở đền ông, hễ tráp dựngkiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn” có thể coi chiến thắng lịch sử gắn với

mê tín dị đoan không?; Ứng xử của Trần Quốc Tuấn trước lời cha dặn dò “Con màkhông vì cha lấy được thiên hạ thì cha dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”

có mâu thuẫn với lòng trung ông dành cho vua không? Bài học từ cách giải quyếtmâu thuẫn của Trần Quốc Tuấn,…

-Mối quan hệ của các tình huống với tri thức trước đó (sức thuyết phục tronglời tâu trình lên vua ) và tri thức sau (nền tảng để giải quyết nội dung kiến thức sauđó: Đặc điểm nhân vật Trần Quốc Tuấn qua các tình huống và mối quan hệ)

-Dự tính khả năng HS thực hiệnyêu cầu đó, đồng thời xác định với tình huống(nội dung) xyz thì cần sử dụng, phát huy kĩ năng nào (tìm hiểu vấn đề, thiết lập khônggian vấn đề, nhận diện lời thoại nhân vật…), từ đó định hướng HS cần làm, trình bày

gì và mẫu công việc cần đưa ra (Dạng câu hỏi, phiếu học tập)

+Câu hỏi chứa vấn đề: Ứng xử của Trần Quốc Tuấn trước lời cha dặn dò cócho thấy ông bất hiếu hay không? Cách giải quyết mâu thuẫn của ông như thế nào?

+Kĩ năng khai thác các ngữ liệu cần thiết:

• Tìm hiểu vấn đề: Ngữ liệu về lời cha dặn; Vấn đề nảy sinh là gì? (Phép thử “lời chadặn” cho thấy mâu thuẫn giữa “báo hiếu” và “tận trung” , Trần Quốc Tuấn vì saodùng phép thử này lại có thể thuyết phục người khác về chữ “Trung”)

• Thiết lập không gian vấn đề: Thu thập thông tin cho thấy phản ứng của các nhân vậtkhác trước phép thử, xác định kiến thức trước đó để tạo liên hệ (lời tâu trình của TrầnQuốc Tuấn lên vua cho thấy một tình yêu tha thiết với đất nước), đề xuất chiến lược

Trang 25

1/Với bản thân:

2/Với gia nô

3/Với con trưởng

+Nguyên nhân hành động của TQT: giải quyết mâu thuẫn âm ỉ

trong nội bộ thân tín =>Tránh hậu họa về sau.

Trang 26

Ví dụ minh họa: Bài “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) – CT Ngữ văn lớp

12 tập 2

-GV đặt ra nhiệm vụ học tập có tính vấn đề: Lắng nghe bài hát phổ từ bài thơ

“Đàn ghi ta của Lorca” Bài thơ này không phải văn vần, vậy vì sao lại có thể dễ dàngđem ý thơ lồng vào nốt nhạc như vậy?

-Yêu cầu HS căn cứ vào dấu hiệu ngôn ngữ và phân tích

-Như vậy, GV có thể kiểm tra được ở HS:

+Đánh giá vềtính nhạc trong thơ

+Cách HS nhận diện dấu hiệu ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) và dấucâu, ngắt dòng để tạo tính nhạc; Dấu ấn cảm xúc đặc thù của nhà văn qua yếu tố ngônngữ

+Vận dụng những kĩ năng phân tích trên để làm rõ tính nhạc trong các bài thơkhác

II.1.3 Hướng dẫn HS phương pháp tự học hiệu quả

Trong giáo dục học nói chung, chúng ta đều thừa nhận tầm quan trọng to lớncủa phương pháp học tập chủ động và sự tự học của bản thân để tạo ra hiệu quả họctốt nhất Tinh thần tự giác của học sinh là rất cần thiết Đặc biệt, sự tự giác ấy sẽ đến

từ việc HS đọc những trang sách hay tài liệu được dặn trước khi đến lớp và chuẩn bịsẵn trong đầu những câu hỏi hoặc đánh dấu lại những phần làm HS cảm thấy khóhiểu

Trong học văn, mỗi giáo viên bồi dưỡng và người tìm hiểu văn học đều có gócnhìn và cảm nhận riêng Đọc-Nghe-Nói-Viết là một vòng tròn khép kín của quá trìnhbồi dưỡng, trong đó học sinh luôn đóng vai trò tích cực-chủ động-sáng tạo Còn giáoviên chỉ là người khơi gợi- hướng dẫn-sửa chữa

