1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh động của tập đoàn sabic trong hoạt động cung cấp nguyên liệu nhựa tại thị trường việt nam

141 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trìnhnghiên cứu, tác giả đúc kết từ những nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế rằng, trongnhững nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp – nguồn lực vô hình v

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham giavào hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường đều phải chịu tác động củacác quy luật kinh tế khách quan, trong đó có quy luật cạnh tranh Theo quy luật này, mỗidoanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được trên thị trường thì phải không ngừng nỗlực áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm…Muốn như vậy, doanh nghiệp phải có được những nguồn lực đủ mạnh để có thể tạo ranhững lợi thế so với đối thủ cạnh tranh Vì vậy, có thể nói yêu cầu cấp bách đối với cácdoanh nghiệp là phải phát hiện ra các nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh rồi từ đó duy trì

và phát triển nhằm đảm bảo lợi thế cạnh tranh bền vững trong tương lai, giúp cho doanhnghiệp đứng vững trên thị trường nội địa trước sự tấn công của các đối thủ cạnh tranh

Là một Tập Đoàn hóa dầu lớn mạnh ở Ả Rập, SABIC khi thâm nhập bất kỳ thịtrường nào cũng không tránh khỏi sự cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ trong và ngoàinước cùng với những yếu tố tác động khác Thị trường Việt Nam cũng không nằm ngoàitình hình chung đó, SABIC cũng đã phải đặt ra cho mình những mục tiêu và chiến lượcphù hợp để có thể tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ Cùng có mặt tại thị trườngnày còn có các đối thủ lớn mạnh khác như: Exxonmobil (Hoa Kỳ), Qama (Ả Rập),Sumitomo (Nhật Bản), Formosa (Đài Loan), Honam (Trung Quốc), … và rất nhiềunhững nhà cung cấp nguyên liệu hóa dầu trên thế giới đã và đang từng bước thâm nhậpvào thị trường béo bở đầy tiềm năng như Việt Nam, nhìn chung, tất cả những đối thủđều có những nguồn lực và lợi thế cạnh tranh riêng mới có thể đứng vững trong bối cảnhnền kinh tế thị trường hiện nay Đứng trước những thách thức đó, vấn đề đặt ra choSABIC là phải nhận dạng được nguồn lực mình đang có trên thị trường này, để từ đónuôi dưỡng và phát triển chúng thành những nguồn lực riêng biệt để có thể nâng caohiệu quả hoạt động kinh doanh tại Việt Nam

Trang 12

Nhìn thấy được những thách thức trên, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài này vớimục đích phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của tập đoàn Trong quá trìnhnghiên cứu, tác giả đúc kết từ những nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế rằng, trongnhững nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp – nguồn lực vô hình

và hữu hình thì nguồn lực vô hình thường mang tính đặc trưng của từng doanh nghiệp,

nó tạo ra giá trị, khó bị bắt chước nhưng khó lại được nhận dạng hơn Do đó, học viên đã

chọn đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh động của Tập

Đoàn SABIC trong hoạt động cung cấp nguyên liệu nhựa tại thị trường Việt

Nam” nhằm nghiên cứu các nguồn lực vô hình tạo ra năng lực cạnh tranh động cũng

như giá trị của doanh nghiệp, từ đó có những định hướng kinh doanh cũng như các giảipháp và chiến lược phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh trước các đối thủ lớn mạnhkhác

Một là, tìm hiểu các nguồn lực vô hình có khả năng ảnh hưởng đến năng lựccạnh tranh động của SABIC

Hai là, xây dựng mô hình nghiên cứu để đo lường tác động của các nguồn lực đếnnăng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp

Ba là, trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất kiến nghị nhằm nuôi dưỡng và pháttriển chúng thành những nguồn lực riêng biệt để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, từ

đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và mở rộng thị phần tại Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh động củadoanh nghiệp

Phạm vi nghiên cứu: Tập Đoàn SABIC tại Việt Nam

Đối tượng khảo sát: các khách hàng đã và đang sử dụng nguyên liệu do SABIC cung ứng

Trang 13

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn là: nghiên cứuđịnh tính và nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu định tính: được sử dụng với kỹ thuật thảo luậnnhóm với các chuyên gia của SABIC và một số khách hàng có tầm ảnh hưởng lớn đếnkết quả hoạt động kinh doanh của SABIC tại Việt Nam, nhằm xác định các nguồn lực vôhình của SABIC, và trên cơ sở đó, các thang đo có sẵn từ những nghiên cứu trước đượcđiều chỉnh và bổ sung biến quan sát để có tính phù hợp với bối cảnh nghiên cứu Thuthập dữ liệu thị trường bằng cách phỏng vấn trực tiếp, trao đổi điện thoại và email

Phương pháp nghiên cứu định lượng: sử dụng thang đo Likert 7 mức độdùng để kiểm định mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Mô hình nghiên cứuđược kiểm định với mẫu có kích thước n = 200 doanh nghiệp sản xuất và/hoặc thươngmại trong ngành nhựa ở Việt Nam thông qua phân tích mô hình hồi quy tuyến tính Dữliệu thị trường sau khi được tổng hợp sẽ được phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS16.0, với một số phương pháp được sử dụng như sau:

Lập tần suất

Phân tích độ tin cậy Crobach alpha

Phân tích nhân tố EFA

Phân tích hồi qui bội

Trang 14

Nội dung và kết quả nghiên cứu sau khi hoàn chỉnh sẽ được trình cho Ban GiámĐốc của Tập Đoàn SABIC tham khảo và có thể áp dụng các giải pháp hợp lý vào thị trường Việt Nam

thừa và tiếp thu những kiến thức quý báu của những đề tài đi trước về năng

Lê Sơn Lâm – 2010

Nghiên cứu mô hình năng lực cạnh tranh động của Công Ty TNHH Siemens Việt Nam Tác giả: Huỳnh Thị Thúy Hoa – 2009

Năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp Việt Nam Tác giả: Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang – 2009

Nghiên cứu khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam nhằm đẩy mạnh xuất khẩu Tác giả: Vũ Minh Tâm – 2006

Cùng với việc kết hợp những số liệu cập nhật và nghiên cứu sâu hơn về thịtrường tiêu thụ nguyên liệu nhựa tại Việt Nam, học viên đã đưa ra được một bức tranhkhá toàn diện về thị trường nhựa Việt Nam – cái mà các đề tài đi trước vẫn chưa đề cập

rõ ràng và tổng quát nhất Bên cạnh đó, mô hình năng lực cạnh tranh động được áp dụngcho lĩnh vực nguyên liệu nhựa, là một trong những lĩnh vực khá mới mẻ trong các côngtrình nghiên cứu trước đây

Trang 15

7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Đề tài kết cấu như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương 2: Thị trường Nhựa Việt Nam – Phân tích nguồn lực của tập đoànSABIC

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kiến nghị và kết luận

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 1 giới thiệu về cơ sở lý thuyết liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp, đồng thời cũng đề cập đến những cơ sở về nguồn lực và nănglực cạnh tranh động của doanh nghiệp Trên cở sở này, mô hình nghiên cứu lý thuyếtđược xây dựng để làm cơ sở cho việc nghiên cứu và phân tích ở Chương 3 và Chương 4.Nội dung của chương này gồm có ba phần chính:

(1) Lý luận về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh;

(2) Lý thuyết về nguồn lực và đặc điểm nguồn lực tạo lợi thế cho doanh nghiệp;(3) Lý thuyết năng lực cạnh tranh động

1.1 Cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh

1.1.1 Cạnh tranh, năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh là thuật ngữ kinh tế mà bất cứ doanh nghiệp nào khi bước chân vàothương trường đều phải hướng tới Ngày nay, cạnh tranh không còn bó hẹp trong phạm

vi một vùng, một lãnh thổ mà đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu, toàn thế giới

Theo Karl Mac, cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắtgiữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụhàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch

Còn theo Michael Porter (1996), cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, làviệc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lựccủa các doanh nghiệp Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệtđối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trịgia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến vớiđối thủ cạnh tranh

 Khả năng cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh

Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm nănglực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lựccạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của

Trang 17

sản phẩm và dịch vụ Ở luận văn này, sẽ chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp.

Theo Lê Công Hoa (2006), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thựclực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhấtcác đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là cácyếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về côngnghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cầnđánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực,cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanhnghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối táccạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanhnghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh cho riêng mình Nhờ lợi thế này,doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôikéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh

Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất

cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và cóhạn chế về mặt khác Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cốgắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏicủa khách hàng Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểuhiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tàichính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin…

Như vậy có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, đượccấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô Mộtsản phẩm năm nay có thể được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau, hoặcnăm sau nữa lại không còn khả năng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế

Trang 18

Khi một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp đó sẽ có cái màcác đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làmđược những việc mà các đối thủ khác không thể làm được Lợi thế cạnh tranh là nhân tốcần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp Mặt khác, muốn tạo nênnăng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được những lợi thế cạnhtranh của riêng mình Do vậy mà các doanh nghiệp đều muốn cố gắng phát triển lợi thếcạnh tranh, tuy nhiên điều này thường rất dễ bị xói mòn bởi những hành động bắt chướccủa đối thủ.

Muốn tạo ra lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệp phải tạo ra giá trị cho khách hàngbằng cách tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp

Trong vấn đề cạnh tranh, giá trị là mức tiền mà người mua sẵn lòng thanh toáncho những sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp Giá trị được đo lường bằng tổng doanhthu, phản ánh sự điều tiết giá cả của sản phẩm và số lượng đơn vị sản phẩm có thể bán racủa doanh nghiệp Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có lợi nhuận nếu giátrị mà họ điều tiết (được biểu hiện là giá cả) vượt quá các chi phí liên quan đến việc tạo

ra sản phẩm Do đó, tạo ra các giá trị cho người mua với chi phí thấp hơn giá trị đó làmục tiêu của mọi chiến lược

Hai điều kiện cơ bản để xác định lợi nhuận của doanh nghiệp có thể thu được là:giá trị mà người tiêu dùng đánh giá về sản phẩm hay dịch vụ và chi phí sản xuất củadoanh nghiệp Người tiêu dùng đánh giá sản phẩm càng cao, doanh nghiệp càng có thểbán sản phẩm với giá cao hơn Tuy nhiên, thị trường có tính cạnh tranh và do giá trị mà

Trang 19

mỗi cá nhân đánh giá sản phẩm khác nhau nên doanh nghiệp bao giờ cũng bán với giáthấp hơn so với giá trị mà người tiêu dùng đặt ra để có thể để lại một chút “thặng dư chongười tiêu dùng”.

