1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

94 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 703,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---NGUYỄN NGỌC PHONG LAN PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Năm 2013... 48 CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN

Trang 1

-NGUYỄN NGỌC PHONG LAN

PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Năm 2013

Trang 2

-NGUYỄN NGỌC PHONG LAN

PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hướngdẫn, hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là PGS TS Trầm Thị Xuân Hương Cácnội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào Những số liệu trong cácbảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thuthập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo.

Nếu có bất kì sai sót, gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trướcHội đồng cũng như kết quả luận văn của mình

TP.Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 09 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Ngọc Phong Lan

Trang 4

Lời cảm ơn đầu tiên tôi xin gửi tới Quý thầy cô trường ĐH Kinh TếTP.HCM đã tận tâm truyền đạt kiến thức cho tôi cũng như các học viên cao họctrong thời gian qua để tôi có nền tảng tri thức và các kĩ năng để hoàn thành đượcluận văn thạc sĩ kinh tế.

Và hơn hết tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc và chân thành tới người hướngdẫn khoa học là PGS TS Trầm Thị Xuân Hương đã tận tình hướng dẫn tôitrong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Do khả năng và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn này cónhiều thiếu sót Kính mong quý thầy cô cũng như các bạn đọc thông cảm và góp

ý Tôi xin chân thành cảm ơn

Học viên Nguyễn Ngọc Phong Lan

Trang 5

-∆ -Trang PHẦN GIỚI THIỆU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6

5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 7

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM CỔ PHẦN 8

1.1 Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM 8 1.1.1 Hiệu quả hoạt động của NHTM 8

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phần

9 1.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM 13

1.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM qua mô hình CAMEL 14

1.3.1 Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy) 14

1.3.2 Chất lượng tài sản (Asset Quality) 15

1.3.3 Hiệu quả quản lý (Management Efficiency) 16

1.3.4 Khả năng sinh lời (Earnings) 17

1.3.5 Tính thanh khoản (Liquidity Management) 17

1.4 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phần

18 1.4.1 Nghiên cứu của Donsyah Yudistira (2004) 18

1.4.2 Panayiotis P.Athanasoglou, Sophocles N.Brissimis và Matthaios D.Delis (2005) 19

Trang 6

1.4.4 Kosmidou, Pasiouras và Tsaklanganos (2007) 20

1.4.5 Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008) 21

1.4.6 Nguyễn Thị Ngân (2011) 22

Kết luận chương 1 23

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 24

CỔ PHẦN VIỆT NAM 24

2.1 Khái quát về NHTM cổ phần Việt Nam hiện nay 24

2.1.1 Sự ra đời và phát triển 24

2.1.2 Tình hình hoạt động 26

2.1.3 Thuận lợi và khó khăn 27

2.2 Thực trạng hoạt động của NHTM cổ phần Việt Nam 29

2.2.1 Thành tựu đạt được 29

2.2.2 Tồn tại 46

Kết luận chương 2 48

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM CỔ PHẦN VIỆT NAM 49

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 49

3.2 Lựa chọn biến cho mô hình 49

3.2.1 Biến phụ thuộc 49

3.2.2 Biến độc lập 50

3.3 Phương pháp nghiên cứu 54

3.4 Mô hình nghiên cứu định lượng 55

3.4.1 Mô hình nghiên cứu 55

3.4.2 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 55

Kết luận chương 3 62

Trang 7

4.1 Các phát hiện chính và đề xuất một số giải pháp 63

4.1.1 Các phát hiện chính 63

4.1.2 Các giải pháp đề xuất 64

4.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 69

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

-∆ -Trang Chương 2: Tổng quan về tình hình hoạt động của NHTM cổ phần Việt Nam 23 Bảng 2.1: Thị phần tín dụng của các NHTM cổ phần Việt Nam 30

Bảng 2.2: Thị phần huy động vốn của các NHTM cổ phần Việt Nam 30

Biểu đồ 2.1: Diễn biến vốn chủ sở hữu của các ngân hàng 31

Biểu đồ 2.2: Diễn biến về tổng tài sản của các ngân hàng 32

Bảng 2.3: Vốn điều lệ của các NHTM cổ phần Việt Nam đến 31/12/2012 34

Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng huy động vốn của các ngân hàng 36

Biểu đồ 2.4: Tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng 38

Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng 39

Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ nợ xấu của ngành ngân hàng trong những năm gần đây 40

Biểu đồ 2.7: Một số ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu từ 3% đến cuối năm 2012 40

Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ nợ xấu tại các nước đang phát triển (2007-2011) 41

Biểu đồ 2.9: Tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng Việt Nam (2007-2011) 42

Bảng 2.4: Hệ số an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM cổ phần (2007-2011) 43

Biểu đồ 2.10: Tỷ lệ dư nợ/huy động của một số ngân hàng lớn tại Việt Nam 44

Bảng 2.5: Tỷ suất sinh lời của ngành ngân hàng qua các năm 46

Trang 9

Bảng 3.1: Kết quả ước lượng mô hình PLS 55

Bảng 3.2: Kết quả ước lượng mô hình FEM 58

Bảng 3.3: Kiểm định sự bằng nhau của các yếu tố cố định 59

Bảng 3.4: Kết quả ước lượng mô hình ECM 60

Bảng 3.5: Kết quả kiểm định Hausman của mô hình ECM 61

Trang 10

: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

: Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt

: Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

: Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á

: Ngân hàng trung ương Châu Âu (European Central Bank): Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam): Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất

: Tổng sản phẩm quốc nôi (Gross Domestic Product): Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố HồChí Minh

: Hội đồng bộ trưởng: Phát hành cổ phiếu lần đầu (Initial Public Offering): Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long

: Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam: Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội

: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Mê Kông: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển nhà đồng bằngsông Cửu Long

: Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á: Ngân hàng nhà nước

Trang 11

NVB hay NamVietBank: Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt

VCB hay Vietcombank : Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam

WTO : Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)

Trang 12

PHẦN GIỚI THIỆU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân hàng là một trong những kênh huy động, điều hòa vốn quan trọng và ngàycàng trở thành một định chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường

Hệ thống ngân hàng được ví như mạch máu của cả nền kinh tế Hệ thống ngân hànghoạt động thông suốt, lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chínhluân chuyển, phân bổ và sử dụng có hiệu quả kích thích nền kinh tế tăng trưởng

Từ năm 2008 đến nay, tình hình kinh tế xã hội xảy ra nhiều biến động mạnh Chínhphủ và NHNN đã liên tục ban hành nhiều nghị quyết, thông tư, chỉ định nhằm điềutiết nền kinh tế vĩ mô làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng Trước tìnhhình kinh tế khó khăn đó, cộng thêm tình hình cạnh tranh giữa các ngân hàng ngàycàng gay gắt, các NHTM đặc biệt là các NHTM cổ phần buộc phải có chính sáchkinh doanh sao cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao

Đứng ở góc độ nội bộ ngành ngân hàng Việt Nam, việc nghiên cứu các nhân tố tácđộng đến kết quả hoạt động cụ thể hiệu quả hoạt động của ngân hàng là quan trọng

và có ý nghĩa rất lớn để các nhà quản lý đưa ra các quyết định, chính sách nhằmmang lại lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng Hơn nữa, hiệu quả hoạt động của ngânhàng không chỉ thể hiện kết quả hoạt động kinh doanh mà còn cần thiết cho việcđánh giá sự thành công của ngân hàng trong cạnh tranh Trong tình hình hiện nay,việc hướng đến mục tiêu hoàn thiện hơn là cần làm ở bất cứ ngân hàng nào Do đó,việc xác định các nhân tố và phân tích mối quan hệ giữa chúng với hiệu quả hoạtđộng của NHTM cổ phần là rất cần thiết để từ đó đưa ra những giải pháp thích hợpnhằm thúc đẩy ngân hàng tăng trưởng một cách bền vững

Xuất phát từ luận điểm trên, tác giả chọn đề tài với tên gọi: “Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn của mình.

