1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu của các công ty niêm yết tại việt nam

69 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 587,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả tìm thấy tỷ suất cổ tứccủa các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam: 1 Có tươngquan dương có ý nghĩa thống kê với tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA và quy m

Trang 1

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

 -NGUYỄN THỊ THÙY LINH

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ CẤU TRÚC SỞ HỮU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

 -NGUYỄN THỊ THÙY LINH

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ CẤU TRÚC SỞ HỮU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

TẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS LÊ THỊ LANH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng luận văn “MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH

CỔ TỨC VÀ CẤU TRÚC SỞ HỮU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin dữ liệu được sử

dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích dẫn đều ghi rõ nguồn gốc vàcác kết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố tại bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 10 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy Linh

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

TÓM TẮT 1

I GIỚI THIỆU 2

II TỒNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 3

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

3.2 Mẫu nghiên cứu, cách thu thập và xử lý dữ liệu 16

3.3 Phương pháp phân tích 16

3.4 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 17

3.4.1 Mô hình nghiên cứu 17

3.4.2 Giả thuyết nghiên cứu 19

IV NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

4.1 Thống kê mô tả 21

4.2 Phân tích ma trận hệ số tương quan 22

4.3 Kết quả hồi quy 22

4.3.1 Kết quả hồi quy bằng phương pháp OLS 22

4.3.1.1 Mô hình 1 23

4.3.1.2 Mô hình 2 25

4.3.1.3 Mô hình 3 26

4.3.1.4 Mô hình 4 27

4.3.1.5 Kiểm định Wald 28

4.3.1.6 Kiểm định phần dư 29

Trang 5

4.3.2.2 Mô hình 6 32

4.3.2.3 Mô hình 7 33

4.3.2.4 Mô hình 8 34

4.3.2.5 Mô hình 9 36

4.3.2.6 Mô hình 10 37

4.3.2.7 Kiểm định Wald 38

4.3.2.8 Kiểm định tự tương quan 39

4.3.3 So sánh kết quả hai phương pháp Tobit, OLS 40

V KẾT LUẬN 45

5.1 Kết luận của luận văn 45

5.2 Kiến nghị 46

5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Bảng 2.1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây

Bảng 3.4.1: Kỳ vọng dự kiến của mô hình

Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả các biến sử dụng trong phân tích

Bảng 4.2: Hệ số tương quan cặp giữa các biến sử dụng trong mô hình hồi quyBảng 4.3.1.1: Kết quả hồi quy mô hình 1

Bảng 4.3.1.2: Kết quả hồi quy mô hình 2

Bảng 4.3.1.3: Kết quả hồi quy mô hình 3

Bảng 4.3.1.4: Kết quả hồi quy mô hình 4

Bảng 4.3.1.5: Kết quả kiểm định Wald theo phương pháp OLS

Bảng 4.3.2.1: Kết quả hồi quy mô hình 5

Bảng 4.3.2.2: Kết quả hồi quy mô hình 6

Bảng 4.3.2.3: Kết quả hồi quy mô hình 7

Bảng 4.3.2.4: Kết quả hồi quy mô hình 8

Bảng 4.3.2.5: Kết quả hồi quy mô hình 9

Bảng 4.3.2.6: Kết quả hồi quy mô hình 10

Bảng 4.3.2.7: Kết quả kiểm định Wald theo phương pháp Tobit

Bảng 4.3.2.8: Kết quả kiểm định tự tương quan theo phương pháp TobitBảng 4.3.3: So sánh kết quả hồi quy theo hai phương pháp Tobit và OLSHình 4.3.1.6: Kết quả kiểm định phần dư theo phương pháp OLS

Trang 7

TÓM TẮT

Luận văn tập trung phân tích mối quan hệ giữa chính sách cổ tức vàcấu trúc sở hữu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán ViệtNam Mẫu nghiên cứu gồm 50 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứngkhoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội(HNX) trong 3 năm liên tiếp (2010, 2011 và 2012) Tác giả sử dụng chỉ tiêu

tỷ suất cổ tức làm biến phụ thuộc và sử dụng phương pháp Tobit và bìnhphương bé nhất (OLS) để ước lượng và đánh giá mức độ tác động của cácbiến độc lập lên biến phụ thuộc như thế nào Tác giả tìm thấy tỷ suất cổ tứccủa các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam: (1) Có tươngquan dương có ý nghĩa thống kê với tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA)

và quy mô công ty (SIZE, đo lường bởi lôgarit tự nhiên của doanh thu hàngnăm); (2) Có tương quan âm có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ sở hữu nội bộ(INSD) và tỷ lệ sở hữu nước ngoài (FOREIN); (3) Không tìm thấy mối tươngquan có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ nợ trên tài sản (LEV), mức độ phân tán sởhữu (STOCK, đo lường bởi lôgarit tự nhiên của số lượng cổ đông thường củacông ty), sở hữu gia đình (FAMI, cổ đông lớn là một cá nhân), sở hữu nhànước (STATE, cổ đông lớn là nhà nước) và sở hữu tổ chức (INSTIT, cổ đônglớn là ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ hỗ tương hay những tổchức tài chính khác)

Trang 8

I GIỚI THIỆU

Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường mới nổi, chứa đựngnhiều biến động và rủi ro tiềm ẩn nội tại phụ thuộc vào biến động của nềnkinh tế vĩ mô và bản thân các doanh nghiệp Suy thoái kinh tế Hoa Kỳ cuốithập niên 2000 và khủng hoảng tài chính 2007 - 2010 bắt nguồn cho cuộc đạisuy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến 2012 đã diễn ra đồng thời ở nhiềunước, nhiều khu vực trên thế giới trong đó có Việt Nam Thực tế cho thấy đa

số các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có lợi nhuậngiảm, thậm chí lỗ qua các năm Các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trongviệc huy động vốn do tính cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường và xuhướng thận trọng hơn trong các quyết định đầu tư đặc biệt là của các nhà đầu

tư nước ngoài Việc thu hút vốn đầu tư bên ngoài và giảm thiểu chi phí là vấn

đề quan trọng và được quan tâm hàng đầu ở các doanh nghiệp hiện nay

Chính sách cổ tức được xem như một công cụ hữu ích trong việc pháttín hiệu để thu hút vốn đầu tư bên ngoài, bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu sốđồng thời góp phần giảm thiểu chi phí đại diện thông qua việc giảm dòng tiền

tự do của công ty

Theo Jensen và Meckling (1976): chi phí đại diện là sự tổng hợp cácchi phí của một hợp đồng có tổ chức giữa cổ đông - người chủ thuê và nhàquản lý - người đại diện làm nhiệm vụ thay thế cho cổ đông Các chí phí đóbao gồm: chi phí giám sát của cổ đông, chi phí liên kết của nhà quản lý vàcác tổn thất có liên quan

