1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam

79 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 264,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu chính: - Kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính ở các công ty niêm yết trên sàn chứn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN AN NHIÊN

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÍNH KỊP THỜI CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tp Hồ Chí Minh- Năm 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chépcủa bất kỳ ai Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tinđƣợc đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu củaluận văn

TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2013

Nguyễn An Nhiên

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Nội dung của luận văn 5

1.6 Đóng góp của nghiên cứu 5

1.7 Hướng phát triển của đề tài 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6

2.1 Tổng quan về báo cáo tài chính 6

2.1.1 Khái niệm, vai trò và mục đích của báo cáo tài chính 6

2.1.1.1 Khái niệm của báo cáo tài chính 6

2.1.1.2 Vai trò của báo cáo tài chính 6

2.1.1.3 Mục đích của báo cáo tài chính 7

2.1.2 Các giả thiết và nguyên tắc kế toán chi phối đến việc lập báo cáo tài chính 9

2.1.2.1 Các giả thiết kế toán 9

2.1.2.2 Các nguyên tắc kế toán 9

2.1.3 Các quy định chi phối quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính .11

2.1.4 Các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính .12

2.1.5 Yêu cầu về việc công bố báo cáo tài chính .16

Trang 5

2.2 Khái niệm tính kịp thời của báo cáo tài chính và các nhân tố ảnh

hưởng… 21

2.3 Lý thuyết cơ sở và các nghiên cứu trước

2.3.1 Lý thuyết cơ sở

2.3.1.1 Lý thuyết ủy nhiệm

2.3.1.2 Lý thuyết thông tin hữu ích cho việc ra quyết định

2.3.2 Tổng kết các nghiên cứu trước

2.4 Mô hình nghiên cứu đề nghị

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Giả thiết nghiên cứu

3.1.1 Nhân tố quy mô

3.1.2 Nhân tố công ty kiểm toán

3.1.3 Nhân tố lợi nhuận kinh doanh

3.1.4 Nhân tố loại báo cáo tài chính

3.1.5 Nhân tố loại ý kiến kiểm toán

3.1.6 Nhân tố “thời hạn công bố báo cáo tài chính”

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

3.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu

CHƯƠNG 4: ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Mô tả mẫu điều tra

4.2 Các bước phân tích dữ liệu

4.3 Thống kê mô tả

4.4 Ma trận hệ số tương quan

4.5 Phân tích phương sai – ANOVA

4.5.1 Nhân tố “Công ty kiểm toán”

4.5.2 Nhân tố “Loại báo cáo tài chính hợp nhất”

4.5.3 Nhân tố “Loại ý kiến kiểm toán”

4.6 Ý nghĩa rút ra từ kết quả nghiên cứu

Trang 6

tài chính của các công ty niêm yết 51

5.1.2 Nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính 53

5.1.3 Các kiến nghị liên quan đến công ty mẹ 54

5.1.4 Các kiến nghị liên quan đến việc ban hành các chuẩn mực kế toán 55

5.2 Kết luận, hạn chế và đề xuất cho hướng nghiên cứu tiếp theo 58

5.2.1 Kết luận 58

5.2.2 Hạn chế của nghiên cứu 58

5.2.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 59

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

Biểu đồ 3.1

Trang 10

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, để Việt Nam có thểtheo kịp các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, các doanh nghiệp phải cố gắnghết sức để hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro có thế xảy ra nhằm nâng caohiệu quả hoạt động kinh doanh và năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế.Thiếu thông tin được xem là một trong những rủi ro tiểm ẩn có thể ảnh hưởng đến

sự phát triển của một doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung

Thật vậy, thông tin là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của quốc gia,trong đời sống xã hội và cũng như trong sự phát triển của nền kinh tế Thông tinđược phản ánh đúng, chuyển tải kịp thời sẽ hỗ trợ tích cực tới hoạt động của các cáthể trong nền kinh tế Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, các thông tinkinh tế, chính trị - xã hội, thông tin chính sách, pháp luật…được cập nhật liên tục

và đa dạng dưới nhiều hình thức, qua nhiều kênh thông tin như: truyền hình, truyềnthanh, báo giấy và đặc biệt là internet…Trước nhiều luồng thông tin khác nhau, cảtích cực cũng như trái chiều, nền kinh tế chịu sự tác động của các biến đổi xã hộitừng ngày, từng giờ Do đó, chúng ta có thể nhận thấy nhiều tác dụng lớn của thôngtin trong hoạt động của bất kỳ nền kinh tế nào trên thế giới Việc cập nhật thông tinchính xác, kịp thời về tình hình kinh tế trong và ngoài nước giúp cho các cá thểtrong nền kinh tế nhận định các yếu tố thuận lợi và khó khăn của thị trường, từ đóđưa ra những định hướng phát triển phù hợp, giảm thiểu các rủi ro có thể gặp phảinếu thiếu thông tin Đặc biệt trong thị trường chứng khoán, thông tin đóng vai trò

vô cùng quan trọng đối với các nhà đầu tư trong việc ra quyết định.Vì vậy, Nhànước đã đưa ra những yêu cầu nghiêm ngặt về việc công bố thông tin của các công

ty niêm yết kể cả thông tin tài chính và phi tài chính Theo thông tư số BTC ngày 5 tháng 4 năm 2012, chính phủ yêu cầu công ty niêm yết có nghĩa vụcông bố đầy đủ, chính xác và kịp thời các thông tin định kỳ, thông tin bất thường vàthông tin theo yêu cầu theo quy định của pháp luật Và theo nghị định số 108