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Công trình nghiên cứu này hướng đến đạt được mục tiêu là phân tích sự ảnh hưởngcủa các nhân tố nội sinh và ngoại sinh đến hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phầnViệt Nam Cụ thể hơn, nghiên cứu này bao gồm hai mục tiêu sau:

sinh đến hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phần Việt Nam

phù hợp, có tính khả thi nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh cho NHTM cổ phần Việt Nam

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, nội dung của luận văn phải trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:

NHTM cổ phần Việt Nam không?

Tình hình các nghiên cứu liên quan đến nội dung luận văn

Trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, hiệu quả hoạt động thường được diễn

tả bằng hàm số của các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài ngân hàng Yếu tố bêntrong là những yếu tố thuộc về đặc điểm nội tại của ngân hàng Yếu tố bên ngoài lànhững biến không liên quan đến việc quản lý ngân hàng, thay vào đó các biến nàyđại diện cho các yếu tố kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý có tác động đến hoạtđộng và kết quả tài chính của ngân hàng Nhiều biến giải thích đã được đề xuất cho

cả hai yếu tố này tùy thuộc vào mục đích và bản chất của mỗi nghiên cứu

Các nghiên cứu về lợi nhuận của ngân hàng thường phân tích hệ thống ngân hàng ởnhiều quốc gia hoặc ở một quốc gia Nhóm các nghiên cứu ở phạm vi nhiều quốcgia có thể kể đến Short (1979), Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992) vàDemirguc-Kunt và Huizinga (2000) Nhóm các nghiên cứu ở phạm vi một quốc gia

Trang 14

cụ thể thường nghiên cứu về hệ thống ngân hàng ở Hoa Kỳ (ví dụ, Berger et al.,1987), Châu Âu (ví dụ, Athanasoglou et al., 2005 và Kosmidou et al., 2007) hoặc ởcác quốc gia đang phát triển (ví dụ Barajas et al., 1999; Ali et al., 2010; Deger Alper

và Adem Anbar, 2011) Đặc điểm chung của các nghiên cứu này xem xét ảnh hưởngcủa các yếu tố nội tại của ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô và môi trường pháp

lý đến lợi nhuận của ngân hàng Kết quả nghiên cứu thực hiện là khác nhau do mẫunghiên cứu và môi trường nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên đặc điểm chung của cácnghiên cứu đã cho phép phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động củangân hàng

Các yếu tố nội tại của ngân hàng được sử dụng như quy mô ngân hàng, vốn chủ sởhữu, quản trị rủi ro và chi phí quản lý Quy mô ngân hàng được sử dụng để đại diệncho độ lớn của ngân hàng hoặc thị phần Smirlock (1985) đã tìm thấy bằng chứng

về mối tương quan thuận đáng kể giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận của ngânhàng Demirguc-Kunt và Huizinga (2000) cho rằng sự ảnh hưởng của các nhân tốtài chính, pháp lý và các nhân tố khác đến lợi nhuận của ngân hàng trong mối liênkết chặt chẽ với quy mô ngân hàng Bên cạnh đó, Short (1979) tranh luận rằng quy

mô ngân hàng có quan hệ mật thiết với vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến của ngânhàng vì các ngân hàng lớn thường huy động vốn với chi phí rẻ hơn, do đó có lợinhuận cao hơn Với lập luận tương tự, Bikker và Hu (2002), Goddard et al (2004)

và một số nhà nghiên cứu khác đã cho thấy mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng,đặc biệt trong trường hợp ngân hàng nhỏ và vừa, với vốn chủ sở hữu có mối quan

hệ với lợi nhuận Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng việc tăng quy môcủa ngân hàng chỉ giúp tiết kiệm được chi phí rất ít (Berger et al., 1987)

Nhu cầu quản trị rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng là thiết yếu cho hoạt động củangân hàng Chất lượng tài sản thấp và khả năng thanh khoản thấp là hai nguyênnhân chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng Trong giai đoạn mà sự mất ổn địnhtăng lên, các tổ chức tài chính có thể quyết định đa dạng hóa danh mục đầu tư hoặctăng nắm giữ các tài sản có khả năng thanh khoản cao hoặc thực hiện cả hai nhằmmục đích giảm rủi ro Dựa trên quan điểm này, rủi ro có thể được phân chia thành

Trang 15

rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản Molyneux và Thornton (1992) đã tìm thấy mốitương quan nghịch đáng kể giữa khả năng thanh khoản và lợi nhuận Ngược lại,nghiên cứu của Bourke (1989) lại cho kết quả là khả năng thanh khoản có mốitương quan thuận với lợi nhuận, nhưng mối quan hệ tương quan nghịch giữa rủi rotín dụng và lợi nhuận là khá rõ ràng (Miller và Noulas, 1997) Kết quả này có thểđược giải thích dựa trên thực tế là các tổ chức tín dụng đã có nhiều khoản cho vay

có rủi ro cao Điều này có nghĩa là các tổ chức tín dụng sẽ phải gánh chịu các khoản

lỗ do không thu hồi được khoản cho vay nên đã làm giảm lợi nhuận

Đối với các yếu tố kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý ảnh hưởng đến hiệu quảhoạt động của ngân hàng, các nghiên cứu thực nghiệm thường sử dụng các chỉ tiêunhư lạm phát, lãi suất và tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội Revell(1979) là người giới thiệu mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của ngân hàng vàlạm phát Ông ta ghi chú rằng ảnh hưởng của lạm phát đến hiệu quả hoạt động củangân hàng tùy thuộc vào tỷ lệ tăng của lương nhân viên ngân hàng và các chi phíhoạt động khác có nhanh hơn tỷ lệ lạm phát hay không Câu hỏi là nền kinh tế củamột quốc gia đã phát triển đến mức nào và tỷ lệ lạm phát trong tương lai có thểđược dự báo đúng đắn đến đâu để ngân hàng có thể quản lý chi phí hoạt động củamình Dựa trên quan điểm này, Perry (1992) cho rằng mức độ lạm phát ảnh hưởngđến hiệu quả hoạt động của ngân hàng tùy thuộc vào khả năng dự báo đúng đắn tỷ

lệ lạm phát trong tương lai Tỷ lệ lạm phát trong tương lai có thể được ước tính bởingân hàng, điều này có nghĩa là ngân hàng có thể điều chỉnh tỷ lệ lãi suất để đảmbảo mức độ tăng của doanh thu là nhanh hơn mức độ tăng của chi phí, do đó ngânhàng có thể kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Phần lớn các nghiên cứu cho thấy mốitương quan thuận giữa hiệu quả hoạt động với tỷ lệ lạm phát hoặc tỷ lệ lãi suất dàihạn Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm là chỉ sốrất thường được sử dụng để đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô Các nghiên cứu trướcđây thường cho thấy mối tương quan thuận giữa hiệu quả hoạt động ngân hàng vàtốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm

Trang 16

Phương pháp nghiên cứu

Để xác định nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM, tác giả dự kiến

sử dụng kết hợp giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng Về mặtđịnh tính, tác giả sẽ kế thừa, vận dụng có phê phán và tổng hợp các lý thuyết có liênquan về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động của NHTM của cáctác giả nổi tiếng như John Goddard, Phil Molyneux và John Wilson (2004),Panayiotis P.Athanasoglou, Sophocles N.Brissimis và Matthaios D.Delis (2005),Panayiotis Athanasoglou, Matthaiois D.Delis và Christos K.Staikouras (2006),Pasiouras và Kosmidou (2007), Kosmidou, Pasiouras và Tsaklanganos (2007)….Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành phân tích, so sánh kết hợp với việc sử dụng cácbảng biểu và đồ thị về kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Việt Namtrong thời gian qua để khái quát thành những bài học kinh nghiệm, cả những thànhcông và thất bại để làm cơ sở cho những kiến nghị sau này

Đối với phương pháp định lượng, hiện nay có nhiều phương pháp phân tích dựa trêncách tiếp cận khác nhau về chủ đề này Tuy nhiên, để tìm kiếm bằng chứng thựcnghiệm về sự tác động của các yếu tố đến lợi nhuận của NHTM cổ phần, nghiêncứu này sẽ ứng dụng mô hình phân tích CAMEL và các yêu cầu của Hiệp ước Basel

về giám sát các hoạt động tại các ngân hàng thương mại vào năm 1988 Và vấn đềnày cũng đã được Vincent Okoth Ongore (2013) thực hiện cho nghiên cứu về cácyếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động tài chính của 37 ngân hàng thương mại tạiKenya