Trong công ty, mục tiêu lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý có thểkhông giống nhau: mục tiêu của cổ đông là tối đa hóa giá trị công ty trongkhi nhà quản lý là tối đa hóa thu nhập cá nhân Điển hình ở Việt Nam thờigian qua, đã xuất hiện không ít các trường hợp liên quan đến vấn đề chi phíđại diện như sự kiện Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT), Ngân hàng

Trang 9

Thương Mại Cổ Phần Á Châu (ACB), Tập Đoàn Công Nghiệp Tàu Thủy ViệtNam (Vinashin), Tổng Công Ty Hàng Hải Việt Nam (Vinalines), Ban quản lý

dự án 18 (PMU18) thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải, …

Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về mối quan

hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu của các công ty chẳng hạn nhưcác nghiên cứu ở Mỹ, Anh, Đức, Ý, Thụy Điển, Nhật và ở thị trường mới nổinhư Hàn Quốc, Thái Lan, Jordan,… Thực tế ở Việt Nam có tồn tại mối quan

hệ này hay không? Xuất phát từ ý tưởng đó, tác giả thực hiện luận văn vớichủ đề: “Mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu của các công

ty niêm yết tại Việt Nam” với mục tiêu nghiên cứu là phân tích mối quan hệgiữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu của các công ty niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2012

Phần tiếp theo của luận văn, tác giả trình bày tổng quan lý thuyết,phương pháp nghiên cứu, sau đó là nội dung và kết quả nghiên cứu, cuốicùng là phần kết luận

II TỒNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Jensen và Meckling (1976) là một trong những nghiên cứu tiền đề về

“lý thuyết đại diện” trên thế giới, tác giả đề cập đến sự tách rời giữa quyền sởhữu và quyền quản lý trong công ty, tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà quản lýgiúp lợi ích của chủ sở hữu và nhà quản lý thống nhất với nhau, khi tỷ lệ sởhữu cổ phần của nhà quản lý tăng, hiệu quả hoạt động của công ty cũng tănglên

Morck, Shleifer và Vishny (1988): khảo sát mối quan hệ giữa tỷ lệ sở

hữu cổ phần của nhà quản lý và giá trị thị trường của công ty được đo lườngbởi Tobin’s Q Mẫu gồm 371 công ty trong danh sách Fortune 500, nghiêncứu trong năm 1980 Tác giả tìm thấy Tobin’s Q tăng khi tỷ lệ sở hữu cổ phầncủa ban giám đốc từ 0-5% và giảm khi tỷ lệ này dao động trong khoảng

Trang 10

5- 25%, sau đó lại tăng nhẹ khi tỷ lệ sở hữu cổ phần của ban giám đốc trên25% Theo tác giả, giá trị thị trường của công ty tăng do xuất hiện “hiệu ứnghội tụ lợi ích” giữa nhà quản lý và cổ đông, trong khi giá trị Tobin’s Q giảm

do xuất hiện “hiệu ứng ngăn chặn”

Jensen (1986): dòng tiền tự do là dòng tiền mặt vượt quá nhu cầu tài

trợ cho tất cả dự án có hiện giá ròng dương (NPV>0) khi đã trừ các chi phíliên quan về vốn Tác giả cho rằng cuộc xung đột về lợi ích giữa chủ sở hữu

và nhà quản lý về chính sách cổ tức đặc biệt dữ dội khi công ty tạo ra dòngtiền tự do đáng kể, một tỷ lệ cổ tức cao sẽ làm giảm dòng tiền tự do và do đógiảm thiểu chi phí đại diện

Rozeff (1982), Easterbrook (1984): Mức chi trả cổ tức cao càng

hướng các công ty tiếp cận thị trường vốn để tài trợ cho các dự án đầu tưtrong tương lai, qua đó gia tăng sức ảnh hưởng của nhà đầu tư bên ngoài tạođiều kiện kiểm soát công ty tốt hơn đồng thời chịu sự giám sát của thị trườngvốn, do đó giảm được chi phí đại diện Tỷ lệ cổ tức tương quan âm có ýnghĩa thống kê với tỷ lệ sở hữu cổ phần nội bộ và tương quan dương có ýnghĩa thống kê với số lượng cổ đông thường của công ty Rozeff đã phát triển

mô hình chi trả cổ tức tối ưu, trong đó tăng chi trả cổ tức sẽ làm giảm chi phíđại diện nhưng lại làm tăng chi phí giao dịch của việc tài trợ bên ngoài Môhình này tối thiểu hóa tổng hai loại chi phí đại diện và giao dịch