Khi áp lực cạnh tranh trên thị trường càng lớn thì thặng dư cho người tiêu dùngcàng cao và ngược lại Doanh nghiệp có thể làm tăng giá trị gia tăng của sản phẩm bằngcách giảm chi phí sản xuất (C) hay làm cho sản phẩm trở nên hấp dẫn hơn trong con mắtcủa người tiêu dùng thông qua các mẫu thiết kế đẹp, tăng cường các chức năng và chấtlượng sản phẩm (nghĩa là làm tăng V) Một khi người tiêu dùng đánh giá về giá trị sảnphẩm cao hơn, họ sẽ sẵn lòng mua với giá cao hơn (P tăng) Như vậy, khả năng sinh lờicủa doanh nghiệp sẽ tăng khi doanh nghiệp có thể tạo giá trị gia tăng thêm cho sản phẩmbằng cách giảm chi phí (giảm C) và/ hoặc tạo sự khác biệt cho sản phẩm hay dịch vụ(tăng V)

V = Giá trị người tiêu dùng sẵn lòng trả

C = Chi phí sản xuất (Cost of Product)P

V – P = Thặng dư cho người tiêu dùng

P – C = Lợi nhuận (Profit)

V – C = Giá trị gia tăng (Added Value)Hình 1.1: Hoạt động tạo giá trị gia tăng

Trang 20

 Cách thức để tạo ra lợi thế cạnh tranh

Theo James Craig và Robert Grant, lợi thế cạnh tranh được tạo ra theo mô hình

sau:

Hình 1.2: Mô hình các yếu tố quyết định của lợi thế cạnh tranh

(Nguồn: James Craig và Robert Grant (1993), “Strategy Management”) Mô hình này là

sự kết hợp cả quan điểm của tổ chức công nghiệp (Industrial Organization Economics –

IO) và quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource BasedView – RBV)

Để xác định các yếu tố thành công then chốt, là nguồn gốc bên ngoài của lợi thếcạnh tranh, trước hết phải phân tích môi trường vĩ mô và cạnh tranh ngành Tiếp theo,phân tích nguồn lực và kiểm toán nội bộ công ty sẽ xác định các nguồn gốc bên trongcủa lợi thế cạnh tranh, đó là những nguồn lực có giá trị, các tiềm lực tiêu biểu, nhữngnăng lực cốt lõi và khác biệt của công ty, từ đó nhận dạng được các lợi thế cạnh tranh vềnguồn lực

Theo Barney (1991), để tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững thì nguồn lực phải cógiá trị, nó bao hàm những đặc điểm như hiếm có, có thể tạo ra giá trị khách hàng, có thểbắt chước và thay thế nhưng không hoàn toàn

Trong một ngành phụ thuộc lớn vào xu thế công nghệ như ngành chế tạo máybiến thế, thì các nguồn lực không thể bắt chước hoàn toàn lại thường bị các công nghệmới thay thế và có thể sẽ bị mất toàn bộ giá trị Do vậy, lợi thế cạnh tranh bền vững lànhững lợi thế đủ lớn để tạo sự khác biệt, đủ lâu dài trước những biến đổi của môi trườngkinh doanh và phản ứng của đối thủ, trội hơn đối thủ trong những thuộc tính kinh doanhhữu hình có ảnh hưởng đến khách hàng

Trang 21

1.2 Lý thuyết về nguồn lực và đặc điểm của nguồn lực tạo lợi thế cho doanh nghiệp

1.2.1 Lý thuyết về nguồn lực

Theo Grant RM (1991), lý thuyết về nguồn lực của doanh nghiệp tập trung vàophân tích cạnh tranh dựa vào các yếu tố bên trong, đó là nguồn lực của doanh nghiệp.Nguồn lực của doanh nghiệp thể hiện ở nhiều dạng khác nhau Chúng ta có thể chia

chúng ra thành hai nhóm: hữu hình và vô hình.

Nguồn lực hữu hình bao gồm nguồn lực về tài chính và vật chất hữu hình Nguồnlực về tài chính như vốn tự có và khả năng vay vốn của doanh nghiệp Nguồn vật chấthữu hình bao gồm những tài sản sản xuất hữu hình của doanh nghiệp có thể đem lại lợithế về chi phí sản xuất như qui mô, vị trí, tinh vi về kỹ thuật (technical sophistication),tính linh hoạt của nhà máy sản xuất, của trang thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào, Nguồnlực vô hình bao gồm công nghệ, danh tiếng và nhân lực của doanh nghiệp Nguồn lực vềcông nghệ bao gồm sỡ hữu trí tuệ, bằng phát minh, sáng chế,… Nguồn lực danh tiếngbao gồm việc sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng, về dịch vụ, chất lượng, độ tin cậy, thiết lậpđược mối quan hệ tốt với khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng, chính quyền…

Nguồn lực về nhân sự bao gồm kiến thức, kỹ năng của nhân viên, khả năng thíchhợp của nhân viên với tính linh hoạt trong chiến lược, lòng trung thành của nhân viên,…

Lý thuyết về nguồn lực cho rằng nguồn lực của doanh nghiệp chính là yếu tốquyết định đến lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, dựa trên tiền

đề là các doanh nghiệp trong cùng một ngành thường sử dụng những chiến lược kinhdoanh khác nhau và không thể dễ dàng sao chép được vì chiến lược kinh doanh phụthuộc vào chính nguồn lực của doanh nghiệp đó Khác với mô hình Năm lực cạnh tranhcủa Porter, lý thuyết nguồn lực về cạnh tranh tập trung vào các yếu tố bên trong củadoanh nghiệp

Theo Grimm CM, Lee H và Smith KG (2006), như vậy, lý thuyết nguồn lực – tậptrung vào nội lực của doanh nghiệp – bổ sung cho lý thuyết về cạnh tranh dựa trên

Trang 22

kinh tế học IO Tuy nhiên, lý thuyết nguồn lực chỉ dựa trên sự cân bằng, không tập trung

vào quá trình động của thị trường.