Trang 17

Mô hình nghiên cứu

Biến nội sinh

4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài kỳ vọng sẽ mang lại những ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:

kinh doanh của NHTM cổ phần

tố nội sinh và ngoại sinh đến hiệu quả hoạt động của các NHTM cổ phần Việt Nam thôngqua số liệu thu thập qua các năm Thông qua đó, đề tài xác định mức

độ tác động của từng nhân tố đến hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phần Việt Nam

quả hoạt động cho NHTM cổ phần Việt Nam nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu tăngtrưởng lợi nhuận bền vững dựa trên kết quả thực nghiệm nêu trên

Trang 18

5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đề tài sử dụng dữ liệu bảng theo chuỗi thời gian của 24 NHTM cổ phần Việt Nam

từ năm 2007 – 2012 dựa theo số liệu thống kê trên báo cáo tài chính và báo cáothường niên của các ngân hàng công bố hàng năm và các chỉ số kinh tế vĩ mô đểphân tích các yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng và kiểm định mô hìnhhồi quy như đã nêu trên

Trang 19

CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM CỔ PHẦN

1.1 Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM

1.1.1 Hiệu quả hoạt động của NHTM

Theo ECB (European Central Bank, 2010) cho rằng: hiệu quả hoạt động là khả năngtạo ra lợi nhuận bền vững Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho cáckhoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trongtương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại

Theo PGS.TS Nguyễn Khắc Minh trong “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tếlượng Anh – Việt” thì “hiệu quả - efficiency” trong kinh tế được định nghĩa là “mốitương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và

“khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phânphối tốt như thế nào” Như vậy, hiệu quả hoạt động được hiểu là mức độ thành công

mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào

có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước

Các quan điểm trên nhìn chung đều cho rằng hiệu quả hoạt động là một phạm trùkinh tế phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực của quá trình sản xuấtkinh doanh nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất

Tương tự, hiệu quả hoạt động của NHTM cũng là tiêu chí trọng yếu nhất được dùng

để đánh giá kết quả hoạt động Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động được còn là điềukiện quyết định sự sống còn của ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh ngày cànggay gắt hiện nay Do vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động thì đòi hỏi cần phải xácđịnh các yếu tố tác động cũng như mức độ tác động của chúng đến hiệu quả hoạtđộng của ngân hàng Chính điều này sẽ tạo nền tảng vững chắc đưa ra các giải pháp

Trang 20

nhằm đẩy mạnh, phát triển những lợi thế đồng thời giúp các ngân hàng hạn chế,phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra Theo tìm hiểu của tác giả, hầu hết các nghiêncứu gần đây đã tiếp cận chủ đề này thông qua hai nhóm các nhân tố: nhóm nhân tốnội sinh và nhân tố ngoại sinh.

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phần 1.1.2.1 Các nhân tố nội sinh

Quy mô và chất lượng tài sản của NHTM cổ phần có ảnh hưởng quan trọng đến lợinhuận của chính NHTM cổ phần đó Quy mô tài sản tăng lên đi kèm với việc mởrộng hoạt động của NHTM cổ phần, khả năng tiếp cận với nhiều đối tượng kháchhàng hơn, … giúp NHTM cổ phần có thể cung cấp sản phẩm của mình đến kháchhàng nhanh chóng và hiệu quả hơn, từ đó thúc đẩy tăng doanh thu và lợi nhuận củaNHTM cổ phần, đồng thời làm gia tăng giá trị thương hiệu của ngân hàng so vớingân hàng khác

Tuy nhiên, quy mô tài sản tăng lên cũng đồng thời đòi hỏi khả năng quản lý củaNHTM cổ phần phải tốt hơn, nếu không rủi ro sẽ cao hơn, ảnh hưởng xấu đến hoạtđộng của NHTM cổ phần Do đó, không chỉ có quy mô mà chất lượng tài sản mới

có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chất lượng hoạt động của NHTM cổ phần Minh chứng

là các NHTM của Mỹ nắm giữ các tài sản rủi ro và có chất lượng kém là một phầnnguyên nhân dẫn đến sụp đổ hệ thống và khủng hoảng kinh tế năm 2008

Hai nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là vốn tự có và vốn huy động Về vốn chủ sởhữu, mặc dù chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng tài sản của NHTM cổ phần, tuynhiên vai trò của vốn chủ sở hữu rất quan trọng Vốn chủ sở hữu hay vốn tự có đượcxem là “tấm đệm” cho hoạt động của NHTM cổ phần, do đó vốn tự có từ lâu đượcquan tâm bởi các nhà lập pháp nhằm đảm bảo NHTM cổ phần hoạt động hiệu quả

và an toàn Hiện nay, theo quy định của NHNN Việt Nam tổng dư nợ cho vay

Trang 21

của một tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự

có của tổ chức tín dụng đó

Về vốn huy động, ngân hàng cho vay bằng nguồn vốn huy động của mình Khinguồn vốn của ngân hàng tăng trưởng đều đặn, hợp lý thì ngân hàng có thêm nguồnvốn cho khách hàng vay, điều đó cũng có nghĩa là hoạt động cho vay của ngân hàngđược tăng cường và mở rộng Nhưng nếu vốn quá nhiều, trong khi lượng vốn chovay ra ít hơn so với lượng vốn huy động thì sẽ gây ra hiện tượng tồn đọng vốn.Lượng vốn tồn đọng này không những không sinh lời mà ngân hàng còn phải phảitrả lãi suất cho nó, điều này sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng

Bất cứ loại hình doanh nghiệp nào cũng cần có chiến lược cho hoạt động kinhdoanh của mình, vì thế NHTM cổ phần cũng cần có chiến lược hoạt động rõ ràng vàthích hợp để đạt hiệu quả NHTM cổ phần cần xác định cho mình lĩnh vực sản phẩmtập trung, thị trường mục tiêu và định hướng phát triển lâu dài, từ đó hoạch địnhchiến lược phát triển phù hợp với năng lực và tiềm năng của bản thân Chiến lượckinh doanh càng phù hợp thì hoạt động kinh doanh ngày càng được mở rộng Trên

cơ sở các quyết định, chính sách của cấp trên, thông tin về khách hàng, về đối thủkhách hàng, xác định vị thế của ngân hàng đối thủ; ngân hàng phải xác định nêntăng cường hoạt động kinh doanh hợp lý, nên chú trọng hơn vào những hướng nào

có hiệu quả, tìm hiểu thêm những lĩnh vực mới tiềm năng giúp mở rộng thị trường.Chính vì thế, việc xác định các nhân tố và xác định mức độ ảnh hưởng của từngnhân tố đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng là hết sức cần thiết để các nhà quảntrị xây dựng chiến lược phù hợp nhất cho ngân hàng của mình

Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phần trên, còn

có những yếu tố khác ảnh hưởng khác như môi trường làm việc, cơ sở hạ tầng, trình

độ công nghệ…

Trang 22

Ngoài những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phần xuấtphát từ chính bản thân thì còn những yếu tố khác nằm bên ngoài khả năng kiểm soátcủa NHTM cổ phần Tác giả sử dụng thuật ngữ yếu tố ngoại sinh để đại diện chocác yếu tố từ bên ngoài ngân hàng như trình độ phát triển của nền kinh tế, lạm phát,lãi suất…

1.1.2.2 Các nhân tố ngoại sinh

Trình độ phát triển chung của nền kinh tế

Các chủ thể kinh tế đều chịu sự chi phối của các chu kì kinh tế Sự phát triển củanền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, màdoanh nghiệp và ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nên tất yếu hoạt độngcủa ngân hàng cũng bị ảnh hưởng bởi tình hình của doanh nghiệp

Trong giai đoạn nền kinh tế phát triển ổn định, doanh nghiệp làm ăn tốt, có cơ hội

mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó nhu cầu vay vốn ngân hàng tăng lên.Trong giai đoạn này, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện sẽ làm tăng nhucầu tiêu dùng trong dân cư, điều này khiến cho hoạt động cho vay tiêu dùng của cácngân hàng phát triển Mặt khác, nhu cầu tích lũy của dân cư cao hơn, tăng khả nănghuy động vốn của ngân hàng

Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, nhu cầuvay vốn ngân hàng giảm đi, gây ra tình trạng dư thừa, ứ đọng vốn, hoạt động tíndụng của ngân hàng do đó cũng bị thu hẹp lại Thu nhập thực tế của người lao độnggiảm, nhu cầu tiêu dùng bị thắt chặt, tiền nhàn rỗi để gửi ngân hàng không còn nữa,điều này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng mà còn ảnh hưởngđến nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng

Trình độ phát triển chung của nền kinh tế còn thể hiện qua trình độ chung của dân

cư và doanh nghiệp, khả năng tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ được cung cấp bởiNHTM cổ phần của các đối tượng Khi khách hàng có am hiểu sâu hơn về dịch vụngân hàng sẽ giúp NHTM cổ phần tiết kiệm các khoản chi phí phục vụ, chi phí hoạtđộng để hướng dẫn khách hàng, đồng thời cung cấp được nhiều sản phẩm dịch vụ

Trang 23

hơn đến khách hàng của mình Tuy nhiên, khi trình độ nền kinh tế phát triển caohơn cũng kèm theo những rủi ro Đó là tội phạm công nghệ cao, việc các đối tượngkhách hàng cố gắng lừa đảo sẽ làm giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả hoạt động củaNHTM cổ phần.

Hoạt động của NHTM cổ phần được quản lý bởi NHTW, đồng thời hoạt động dướicác điều luật chặt chẽ Môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạtđộng của NHTM cổ phần Một sự thay đổi 1% trong dự trữ bắt buộc có thể thay đổimạnh mẽ nguồn vốn và chiến lược cấp tín dụng của NHTM cổ phần Trong khi đó,NHTM cổ phần hoạt động và có liên quan đến mọi lĩnh vực trong nền kinh tế, do đótất cả các luật liên quan đều có tác động đến hoạt động của NHTM cổ phần như:luật đất đai, luật dân sự, luật thương mại…

Khi các điều luật quản lý các giới hạn trong hoạt động của NHTM cổ phần đượcgiảm nhẹ có thể khuyến khích các NHTM cổ phần tham gia vào nhiều lĩnh vực đầu

tư rủi ro hơn để đánh đổi với lợi nhuận cao hơn Nhưng điều đó cũng tạo ra nhiềurủi ro khó mà đo lường cho NHTM cổ phần Minh chứng là các NHTM Mỹ sau khiđược dỡ bỏ bớt các điều luật ngăn cản việc tham gia vào các dịch vụ của ngân hàngđầu tư đã có những bước đi rủi ro mà hệ quả là khủng hoảng tài chính năm 2008

Các biến số kinh tế vĩ mô là những biến số đầu vào để NHTM cổ phần hoạch địnhchiến lược hoạt động, đồng thời có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động củaNHTM cổ phần Các biến số quan trọng: tăng trưởng GDP, lãi suất, lạm phát, dân

số, thu nhập bình quân đầu người…đều có ảnh hưởng quyết định đến nhu cầu sửdụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng của các đối tượng

Tăng trưởng kinh tế ổn định và cao là nhân tố tác động mạnh mẽ đến nhu cầu củangười dân với dịch vụ NHTM cổ phần, thúc đẩy NHTM cổ phần mở rộng hoạt động

và phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ khác

Trang 24

Lãi suất có ảnh hưởng đến cả chi phí lẫn doanh thu, đồng thời ảnh hưởng đến rủi rocủa NHTM cổ phần Lãi suất ảnh hưởng đến lượng tiền gửi của khách hàng, đến dư

nợ tín dụng và cả khả năng trả nợ của khách hàng Nếu lãi suất quá cao, tiền gửi sẽnhiều nhưng dư nợ tín dụng sẽ khó tăng trưởng, khách hàng đi vay phải chịu chi phílãi vay quá cao, ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng, làm giatăng rủi ro của NHTM cổ phần

Với lạm phát, nếu lạm phát cao sẽ làm mất giá đồng tiền, làm thay đổi hành vi củadân chúng và làm ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM cổ phần Lạm phát cao,đồng tiền mất giá, người dân có xu hướng dự trữ các tài sản bảo toàn được giá trịhơn, làm đồng tiền càng mất giá, tăng rủi ro tỷ giá cho NHTM cổ phần Đồng thờilãi suất thực sẽ được tính bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát là nhân tố quyếtđịnh nhất đến lượng tiền gửi và kỳ hạn gửi của khách hàng

Thu nhập bình quân đầu người cao giúp nhu cầu sử dụng dịch vụ cao hơn, sử dụngnhiều dịch vụ hơn và dẫn đến nâng cao kết quả hoạt động của NHTM cổ phần

Ngoài các yếu tố kể trên, còn nhiều yếu tố ngoại sinh khác ảnh hưởng đến hoạt độngcủa NHTM như khả năng tiếp cận các nguồn thông tin, tình hình kinh tế thế giới,trình độ phát triển của thị trường tài chính… Trong đó, khả năng tiếp cận các nguồnthông tin cũng là nhân tố quan trọng

1.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM

Để đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM các tác giả của các nghiên cứutrước đây đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau dựa trên cách tiếp cận khácnhau Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả các cách tiếp cận này chủ yếu dựa vào baphương pháp phân tích sau:

toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng thông qua việc tiếp cận

Trang 25

một số các chỉ tiêu: cơ cấu và độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, bộ máy quản trị, khả năng sinh lời và tính thanh khoản.

Phân tích các hệ số tài chính: Chỉ số tài chính cung cấp những thông tin

quan trọng về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của các NHTM Phân tích hệ số tàichính được thực hiện dựa trên cơ sở các số liệu trên các báo cáo tài chính của ngân hàngđược công bố trong khoảng thời gian nghiên cứu

Phân tích hiệu quả biên: phương pháp này tính toán chỉ số hiệu quả tương

đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của các ngân hàng với một đơn vị thực hiện tốtnhất trên đường biên hiệu quả Phương pháp này cho phép ta tính được chỉ số hiệu quảchung của từng ngân hàng dựa trên hoạt động của chúng và cho phép xếp hạng hiệu quảhoạt động của từng ngân hàng

Tuy nhiên, mục tiêu chủ yếu của nghiên cứu này làm xem xét mức độ tác động củacác yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh đến hiệu quả hoạt động của các NHTM cổphần kết hợp với kỹ thuật phân tích các mô hình Pooled Least Square Model, FixedEfects Model và Error Components Model dựa trên dữ liệu bảng (panel data) nêntác giả sẽ dựa vào cách tiếp cận dựa trên phương pháp phân tích CAMEL

1.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM qua mô hình CAMEL

1.3.1 Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy)

Vốn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hiệu quả hoạt động của ngânhàng Vốn là số tiền nhằm hỗ trợ kinh doanh của ngân hàng và hoạt động như mộttấm đêm trong trường hợp tình hình bất lợi Vốn ngân hàng tạo ra tính thanh khoảncho các ngân hàng do thực tế tiền gửi là rất mong manh Hơn nữa, vốn ngân hànglớn hơn sẽ làm giảm nguy cơ rủi ro Chính vì thế, ngân hàng cần có một mức vốnyêu cầu để giúp họ chịu đựng được những rủi ro như rủi ro tín dụng, thị trường, vàcác hoạt động rủi ro mà họ tiếp xúc nhằm bảo vệ khách hàng và chính bản thân cácngân hàng Tính an toàn vốn được đánh giá trên cơ sở tỷ lệ an toàn vốn Tỷ lệ antoàn vốn cho thấy sức mạnh nội bộ của ngân hàng chống lại thiệt hại trong cuộckhủng hoảng Nó cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các ngân hàng

Trang 26

bằng cách xác định việc mở rộng kinh doanh ở các khu vực mạo hiểm nhưng lợinhuận cao Ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro thì càng đòi hỏi phải có nhiềuvốn tự có để hỗ trợ hoạt động của ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quanđến mức độ rủi ro cao hơn.