Khi các chủ sở hữu lớn đạt quyền kiểm soát toàn công ty, họ sẽ có cơhội và động cơ để kiểm soát công ty theo hướng tạo ra lợi ích cá nhân bất

chấp quyền lợi cổ đông thiểu số, đó gọi là sự tước đoạt quyền sở hữu Faccio,

Lang và Young (2001): Tác giả cung cấp bằng chứng định lượng về sự tước

đoạt quyền sở hữu trong các tập đoàn và sự khác biệt giữa Châu Âu và Châu

đề về sự tái phân phối trong các cổ đông: người nội bộ có thể chọn để đầu tư

Trang 11

vào các dự án có lợi nhuận thấp hoặc âm bởi vì họ tạo ra cơ hội cho sự tướcđoạt “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịchcủa các bên liên quan để tước đoạt quyền sở hữu của các cổ đông thiểu sốtrong các tập đoàn gia đình đầy quyền lực chính trị Tác giả phân tích vấn đềnày từ gốc nhìn của cổ tức, tức là loại bỏ các tài nguyên của công ty khỏi sựkiểm soát của những người nội bộ Nói chung, các nhà đầu tư cho rằng khảnăng tước đoạt là cao hơn trong các tập đoàn có sự kiểm soát chặt chẽ và bùđắp cho những lo âu này là tỷ lệ chi trả cổ tức cao, đặc biệt các công ty nàycho thấy sự khác biệt lớn giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát Vì vậy, sựxuất hiện của thị trường vốn có khả năng khống chế sự tước đoạt quyền sởhữu trong các tập đoàn có sự kiểm soát chặt chẽ Trong khi đó, các nhà đầu tưdường như ít báo động về sự tước đoạt quyền sở hữu trong công ty có mốiliên kết lỏng lẻo với tập đoàn, tác giả tìm thấy các công ty không chi trả cổtức cao và một sự khác biệt lớn giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát có liênquan đến tỷ lệ cổ tức thấp Sự liên kết nhóm yếu có thể được củng cố bởi cácmối liên kết không minh bạch thông qua người đại diện thông đồng với các

cổ đông đa số để tiếp tay cho sự tước đoạt quyền sở hữu ở Châu Á Để giảiquyết những vấn đề này đòi hỏi phải có sự minh bạch, thể hiện các liên kếtkiểm soát và sự phối hợp giữa các bên trong quá trình hoạt động, đồng thờiphải có cải cách quy phạm pháp luật để tăng cường các quyền của cổ đôngthiểu số, chẳng hạn như giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần tối thiểu để ngăn chặn cácquyết định quan trọng trong công ty, triệu tập một cuộc họp cổ đông bấtthường Điều này sẽ làm giảm động cơ của sự chiếm đoạt và tạo sự hợp nhấtcủa các tập đoàn kinh doanh trong một cấu trúc minh bạch hơn, phổ biến ởChâu Âu nơi mà các thị trường vốn có thể kiểm soát một cách hiệu quả hơn

Holderness (2003): Cổ đông đa số có động cơ do có lợi ích từ kiểm

soát, họ có động cơ và cơ hội để tăng dòng tiền mặt mong đợi của công ty và

Trang 12

tích lũy cho tất cả cổ đông; và chính do lợi ích cá nhân của việc kiểm soát, cổđông đa số có động cơ và cơ hội để tiêu thụ các lợi ích của công ty bất chấpquyền lợi của cổ đông thiểu số

Shleifer và Vishny (1997): nghiên cứu sự cai trị công ty, tác giả tập

trung vào tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư

và sự tập trung sở hữu trong hệ thống cai trị của công ty trên khắp thế giới.Cai trị công ty giải quyết vấn đề đại diện: tách biệt sự quản lý và tài chính.Câu hỏi cơ bản của cai trị công ty là làm thế nào để đảm bảo cho nhà đầu tưrằng họ sẽ thu được lợi nhuận trên phần vốn đầu tư tài chính của họ Tác giảbắt đầu bằng việc nêu bật tầm quan trọng của vấn đề đại diện: những cơ hộicho nhà quản lý bỏ trốn cùng với các quỹ của nhà đầu tư hoặc vấn đề lãngphí tiền của cho các dự án đầu tư Sau đó tác giả đề cập đến các hướng tiếpcận mở rộng của việc cai trị công ty, bắt đầu xem xét khả năng tài chính dựatrên danh tiếng của nhà quản lý hoặc dựa trên kỳ vọng quá khách quan củanhà đầu tư về khả năng thu hồi vốn đầu tư Tiếp đến là thảo luận về việc bảo

vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư và sự tập trung sở hữu như một cáchtiếp cận bổ sung đến sự cai trị công ty Tác giả cho thấy sự bảo vệ quyền lợihợp pháp của nhà đầu tư là một nhân tố chủ yếu của cai trị công ty Sở hữutập trung thông qua việc nắm giữ cổ phần lớn, giành quyền kiểm soát và tàichính ngân hàng - cũng là một phương pháp kiểm soát phổ biến giúp đồngtiền quay trở lại với nhà đầu tư Mặt dù các nhà đầu tư lớn có thể rất hiệu quảtrong giải quyết vấn đề đại diện, nhưng họ lại không hiệu quả trong việc táiphân phối của cải của các nhà đầu tư khác (cổ đông thiểu số)

Sự hiện diện của cổ đông đa số có thể làm giảm tính tự ý quyết địnhcủa nhà quản lý, qua đó là giảm chi phí đại diện bởi vì cổ đông đa số có khả

năng và động cơ để giám sát sự quản lý Stiglitz (1985): nhà quản lý bị kiểm

soát trực tiếp và gián tiếp bởi cả người cho vay và cổ đông Người cho vay sử

Trang 13

dụng quyền kiểm soát thông qua các điều khoản quy định trong hợp đồngchính thức và từ chối cấp lại khoản vay Cổ đông sử dụng quyền kiểm soátthông qua quy trình biểu quyết và từ chối cung cấp thêm vốn Nếu một vài cổđông có đủ số tiền góp vốn vào công ty thì họ sẽ có động lực cá nhân đủ lớn

để giám sát hoạt động của nhà quản lý, đồng thời chịu phí tổn về việc cóđược các thông tin cần thiết cho sự kiểm soát hiệu quả Lợi ích của cổ đông