Trang 27

Giáo viên cung cấp tài liệu photocopy cho học sinh và những tên sách, danhmục sách, lọai sách Yêu cầu học sinh tìm đọc ở thư viện và các nguồn khác Đồngthời, thường xuyên nhắc nhở HS khai thác kho tài liệu vô tận trên internet với tinhthần tự học, tự vận động là chính trong thời gian bồi dưỡng Ngoài ra, học sinh cần cóthói quen Lập sổ tay ghi chép cá nhân; thói quen đọc sách văn học để tiếp xúc với cáctác giả, tác phẩm không được đưa vào học trong chương trình, mở rộng tri thức vănhọc sử, lý luận văn học Đây chính là cơ sở, nền tảng kiến thức để HS sẵn sàng vậndụng nguồn dẫn chứng có sẵn, đa dạng phong phú.Dẫu vậy, điều cốt yêu nhất trongquá trình hướng dẫn HS tự học chính là hướng dẫn về mặt kĩ năng thay vì chỉ giớihạn về mặt tài liệu Bởi vì GV cũng có phần nào đó giống như học trò Bản thân GVkhi đọc những tài liệu hướng dẫn quá chi tiết sẽ mất đi sự sáng tạo, sẽ bị lệ thuộc vàocác tài liệu đó Ở nước ngoài họ cũng có sách tham khảo, nhưng khi kiểm tra đánhgiá, họ xem trọng kỹ năng Vì thế, khi dạy học, GV không chú trọng nhiều đến cungcấp kiến thức cụ thể của văn bản mà phải chú trọng dạy cho HS những kỹ năng khaithác văn bản đó, để HS có thể áp dụng những kỹ năng này vào khai thác những vănbản khác.

Dẫn chứng và lí lẽ là hai yếu tố quan trọng tạo nên luận cứ trong bài văn nghịluận nói chung và kiểu bài nghị luận văn học nói riêng Tuy nhiên, dù là học sinh giỏivăn cũng mắc một số lỗi không đáng có trong quá trình chọn lọc dẫn chứng như:

– Trích dẫn sai dẫn chứng, làm ảnh hưởng đến tính xác thực của văn bản nghịluận

–Đưa dẫn chứng không kết hợp với việc phân tích dẫn chứng, khiến lí lẽ đưa ratrở nên hời hợt và không sâu sắc

– Chọn lọc dẫn chứng không tiêu biểu nên không làm sáng rõđược vấn đề cầnnghị luận

Trang 28

–Đưa những dẫn chứng quá quen thuộc, không mới mẻ làm giảm đi tính hấpdẫn của văn bản nghị luận.

– Trong bài có quáít dẫn chứng dẫn đến không đủ sức thuyết phục cho luậnđiểm Hoặc đưa quá nhiều dẫn chứng vào bài khiến bài văn lan man, sáo rỗng vàkhông sâu sắc

Một điều đáng tiếc là thời lượng trên lớp có hạn nên GV không thể hỗ trợ HSđiều chỉnh tất cả những lỗi trên, vì vậy GV có thể đặt ra nhiệm vụ học tập về nhà đểthúc đẩy quá trình tự học và tăng tính rèn luyện cho HS nhằm hạn chế những lỗi nêutrên.Chẳng hạn, trong quá trình tự học với nguồn tài liệu tra cứu có sẵn, HS đảm bảođược tính chính xác khi chọn lọc dẫn chứng Đặc biệt, đối với dẫn chứng là thơ,người viết cần trích dẫn đúng nguyên văn Đối với văn xuôi thì tóm lược ý nhưng cầnđảm bảo tính chính xác về nội dung, tác giả, tác phẩm Trong thời điểm rèn luyện ởnhà, HS có điều kiện thời gian và tâm thế thoải mái để lựa chọn những dẫn chứngđảm bảo tính điển hình, tiêu biểu

II.2 Đề xuất một số dạng bài tập rèn luyện

II.2.1 Rèn kỹ năng chọn dẫn chứng

* Qua dạng bài tập xác định phạm vi tư liệu cho đề văn.

Đây là dạng bài tập cơ bản, là một thao tác của yêu cầu nhận diện, phân tích đềvăn trước khi học sinh lập dàn ý và viết bài Thời gian xác định phạm vi dẫn chứngchỉ trong vòng 3-5 phút, nhưng trong khoảng thời gian ngắn đó, học sinh phải huyđộng một khối lượng kiến thức và trải nghiệm văn học để khoanh vùng, thậm chí lựachọn ngay dẫn chứng Thành công của bài văn nghị luận văn học khởi phát từ nhữngviên gạch như thế này Trên lớp, giáo viên có thể đưa những bài tập nhanh, gọn đểyêu cầu học sinh phản xạ tốt với đề văn và phạm vi tư liệu, đồng thời rèn luyện sựtinh tế, nhạy bén trong lựa chọn dẫn chứng để viết thuyết phục và độc đáo nhất Dưới

Trang 29

đây là dạng bài tập với những đề văn khác nhau, yêu cầu học sinh chỉ rõ phạm vi dẫnchứng, bao gồm dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng.