1.3.2 Chất lượng tài sản (Asset Quality)

Tài sản là một biến cụ thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tàisản của ngân hàng bao gồm các tài sản có sinh lời và tài sản nợ, trong đó tài sản cósinh lời luôn được quan tâm hơn Tài sản có sinh lời là những tài sản đem lại nguồnthu nhập chính cho ngân hàng đồng thời cũng là những tài sản chứa đựng nhiều rủi

ro Những tài sản này bao gồm các khoản cho vay, cho thuê tài chính, các khoảnđầu tư vào chứng khoán, góp vốn liên doanh, liên kết trong đó chiếm tỷ trọng caonhất là các khoản cho vay Cho vay là tài sản lớn của các NHTM cổ phần từ đó họtạo ra phần lớn thu nhập cho ngân hàng Chất lượng danh mục cho vay xác địnhhiệu quả hoạt động của các ngân hàng Chất lượng danh mục cho vay cũng có ảnhhưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng Nguy cơ cao nhất phải đối mặt củamột ngân hàng là những tổn thất phát sinh từ các khoản vay quá hạn Do đó, nói đếnchất lượng tài sản là nói đến chất lượng tài sản có sinh lời, mà trước hết được phảnánh ở chất lượng của hoạt động tín dụng Nếu một ngân hàng có chất lượng hoạtđộng tín dụng cao, thể hiện qua việc thu nợ gốc và lãi đúng hạn, bảo toàn được vốncho vay, tỷ lệ nợ quá hạn thấp, vòng quay vốn tín dụng nhanh, thì ngân hàng đóđược đánh giá về cơ bản là hoạt động an toàn và hiệu quả

Bên cạnh chất lượng hoạt động tín dụng, chất lượng tài sản của ngân hàng còn thểhiện ở các tài sản có khác như danh mục đầu tư chứng khoán, tài sản bằng ngoại tệ,vàng bạc, đá quý Chất lượng những tài sản này thường thể hiện ở cơ cấu và trạngthái ngoại hối, chất lượng và trạng thái của danh mục đầu tư Những khoản mục nàycũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời và tính thanh khoản của một ngânhàng Do đó, để đánh giá chất lượng tài sản và mức độ hoạt động của ngân hàngmột cách đầy đủ và chính xác, một mặt phải xem xét toàn diện cơ cấu, tính chất tàisản mà ngân hàng đang nắm giữ, mặt khác phải nghiên cứu mối tương quan giữa cơ

Trang 27

cấu tài sản có và tài sản nợ Mối tương quan này giúp đánh giá tính tối ưu trong cơcấu tài sản, khả năng phản ứng của ngân hàng trước những biến động của thịtrường, khả năng đứng vững trước những hiện tượng bất thường của môi trườngkinh doanh và đáp ứng yêu cầu rút tiền của công chúng.

Như vậy, quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản quyết định sự tồn tại và phát triểncủa ngân hàng Chất lượng tài sản là chỉ tiêu tổng hợp nói lên chất lượng quản lý,khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và triển vọng bền vững của một ngân hàng.Phần lớn rủi ro trong hoạt động ngân hàng đều tập trung ở phía tài sản của nó, nêncùng với việc đảm bảo có đủ vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng tài sản là yếu tốquan trọng đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn

1.3.3 Hiệu quả quản lý (Management Efficiency)

Hiệu quả quản lý là một trong những yếu tố nội tại quan trọng xác định hiệu quảhoạt động ngân hàng Nó được thể hiện bằng các chỉ tiêu tài chính khác nhau nhưtổng tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng cho vay, tài sản và tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận.Hơn nữa, hiệu quả quản lý còn thể hiện trong việc quản lý chi phí hoạt động Thựchiện đánh giá hiệu quả quản lý thường được diễn tả thông qua đánh giá chủ quan về

hệ thống quản lý, tổ chức kỷ luật, hệ thống kiểm soát, chất lượng của nhân viên, vànhững yếu tố khác Ngoài ra, chất lượng và năng lực quản lý còn thể hiện ở khảnăng nắm bắt kịp thời những tình huống bất lợi, nhận biết sớm các nguy cơ rủi rotiềm ẩn đe doạ sự an toàn của ngân hàng để đưa ra những biện pháp đối phó kịpthời Chất lượng quản lý cuối cùng được phản ánh ở tình hình tuân thủ đầy đủ luậtpháp cũng như các quy chế hoạt động, hiệu quả kinh doanh và mức lợi nhuận thuđược tăng lên, duy trì được khả năng thanh toán, sức cạnh tranh và vị thế của ngânhàng trên thị trường ngày một nâng cao, ngân hàng luôn phát triển bền vững trướcnhững biến động trong và ngoài nước Tuy nhiên, khả năng quản lý để triển khai cácnguồn lực một cách hiệu quả, tối đa hóa thu nhập, giảm chi phí điều hành có thểđược đo lường bằng chỉ tiêu tài chính như tỷ lệ chi phí trên tài sản, lợi nhuận hoạtđộng trên tổng lợi nhuận, …

Trang 28

Như vậy, một yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh và sự an toàn của ngân hàng lànăng lực và hiệu quả quản lý Quản lý ngân hàng là tạo ra hệ thống các hoạt độngthống nhất, phối hợp và liên kết các quá trình lao động của các cán bộ nhân viên từcác phòng ban đến hội đồng quản trị trong ngân hàng, nhằm đạt được mục tiêu kinhdoanh ở mỗi thời kỳ đã xác định, trên cơ sở giảm thiểu các chi phí về nguồn lực.

1.3.4 Khả năng sinh lời (Earnings)

Lợi nhuận là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá công tác quản lý và các hoạt độngchiến lược của nhà quản lý thành công hay thất bại Lợi nhuận sẽ dẫn đến hìnhthành thêm vốn, đây là điều hết sức cần thiết để thu hút thêm vốn và sự hỗ trợ pháttriển trong tương lai từ phía các nhà đầu tư Lợi nhuận còn cần thiết để bù đắp cáckhoản cho vay bị tổn thất và trích dự phòng đầy đủ

Trong phân tích đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, có thể đo lường bằngnhiều chỉ tiêu khác nhau, như: Hệ số lợi nhuận trên tài sản có bình quân (ROA), hệ

số lợi nhuận trên vốn tự có (ROE), lợi nhuận trên tổng doanh thu, lợi nhuận trênmỗi cổ phần Dù đo lường cách nào thì vẫn chủ yếu là xem xét mức lợi nhuận củangân hàng sau một thời kỳ hoạt động trong các mối tương quan với nguồn vốn, tàisản, khả năng bù đắp chi phí và những thất thoát xảy ra cũng như khả năng bảo toàn

và phát triển vốn

1.3.5 Tính thanh khoản (Liquidity Management)

Khả năng thanh toán là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự an toàntrong quá trình hoạt động của một ngân hàng, là thành thước đo quan trọng về tính hiệuquả, uy tín và mức độ an toàn của mỗi ngân hàng cũng như toàn hệ thống ngân hàng

Có hai nguyên nhân giải thích tại sao thanh khoản lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọngđối với ngân hàng Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới

mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý cáckhoản đầu tư có kỳ hạn Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biếnđộng hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và có trật tự

Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho

Trang 29

vay số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên ngân hàng về cơ bản luôn

có nhu cầu thanh khoản rất lớn

Để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng phải duy trì được một tỷ lệ tài sản cónhất định dưới dạng tài sản có tính lỏng, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoảncao như tiền mặt, tiền gửi ở NHTW và các công cụ dự trữ thanh khoản khác

1.4 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về hiệu quả hoạt động

và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phần 1.4.1 Nghiên cứu của Donsyah Yudistira (2004)