đa số có thể không đồng nhất với lợi ích của cổ đông thiểu số

Shleifer và Vishny (1986): trong công ty với nhiều cổ đông nhỏ, sẽ

không ai chịu giám sát hoạt động quản lý Trong một thế giới phát triển liêntục và không hoàn hảo, nhà quản lý của một vài công ty tuy đã có cố gắngnhưng có thể là chưa đủ giỏi, cho nên thỉnh thoảng họ cần được thuyết phục

và thay thế Nhưng ai sẽ giám sát hoạt động của nhà quản lý và tìm cách giúpcho công ty hoạt động tốt và hiệu quả hơn? Trách nhiệm này thuộc về các cổđông đa số vì họ có phần vốn góp đủ lớn trong công ty Lợi nhuận của cổđông lớn trên cổ phần sở hữu đủ để bù đắp chi phí giám sát và giành quyềnkiểm soát Còn đối với các cổ đông thiểu số, vì số lượng vốn góp nhỏ nênkhông gánh chịu chi phí giám sát quản lý Kết quả cho thấy cổ đông lớn cànglàm tăng lợi nhuận mong đợi của công ty khi tỷ lệ sở hữu cổ phần càng lớn

Cổ đông nhỏ thường là cá nhân, họ ưa thích lãi vốn trong khi cổ đông lớn lại

ưa thích cổ tức

Jensen, Solberg và Zorn (1992): nghiên cứu yếu tố quyết định sự

khác nhau cơ bản trong sở hữu nội bộ, nợ và chính sách cổ tức Tác giả kếtluận rằng: công ty có tỷ lệ sở hữu nội bộ cao sẽ chọn tỷ lệ nợ và cổ tức thấphơn Tác động của khả năng sinh lợi, tăng trưởng và đầu tư lên chính sách cổtức và nợ thì ủng hộ lý thuyết trật tự phân hạng sửa đổi

Han, Lee và Suk (1999): giả thuyết dựa trên chi phí đại diện cho rằng

chi trả cổ tức có tương quan âm với mức độ sở hữu tổ chức, giả thuyết dựa

Trang 14

trên thuế thì cho rằng cổ tức có tương quan dương với sở hữu tổ chức Tácgiả sử dụng phân tích Tobit để kiểm định mối quan hệ giữa sở hữu tổ chức vàchính sách cổ tức Kết quả ủng hộ giả thuyết dựa trên thuế tức là chi trả cổtức có tương quan dương đến sở hữu tổ chức

S Ang, A Cole và Wuh Lin (2000): đo lường chi phí đại diện vốn cổ

phần công ty theo cấu trúc sở hữu khác nhau đồng thời khảo sát các yếu tốquyết định đến chi phí đại diện trong khung hồi quy đa biến Họ tìm thấy chiphí đại diện cao hơn khi người bên ngoài quản lý công ty Hai là chi phí đạidiện thấp hơn khi nhà quản lý có sở hữu cổ phần Thứ ba là chi phí đại diệntăng với số lượng các cổ đông không tham gia quản lý Thứ tư, ở mức độthấp hơn, sự kiểm soát của ngân hàng bên ngoài làm giảm chi phí đại diện

Gugler và Yurtoglu (2003), Gugler (2003): nghiên cứu mối quan hệ

giữa cổ tức, cấu trúc sở hữu và quyền kiểm soát lần lượt ở các công ty Úc và

Đức Gugler (2003) tìm thấy cấu trúc sở hữu và kiểm soát là yếu tố quyết

định quan trọng của chính sách chi trả cổ tức Đặc biệt, các công ty Úc chịu

sự kiểm soát của nhà nước thì ổn định cổ tức, có tỷ lệ cổ tức mục tiêu cao vàkhông muốn cắt giảm cổ tức mặc dù chi phí tiềm ẩn thuộc về cổ đông, điềunày phù hợp với sự giải thích chi phí đại diện Ngược lại, công ty gia đình cóchính sách cổ tức khác hoàn toàn, không ổn định, tỷ lệ cổ tức mục tiêu thấphơn và sẵn sàng cắt giảm cổ tức Những nhà quản lý đồng thời là chủ sở hữu

có thể phản ứng với các cơ hội đầu tư và nhu cầu tài trợ và điều chỉnh chínhsách cổ tức cho phù hợp Sự ổn định cổ tức ít quan trọng trong các công tydưới sự kiểm soát của ngân hàng và nước ngoài Ở góc độ ngân hàng, việcchi trả cổ tức cao và ổn định không phải là tối ưu và cần thiết khi nó làm tăngrủi ro vỡ nợ và giảm sự an toàn trong việc chi trả lãi suất Các ngân hàng cócác biện pháp khác để giảm chi phí đại diện của việc quản lý, chẳng hạn nhưthanh toán lãi suất trên nợ

Trang 15

Manos (2002): mô hình tối thiểu hóa chi phí của cổ tức với lý thuyết

đại diện, mẫu nghiên cứu gồm 882 công ty khu vực tư nhân niêm yết trên thịtrường chứng khoán Mumbai từ năm 1994-1998 Giả thuyết các công ty khuvực tư nhân Ấn Độ thiết lập tỷ lệ cổ tức mục tiêu để tối thiểu hóa tổng của chiphí đại diện và chi phí liên quan với tăng nguồn tài trợ bên ngoài Tác giả tìmthấy sở hữu nhà nước, sở hữu nội bộ, rủi ro, nợ và các cơ hội tăng trưởng cótương quan âm lên tỷ lệ cổ tức Ngược lại, sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài

và sự phân tán sở hữu có tương quan dương lên tỷ lệ cổ tức Các kết quả nàyphù hợp với dự báo của mô hình tối thiểu hóa chi phí của cổ tức trong bốicảnh các công ty niêm yết ở Ấn Độ

Dehaene và Ooghe (1998): nghiên cứu sự khác nhau cơ bản trong

việc cấu thành ban giám đốc tác động lên hoạt động công ty và chính sách cổtức với mẫu gồm 122 công ty Bỉ Kết quả cho thấy các công ty với quy môban giám đốc nhỏ nhất có tỷ lệ cổ tức thấp hơn đáng kể so với các công ty cóquy mô ban giám đốc lớn nhất, đồng thời tỷ suất cổ tức của các công ty niêmyết trong mẫu có tương quan dương với tầm quan trọng tương đối của cácgiám đốc nội bộ trong ban giám đốc