Trang 11

cổ phiếu đƣợc niêm yết Do đó, bên cạnh tính chính xác và có độ tin cậy, tính kịpthời cũng đƣợc xem là một trong những yếu tố góp phần tạo nên tính hữu ích củamột báo cáo tài chính.

Xuất phát từ thực tiễn nhƣ vậy, tác giả đã chọn đề tài nghiên ”Các nhân tố

tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu chính:

- Kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính ở các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam năm

Trang 12

- Đề xuất một số kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu về cải thiện tính kịp thời của báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.

1.3 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính kịp thời của báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán

- Phạm vi và giới hạn nghiên cứu: Tác giả chỉ khảo sát, thu thập dữ liệutrong năm 2012 Và ngoài ra dữ liệu chỉ được thu thập từ báo cáo tài chính của 173công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh được chọn làmmẫu

1.4 Câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu: “ Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn

chứng khoán Việt Nam sẽ chịu tác động bởi các nhân tố nào?”

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận nghiên cứu

định lượng và trên cơ sở các nghiên cứu trước suy diễn mô hình nghiên cứu vàkiểm định với trường hợp các công ty niêm yết tại Việt Nam Quy trình nghiên cứuđược thể hiện ở sơ đồ 1

Phương pháp chọn mẫu, thu thập và phân tích dữ liệu:

- Phương pháp chọn mẫu: Mẫu trong nghiên cứu này được chọn là những

công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam Sau khi loại bỏ những mẫu khôngphù hợp với nghiên cứu, tác giả dùng công cụ chọn mẫu ngẫu nhiên trên trang webhttp://www.random.org/ để chọn ra 173 mẫu để nghiên cứu Danh sách công tytrong mẫu nghiên cứu thể hiện trong phụ lục 1

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Các thông tin được thu thập từ báo cáo tài

chính của 173 công ty được chọn làm mẫu Người nghiên cứu lấy báo cáo tài chínhcủa các công ty từ trang web http://cafef.vn/

Trang 13

- Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật phân tích thống kê mô

tả để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được, và sử dụng ma trận hệ

số tương quan, phân tích phương sai (ANOVA) để kiểm định mối liên hệ của các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính

VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨUCác nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính tại các

công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Quan hệ: Các nhân tố tác động đến nhân tố bị tác động

CƠ SỞ LÝ THUYẾTCác công trình nghiên cứu trước

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Mô hình đo lường các nhân tố tác động

NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

Thống kê mô tảPhân tích hệ số tương quan và phân tính phương sai (ANOVA)

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu

Trang 14

1.5 Nội dung của luận văn

Luận văn được chia làm 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Các kiến nghị và kết luận

1.6 Đóng góp của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm từ các công tyniêm yết tại Việt Nam về các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tàichính

Từ đó, nghiên cứu hy vọng sẽ cung cấp những gợi ý cho nhà điều hành, lậpquy về các chính sách liên quan nhằm ngày càng nâng cao chất lượng của việc công

bố báo cáo tài chính đến người sử dụng Ngoài ra, nghiên cứu cũng hy vọng sẽ cónhững đóng góp nhỏ cho những công trình nghiên cứu kế toán tại Việt Nam

1.7 Hướng phát triển của đề tài

Các nghiên cứu trong tương lai có thể phát triển theo hướng đánh giá ảnhhưởng của các nhân tố khác mà nghiên cứu này chưa đề cập

Phát triển mở rộng việc thực hiện nghiên cứu như tăng số lượng mẫu

Ngoài ra cũng có thể phát triển nghiên cứu theo hướng nhằm khắc phụcnhững hạn chế của nghiên cứu này

Trang 15

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN

CỨU 2.1 Tổng quan về báo cáo tài chính

2.1.1 Khái niệm, vai trò và mục đích của báo cáo tài chính

2.1.1.1 Khái niệm của báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính, theo nghĩa rộng là công tác báo cáo thông tin tài chính(financial reporting), đó là toàn bộ quá trình chuẩn bị và cung cấp các thông tin tàichính cho các đối tượng sử dụng được thực hiện bằng các hình thức khác nhau.Cùng với báo cáo tài chính, doanh nghiệp còn cung cấp bổ sung các giải thích củacác nhà quản lý (magagement commentary) qua các báo cáo của nhà quản trị đínhkèm