1.2.2 Đặc điểm của nguồn lực tạo lợi thế cho doanh nghiệp

Theo Barney (1991), một nguồn lực tạo nên lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnhtranh phải thỏa mãn 4 điều kiện sau: (1) giá trị, (2) hiếm, (3) khó bắt chước, (4) khôngthể thay thế, được gọi tắt là VRIN (Valuable, Rare, Inimitable, Non-substitutable)

1.2.2.1 Nguồn lực có Giá trị

Theo Barney (1991), nguồn lực có giá trị sẽ mang đến lợi thế cạnh tranh chodoanh nghiệp, nguồn lực đó phải cho phép doanh nghiệp thực hiện được các chiến lượckinh doanh cải thiện năng suất và hiệu quả hoạt động của công ty (efficiency and

effectiveness) Từ đó giúp cho doanh nghiệp tận dụng được cơ hội và trung lập các mối

đe dọa hiện hữu trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.2.2 Nguồn lực Hiếm

Cũng theo Barney (1991), một nguồn lực có giá trị mà có mặt ở các doanh nghiệpkhác thì không được xem là nguồn lực hiếm Nguồn lực hiếm là nguồn lực mà chỉ có ởdoanh nghiệp này được doanh nghiệp sử dụng trong chiến lược tạo ra giá trị cho doanhnghiệp, đem lại lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp

1.2.2.4 Nguồn lực Không thể thay thế

Theo Barney (1991), yêu cầu quan trọng đối với nguồn lực của doanh nghiệp đểnguồn lực đó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp đó là những nguồn lực khôngthể bị thay thế bằng những nguồn lực có giá trị thay thế tương đương về mặt chiến

Trang 23

Bên cạnh đó, theo Barney và Tyler (1991), khả năng thay thế diễn ra dưới hai

hình thức, trước tiên, nguồn lực đó không thể bắt chước được nhưng có thể được thay

thế bằng một nguồn lực tương tự khác mà nó cho phép doanh nghiệp sử dụng nguồn lực

tương tự này vẫn thực hiện được các chiến lược của doanh nghiệp Hình thức thứ hai là

nhiều nguồn lực khác nhau có thể là thay thế mang tính chiến lược Theo Pearce,

Freeman và Robinson (1987), đối với doanh nghiệp này, nguồn lực A (ví dụ là lực lượng

lãnh đạo tài năng) là nguồn lực đặc trưng mà doanh nghiệp khác không có được, nhưng

doanh nghiệp B vẫn có thế mạnh đối với nguồn lực B (ví dụ đó là khả năng lên kế hoạch

rất tốt) của mình và từ đó nguồn lực B của doanh nghiệp B vẫn có thể cạnh tranh với

nguồn lực A của doanh nghiệp A

Giá trị

Hiếm

Không thể thay thế

Hình 1.3: Nguồn lực đạt VRIN và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

(Nguồn: Barney, J.B, 1991)

1.3 Lý thuyết năng lực cạnh tranh động

Trong thực tế, môi trường kinh doanh luôn biến động đòi hỏi doanh nghiệp phải

lèo lái các nguồn lực của mình để thích ứng và tồn tại, chính vì vậy lý thuyết nguồn lực

của doanh nghiệp liên tục được phát triển và được mở rộng trong thị trường động và

hình thành nên lý thuyết năng lực cạnh tranh động (dynamic capabilities)

Năng lực của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp sử dụng hiệu quả

nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh doanh Theo Teece DJ, Pisano G & Shuen A

(1997), năng lực cạnh tranh động được định nghĩa là “khả năng tích hợp, xây dựng và

Trang 24

định dạng lại những tiềm năng của doanh nghiệp để đáp ứng với thay đổi của môitrường kinh doanh”.

Theo Eisenhardt và Martin (2000), nguồn năng lực cạnh tranh động là cơ sở tạo

Trang 25

ra lợi thế cạnh tranh và đem lại kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Như đã nêu ởtrên, nguồn lực doanh nghiệp có thể ở dạng hữu hình hoặc vô hình Theo Nguyễn ĐìnhThọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2008), nguồn lực vô hình thường khó phát hiện và đánhgiá nhưng chúng thường tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững và thỏa các điều kiện VRINnên chúng thường là năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp Từ đó duy trì và nângcao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

1.3.1 Một số nghiên cứu liên quan đến năng lực cạnh tranh động

Với những lý thuyết nêu trên, các nhà nghiên cứu trên thế giới vẫn đang khámphá ra các yếu tố tạo nên nguồn lực động của doanh nghiệp và đề ra mô hình nghiên cứu

để đánh giá năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp Sau đây chúng ta cùng điểmqua một số nghiên cứu này:

Các nhà nghiên cứu James M Sinkula, William E.Barker và Thomas Noordewier(1997) của trường đại học Vermont đã nghiên cứu sự tác động của yếu tố định hướnghọc hỏi đến chiến lược marketing mà doanh nghiệp sử dụng Nghiên cứu phân tích bathành phần cơ bản cấu tạo nên định hướng học hỏi là cam kết của doanh nghiệp với việchọc hỏi của các thành viên (commitment to learning), chia sẻ tầm nhìn với các thànhviên trong doanh nghiệp (shared vision) và có tư tưởng tiếp thu những điều mới từ hoạtđộng quản trị điều hành doanh nghiệp (open mindedness) Trong bài nghiên cứu này,các thống kê mang tính định lượng đã được áp dụng phân tích là phương sai đa biến(ANOVA), hệ số tương quan và hồi quy tuyến tính

Các chỉ số được sử dụng phân tích liên quan đến cam kết học hỏi của các thànhviên (commitment to learning) gồm:

1 Ban giám đốc doanh nghiệp quan niệm học hỏi tạo nên lợi thế cạnh

tranh

2 Văn hóa học hỏi phản ánh giá trị của doanh nghiệp

3 Doanh nghiệp quan niệm quá trình học hỏi của mỗi thành viên là quá trình đầu tư, không phải là chi phí

4 Việc học hỏi của các thành viên doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tồn tại và phát triển

Trang 26

Nhân tố chia sẻ tầm nhìn với các thành viên trong doanh nghiệp (shared vision)gồm các chỉ số:

1 Anh/chị nhận thấy chỉ có một mục tiêu chung trong tổ chức của anh/chị

2 Anh/chị nhận thấy có sự đồng thuận của tất cả các cấp đối với tầm nhìn chung của tổ chức mình

3 Tất cả các anh/chị cam kết thực hiện mục tiêu chung của tổ chức

4 Mỗi thành viên trong doanh nghiệp là một nhà điều hành hoạt động doanh nghiệp

Có tư tưởng tiếp thu những điều mới từ hoạt động quản trị điều hành doanh nghiệp (open mindedness) gồm ba chỉ số như sau:

1 Các anh/chị không ngại phát biểu ý kiến có tính chỉ trích về một khách hàngcủa công ty

2 Các thành viên trong công ty đều thấy rằng: cách họ nhìn vấn đề thế nào thì trên thị trường họ cũng sẽ xem xét vấn đề theo hướng đó

3 Anh/chị thường không xem xét dựa trên những nền tảng nào để anh/chị hiểucác thông tin của khách hàng

Kết quả phân tích từ hồi quy tuyến tính đã khẳng định có sự ảnh hưởng trực tiếpcủa định hướng học hỏi đến sự thay đổi các chiến lược marketing mà doanh nghiệp đang

sử dụng Việc nâng cao định hướng học hỏi sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp

Theo nghiên cứu của nhóm các nhà nghiên cứu Trang T.M.Nguyễn, Nigel J.Barett và Tho D.Nguyen (2004) về mối quan hệ giữa yếu tố chất lượng mối quan hệ,trao đổi thông tin và sự nhạy cảm về văn hóa của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vớiđối tác ở Châu Á và Châu Âu, để duy trì và nâng cao chất lượng mối quan hệ với đốitác, doanh nghiệp phải quan tâm đến sự khác biệt trong văn hóa và sự chia sẻ thông tin.Nghiên cứu cũng đi sâu vào việc phân tích sự ảnh hưởng mà yếu tố chất lượng mối quan

hệ đến sự hợp tác lâu dài giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu Tác giả sử dụng mô hìnhvới giả thuyết cho rằng có sự tồn tại mối quan hệ giữa chất lượng mối quan hệ với hainhân tố này, với kích thước mẫu ngẫu nhiên n= 288 doanh nghiệp Việt Nam trong đó sốđối tác từ Châu Âu chiếm 134 và từ Châu Á chiếm 154 Kết quả

Trang 27

kiểm tra cho thấy chất lượng mối quan hệ có ảnh hưởng đến sự hợp tác kinh doanh lâudài của doanh nghiệp và cả hai nhân tố khác biệt văn hóa và chia sẻ thông tin góp phầnrất quan trọng đối với việc phát triển mối quan hệ giữa hai bên.

Mặc dù kết quả nghiên cứu chỉ ra sự tương tác của hai nhân tố khác biệt văn hóa

và chia sẻ thông tin đến chất lượng mối quan hệ và gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp, nhưng cũng cần phát hiện các nhân tố ảnh hưởng bao quáthơn nữa về khẳng định của tác giả

Một nghiên cứu khác từ Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ và ThS NguyễnMai Trang (2009) đã thực hiện việc đo lường một số yếu tố tạo thành năng lực cạnhtranh động của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bằng phươngpháp định lượng Tác giả nghiên cứu bốn yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh động doanhnghiệp là định hướng kinh doanh, định hướng học hỏi, năng lực marketing và năng lựcsáng tạo và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đối với kết quả kinh doanh của doanhnghiệp

Hạn chế của nghiên cứu này là kết quả chỉ được kiểm định với các doanh nghiệptrên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Hơn nữa nghiên cứu chỉ kiểm định tổng quát,không phân tích chi tiết vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể như sản phẩm, dịch vụ,công nghệ cao, công nghiệp, thâm dụng lao động, …do đó không thể phát hiện các khácbiệt nhất định về vai trò của các yếu tố năng lực cạnh tranh động đối với lợi thế kinhdoanh và kết quả kinh doanh Và cuối cùng là nghiên cứu chỉ xem xét một số yếu tốnăng lực cạnh tranh động chính, trong khi còn rất nhiều yếu tố khác có thể là yếu tốnăng lực cạnh tranh động cần được xem xét để tạo được mô hình tổng hợp về năng lựccạnh tranh động tạo nên lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Cácyếu tố này có thể là năng lực sản xuất, R&D, định hướng thị trường, nội hóa tri thức,…

Một số nghiên cứu khác về các yếu tố có khả năng tạo nên nguồn năng lực cạnhtranh động của doanh nghiệp như định hướng thị trường và định hướng học hỏi củadoanh nghiệp của Celuch KG, Kasouf CJ và Peruvemba V (2002), năng lực sáng tạocủa Hult GTM, Hurley RF và Knight GA (2004), chất lượng mối quan hệ, định hướng

Trang 28

toàn cầu, hợp tác quốc tế, khả năng phản ứng với thị trường quốc tế,…

1.3.2 Mô hình nghiên cứu và chỉ số đánh giá các nhân tố năng lực cạnh tranh động

Từ cơ sở các học thuyết và kế thừa từ nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Đình Thọ

và ThS.Nguyễn Mai Trang (2009), đề tài nghiên cứu này tiến hành xây dựng mô hìnhhồi quy tuyến tính ban đầu với biến phụ thuộc là năng lực cạnh tranh động của doanhnghiệp, còn các biến độc lập gồm:

Năng lực Marketing

Định hướng kinh doanhNăng lực sáng tạoDanh tiếng doanh nghiệpNăng lực tổ chức dịch vụCác nhân tố hay biến được lấy từ các nghiên cứu trước đây, nhưng nội dung củacác nhân tố này được cấu thành dựa trên việc xem xét các định nghĩa của chính nhân tố

đó và các nghiên cứu liên quan Và đây cũng là cơ sở để xây dựng các biến quan sátdưới dạng câu hỏi trong bảng câu hỏi nghiên cứu của đề tài này

1.3.2.1 Định nghĩa các nhân tố

Theo Homburg C., Grozdanovic M và Klarmann M (2007), marketing là chứcnăng có trách nhiệm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng để đạt được mục tiêu của doanhnghiệp Vì vậy, năng lực marketing của doanh nghiệp được thể hiện, một là, thông quaviệc liên tục theo dõi và đáp ứng được với những thay đổi của thị trường, bao gồm

khách hàng, đối thủ cạnh tranh và môi trường vĩ mô Hai là doanh nghiệp phải luôn nỗ

lực tạo dựng mối quan hệ tốt với các đối tác kinh doanh như nhà cung cấp, khách hàng,nhà phân phối và chính quyền Theo Gronroos C (1994), ngành marketing chuyểnhướng từ mô hình hỗn hợp 4P (Product – Price – Place – Promotion) sang mô hìnhmarketing mối quan hệ (relationship marketing) thì marketing là quá trình thiết lập, duytrì và củng cố các mối quan hệ với khách hàng và các đối tác có liên quan để thỏa mãnmục tiêu của các thành viên trong mối quan hệ này Do vậy chất lượng mối quan hệ giữacác thành viên trong quá trình kinh doanh như doanh nghiệp và nhà cung

Trang 29

cấp, doanh nghiệp và kênh phân phối, doanh nghiệp và khách hàng, doanh nghiệp vàchính quyền có liên quan, … đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá năng lựcmarketing của doanh nghiệp.

Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009) cho rằng việc đánh giá nănglực marketing của doanh nghiệp được thực hiện thông qua bốn thành phần cơ bản sau:

phản ứng của doanh nghiệp với những thay đổi về nhu cầu của khách hàng

phản ứng cạnh tranh, thể hiện sự phản ứng của doanh nghiệp đối với các hoạt động kinh doanh

của đối thủ cạnh tranh.

3 Thích ứng với môi trường vĩ mô (responsiveness to the change of macroenvironment), gọi tắt là thích ứng môi trường, thể hiện việc doanh nghiệp theo dõi sự thay

đổi của môi trường vĩ mô để nắm bắt cơ hội và rào cản kinh doanh.

lượng quan hệ, thể hiện mức độ doanh nghiệp đạt được chất lượng mối quan hệ với khách hàng,

nhà cung cấp, nhà phân phối và các cấp chính quyền có liên quan.

Lý thuyết về định hướng thị trường của Narver JC & Slater SF (1990) cũng chỉ rarằng đáp ứng với sự thay đổi của khách hàng và đối thủ cạnh tranh và môi trường vĩ mô

là điểm then chốt dẫn đến thành công của doanh nghiệp (có giá trị) Đáp ứng thị trường

là một yếu tố văn hóa doanh nghiệp mà không phải tất cả doanh nghiệp nào cũng có(hiếm) và mỗi doanh nghiệp dựa vào nguồn lực của mình có những cách thức đáp ứngthị trường khác nhau Doanh nghiệp này không thể bắt chước doanh nghiệp khác được(không dễ dàng bắt chước được) Tuy nhiên, nếu không đáp ứng được sự thay đổi củathị trường thì doanh nghiệp sẽ bị đào thải (không thể thay thế được) Vì vậy, khả năngđáp ứng thị trường thỏa mãn các thuộc tính VRIN nên đây là một yếu tố của năng lựccạnh tranh động doanh nghiệp

Thực tiễn đã cho thấy lợi nhuận của doanh nghiệp thu được chủ yếu từ kháchhàng hiện có, tuy vậy không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thực hiện được

Trang 30

(không thể thay thế và bắt chước được) Chất lượng mối quan hệ có quan hệ tỷ lệ thuậnvới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (hiếm và có giá trị) Vì vậy, chất lượng mốiquan hệ thỏa mãn các tiêu chí VRIN và là yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh động củadoanh nghiệp

Tóm lại, các yếu tố tạo nên năng lực Marketing đều đáp ứng yêu cầu của VRIN,hay nói cách khác, bốn yếu tố năng lực thuộc hoạt động marketing: đáp ứng khách hàng;phản ứng cạnh tranh; thích ứng môi trường; chất lượng quan hệ, là những yếu tố tạothành năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp

 Định hướng kinh doanh

Có nhiều quan điểm về định hướng kinh doanh của doanh nghiệp

(entrepreneurial orientation) Các nhà nghiên cứu về định lượng trong kinh doanhthường dựa vào lý thuyết về qui trình quyết định chiến lược (strategy – making process)

và xây dựng khái niệm định hướng kinh doanh ở cấp độ doanh nghiệp (firm – level) vớihai thành phần chính

chủ động: là năng lực của doanh nghiêp trong việc dự báo những thay đổi về nhu cầucủa thị trường (trong tương lai) và khả năng chủ động đáp ứng với những yêu cầu này

năng lực mạo hiểm: là khả năng doanh nghiệp đề xuất về sản xuất sản phẩm mới, quá trình sảnxuất mới hay những ý tưởng mới để làm tăng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Theo Thelma Quince & Hugh Whittaker (2003), năng lực chấp nhận mạo hiểmđược đo lường qua việc doanh nghiệp chi tiêu cho hoạt động R&D hay đào tạo nhânviên dài hạn để phục vụ cho nhu cầu phát triển trong tương lai hoặc kiên định theo đuổicác dự án kinh doanh lớn, rủi ro và lợi nhuận cao Hành động bảo vệ quyền sở hữu trítuệ cho các phát minh của doanh nghiệp, duy trì và thâm nhập vào một phân khúc thịtrường mới để mở rộng kết quả kinh doanh của chính doanh nghiệp là biểu hiện củanăng lực chủ động của doanh nghiệp