Neo & Rebello (1996) tạo ra lý thuyết về mối quan hệ giữa sở hữu tổ

chức, sở hữu nội bộ, nợ và chính sách cổ tức Theo Jensen (1986) chính sách

cổ tức và mong muốn theo đuổi nguồn tài trợ bên ngoài là khác nhau ở cáccông ty dựa trên việc công ty đó chịu sự kiểm soát của nhà quản lý hay của

cổ đông Khi nhà quản lý là chủ nghĩa cơ hội tư lợi, họ sẽ tài trợ cho sự tăngtrưởng bằng nguồn nội bộ để tránh sự kiểm soát của thị trường vốn Điều nàyngụ ý rằng các công ty có tỷ lệ nhà quản lý cao hơn sẽ có mức độ nợ và tỷ lệchi trả cổ tức thấp hơn Các công ty chịu sự kiểm soát của các cổ đông sẽthích mức nợ và cổ tức cao, khi đó các nhà quản lý phải tuân thủ các nguyêntắc thị trường và cam kết về việc chi trả dòng tiền mặt hoạt động

Trang 16

Cook và Jeon (2006) khảo sát các công ty Hàn Quốc để cung cấp

bằng chứng mới về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tứctrong thị trường mới nổi Tác giả tìm thấy các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệtchú ý đến các công ty có chi trả cổ tức Trong số các công ty này, họ lại thíchcác công ty có tỷ lệ cổ tức thấp Ngoài ra, mức độ cao của việc mua lại cổphần càng thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài Kiểm soát công ty bằng việcgiảm vấn đề đại diện và hướng công ty tăng mức độ chi trả cổ tức Theo môhình đại diện, sở hữu nước ngoài càng cao thì việc chi trả cổ tức càng cao.Nhà đầu tư trong nước không có vai trò quan trọng trong chính sách chi trả

cổ tức của công ty Vì vậy, họ kết luận rằng các nhà đầu tư nước ngoài lànhững người năng động hơn bằng việc làm giảm vấn đề đại diện và hướngđến việc tăng mức độ chi trả cổ tức

Al-Malkawi (2005): chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ở thị

trường mới nổi Jordan Mẫu nghiên cứu gồm 160 công ty niêm yết từ năm1989-2000 Tác giả sử dụng ước lượng Tobit và Probit với dữ liệu bảng đểkhảo sát các yếu tố quyết định đến số lượng hay mức độ cổ tức chi trả ở cáccông ty và quyết định chi trả cổ tức Kết quả cho thấy sự phân tán sở hữukhông có tương quan đến chính sách cổ tức, có nghĩa là không có ý nghĩatrên mức độ cũng như quyết định chi trả cổ tức Người sở hữu nội bộ cótương quan âm lên mức độ cổ tức nhưng không có tương quan lên quyết địnhchi trả cổ tức Sự hiện diện của chính phủ hay sự đại diện trong cấu trúc sởhữu công ty (các cổ đông nắm quyền kiểm soát) tác động đến lượng cổ tức(dương) nhưng không tác động đến việc chi trả cổ tức Quy mô và lợi nhuậncông ty có tương quan dương có ý nghĩa thống kê đến chính sách cổ tức, đònbẩy tài chính thì có tương quan âm có ý nghĩa thống kê đến chính sách cổtức

Trang 17

Khan (2006): cổ tức và cấu trúc sở hữu công ty ở Anh Tác giả khảo

sát mối quan hệ giữa cổ tức và cấu trúc sở hữu cho 330 công ty lớn của Anhniêm yết trên sàn chứng khoán Kết quả cho thấy tương quan âm giữa cổ tức

và tập trung sở hữu Sự cấu thành sở hữu cũng có ý nghĩa, tương quan dươngcho tỷ lệ sở hữu của công ty bảo hiểm, và tương quan âm cho các cá nhân.Các kết quả này phù hợp với mô hình đại diện nơi cổ tức thay thế cho sựgiám sát yếu kém của các cổ đông, nhưng cũng có thể được giải thích bằng

sự hiện diện các cổ đông nắm quyền kiểm soát là người đề ra chính sách cổtức cho công ty

Mancinelli và Ozkan (2006): cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức các

công ty ở Ý Mẫu gồm 139 công ty Ý niêm yết trên sàn chứng khoán Cấutrúc sở hữu ở Ý có sự tập trung cao và vấn đề đại diện tăng từ cuộc xung độtlợi ích giữa cổ đông đa số và thiểu số Kết quả là các công ty chi cổ tức thấphơn khi quyền biểu quyết của cổ đông lớn nhất tăng và sự hiện diện của hợpđồng giữa các cổ đông đa số có thể giải thích khả năng giám sát hạn chế củacác cổ đông không có quyền kiểm soát khác

Wallgren (2006): chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu ở Thụy Điển.

Dữ liệu gồm 266 công ty niêm yết và 24306 công ty không niêm yết ở ThụyĐiển trong năm 2002 Tác giả kiểm định xem liệu cấu trúc sở hữu có quan hệvới chính sách cổ tức ở Thụy Điển hay không? Và tìm thấy đòn bẩy không cótương quan với mức độ chi trả cổ tức cũng như xu hướng chi trả cổ tức Loạihình của cổ đông nắm quyền kiểm soát (gia đình, hợp doanh và tổ chức)

cấu trúc sở hữu không phải nhân tố quan trọng nhất quyết định chính sách cổtức ở Thụy Điển

Richard Hofler, Julie Ann Elston và Junsoo Lee (2004): Tác giả

Trang 18

nghiên cứu mối quan hệ giữa sở hữu tổ chức và hành vi chi trả cổ tức của cáccông ty ở Đức Họ tìm thấy bằng chứng cả sở hữu tổ chức lẫn kiểm soát củangân hàng không phải là yếu tố quyết định đáng kể lên chi trả cổ tức Điềunày phù hợp với bản chất của môi trường tổ chức ở Đức, nơi mà quyền quản

lý nắm giữ một tỷ lệ đáng kể lợi nhuận ròng của công ty và thiếu sự khuyếnkhích của thuế, giảm chi phí đại diện liên quan đến cuộc xung đột giữa nhàquản lý và lợi ích của cổ đông về việc sử dụng dòng tiền tự do của công ty