Báo cáo tài chính (financial statements), theo nghĩa hẹp đề cập đến các bảngbáo cáo về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và dòng lưu chuyểntiền tệ của doanh nghiệp, cụ thể, đó là Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh, Bảng lưu chuyển tiền tệ, Báo cáo về sự thay đổi vốn chủ sở hữu

và Bản thuyết minh báo cáo tài chính Ở Việt Nam, Báo cáo về sự thay đổi vốn chủ

sở hữu được tích hợp trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính

2.1.1.2 Vai trò của báo cáo tài chính

Ðối với doanh nghiệp: Báo cáo tài chính đóng vai trò quan trọng trong sự

phát triển lâu dài của doanh nghiệp Các chuyên gia quản lý tài chính doanh nghiệp

sẽ phân tích các số liệu thu chi để nắm bắt được thực trạng hoạt động của doanhnghiệp Từ đó sẽ đưa ra các quyết định chính xác về các lĩnh vực cần thiết để canthiệp, các cơ hội đầu tư kinh doanh mang lại thành công cho doanh nghiệp Các cổđông sử dụng báo cáo tài chính để theo dõi tình hình vốn đầu tư của mình đangđược quản lý như thế nào Ngoài ra, báo cáo tài chính còn là công cụ hỗ trợ doanhnghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế cả trong khu vực và quốc tế Cuối cùng, báo

Trang 16

cáo tài chính còn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội trong việctruyền đạt thông tin liên quan tới lợi ích cộng đồng.

Đối với nhà đầu tư: Báo cáo tài chính giúp các nhà đầu tư nắm rõ được tình hình của doanh nghiệp, từ đó đánh giá thực trạng doanh nghiệp có đang phát

triển hay không, hệ thống tài chính doanh nghiệp hoạt động như thế nào, từ đóquyết định có tiếp tục đầu tư hay rút vốn đầu tư ra khỏi doanh nghiệp Người chovay vốn và cung ứng vật liệu xem báo cáo tài chính với mục đích xác định khả năngthanh toán của doanh nghiệp khi quyết định giao dịch với doanh nghiệp

Ðối với nền kinh tế: Báo cáo tài chính giúp các cơ quan chức năng xác định

cấu trúc tài chính, theo dõi tình hình hoạt động của nhiều doanh nghiệp, qua đó làmgiảm rủi ro xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính do ảnh huởng tiêu cực từ các vụ

bê bối liên quan đến thông tin tài chính Ngoài ra, báo cáo tài chính còn cung cấp sốliệu thống kê cho cơ quan chức năng, từ đó đưa ra các chính sách kinh tế phù hợpvới tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự phát triển củanền kinh tế

2.1.1.3 Mục đích của báo cáo tài chính

Khuôn mẫu lý thuyết kế toán của Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế(IASB, 2010) có nêu rằng mục tiêu của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin hữuích về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và những thay đổi tình hình tài chínhcủa một doanh nghiệp cho nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế

Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày báo cáo tài chính (BộTài Chính, 2003), “mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tìnhhình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đápứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyếtđịnh kinh tế”

Trang 17

Thông tin về tình hình tài chính chủ yếu được cung cấp qua Bảng cân đối kếtoán Tình hình tài chính của một doanh nghiệp, chịu ảnh hưởng của các nhân tốnhư nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát, cơ cấu tài chính, tính thanhkhoản và khả năng thanh toán, khả năng thích ứng và phù hợp với môi trường hoạtđộng của doanh nghiệp Thông tin về tình hình tài chính giúp người đọc đánh giákhả năng tạo ra tiền trong tương lai của doanh nghiệp, dự đoán nhu cầu thanh toán,khả năng trả lãi vay, phân phối cổ tức từ lợi nhuận cũng như khả năng huy độngvốn từ các nguồn tài trợ của doanh nghiệp

Thông tin về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp được cung cấp quaBáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Các thông tin về tình hình kinh doanh giúp

dự đoán khả năng sinh lợi trong tương lai, khả năng tạo nguồn tiền của doanhnghiệp, đánh giá hiệu quả của các nguồn lực doanh nghiệp đang hoặc có thể sửdụng

Thông tin những biến động về tình hình tài chính được cung cấp qua Báocáo lưu chuyển tiền tệ Các thông tin này rất cần thiết trong việc đánh giá các hoạtđộng đầu tư, tài trợ và kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, người sửdụng có thể đánh giá về khả năng tạo ra các nguồn tiền và các khoản tương đươngtiền cũng như việc sử dụng các nguồn tiền này

Ngoài ra, những thông tin khác liên quan đến việc trình bày báo cáo tài chính

sẽ được thể hiện trên Thuyết minh báo cáo tài chính Báo cáo được dùng để mô tảmang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trìnhbày trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưuchuyển tiền tệ cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của chuẩn mực kếtoán cụ thể Thí dụ các thông tin bổ sung cần thiết về Bảng cân đối kế toán và Báocáo kết quả hoạt động kinh doanh, các rủi ro và những tình huống không chắc chắntrong hoạt động của doanh nghiệp, các nguồn lực hoặc nghĩa vụ chưa được trìnhbày trên báo cáo tài chính…