Bài tập 1: Thực hiện phân tích đề cho đề văn sau Với phần phạm vi dẫn

chứng, hãy ghi ra giấy dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng mà em chọn

Đề bài:Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người quanhững hình thức nghệ thuật độc đáo

Bằng việc phân tích một tác phẩm đã học, anh/chị hãy bình luận nhận định trên

(Đề thi HSG QG năm 2011)Yêu cầu bài tập cần đạt:

- HS chọn ra dẫn chứng bắt buộc là 1 tác phẩm văn học Mỗi HS sẽ có sự lựachọn khác nhau, tuy nhiên giáo viên cần nắm bắt được lí do tại sao HS lại chọn tácphẩm đó mà không phải tác phẩm khác Tác phẩm HS chọn đã phù hợp và chính xác

để làm rõ luận đề, đã đạt được tính tiêu biểu, độc đáo chưa để tạo cái hay vẻ lạ chobài văn chưa

- HS cần liên tưởng, huy động vốn liếng trải nghiệm văn học để chọn dẫnchứng mở rộng trải dọc các luận điểm của bài viết Ở việc liệt kê dẫn chứng mở rộng,giáo viên có thể nắm bắt được độ rộng và sâu về kiến thức văn học của HS, góp ý chocác em cách đọc và lựa chọn dẫn chứng, làm mới hệ thống dẫn chứng, tránh việc lặplại những dẫn chứng quá quen thuộc, ko gây được ấn tượng

Bài tập 2: Thực hiện phân tích đề cho đề văn sau Với phần phạm vi dẫn chứng, hãy

ghi ra giấy dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng mà em chọn

Đề bài:Các nhà văn, nhà thơ nhân đạo lớn thường gửi vào sáng tác một cách nhìn sâusắc về con người, cách nhìn này hướng đến đời sống nội tâm và cảm xúc

Trang 30

Bằng việc phân tích một vài tác phẩm trung đại và hiện đại đã học, anh (chị)hãy bình luận ý kiến trên.

(Đề thi HSG QG năm 2013)

Yêu cầu bài tập cần đạt:

- HS lựa chọn, liệt kê dẫn chứng bắt buộc ở hai thời kỳ văn học là trung đại vàhiện đại Nhìn vào sự liệt kê của học sinh, giáo viên có thể chỉ rõ lỗi các em thườnggặp phải: sự cân đối dẫn chứng giữa hai thời kỳ văn học, sự cân đối dẫn chứng giữacác thể loại thơ – truyện – kịch – ký… Cách sắp xếp và phân bố dẫn chứng phù hợptiến trình thời gian, sự vận động và phát triển của văn học

- HS lựa chọn, liệt kê dẫn chứng mở rộng: Với dạng đề tổng hợp, dẫn chứngbắt buộc trải rộng ra các thời kỳ văn học, thì dẫn chứng mở rộng cần tập trung ở phầngiải thích và mở rộng, nâng cao vấn đề Giáo viên cần định hướng HS chọn dẫnchứng mở rộng để làm sâu sắc vấn đề và tạo ấn tượng về sự dày dặn trong trảinghiệm văn học của học sinh

* Qua dạng bài tập nhận biết lỗi chọn dẫn chứng

Đây là dạng bài tập nhận biết, thời gian 5-15 phút, giúp HS phát hiện lỗi và sửalỗi trong chọn lựa dẫn chứng

Bài tập: Đọc các đoạn văn dưới đây, và phát hiện lỗi, sửa lỗi

Đoạn 1:Sự xuất hiện của người vợ nhặt trong cuộc đời anh cu Tràng đã khiếntính nết của anh thay đổi Từ một con người ngộc nghệch, anh trở thành một người cótrách nhiệm, biết chăm lo cho gia đình Anh đã giới thiệu với bà cụ Tứ một cách đầy

đủ về cái duyên, cái số của mình với người vợ nhặt: “Nhà tôi nó mới về làm bạn vớitôi đấy u ạ! Chúng tôi phải kiếp với nhau…Chẳng qua nó cũng là cái số cả” Sự kiệnthị theo không Tràng về khiến anh “ngỡ ngàng như không phải” Nhưng chính sựkiện hệ trọng ấy lại khiến lòng anh tràn ngập một nguồn vui sướng, phấn chấn Anh

cu Tràng thấy mình “nên người” và “có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.Hạnh phúc đến với anh hết sức éo le, bất ngờ nhưng cũng vô cùng thiêng liêng