Kumar (2004): Nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cấu trúc

sở hữu và hoạt động công ty ở Ấn Độ từ năm 1994-2000 Tác giả tìm thấy sởhữu nước ngoài không ảnh hưởng đáng kể lên hoạt động công ty, điều nàytrái ngược với các nghiên cứu khác ở Ấn Độ và các quốc gia đang phát triểncho rằng sở hữu nước ngoài làm tăng hiệu quả hoạt động của công ty Cácnhà đầu tư tổ chức đặc biệt là các tổ chức tài chính phát triển ảnh hưởng tíchcực đến hoạt động công ty khi sở hữu của họ vượt mức ngưỡng Các tổ chứctài chính giám sát công ty khi họ có ít nhất 15% vốn cổ phần trong đó Tỷ lệ

cổ phần của giám đốc cũng tác động lên hoạt động công ty, điều này phù hợpvới thực tế ở Ấn Độ có nhiều công ty gia đình

Al-Nawaiseh (2013): Tác giả phân tích mối quan hệ giữa chính sách

cổ tức và cấu trúc sở hữu của 62 công ty công nghiệp trên thị trường chứngkhoán Amman từ năm 2000 đến 2006 Áp dụng mô hình Tobit và phươngpháp bình phương bé nhất OLS với nguồn dữ liệu là các báo cáo và chínhsách cổ tức được công bố hàng năm Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tươngquan dương có ý nghĩa thống kê giữa ROA, giữa quy mô công ty, giữa sởhữu tổ chức với tỷ suất cổ tức Tỷ số nợ và sở hữu nội bộ có tương quan âm

có ý nghĩa thống kê với tỷ suất cổ tức Đồng thời tác giả cũng đưa ra cáckhuyến nghị cho các nhà quản lý trong việc thu hút đầu tư nước ngoài và bảo

vệ vốn đầu tư cũng như để thu hút vốn từ các cổ đông thiểu số và bảo vệ

Trang 19

quyền lợi cho họ Nghiên cứu cũng cho thấy cấu trúc sở hữu không là nhân tố

Naceur, Goaied và Belanes (2007): Tác giả phân tích các yếu tố quyết

định và động lực của chính sách cổ tức ở Tunisia, mẫu gồm 48 công ty từ1996-2002 Kết quả cho thấy các công ty Tunisia căn cứ nhiều trên lợi nhuậnhiện tại hơn cổ tức quá khứ để đề ra quyết định chi trả cổ tức Bất kỳ sự thayđổi trong lợi nhuận của công ty được phản ánh trực tiếp trong mức độ chi trả

cổ tức thông qua giá trị cao của tốc độ điều chỉnh khoảng 96% Các nhà quản

lý Tunisia, giống các thị trường mới nổi khác, không ổn định việc chi trả cổtức Thêm vào đó, tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu quá thấp cùng với tốc độ điềuchỉnh cao cho thấy sự ổn định thấp và tính bất ổn của chính sách cổ tức ởTunisia Tác giả tìm thấy những công ty có lợi nhuận cao, ổn định và dòngtiền tự do lớn sẽ chi trả cổ tức nhiều hơn Ngoài ra, các công ty đang tăngtrưởng nhanh phân phối cổ tức lớn hơn để thu hút các nhà đầu tư Điều nàyphù hợp với việc hàm chứa thông tin của cổ tức Mặt khác, sở hữu tập trungkhông ảnh hưởng lên chi trả cổ tức Thực tế cho thấy, công ty được tổ chứcchặt chẽ sẽ có ít cuộc xung đột giữa nhà quản lý và các cổ đông cho nênkhông cần dùng đến cổ tức để làm giảm tính tự ý quyết định của nhà quản lýcũng như bảo vệ lợi ích cho cổ đông Ngoài ra, tính thanh khoản của thịtrường chứng khoán có tương quan âm đến chi trả cổ tức ở TSE, trong đóviệc ra đời của hệ thống giao dịch điện tử ở TSE đã tạo điều kiện cho giaodịch mua bán chứng khoán thu được lãi vốn góp phần làm giảm nhu cầu chitrả cổ tức

Al-Kuwari (2012): Khảo sát mối quan hệ giữa các cổ đông lớn và

quyết định chi trả cổ tức dựa trên lý thuyết đại diện và xem liệu các cổ đônglớn có giám sát một cách hiệu quả không? Mẫu gồm 37 công ty phi tài chínhniêm yết trên thị trường chứng khoán Kuwait từ năm 1999-2003 Mô hình

Trang 20

Eriotis (2005): nghiên cứu chính sách cổ tức của các công ty ở Hy Lạp

từ năm 1996 - 2001 Kết quả thực nghiệm cho thấy lợi nhuận được phân phối

và quy mô công ty có ảnh hưởng lên cổ tức Các công ty Hy Lạp có tỷ lệ cổtức mục tiêu dài hạn và phân phối cổ tức mỗi năm theo tỷ lệ mục tiêu đónhưng được điều chỉnh theo lợi nhuận phân phối và quy mô công ty

Aasia Asif, Waqas Rasool và Yasir Kamal (2010): nghiên cứu mối

quan hệ giữa chính sách cổ tức và đòn bẩy tài chính của 403 công ty niêm yếttrên sàn chứng khoán Karachi từ 2002 đến 2008 Kết quả cho thấy đòn bẩytài chính có tương quan âm lên tỷ lệ chi trả cổ tức, tức là công ty có tỷ lệ nợcao sẽ chi trả cổ tức thấp Ngoài ra, thay đổi trong thu nhập không có tácđộng đáng kể lên chính sách cổ tức trường hợp các công ty Pakistan trong khi

tỷ suất cổ tức có tương quan dương và ngược lại

Yordying Thanatawee (2013): khảo sát mối quan hệ giữa cấu trúc sở

hữu và chính sách cổ tức ở Thái Lan, mẫu gồm 1927 quan sát từ năm

2002-2010 Kết quả cho thấy các công ty Thái có cấu trúc sở hữu tập trung cao và

sở hữu tổ chức Các biến kiểm soát: khả năng sinh lợi, quy mô công ty, tỷ lệlợi nhuận giữ lại trên vốn cổ phần có tương quan dương với quyết định củacông ty liệu có chi trả cổ tức hay không và bao nhiêu cổ tức được chi trả