Trang 18

2.1.2 Các giả thiết và nguyên tắc kế toán chi phối đến việc lập báo cáo tài chính 2.1.2.1 Các giả thiết kế toán

Các giả thiết kế toán là những giả định cơ sở, không cần hoặc không thể địnhnghĩa Đó là những qui ước trong trình bày các thông tin kế toán

a/ Giả thiết kỳ kế toán

Giả thiết này yêu cầu kế toán phải công bố các thông tin định kỳ bằng cáchphân chia đời sống của hoạt động doanh nghiệp thành từng niên độ Điều này xuấtphát từ nhu cầu của người sử dụng thông tin tài chính muốn biết tình hình tài chínhcũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ

b/ Giả thiết về tính độc lập và trọn vẹn của một đơn vị kế toán

Giả thiết này được hiểu theo hai khía cạnh:

- Phân biệt kết quả hoạt động và tài sản của doanh nghiệp với các giao dịchthương mại và tài sản của chủ sở hữu

- Phân biệt tài sản và hoạt động của từng doanh nghiệp với nhau

c/ Giả thiết về đơn vị tính toán

Theo giả thiết này, tất cả các tài sản và các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trongdoanh nghiệp đều được thể hiện trong kế toán bằng một đơn vị đo lường duy nhất

là tiền tệ Nhờ vậy mà các nghiệp vụ kinh tế phát sinh rất đa dạng trong thực tế đều

có thể tổng hợp, phân tích, thông tin kế toán được truyền đạt kịp thời và hiệu quả

2.1.2.2 Các nguyên tắc kế toán

Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 1”Chuẩn mực chung”, việc lập vàtrình bày báo cáo tài chính còn chịu sự chi phối của một số nguyên tắc kế toán sau:

a/ Cơ sở dồn tích

Trang 19

Theo cơ sở dồn tích thì mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính của doanh nghiệp liênquan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải đượcghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặcchi tiền hoặc tương đương tiền

b/ Nguyên tắc hoạt động liên tục

Báo cáo tài chính phải lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạtđộng liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần,nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt độnghoặc phải thu hẹp đáng kế quy mô hoạt động của mình Trường hợp thực tế khácvới giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên cơ sở khác và phảigiải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính

c/ Nguyên tắc giá gốc

Theo nguyên tắc này, tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc Giá gốc củatài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặctính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận

d/ Nguyên tắc phù hợp

Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận mộtkhoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đếnviệc tạo ra doanh thu đó

e/ Nguyên tắc nhất quán

Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được ápdụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm Trường hợp có thay đổi chínhsách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sựthay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính

f/ Nguyên tắc thận trọng

Trang 20

Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính

kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:

- Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;

- Không đánh giá cao hơn giá trị của tài sản và các khoản thu nhập

- Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí

- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn

về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi

có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí

g/ Nguyên tắc trọng yếu

Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặcthiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làmảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọngyếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giátrong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cảphương diện định lượng và định tính

2.1.3 Các quy định chi phối quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính

Ðặc điểm của Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hộichủ nghĩa, nhà nước quản lý nền kinh tế thông qua hệ thống pháp luật và các chínhsách kinh tế Mà kế toán là công cụ phục vụ cho quản lý kinh tế nên cũng chịu sựchi phối của các luật định Do vậy, công tác kế toán phục vụ cho quá trình soạn thảo

và trình bày báo cáo tài chính tất nhiên cũng chịu sự chi phối bởi các chính sách,chế độ kế toán và luật kinh tế quy định bởi nhà nước (Ðoàn Ngọc Quế, 2007)

Hệ thống các văn bản luật đó là Luật kế toán, Chế độ Kế toán, Chuẩn mực kếtoán Việt Nam và các thông tư hướng dẫn thi hành các chuẩn mực và chế độ kế toántài chính Tính đến nay, Bộ Tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 21

2.1.4 Các đặc điểm chất lƣợng của báo cáo tài chính

Để có thể cung cấp những thông tin hữu ích, báo cáo tài chính cần thỏa mãncác đặc điểm chất lƣợng Khuôn mẫu lý thuyết IASB (2010) đã đƣa ra hai nhómđặc điểm chất lƣợng bao gồm:

 Nhóm đặc điểm chất lƣợng cơ bản (fundamental qualitativecharacteristics), bao gồm: thích hợp (relevance) và phản ánh trungthực (faithful representation)

 Và nhóm đặc điểm chất lƣợng nâng cao (enhanced qualitativecharacteristics), bao gồm: có thể so sánh (comparability), có thể kiểmtra (verifiability), kịp thời (timeliness) và có thể hiểu đƣợc(understandability)

Trang 22

Các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính được thể hiện trong sơ đồ sau:

ĐẶC ĐIỂM CHẤT LƯỢNG CỦA THÔNG TIN TÀI CHÍNH

HỮU DỤNG

Đặc điểm chất lượng căn bản

Thành phần của đặc điểm chất lượng căn bản

Đặc điểm chất lượng nâng cao

Sơ đồ 2.1 Các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính

(Framework-2010)

(i) Các đặc điểm chất lượng căn bản

Thích hợp (relevance): Thông tin thích hợp khi nó có thể giúp người sử dụng

đưa ra quyết định khác hơn khi không có thông tin này Để đảm bảo tính thích hợp,đòi hỏi thông tin phải có giá trị dự đoán và giá trị khẳng định Trong đó, giá trị dựđoán là khả năng giúp dự đoán kết quả cuối cùng của các sự kiện đã hoặc đang xảy

ra Giá trị dự đoán không phải dự đoán tương lai (theo mô hình thống kê) Thôngtin có giá trị dự đoán giúp người đọc tự đưa ra dự đoán của mình Giá trị khẳng

Trang 23

định là cung cấp phản hồi về những dự đoán trước đó Tính thích hợp của thông tinliên quan đến nội dung và mức trọng yếu của thông tin Thông tin trọng yếu khi việc

Trang 24

trình bày sai hay bỏ sót ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin khidựa trên báo cáo tài chính của một doanh nghiệp cụ thể Tính trọng yếu tùy thuộcvào số tiền và tính chất của thông tin hoặc sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụthể Như vậy, trọng yếu là một khía cạnh của thích hợp.

Phản ánh trung thực (faithful representation): Báo cáo tài chính được xem là

hữu ích khi chúng được lập trên cơ sở các thông tin kế toán (bao gồm sự đánh giá

và diễn đạt) phản ánh trung thực về những nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra và có liênquan đến việc xác định các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính tại thời điểm lập báo cáo

Để đảm bảo phản ánh trung thực, thông tin cung cấp phải khách quan, đầy đủ vàkhông sai sót Thông tin khách quan nghĩa là không có sự thiên vị khi lựa chọn vàtrình bày thông tin đó Thông tin đầy đủ, nghĩa là bao gồm các thông tin cần thiết đểhiểu được bản chất kinh tế các giao dịch, sự kiện, nghĩa là không bỏ sót một phầnthông tin bao gồm cả các diễn giải, giải thích Để trình bày trung thực đòi hỏi không

có sai sót hay bỏ sót các thông tin cần thiết để hiểu được bản chất các giao dịch/sựkiện, và cần diễn giải bản chất giao dịch sự kiện và quy trình, phương thức tạo lậpthông tin Tuy nhiên, không có sai sót không có nghĩa là chính xác, vì trong nhiềutrường hợp sự chính xác tại một thời điểm nhất định không cho thông không chínhxác bằng giá trị ước tính trong một khoảng hợp lý Mặc khác, một số sai sót khôngtrọng yếu lại không làm ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy của thông tin nên đôi khi

sự chính xác không cần thiết

(ii) Các đặc điểm chất lượng nâng cao:

Có thể so sánh (comparability): Báo cáo tài chính chỉ hữu ích khi có thể so

sánh với năm trước, với doanh nghiệp khác Do đó, các nghiệp vụ giống nhau phảiđược đánh giá và trình bày một cách nhất quán trong toàn doanh nghiệp, giữa cácthời kỳ và giữa các doanh nghiệp Việc thuyết minh là cần thiết để bảo đảm tính sosánh được

Trang 25

Có thể kiểm tra (verifiability): Đây là đặc điểm cần thiết để bảo đảm sự trình

bày trung thực của thông tin Có thể kiểm chứng là khả năng thông qua sự đồngthuận giữa những người đánh giá (đủ năng lực và độc lập) để bảo đảm thông tinphù hợp với nghiệp vụ/sự kiện muốn trình bày hoặc phương pháp đánh giá đượcchọn không có sai sót hoặc thiên lệch Có hai loại kiểm chứng: kiểm chứng trực tiếp

và kiểm chứng gián tiếp Kiểm chứng trực tiếp là xác minh lại thông tin bằng nhữngquan sát trực tiếp, loại kiểm chứng này có thể phát hiện được thiên lệch do phươngpháp; thí dụ kiểm chứng giá cả mua vào của một căn nhà có thể kiểm chứng đượcthiên lệch của người đo lường và phương pháp đo lường Kiểm chứng gián tiếp làlàm lại thủ tục kế toán, loại kiểm chứng này có thể phát hiện ra các sai lệch dongười đo lường gây ra, thí dụ kiểm tra chi phí khấu hao

Kịp thời (timeliness): Báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin một cách kịp

thời đến người sử dụng khi cần ra quyết đinh Thông thường, các thông tin cũ cótính hữu dụng thấp Nhưng có một vài thông tin cũ vẫn có giá trị sử dụng cao, vídụ: người sử dụng cần thông tin với nhu cầu nhận định và đánh giá khuynh hướng