Trang 31

Đoạn 2:Có thể nói “ Thơ văn là sự thể hiện con người và thời đại một cách caođẹp” Thơ văn cách mạng đã làm được điều đó Các nghệ sĩ đã làm nên một tượng đàibất tử về người anh hùng giải phóng quân trong thơ ca kháng chiến chống Mỹ -những người lính làm nên huyền thoại trong lịch sử chống ngoại xâm của đất nước ta:

“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo…”

(Lên Tây Bắc-Tố Hữu)

Ở đoạn 1, luận điểm là sự thay đổi tính nết của anh cu Tràng khi cướingười vợ nhặt Thế nhưng dẫn chứng đưa ra là lời giới thiệu người vợ với bà cụ Tứcủa Tràng Dẫn chứng không phù hợp khiến luận điểm chưa được phân tích rõ, đoạnvăn không có sự thuyết phục

Ở đoạn 2, ý được nêu là thơ ca chống Mỹ, nhưng dẫn chứng là đoạn thơ của TốHữu thuộc giai đoạn thơ ca chống Pháp Dẫn chứng sai về thời gian khiến lập luậnkhông thuyết phục

II.2.2 Rèn kỹ năng phân tích dẫn chứng làm rõ luận điểm, luận cứ.

Dạng bài tập này phù hợp với thời gian 1 tiết học Tùy vào dàn ý, mức độchính hay phụ của luận điểm, luận cứ mà học sinh có thể viết những đoạn phân tíchdẫn chứng ngắn tầm 15-30 phút Yêu cầu bài tập cũng đa dạng, có thể rèn kỹ năngchọn và phân tích dẫn chứng bắt buộc, kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng mởrộng, rèn kỹ năng sử dụng các thao tác nghị luận như phân tích dân chứng kết hợp sosánh, phân tích kết hợp bác bỏ… Dưới đây là một số bài tập đề xuất

Bài tập 1: Viết đoạn văn phân tích một chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn

Vợ nhặt (Kim Lân) gợi những rung động thẩm mỹ cho người đọc

Trang 32

Yêu cầu bài tập cần đạt:

- HS chọn lựa được một chi tiết nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ về phương diệncảm xúc

- Phân tích vẻ đẹp chi tiết nghệ thuật đó cùng với những rung động mà chi tiếtđem lại cho người đọc Dưới hình thức một đoạn văn, giáo viên có thể giúp học sinhsửa lỗi nhiều kỹ năng khác nhau như nêu luận điểm, diễn đạt, thao tác lập luận phântích, chứng minh…

Bài tập 2: Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

(Trích Tràng giang – Huy Cận)

1 Viết một đoạn văn cảm nhận vẻ đẹp tràng giang trong khổ thơ trên

2 Viết một đoạn văn phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong đoạn thơ trên

3 Viết đoạn văn phân tích làm rõ vẻ đẹp ngôn ngữ của khổ thơ trên

Bài tập này rèn kỹ năng phân tích dẫn chứng Dẫn chứng bắt buộc nêu rõ ở đềbài Với các yêu cầu khác nhau, học sinh sẽ phải đáp ứng yêu cầu phân tích cùng 1dẫn chứng cho những luận điểm khác nhau, và vì vậy các đoạn văn có lập luận cũngkhác nhau Bài tập trên giúp học sinh khắc phục lỗi phổ biến: phân tích dẫn chứng xarời luận điểm, luận cứ hay thậm chí là luận đề, dẫn đến bài viết không thuyết phục,không giải quyết được vấn đề nghị luận

Một số dạng bài tập đề xuất nêu trên theo các mức độ khác nhau, linh hoạttrong các tiết học kỹ năng làm văn, sẽ bổ trợ dần cho học sinh, để cuối cùng các em

có thể viết những bài văn trọn vẹn Trước khi là bài văn hay, cần phải đúng, đủ Từđúng đến hay còn là hành trình dài học sinh cần rèn luyện và tự hoàn thiện, phối hợpnhuần nhuyễn các kỹ năng khác nhau

Phần III: Một số bài viết nghị luận văn học hay của học sinh

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số bài viết có kĩ năng chọn và phân tích dẫnchứng tốt trong bài nghị luận văn học của học sinh lớp chuyên văn trường chúng tôi

Bài 1:

Ngày đăng: 10/10/2020, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w