Trang 21

Ngoài ra, số lượng cổ tức có tương quan dương với cơ hội tăng trưởng vàtương quan âm với đòn bẩy tài chính Tuy nhiên dòng tiền tự do không có tácđộng đáng kể đến chính sách cổ tức các công ty ở Thái Phù hợp với lý thuyếtđại diện của Jensen (1986), nghiên cứu này cho rằng cổ đông cá nhân nắmquyền kiểm soát có thể chiếm đoạt quyền lợi của cổ đông thiểu số bằng cáchhạn chế tỷ lệ cổ tức chi trả, trong khi cổ đông là tổ chức nắm quyền kiểm soát

có thể giám sát hiệu quả và có tác động đến nhà quản lý để tăng chi trả cổtức

Bảng 2.1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây

Trang 22

Jensen, …(1992) Rozeff (1982),….

Trang 23

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

từ năm 2010 đến 2012

tổng tài sản, quy mô công ty, cấu trúc sở hữu, cơ cấu cổ đông, thông tin vềhội đồng quản trị và ban giám đốc qua từng năm của 50 công ty niêm yết trênthị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2010 đến 2012

3.2 Mẫu nghiên cứu, cách thu thập và xử lý dữ liệu

Mẫu nghiên cứu gồm 50 công ty cổ phần niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam và được quan sát trong khoảng thời gian từ năm 2010đến năm 2012 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính đãđược kiểm toán, báo cáo thường niên, bản cáo bạch, Nghị quyết đại hội cổđông thường niên được công bố trên các trang web của HOSE, HNX, cáctrang web chuyên về tài chính và trang web của doanh nghiệp Trong đó:

trúc sở hữu, cơ cấu cổ đông, thông tin về hội đồng quản trị và ban giám đốc

tin về tổng nợ, tổng tài sản, doanh thu, lợi nhuận ròng,…

Đầu tiên, tác giả sử dụng phầm mềm Microsoft Office Excel để thuthập dữ liệu và tính toán các tiêu chí: tỷ suất cổ tức, tỷ lệ nợ trên tài sản, tỷsuất sinh lợi trên tổng tài sản, lôgarit tự nhiên của doanh thu hàng năm,lôgarit tự nhiên của số lượng cổ đông thường của công ty, tỷ lệ sở hữu cổphần nội bộ, tỷ lệ sở hữu cổ phần nước ngoài Sau đó, tác giả sử dụng phầnmềm Eviews để ước lượng hồi quy dữ liệu bảng theo hai phương pháp Tobit

và bình phương bé nhất (OLS)

3.3 Phương pháp phân tích

Trang 24

Phương pháp Tobit là phương pháp chính được tác giả sử dụng trongbài nghiên cứu này do mẫu gồm các công ty có chi trả và không chi trả cổ tứcqua các năm gọi là mẫu kiểm duyệt Với mẫu kiểm duyệt, ước lượng OLS sẽchệch và không vững đối với các hệ số hồi quy bởi vì không đáp ứng đượcđiều kiện E(u)=0 Tuy nhiên, chúng ta cũng nên so sánh kết quả mô hình hồiquy giữa hai phương pháp Tobit và OLS để thấy sự khác biệt như thế nào

Phần mềm phục vụ là Microsoft Office Excel và Eviews

3.4 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.4.1 Mô hình nghiên cứu

DYLD it = β 1 + β 2 *LEV it + β 3 *ROA it + β 4 *SIZE it + β 5 *FAMI it +

β 6 *STATE it + β 7 *INSTIT it + β 8 *STOCK it + β 9 *INSD it +

β 10 *FOREIN it

+ ε it

Trong đó:

DYLD (Dividend yield): tỷ suất cổ tức

= Cổ tức mỗi cổ phần/Giá trị thị trường mỗi cổ phần.

Tác giả sử dụng tỷ suất cổ tức DYLD là biến phụ thuộc đại diện chochính sách cổ tức của các công ty Biến này là tỷ lệ giữa cổ tức mỗi cổ phầnhàng năm chia cho giá trị thị trường mỗi cổ phần Trong nghiên cứu này tácgiả chỉ quan tâm đến cổ tức được chi trả bằng tiền mặt Các dữ liệu liên quanđến biến DYLD được thu thập từ HOSE, HXN và Nghị quyết đại hội cổ đôngthường niên

LEV (Debt ratio): tỷ số nợ

Trang 25

Dữ liệu từ biến LEV được tác giả thu thập trong các báo cáo tài chính đãđược kiểm toán.

ROA (Return on total assets ratio): tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản

= Lợi nhuận ròng/ Tổng tài sản

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản đo lường khả năng sinh lợi trên mộtđồng vốn đầu tư vào công ty Tác giả thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính

đã được kiểm toán

SIZE: quy mô công ty

= Lôgarit tự nhiên của doanh thu hàng năm

Trong trường hợp này, doanh thu bao gồm doanh thu bán hàng, cungcấp dịch vụ và hoạt động tài chính Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tàichính đã được kiểm toán

FAMI: biến giả, bằng 1 nếu cổ đông lớn (cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần trở

lên) là 1 cá nhân và bằng 0 cho trường hợp còn lại Tác giả thu thập dữ liệu

từ báo cáo thường niên

STATE: biến giả, bằng 1 nếu cổ đông lớn (cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần trở

lên) là nhà nước và bằng 0 cho trường hợp còn lại Tác giả thu thập dữ liệu từbáo cáo thường niên

INSTIT: biến giả, bằng 1 nếu tổ chức (ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ

hưu trí, quỹ hỗ tương hay những tổ chức tài chính khác) là cổ đông lớn (cổđông sở hữu từ 5% cổ phần trở lên), và bằng 0 cho trường hợp còn lại Tácgiả thu thập dữ liệu từ báo cáo thường niên

STOCK: lôgarit tự nhiên của số lượng cổ đông thường của công ty nói lên

mức độ phân tán sở hữu Dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường niên vàbản cáo bạch

INSD: tỷ lệ sở hữu cổ phần nội bộ Đây là tỷ lệ phần trăm sở hữu cổ phần

của thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc Dữ liệu được thu thập từ

Trang 26

báo cáo thường niên và bản cáo bạch

FOREIN: tỷ lệ sở hữu cổ phần của cá nhân hay tổ chức nước ngoài Dữ liệu

được thu thập từ báo cáo thường niên

3.4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Trang 27

trên tổng tài sản và tỷ suất cổ tức.