Có thể hiểu được (understandability): Để cung cấp thông tin hữu ích, báo

cáo tài chính phải có thể hiểu được bởi người sử dụng Thông tin về những vấn đềphức tạp cần phải được trình bày và giải thích trong thuyết minh báo cáo tài chínhđính kèm

Dựa vào khuôn mẫu ký thuyết IASB, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số1”Chuẩn mực chung” đã đưa ra một số yêu cầu cơ bản đối với thông tin kế toánnhư: Trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh được

Thêm vào đó, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 “Trình bày báo cáo tàichính” cũng quy định cụ thể về các đặc điểm chất lượng của thông tin được cungcấp từ báo cáo tài chính trong phần quy định về chính sách kế toán, theo đó báo cáotài chính phải cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu sau:

“ a/ Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;

Trang 26

b/ Đáng tin cậy khi:

- Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;

- Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơnthuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;

- Trình bày khách quan, không thiên vị;

- Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;

- Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu”

Như vậy có thể thấy rằng, hệ thống các chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện tạicũng thể hiện chi tiết các yêu cầu về trình bày và công bố báo cáo tài chính Các yêucầu này cũng đồng nhất với các quy định về chất lượng của báo cáo tài chính củaKhuôn mẫu lý thuyết kế toán (IASB) Điều này có thể thấy rằng, việc soạn thảo vàtrình bày báo cáo tài chính được đặt trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất vàtương đối ổn định thông qua hệ thống chế độ và chuẩn mực kế toán, đã đạt tới mộtmức độ hòa hợp đáng kể với thông lệ và chuẩn mực Kế toán quốc tế về quan điểm

đo lường, ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính

2.1.5 Yêu cầu về việc công bố báo cáo tài chính

Theo Luật doanh nghiệp, doanh nghiệp có nghĩa vụ tổ chức công tác kế toán,lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định củapháp luật về kế toán, trong đó, công ty cổ phần phải gửi báo cáo tài chính hằng năm

đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theoquy định của pháp luật về kế toán và pháp luật có liên quan (Quốc hội, 2013)

Theo Luật kế toán, báo cáo tài chính năm của đơn vị kế toán phải được nộpcho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ

kế toán năm theo quy định của pháp luật, đồng thời đơn vị kế toán thuộc hoạt động

Trang 27

Đối với các tổ chức tín dụng , Chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chứctín dụng quy định thời hạn nộp báo cáo tài chính năm chậm nhất là 90 ngày kể từngày kết thúc năm tài chính của Tổ chức tín dụng , thời gian công khai báo cáo tàichính năm chậm nhất là 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính của Tổ chức tíndụng

Theo thông tư số 52 của Bộ tài chính phát hành vào ngày 5 tháng 4 năm

2012 “Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán”, tại điều

7 quy định “Công ty đại chúng phải công bố thông tin về báo cáo tài chính năm đãđược kiểm toán chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán độc lập ký báocáo kiểm toán Thời hạn công bố thông tin báo cáo tài chính năm không quá 90ngày , kể từ ngày kết thúc năm tài chính Nội dung cụ thể như sau:

- Báo cáo tài chính năm của công ty đại chúng bao gồm: Bảng cân đối kếtoán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bản thuyết minh Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán

- Bản thuyết minh báo cáo tài chính phải trình bày đầy đủ các nội dung theoquy định của pháp luật về kế toán Trường hợp trong Bản thuyết minh báo cáo tàichính có chỉ dẫn đến Phụ lục, Phụ lục phải được công bố cùng Bản thuyết minhBáo cáo tài chính Thuyết minh báo cáo tài chính phải trình bày cụ thể các nội dung

về giao dịch với các bên liên quan theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 28

Trường hợp báo cáo tài chính năm lập theo đơn vị tiền tệ trong kế toán là ngoại tệthì công ty đại chúng phải công bố đồng thời báo cáo tài chính năm bằng đồngngoại tệ và báo cáo tài chính năm quy đổi ra đồng Việt Nam Báo cáo tài chính nămquy đổi ra đồng Việt Nam phải có ý kiến xác nhận của tổ chức kiểm toán đã kiểmtoán báo cáo tài chính năm bằng ngoại tệ được quy đổi về tỷ giá quy đổi và tínhchính xác của việc quy đổi;

- Trường hợp công ty đại chúng là công ty mẹ của một tổ chức khác thì nộidung công bố thông tin về báo cáo tài chính năm bao gồm báo cáo tài chính nămcủa công ty mẹ và báo cáo tài chính năm hợp nhất Trường hợp công ty đại chúng làđơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc thì báo cáo tài chính nămbao gồm báo cáo tài chính năm của công ty đại chúng và báo cáo tài chính năm tổnghợp theo quy định của pháp luật kế toán;