Trang 31

 Năng lực sáng tạo

Theo Damanpour F (1991), năng lực sáng tạo (innovativeness capability) nói lên

khả năng của doanh nghiệp đề xuất quá trình sản xuất mới, sản phẩm mới hay là ý tưởngmới nhằm làm tăng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Desphandé và Farley (2004) cho rằng việc đưa ra các sản phẩm mới hoặc dịch vụmới vào thị trường sẽ phản ánh được năng lực sáng tạo của doanh nghiệp Theo Szeto(2000), doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến và phát triển các sản phẩm mới đáp ứngyêu cầu của khách hàng và phải là người tiên phong (first – mover) trên thị trường

Còn Anderson & Narus (1998) đề cập đến sự tương tác giữa năng lực sáng tạo vàgiá trị tăng thêm cho khách hàng như là tiết kiệm chi phí, thời gian,…

Menguc và Auh (2006) cho rằng năng lực sáng tạo là phương tiện để đạt đượcnhững cải tiến và phát minh cho doanh nghiệp, nói lên sự mong muốn của doanh nghiệpkhắc phục những lề lối, thói quen không còn phù hợp trong kinh doanh và theo đuổinhững ý tưởng kinh doanh sáng tạo, phù hợp với yêu cầu cạnh tranh, từ đó làm thay đổidoanh nghiệp Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả G.Tomas M Hult, Robert

F Hurley và Gary A Knight (2004) đã khẳng định năng lực sáng tạo của doanh nghiệptrong ngành công nghiệp cao hơn so với các ngành khác và có ảnh hưởng trực tiếp vào kết quảkinh doanh của doanh nghiệp

Doanh nghiệp với định hướng kinh doanh cao luôn luôn theo dõi thị trường đểphát hiện những cơ hội và rào cản kinh doanh Điều này làm tăng khả năng đáp ứng thịtrường của doanh nghiệp Hay nói cách khác, doanh nghiệp có định hướng kinh doanhcao thì khả năng đáp ứng thị trường càng cao Hơn nữa các doanh nghiệp có định hướngkinh doanh luôn chủ động và tiên phong trong đề xuất và thực hiện những ý tưởng, sảnphẩm, quá trình hoạt động mới, dù là để đáp ứng cho môi trường bên trong và bên ngoàidoanh nghiệp hay là để tạo ra lợi thế tiên phong (preemptive move) Vì vậy, định hướngkinh doanh làm tăng năng lực sáng tạo của doanh nghiệp Cả hai yếu tố năng lực sángtạo và định hướng kinh doanh là những yếu tố có giá trị, hiếm, không thể thay thế vàkhông thể bắt chước được như tiêu chí VRIN đề ra Do đó, chúng là

Trang 32

doanh nghiệp tạo được chổ đứng trên thị trường đó là khả năng đáp ứng

(Responsiveness), năng lực phục vụ (Competence) với khách hàng và tạo sự tín nhiệm nơi khách hàng (Credibility).

1 Thái độ và cung cách phục vụ của nhân viên: thể hiện sự mong muốn và sẵnsàng của nhân viên cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng

2 Năng lực phục vụ của nhân viên: kỹ năng và trình độ chuyên môn của nhân viên để thực hiện yêu cầu của khách hàng

3 Tín nhiệm: tạo lòng tin cho khách hàng là tin cậy vào công ty

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học như A Parasuraman, Valarie A.Zeithaml, Leonard L Berry (1985) cho thấy doanh nghiệp có khả năng tổ chức dịch vụtốt sẽ tạo lợi thế cạnh tranh để đưa sản phẩm kinh doanh đến với khách hàng nhanh vàhiệu quả hơn (giá trị và hiếm) Từng thành viên được trang bị về kiến thức của sản phẩm

sẽ có khả năng thỏa mãn những mong đợi (expectation) của khách hàng trong mỗi giaodịch và qua đó hình thành văn hóa của doanh nghiệp trong ngành mà doanh nghiệp đanghoạt động (không thể bắt chước được và không thể thay thế) Vì vậy, khả năng tổ chứcdịch vụ thỏa mãn tiêu chí VRIN nên nó là yếu tố của năng lực cạnh tranh động củadoanh nghiệp

 Danh tiếng doanh nghiệp

Danh tiếng của doanh nghiệp từ lâu được xem là yếu tố sống còn và thành côngtrong thế giới kinh doanh Kreps (1990) (được trích dẫn bởi Hongbin Cai và IchiroObara, 2008) phát biểu danh tiếng của doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng trong

lý thuyết hiện đại về sự phát triển của doanh nghiệp Còn Tadelis (1999, 2002), Mailath

và Samuelson (2001), Marvel và Ye (2004) chứng minh danh tiếng của doanh

Trang 33

nghiệp là một dạng tài sản có giá trị kinh doanh cao Bên cạnh đó Klein và Leffler(1981) và Horner (2002) đã chỉ ra danh tiếng doanh nghiệp được tạo dựng từ chính nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp đó trên thị trường Như vậy, danh tiếng của doanh

nghiệp có ảnh hưởng rất nhiều đến năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp 1.3.2.2.