Donsyah Yudistira (2004) áp dụng mô hình phân tích DEA và hồi quy OLS để xemxét các biến môi trường ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả kỹ thuật của 18 ngânhàng tại 12 nước Hồi giáo trong giai đoạn 1997 – 2000 Giai đoạn nghiên cứu đượcchọn để xem xét tác động của cuộc khủng hoảng tài chính gần đây lên các ngânhàng tại các nước Hồi giáo Với cách tiếp cận trung gian, mô hình DEA bao gồm 03

biến đầu vào (tài sản cố định, chi phí nhân sự, tiền gửi); 03 biến đầu ra (thu nhập

khác, dư nợ cho vay, tài sản có tính thanh khoản cao) Kết quả mô hình DEA chothấy chỉ số không hiệu quả kỹ thuật tổng thể đối với 18 ngân hàng trong mẫu nghiêncứu là khá nhỏ, khoảng hơn 10%, đây là chỉ số khá thấp so với các đối tác Cácngân hàng bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 1998 – 1999,nhưng hoạt động có hiệu quả hơn sau thời kỳ khó khăn Sau đó, tác giả sử dụng môhình hồi quy OLS để xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả kỹ thuật Các biếnđộc lập được xác định là: tỷ số vốn / tổng tài sản, thu nhập ròng / tổng tài sản,logarit của tổng tài sản, sức mạnh của thị trường - được đo bằng thị phần tiền gửicủa ngân hàng so với toàn hệ thống

Kết quả mô hình hồi quy cho thấy rằng, các ngân hàng thuộc các nước Trung Đônghoạt động ít hiệu quả hơn so với các đối tác ở khu vực bên ngoài; hệ số vốn/ tổng tàisản và hệ số thu nhập ròng/ tổng tài sản không có ý nghĩa thống kê trong việc xácđịnh hiệu quả Thêm vào đó, sức mạnh thị trường ảnh hưởng đến hiệu quả Kết quảcũng cho thấy rằng do tính phi hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, các ngân hàng Hồigiáo được khuyến nghị nên tiến hành sáp nhập

Trang 30

1.4.2 Panayiotis P.Athanasoglou, Sophocles N.Brissimis và Matthaios D.Delis (2005)

Panayiotis P.Athanasoglou, Sophocles N.Brissimis và Matthaios D.Delis (2005) đãkiểm tra các yếu tố tài chính, chỉ số ngành và chỉ số kinh tế vĩ mô tác động đến lợinhuận của ngân hàng Hy Lạp trong giai đoạn 1985 – 2001 Các tác giả đã sử dụngbiến lợi nhuận trên tài sản (ROA) đại diện cho lợi nhuận của ngân hàng Các biếnđộc lập thì được chia thành 3 nhóm Nhóm các chỉ số tài chính của từng ngân hàngnhư vốn ngân hàng, rủi ro tín dụng, tăng trưởng năng suất, quản lý chi phí hoạt động

và quy mô ngân hàng Nhóm chỉ số ngành ngân hàng gồm quyền sở hữu(ownership) và sự tập trung (concentration) Nhóm các chỉ số nền kinh tế vĩ môgồm chỉ số lạm phát và chỉ số chu kỳ sản lượng (cyclical output)

Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn ngân hàng và tăng trưởng năng suất có mối tươngquan thuận với lợi nhuận của ngân hàng, mối tương quan này có ý nghĩa thống kê.Tiếp theo rủi ro tín dụng và quản lý chi phí hoạt động có tương quan nghịch đối vớilợi nhuận Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng không có ảnhhưởng lớn đến lợi nhuận ngân hàng Nhóm chỉ số ngành công nghiệp như biếnquyền sở hữu và sự tập trung ảnh hưởng không đáng kể đến lợi nhuận của ngânhàng Nhóm các chỉ số nền kinh tế vĩ mô gồm chỉ số lạm phát và chu kỳ sản lượngảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng

Sifodaskalakis& Constantin Zopounidis (2007)

Fotios Pasiouras, Emmanouil Sifodaskalakis & Constantin Zopounidis (2007) là những người đầu tiên sử dụng quy trình DEA để kiểm định hiệu quả chi phí của các ngân hàng Hy Lạp Mẫu nghiên cứu gồm 16 ngân hàng trong giai đoạn từ năm 2000-2004 Đây là lần đầu tiên họ sử dụng mô hình DEA để ước tính hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả chi phí cho từng ngân hàng trong mẫu Sau đó, các tác giả sử dụng hồi quy Tobit để xác định các yếu tố nội sinh và ngoại sinh tác động đến hiệu quả của ngân hàng Trên quan điểm ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính, tác giả tiến hành xác định các biến đầu ra và đầu vào của

Trang 31

ngân hàng để sử dụng cho mô hình DEA 03 biến đầu vào là tài sản cố định, tiền gửi khách hàng và số lượng lao động; 02 biến đầu ra là dư nợ cho vay và tài sản có

tính thanh khoản cao và các khoản đầu tư được sử dụng

Kết quả phân tích DEA cho thấy rằng các ngân hàng của Hy Lạp có thể nâng caohiệu quả chi phí trung bình khoảng 17,7%, nguồn gốc của tính không hiệu quả là

do không hiệu quả về phân bổ chứ không phải là về kỹ thuật

Tiếp theo, tác giả dùng mô hình hồi quy Tobit để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đếnhiệu quả hoạt động của các ngân hàng Kết quả hồi quy cho thấy quy mô có tácđộng dương lên các chỉ số đo hiệu quả Mức độ vốn hóa, số lượng chi nhánh và sốlượng máy ATM tác động đến hiệu quả cho dù có hay không có sự kiểm soát cácđiều kiện của thị trường GDP bình quân đầu người có tác động âm lên tất cả các chỉ

số đo hiệu quả Tỷ lệ thất nghiệp cũng có tương quan âm lên hiệu quả kỹ thuật vàhiệu quả chi phí, không có tương quan âm lên hiệu quả phân bổ Cuối cùng, cácngân hàng tại các khu vực có mức thu nhập khả dụng của các hộ gia đình cao hơnthì có hiệu quả phân bổ và hiệu quả chi phí hơn các ngân hàng tại các khu vực khác

1.4.4 Kosmidou, Pasiouras và Tsaklanganos (2007)

Kosmidou, Pasiouras và Tsaklanganos (2007) xem xét các yếu tố ảnh hưởng lợinhuận của các ngân hàng Hy Lạp hoạt động ở nước ngoài giai đoạn 1995 – 2001.Tác giả sử dụng biến phụ thuộc là lợi nhuận trên tài sản (ROA) Các biến độc lậpđại diện cho các đặc điểm nội tại của ngân hàng là các chỉ số hoạt động của ngânhàng như cho vay khách hàng, tính thanh khoản, vốn chủ sở hữu, quản lý chi phíhoạt động và quy mô ngân hàng Các biến đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô cũngđược sử dụng như vốn hóa thị trường chứng khoán và thị phần Dữ liệu được phântích là 19 chi nhánh ngân hàng Hy Lạp hoạt động tại 11 quốc gia trong giai đoạn

1995 đến 2001, gồm 92 mẫu quan sát

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô ngân hàng có mối tương quan thuận đếnlợi nhuận ngân hàng Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các kết hợp của các

Trang 32

biến có thể giải thích nhiều hơn đối với lợi nhuận ngân hàng Hy Lạp hoạt động ở nước ngoài.

1.4.5 Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008)

Nguyễn Việt Hùng (2008) ứng dụng phương pháp phân tích định tính kết hợp vớiphương pháp phân tích định lượng gồm phân tích biên ngẫu nhiên SFA, phân tíchbao dữ liệu DEA và mô hình hồi quy Tobit để đánh giá, phân tích các nhân tố ảnhhưởng đến hiệu quả hoạt động của 32 NHTM Việt Nam từ 2001 – 2005

Riêng với phân tích bao dữ liệu DEA, với cách tiếp cận trung gian, tác giả chọn 03

biến đầu vào: tài sản cố định, chi phí lao động, tiền gửi; 02 biến đầu ra: thu nhập

lãi và thu nhập ngoài lãi để đo lường hiệu quả

Kết quả DEA cho thấy trong thời kỳ nghiên cứu các NHTM chỉ sử dụng được 79%các đầu vào, nhóm NHTMCP dần dần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Cácnhân tố phản ánh quy mô hoạt động của ngân hàng đóng góp vào hiệu quả toàn bộ

là lớn hơn so với hiệu quả kỹ thuật thuần Đối với nhóm NHTMNN nhân tố phảnánh quy mô hoạt động là nhân tố gây ra nguồn phi hiệu quả lớn hơn so với cácnhân tố về mặt kỹ thuật Sự thay đổi của năng suất nhân tố tổng hợp nhỏ hơn