- Công ty đại chúng phải công bố đầy đủ nội dung thông tin về báo cáotài chính năm đã được kiểm toán trên trang thông tin điện tử của công ty đại chúng

và trên phương tiện công bố thông tin của Ủy ban chứng khoán nhà nước, Sở giaodịch chứng khoán (trường hợp là tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch), đồng thờiđăng tải ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính năm trên một (01) số báo có phạm viphát hành trong toàn quốc kèm theo địa chỉ trang thông tin điện tử đăng tải toàn bộbáo cáo tài chính năm, báo cáo kiểm toán và/hoặc địa chỉ cung cấp báo cáo tài chínhnăm và báo cáo kiểm toán để nhà đầu tư tham khảo

- Báo cáo tài chính năm và báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính nămphải được lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất 10 năm tiếp theo tại trụ sởchính của công ty để nhà đầu tư tham khảo”

Điều 7 cũng đươc áp dụng cho các tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành tráiphiếu doanh nghiệp ra công chúng, công ty quản lý quỹ và công ty chứng khoán

Bên cạnh đó, thông tư số 52 cũng đưa ra thêm một số quy định về việc công

bố thông tin báo cáo tài chính đối với công ty đại chúng quy mô lớn và tổ chức niêmyết tại điều 10 như sau:

Trang 29

Đối với báo cáo tài chính Quý: “Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy

mô lớn công bố thông tin về Báo cáo tài chính quý trong thời hạn 20 ngày, kể từngày kết thúc quý Trường hợp tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn làcông ty mẹ hoặc đơn vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc thì phảicông bố thông tin về Báo cáo tài chính quý của công ty mẹ và Báo cáo tài chính hợpnhất hoặc Báo cáo tài chính tổng hợp trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày kết thúcquý Nội dung cụ thể như sau:

- Báo cáo tài chính quý của tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớnbao gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưuchuyển tiền tệ; Bản thuyết minh báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kếtoán

- Trường hợp lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp tại Báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh giữa báo cáo quý của kỳ công bố so với báo cáo quý cùng kỳnăm trước có biến động từ mười phần trăm (10%) trở lên hoặc kết quả kinh doanhtrong quý bị lỗ, tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn phải giải trình rõnguyên nhân trong Báo cáo tài chính quý đó Trường hợp tổ chức niêm yết, công tyđại chúng quy mô lớn là công ty mẹ thì phải giải trình rõ các nguyên nhân đó trong

cả Báo cáo kết quả kinh doanh công ty mẹ và Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất;trường hợp tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn là đơn vị kế toán cấptrên có các đơn vị kế toán trực thuộc thì phải giải trình nguyên nhân trong cả Báocáo tài chính của tổ chức niêm yết công ty đại chúng quy mô lớn và Báo cáo tàichính tổng hợp;

- Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn phải công bố đầy đủ Báocáo tài chính quý trên trang thông tin điện tử của công ty và trên phương tiện công

bố thông tin của Ủy ban chứng khoán nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán và phảiđược lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất 10 năm tiếp theo tại trụ sởchính của công ty để nhà đầu tư tham khảo”

Trang 30

Đối với báo cáo tài chính bán niên: “Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng

quy mô lớn phải lập và công bố thông tin về báo cáo tài chính bán niên (06 thángđầu năm tài chính) đã được soát xét bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận theoChuẩn mực kiểm toán về công tác soát xét báo cáo tài chính trong thời hạn năm 5ngày làm việc, kể từ ngày tổ chức kiểm toán được chấp thuận ký báo cáo soát xét.Thời hạn công bố thông tin báo cáo tài chính bán niên đã được soát xét không quá

45 ngày, kể từ ngày kết thúc 6 tháng đầu năm tài chính Trường hợp tổ chức niêmyết, công ty đại chúng quy mô lớn là công ty mẹ của một tổ chức khác hoặc là đơn

vị kế toán cấp trên có các đơn vị kế toán trực thuộc thì thời hạn công bố thông tin vềbáo cáo tài chính bán niên hợp nhất hoặc Báo cáo tài chính bán niên tổng hợp đãđược soát xét và báo cáo tài chính bán niên của công ty mẹ hoặc đơn vị kế toán cấptrên là 60 ngày, kể từ ngày kết thúc 6 tháng đầu năm tài chính

Báo cáo tài chính bán niên kèm theo toàn bộ Báo cáo công tác soát xét báocáo tài chính bán niên phải công bố trên trang thông tin điện tử của tổ chức niêmyết, công ty đại chúng quy mô lớn và trên phương tiện công bố thông tin của Uỷban chứng khoán nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán (trường hợp là tổ chức niêmyết, đăng ký giao dịch) và phải được lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất

10 năm tiếp theo tại trụ sở chính của công ty để nhà đầu tư tham khảo.”

Tổ chức kiểm toán thực hiện soát xét báo cáo tài chính bán niên phải là tổchức kiểm toán được chấp thuận đã được chọn để kiểm toán báo cáo tài chính nămcủa tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn.”

Đối với báo cáo tài chính năm: “Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy

mô lớn công bố thông tin về báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán bởi tổ chứckiểm toán được chấp thuận.”