Chỉ số đánh giá các nhân tố của năng lực cạnh tranh động

Từ lý thuyết về nguồn lực và các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh độngcủa doanh nghiệp, các chỉ số đánh giá cho từng nhân tố được xây dựng như sau:

Bảng 1.1: Các chỉ số cấu thành các nhân tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh động

Thường xuyên tiếp xúc với khách hàng để tìm hiểu nhu cầu của họ về sản phẩm/giải pháp mới

Hiểu rõ nhu cầu của khách hàng

Thu thập thông tin về khách hàng

Thường xuyên thu thập thông tin về đối thủ cạnh tranh

Thông tin về đối thủ cạnh tranh luôn được xem xét kỹ lưỡng khi ra quyết định kinh doanh

Trang 34

Đã thiết lập được mối quan hệ tốt với khách hàng

Đã thiết lập được mối quan hệ tốt với các đại lý phân phối

Năng lực chủ động Luôn kiên định trong việc mở rộng thị trường

Trang 35

Luôn đưa ra sản phẩm/giải pháp mới trước đối thủ cạnh tranh

Luôn kiên định trong chiến lược cạnh tranh lành mạnh với các đối thủ cạnh tranh

Thực hiện chiến lược đào tạo nhân viên dài hạn để phục vụ nhu cầu phát triển trong tương lai

Năng lực mạo hiểm

Chấp nhận thử thách của thị trường để đạt được mục tiêu kinh doanh

Tham gia các dự án kinh doanh lớn, rủi ro nhưng lợi nhuận cao.

Đã đưa ra sản phẩm/giải pháp mới

Năng lực sáng tạo

Sản phẩm cải tiến đem lại kết quả tốt đẹp

Sản phẩm mới và cải tiến phù hợp với yêu cầu của thị trường

Đã xây dựng đội ngũ chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp

Thực hiện đầy đủ các cam kết với khách hàng

Danh tiếng doanh nghiệp Đội ngũ nhân viên có tác phong chuyên nghiệp

Được khách hàng quan tâm các tin tức liên quan đến hoạt động kinh doanh

Giám đốc điều hành (CEO) tạo sự tin tưởng nơi khách

Trang 36

hàng

Trang 37

Tóm tắt Chương 1:

Như vậy, Chương 1 đã đưa ra nền tảng lý thuyết của đề tài với các lý thuyết vềcạnh tranh, năng lực cạnh tranh và các nghiên cứu liên quan đến năng lực cạnh tranhđộng

Từ các định nghĩa của các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh động củadoanh nghiệp, Chương 1 cũng đã xây dựng được các chỉ số cấu thành để đo lường nănglực cạnh tranh động ở từng nhân tố, làm tiền đề cho việc nghiên cứu đo lường mức độảnh hưởng của từng nhân tố đến năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp

ở Chương 3 và Chương 4

Trang 38

Nhằm vào mục đích đó, Chương 2 sẽ giúp người đọc có cái nhìn thấu đáo hơn vềthị trường nhựa Việt Nam, về Tập Đoàn SABIC cũng như các nguồn lực SABIC đang sởhữu để có cơ sở cho việc nghiên cứu và đưa ra kết quả nghiên cứu ở Chương 3 vàChương 4.

2.1 Phân tích thị trường nhựa Việt Nam

2.1.1 Tình hình ngành nhựa Việt Nam 2012

Ngành nhựa là một trong những ngành chiến lược của Việt Nam với tốc độ tăngtrưởng cao trong nhiều năm trở lại đây Hiện nay, Việt Nam có khoảng 2000 doanhnghiệp kinh doanh trong ngành với khoảng 200.000 người lao động Chủ yếu ở miềnNam Số lượng doanh nghiệp tại Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận như ĐồngNai, Bình Dương và Long An chiếm 85,8% tổng số lượng DN nhựa trên cả nước trongkhi số lượng DN ở miền Bắc chỉ chiếm 12,4% và miền Trung chiếm 1,8% thuộc tất cảcác thành phần kinh tế với hơn 99,8% là doanh nghiệp tư nhân

Biểu đồ 2.1: Phân bố các doanh nghiệp nhựa Việt Nam

(Nguồn: Hiệp hội Nhựa Việt Nam, “Niên giám Nhựa Việt Nam 2012”)

Trang 39

Bảng 2.1: Cơ cấu ngành nhựa Việt Nam 2012

(Nguồn: Hiệp hội Nhựa Việt Nam, “Niên giám Nhựa Việt Nam 2012”)

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu ngành nhựa Việt Nam 2012

(Nguồn: Hiệp hội Nhựa Việt Nam, “Niên giám Nhựa Việt Nam 2012”) Các nhà cung cấp chính

Do phụ thuộc tới gần 80 – 85% nguyên phụ liệu nhập khẩu nên ngành nhựa Việt

Nam biến động mạnh, tính chủ động thấp, thường xuyên sử dụng nguồn vốn lưu động

lớn (để nhập sẵn hạt nhựa với thời gian lưu kho dài)

Hiện trong nước đã đáp ứng được khoảng 450.000 tấn nguyên liệu cho ngành

nhựa

Hạt nhựa PVC sản xuất trong nước tại hai nhà máy của Công ty TPC Vina

và Công ty Nhựa và Hóa chất Phú Mỹ có tổng công suất 300.000 tấn/năm (trong đó 20%dành để xuất khẩu, phần còn lại để cung cấp nhu cầu trong nước)

Trang 40

Hạt nhựa PET được Công ty Formosa Việt Nam (100% vốn Đài Loan) sảnxuất với công suất 150.000 tấn/năm, trong đó xuất khẩu chiếm 30%.

Ngày đăng: 10/10/2020, 12:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w