1 do tiến bộ công nghệ chưa phát huy được trong thời kỳ này và nhiều ngân hàng vẫn nghiêng về những công nghệ sử dụng nhiều lao động

Tác giả sử dụng hồi quy Tobit để xem xét các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạtđộng toàn bộ được ước lượng ở trên Các biến độc lập được sử dụng trong phươngtrình hồi quy là: tổng chi phí / tổng doanh thu; tỷ lệ tiền gửi / cho vay; vốn chủ sởhữu/ tổng tài sản; thị phần tài sản; tỷ lệ vốn cho vay / tổng tài sản; số nợ xấu; tỷ lệ

tư bản hiện vật / tổng tài sản; tỷ lệ vốn (K) / lao động (L)

Kết quả hồi quy cho thấy quy mô, tổng chi phí/ tổng doanh thu, tỷ lệ tiền gửi/ chovay, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản, thị phần tài sản, tỷ lệ vốn cho vay/ tổng tàisản có, tỷ lệ tư bản hiện vật/ tổng tài sản, mức trang bị vốn/ lao động có ảnh hưởngđến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu

Trang 33

1.4.6 Nguyễn Thị Ngân (2011)

Trong bài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ, tác giả Nguyễn Thị Ngân (2011) đã tìmhiểu thực trạng hoạt động chung của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Namtrong giai đoạn 2006-2010 Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm vềquan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Dữ liệu nghiên cứu

là 37 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Biến phụ thuộc được nghiên cứu làROE Biến độc lập được sử dụng là tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ ngắn hạntrên tổng tài sản, tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản, tỷ trọng tài sản cố định trong tổngtài sản, tỷ trọng chứng khoán kinh doanh, đầu tư và góp vốn, mua cổ phần trongtổng tài sản, tỷ trọng tiền gửi của khách hàng trong tổng nguồn vốn, sự tham gia của

cổ đông chiến lược nước ngoài

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng cho vay khách hàng trong tổng tài sản, tỷtrọng chứng khoán kinh doanh, đầu tư và góp vốn, mua cổ phiếu trong tổng tài sản

có tương quan nghịch với ROE Trong khi đó, tỷ trọng tiền gửi của khách hàngtrong tổng nguồn vốn, sự tham gia của cổ đông chiến lược nước ngoài có tươngquan thuận với ROE của ngân hàng quy mô lớn Đối với các ngân hàng có quy mônhỏ, tỷ trọng tài sản cố định trong tổng tài sản có tương quan thuận với ROE, trongkhi đó tỷ trọng tiền gửi của khách hàng trong tổng nguồn vốn có tương quan nghịchvới ROE Đặc biệt, đối với tất cả các ngân hàng không phân biệt quy mô thì cácbiến tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ dàihạn trên tổng tài sản đều có tương quan thuận với ROE Hệ số hồi quy thể hiện mức

độ tác động của tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản cao hơn tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổngtài sản, tuy nhiên chênh lệch này là không đáng kể

Nhìn chung, nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngân đã cung cấp bằng chứng thực về một

số nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Tuynhiên, nghiên cứu này có một số hạn chế đó là: các yếu tố tác động đến ROE đượcnghiên cứu chủ yếu là cấu trúc vốn, trong khi đó một số đặc điểm nội tại khác vàcác yếu tố kinh tế vĩ mô không được xem xét

Trang 34

Kết luận chương 1

Chương 1 giới thiệu khái quát cơ sở lý luận, đồng thời cũng trình bày khái quátnhững nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt độngcủa NHTM cổ phần Theo các mô hình nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu trướcđây, đặc điểm nổi bậc là các nghiên cứu đều sử dụng chỉ số lợi nhuận trên tài sản(ROA) hoặc lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc cả hai làm biến phụ thuộcđại diện cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng Các nghiên cứu trước đây chia cácyếu tố ảnh hưởng lợi nhuận vào hai nhóm là các biến đại diện cho đặc điểm nội tạicủa ngân hàng (thể hiện ở các tỷ số tài chính của ngân hàng) và các biến đại diệncho yếu tố kinh tế vĩ mô Các đặc điểm nội tại của ngân hàng là các yếu tố nội bộchịu ảnh hưởng bởi các chính sách của nhà quản lý, bao gồm: quy mô, vốn chủ sởhữu, cho vay khách hàng, tiền gửi của khách hàng, tính thanh khoản, cấu trúc thunhập – chi phí Các yếu tố kinh tế vĩ mô là những yếu tố không chịu sự ảnh hưởngcủa các quyết định quản lý của ngân hàng, bao gồm: tốc độ tăng trưởng tổng sảnphẩm quốc nội thực tế hàng năm, lạm phát và lãi suất thực Tất cả những điều nàynhằm làm nền tảng để tiến hành phân tích ở các chương sau

Trang 35

Từ năm 1986, từ Nghị quyết Đại hội Đảng VI và các Nghị quyết Đại hội Đảng sau

đó thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để, công cuộc đổi mớiđất nước được triển khai mạnh mẽ, nền kinh tế chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hóatập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhànước và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế Hệ thống ngân hàng cũng từng bướcđổi mới và phát triển, hoàn thiện về mô hình tổ chức, thể chế pháp lý, công nghệ vàdịch vụ ngân hàng

Sau một thời gian tiến hành làm thử việc chuyển hoạt động ngân hàng sang kinhdoanh xã hội chủ nghĩa, ngày 26/3/1988 hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định53/HĐBT với định hướng cơ bản là “chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạtđộng kinh doanh” Theo đó, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sởchuyển và tách ra từ NHNN, gồm: ngân hàng công thương Việt Nam, ngân hàng

Trang 36

phát triển nông nghiệp, ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam, ngân hàng ngoạithương Việt Nam.

Tháng 5/1990 hai pháp lệnh ngân hàng ra đời (pháp lệnh NHNN Việt Nam và pháplệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơchế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp Trong đólần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật phápphân biệt rạch ròi:

tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; thực thi nhiệm vụ của một NHTW – làngân hàng duy nhất được phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàngcủa nhà nước; NHTW là cơ quan tổ chức việc điều

hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mụctiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách điều hành cụ thể đối với hệthống các ngân hàng cấp hai

♦ Cấp ngân hàng kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tíndụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốcdân do các định chế tài chính ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện

Năm 1997, quốc hội thông qua luật NHNN Việt Nam và luật các tổ chức tín dụng,tạo nền tảng pháp lý căn bản và mạnh mẽ hơn cho hệ thống ngân hàng tiếp tục đổimới hoạt động phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế Hệ thống các tổchức tín dụng được chấn chỉnh, củng cố, từng bước xử lý nợ tồn đọng và nâng caonăng lực tài chính Công nghệ ngân hàng có bước phát triển mạnh mẽ, hệ thốngthanh toán điện tử liên ngân hàng được đưa vào vận hành chính thức từ tháng5/2002, các dịch vụ ngân hàng điện tử xuất hiện (E-Banking, Internet banking, ).Đến nay, hệ thống các NHTM đã phát triển đa dạng về hình thức sở hữu và loạihình dịch vụ Quy mô và chất lượng hoạt động của các ngân hàng ngày càng tăng;năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành, năng lực cạnh tranh, trình độ ứngdụng công nghệ thông tin ngày càng được nâng lên Các ngân hàng đã cơ bản thực

Trang 37

hiện tốt vai trò trung gian, huy động và phân bổ nguồn vốn có hiệu quả, cơ bản đápứng được nhu cầu vốn và tiện ích của nền kinh tế và xã hội Nhờ đó, hoạt động tíndụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế vớinhịp độ cao trong nhiều năm qua Đặc biệt hơn hết là sự bức phá của hệ thốngNHTM cổ phần mà tác giả sẽ tiến hành phân tích dưới đây.