Trang 28

tức

cổ tức

và tỷ suất cổ tức

bộ và tỷ suất cổ tức

cổ phần nước ngoài và tỷ suất cổ tức

Trang 29

IV NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nguồn: Số liệu thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, bản báo bạch và tính toán của tác giả từ phần mềm Excel và Eview.

Bảng 4.1 cho thấy tỷ suất cổ tức (DYLD) trung bình của các công tyniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là 0,065949, trong đó giá trịlớn nhất là 0,29333 và giá trị thấp nhất là 0 Tỷ lệ nợ trên tài sản (LEV) trungbình là 0,515621 cho thấy 51,5621% tài sản của công ty được tài trợ bằngvốn vay Giá trị trung bình của tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) là0,069763 hay 100 đồng vốn đầu tư vào công ty thu được 6,9763 đồng lãiròng Giá trị trung bình của quy mô công ty (SIZE) là 27,63998, mức độ phântán sở hữu (STOCK) là 7,482802, tỷ lệ sở hữu nội bộ (INSD) là 17,59501 và

Trang 30

tỷ lệ sở hữu nước ngoài (FOREIN) là 12,97346 Trong đó, độ lệch chuẩn củaINSD (19,92447) và FOREIN (14,67891) là khá lớn cho thấy sự chênh lệchkhá lớn của tỷ lệ sở hữu nội bộ và tỷ lệ sở hữu nước ngoài giữa các công tytrong mẫu quan sát

4.2 Phân tích ma trận hệ số tương quan

Bảng 4.2: Hệ số tương quan cặp giữa các biến sử dụng trong mô hình

4.3 Kết quả hồi quy

4.3.1 Kết quả hồi quy bằng phương pháp OLS

Tác giả sử dụng phương pháp OLS lần lượt cho 5 mô hình:

INSTIT, STOCK, INSD, FOREIN Tác giả chọn mức ý nghĩa cơ sở là 10%,dựa vào các giả thuyết ban đầu và kết quả hồi quy của mô hình 1: nếu giá trị

Trang 31

p-value của biến độc lập tìm được lớn hơn 10% thì tác giả chấp nhận giả

đến biến phụ thuộc Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành loại bỏ tuần tự từng biếnđộc lập ít ảnh hưởng đến biến phụ thuộc (DYLD) tương ứng với giá trị p-value từ cao xuống thấp

hình 2 gồm 8 biến độc lập: LEV, ROA, SIZE, FAMI, STATE, INSTIT,

INSD, FOREIN

loại bỏ biến STATE ra khỏi phương trình hồi quy, như vậy mô hình 3 sẽ gồm

7 biến độc lập: LEV, ROA, SIZE, FAMI, INSTIT, INSD, FOREIN

chỉ còn 6 biến độc lập: ROA, SIZE, FAMI, INSTIT, INSD, FOREIN

Để đánh giá tính phù hợp của việc loại bỏ 3 biến độc lập STOCK,STATE và LEV, tác giả dùng kiểm định Wald Cuối cùng là kiểm định phần

dư của mô hình có theo phân phối chuẩn hay không

4.3.1.1 Mô hình 1

Bảng 4.3.1.1: Kết quả hồi quy mô hình 1

Dependent Variable: DYLD

Method: Panel Least Squares

Trang 32

biến LEV, SIZE và STATE tương quan dương không có ý nghĩa thống kê lên

tỷ suất cổ tức Trong khi, ROA tương quan dương ở mức ý nghĩa 0,08% và

FOREIN tương quan âm có ý nghĩa ở mức 1,83% Mặt khác, tồn tại mối

tương quan âm không có ý nghĩa thống kê lần lượt giữa FAMI, INSTIT,

STOCK, INSD và chính sách cổ tức, trong đó biến STOCK có giá trị p-value

cao nhất 70,35% Chúng ta cũng tìm thấy giá trị p-value của F-statistic rất

nhỏ 0,0039% ngụ ý rằng mô hình này giải thích được tuy nhiên ở mức độ

Sau đây, tác giả tiến hành loại bỏ biến STOCK ra khỏi phương trình

hồi quy ban đầu, ta có mô hình 2

Trang 33

4.3.1.2 Mô hình 2

Bảng 4.3.1.2: Kết quả hồi quy mô hình 2

Dependent Variable: DYLD

Method: Panel Least Squares

40,44% Các biến LEV, SIZE và STATE tương quan dương không có ý nghĩa

thống kê đến tỷ suất cổ tức với p-value lần lượt là 20,90%; 25,72% và

40,57% Trong khi đó, ROA tương quan dương ở mức ý nghĩa 0,02% và

FOREIN tương quan âm có ý nghĩa thống kê ở mức 0,89% Mặt khác, các

Trang 34

biến FAMI, INSTIT và INSD tương quan âm không có ý nghĩa thống kê đến

chính sách cổ tức với giá trị p-value lần lượt là 15,26%; 14,53% và 21,31%

Tác giả cũng tìm thấy giá trị p-value của F-statistic rất nhỏ 0,0017% và giá trị

Lúc này, biến độc lập ít ảnh hưởng nhất đến tỷ suất cổ tức là STATE,

chúng ta tiếp tục loại bỏ biến STATE ra khỏi phương trình hồi quy, tác giả

thu được mô hình 3

4.3.1.3 Mô hình 3

Bảng 4.3.1.3: Kết quả hồi quy mô hình 3

Dependent Variable: DYLD

Method: Panel Least Squares

Ngày đăng: 10/10/2020, 11:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w