2.1.2 Tình hình hoạt động

Ngân hàng thường được coi là hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tế từng quốc gia vàtoàn cầu Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng là một bộ phận không thểthiếu được với hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng và thanh toán, trong đó thanhtoán giữ vai trò đặc biệt quan trọng Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chấtcho nền kinh tế, song với đặc điểm hoạt động riêng có của mình ngành ngân hànggiữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

Cùng với quá trình cải cách, đổi mới và hội nhập số lượng NHTM Việt Nam đã tăngnhanh, tính đến tháng 12/2012 có: 5 NHTM nhà nước (trong đó có 3 ngân hàng là:VCB, Vietinbank, BIDV đã được cổ phần hóa, tuy nhiên, Nhà nước vẫn giữ cổ phầnchi phối trên 70%), 1 ngân hàng chính sách, 37 NHTM cổ phần, 5 ngân hàng liêndoanh, 5 ngân hàng có 100% vốn nước ngoài, và 54 chi nhánh ngân hàng nướcngoài

Trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh về cả

số lượng và chất lượng và cũng đã trải qua nhiều thăng trầm Tuy nhiên, ngành ngânhàng đã tận dụng tốt những thời cơ, vượt qua không ít những cam go trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế để gặt hái được những thành tựu to lớn, đóng góp phầnkhông nhỏ vào sự phát triển kinh tế của đất nước trong những năm qua Hệ thốngngân hàng đã có những bước phát triển toàn diện, bám sát mục tiêu phát triển kinh

tế xã hội Theo dữ liệu từ NHNN cho biết, tính đến 31/12/2012, tổng tài sản của hệthống các tổ chức tín dụng tăng trưởng 2.54% so với năm 2011 lên 5,085,780 tỷđồng Như vậy, cả năm 2012 tổng tài sản của hệ thống tăng gần 126,000 tỷ đồng.Tuy nhiên, tổng tài sản của toàn hệ thống tăng trưởng phần lớn được đóng góp bởi

Trang 38

khối ngân hàng thương mại Nhà nước Năm 2012, tài sản của nhóm này tăng thêmhơn 232,000 tỷ đồng (tương đương 11.78%) Ngược lại, tài sản của các ngân hàngthương mại cổ phần bị sụt giảm hơn 102,000 tỷ đồng so với năm 2011 Trong nhómngân hàng quốc doanh Agribank và CTG dẫn đầu về tổng tài sản lần lượt 560,000 tỷđồng và 503,530 tỷ đồng Trong nhóm NHTM cổ phần, Techcombank dẫn đầu vớitài sản 179,732 tỷ đồng Trong 8 ngân hàng niêm yết trên sàn, tổng tài sản sắp sếptheo thứ tự giảm dần lần lượt là: CTG, VCB, ACB, MBB, EIB, STB, SHB, NVB.

2.1.3 Thuận lợi và khó khăn

2.2.1.1 Thuận lợi

Trải qua một thời gian dài xây dựng và phát triển, các NHTM Việt Nam đượcnhững thành tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của đấtnước Để có được kết quả ngoài sự nổ lực của chính bản thân các ngân hàng mà mộtphần còn nhờ vào các thuận lợi sau:

Khuôn khổ pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng không ngừng được hoànthiện, ngày càng phù hợp với điều kiện Việt Nam và tiến gần đến thông lệ, chuẩnmực quốc tế Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của NHNN từng bước được bổsung, hoàn thiện; năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng ngày càng được nângcao

Cơ sở hạ tầng và công nghệ ngân hàng được chú trọng đầu tư và hiện đại hoá, tạothay đổi căn bản trong phương thức giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng vàtrong quản lý, điều hành hoạt động ngân hàng Thanh toán không dùng tiền mặtphát triển mạnh, đặc biệt là thẻ ngân hàng

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đạt được nhiều kết quả quan trọng, gópphần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy quá trình tiếp cận với công nghệ, dịch

vụ ngân hàng hiện đại và các chuẩn mực quốc tế về ngân hàng

Trang 39

2.2.1.2 Khó khăn

Trong thời gian gần đây, trước khá nhiều tác động bất lợi từ trong và ngoài nước,lạm phát và bất ổn tỷ giá nổi lên như là hai thách thức lớn nhất đối với kinh tế ViệtNam nói chung và gây rất nhiều khó khăn cho ngành ngân hàng Cụ thể như sau:Thứ nhất, với chính sách tiền tệ chặt chẽ và thận trọng nhằm mục tiêu kiềm chế lạmphát, NHNN khống chế lãi suất để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp Việc sửdụng mệnh lệnh hành chính để buộc các ngân hàng chỉ được huy động với lãi suấtkhông vượt quá trần có lẽ chỉ là giải pháp mang tính tình thế, khó có thể duy trìđược lâu dài, nói cách khác đây là giải pháp không mang tính thị trường Tuy nhiên,trong bối cảnh hiện nay, NHNN vẫn cần thiết phải sử dụng giải pháp mạnh tay này

để đạt được những mục tiêu về kinh tế lớn hơn Theo đó, đây sẽ là một trong nhữngnguyên nhân quan trọng khiến các ngân hàng tiếp tục gặp khó khăn trong việc thuhút tiền gửi VND Thêm vào đó, chính sách tiền tệ thận trọng cũng khiến nguồncung tiền ra thị trường hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến thanh khoản của các ngânhàng

Thứ hai, cũng theo định hướng của NHNN, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, trong khitín dụng đến nay vẫn là hoạt động mang lại doanh thu chính cho các NHTM Vìvậy, để đảm bảo lợi nhuận các ngân hàng phải đẩy mạnh hoạt động dịch vụ và hoạtđộng khác để tăng doanh thu Thêm vào đó là áp lực tăng vốn điều lệ từ NHNN.Trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt, các ngân hàng buộc phải tăng vốn đểtăng năng lực tài chính thì việc vừa đảm bảo tăng vốn theo quy định vừa phải đảmbảo tỷ suất sinh lợi cho ngân hàng, cho cổ đông là công việc hết sức khó khăn đặt racho các ngân hàng Việt Nam hiện nay

Thứ ba, áp lực cạnh tranh lớn Các ngân hàng Việt Nam không chỉ chịu sự cạnhtranh gay gắt từ nhưng ngân hàng nội địa mà còn từ các ngân hàng nước ngoài, chinhánh ngân hàng nước ngoài Kể từ 01/01/2011 chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽđược đối xử bình đẳng như cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO Theo đó, cácchi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ được bình đẳng như NHTM trong nước trongviệc giới hạn về cấp tín dụng, được nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ các cá

Trang 40

nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng, không còn bị hạn chếtheo tỷ lệ trên mức vốn được cấp như trước nữa.

Ngoài những khó khăn trên, ngân hàng Việt Nam còn có những khó khăn mang tínhnội tại: cung cấp dịch vụ truyền thống, chất lượng chưa cao, năng lực quản trị và kỹthuật còn phải hoàn thiện,… mà các ngân hàng Việt Nam cần phải cố gắng khắcphục để tiếp tục phát triển và hội nhập quốc tế

2.2 Thực trạng hoạt động của NHTM cổ phần Việt Nam

mà các NHTM cổ phần có những tăng trưởng mạnh mẽ về mạng lưới, qui mô vốn,quy mô tổng tài sản, tăng cường các hình thức huy động vốn, đa dạng hoá sản phẩm

và tạo tiện ích thu hút khách hàng với làn sóng cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, khốcliệt giữa các ngân hàng trong nước với nhau Đến nay, thị phần cho vay và huy độngvốn của các NHTM nhà nước đã có sự sụt giảm đáng kể, lần lượt còn 52% và 44%vào năm 2012 Có thể thấy rõ rằng, nhóm các NHTM cổ phần đã lấy đi thị phần bị

“đánh mất” của nhóm các NHTM nhà nước Tuy nhiên, trong sự giằng co đang thểhiện, khối quốc doanh vẫn được xem là có nhiều lợi thế hơn, đặc biệt là về nguồnvốn và cơ sở khách hàng, bề dày thương hiệu… Còn khối cổ phần, miếng bánh thịphần hiện có là kết quả ấn tượng của những nỗ lực, dù bên cạnh đó còn những kếtquả khắc nghiệt của yêu cầu sáp nhập, hợp nhất, hoặc bị mua lại đã và đang diễnra…Bảng 2.1 và 2.2 trình bày chi tiết thị phần tín dụng và thị phần tiền gởi của hệthống ngân hàng qua các năm

Ngày đăng: 10/10/2020, 11:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w