“Trường hợp báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán và báo cáo tài chínhbán niên được soát xét có các ý kiến ngoại trừ/lưu ý thì công ty phải công bố thôngtin về giải trình đối với các ý kiến ngoại trừ/lưu ý đó.”

Trang 31

2.2 Khái niệm tính kịp thời của báo cáo tài chính và các nhân tố ảnh hưởng

Theo IASB (2010), mục tiêu của việc lập báo cáo tài chính của đơn vị kếtoán là nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, bên cho vay, hoặc cácbên cấp tín dụng khác, hiện tại hoặc tiềm năng, trong việc ra quyết định cung cấpcác nguồn lực cho đơn vị kế toán Cụ thể hơn, thông tin tài chính được coi là hữuích khi có hai đặc trưng chất lượng cơ bản và bốn đặc trưng chất lượng mở rộng,trong đó “Tính kịp thời” có nghĩa là thông tin sẵn có cho những người ra quyết địnhvào thời điểm có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của họ Hiểu theo nghĩa nàythì thông tin càng cũ sẽ càng kém hữu ích

Theo Younes H.AKLE (2011), tính kịp thời được hiểu là, báo cáo tài chínhphải được công bố đến người sử dụng ngay khi họ cần nó để đưa ra quyết định, bởi

vì thông tin sẽ mất đi tính hữu ích nếu nó không có sẵn khi cần sử dụng

Theo Rabia Aktas & Mahmut Kargın (2011), “kịp thời” được định nghĩa như

là số ngày giữa ngày kết thúc kỳ kế toán năm và ngày mà công ty niêm yết phảicông bố báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật

Theo A.K.M Waresul Karim & Jamal Uddin Ahmed (2005), tính kịp thời củaviệc lập báo cáo tài chính coi như một hàm số của các biến liên quan đến kiểm toánviên và đơn vị lập báo cáo tài chính được kiểm toán, bao gồm: (i) thời gian cần đểhoàn thành kiểm toán báo cáo tài chính, (ii) quyết định của ban giám đốc về việccông bố báo cáo tài chính, (iii) yêu cầu pháp lý về số ngày tối thiểu giữa ngày tổchức đại hội cổ đông thường niên và ngày thông báo về thời điểm tổ chức đại hộithường niên và (iv) các yếu tố hỗ trợ khác như tính sẵn sàng của thời điểm hay địađiểm tổ chức đại hội thường niên

Trang 32

Theo Amitabh Joshi (2005), Karim, Ahmed & Islam (2006) thì tính kịp thờicủa việc lập báo cáo tài chính chịu ảnh hưởng của hai nhóm nhân tố bên ngoài (nhưquy định pháp lý, đối thủ cạnh tranh) và bên trong (như các đặc điểm của công ty),

và bao gồm ba loại: tính kịp thời của hoạt động kiểm toán, tính kịp thời của việccông bố báo cáo và tính kịp thời chung

Trong nghiên cứu này, tính kịp thời được hiểu như là tính kịp thời của hoạtđộng kiểm toán độc lập báo cáo tài chính, được đo lường bằng số ngày kể từ ngàykết thúc niên độ theo quy định của pháp luật đến ngày ký báo cáo kiểm toán

2.3 Lý thuyết cơ sở và các nghiên cứu trước

2.3.1 Lý thuyết cơ sở

2.3.1.1 Lý thuyết ủy nhiệm

Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) xuất hiện trong bối cảnh việc quản trịkinh doanh gắn liền với những nghiên cứu về hành vi của người chủ và người làmthuê thông qua các hợp đồng Những nghiên cứu đầu tiên tập trung vào những vấn

đề về thông tin không hoàn hảo trong những hợp đồng của ngành bảo hiểm (Spence

và Zeckhauser, 1971; Ross, 1973), và nhanh chóng trở thành một lý thuyết khái quátnhững vấn đề liên quan đến hợp đồng đại diện trong các lĩnh vực khác (Jensen vàMeckling, 1976; Harris và Raviv, 1978)

Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm (principal) và bênđược ủy nhiệm (agent), trong đó bên được ủy nhiệm thay mặt bên ủy nhiệm đểquản lý doanh nghiệp, thực hiện các công việc được ủy nhiệm Thí dụ, trong hợpđồng giữa các cổ đông và nhà quản lý, các cổ đông ủy nhiệm cho nhà quản lý thaymình sử dụng vốn để kinh doanh Lý thuyết ủy nhiệm giả định rằng cả hai bên (bên

ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm) đều tối đa hóa lợi ích của mình Khi bên được ủynhiệm hành động vì lợi ích riêng của họ mà gây bất lợi cho bên ủy nhiệm, thí dụ nhàquản lý sẽ tăng lợi ích của mình thông qua việc chi tiêu nhiều hơn (xây dựng

Trang 33

văn phòng lớn, mua sắm xe sang trọng…) và số tiền này sẽ làm giảm lợi nhuận củacác cổ đông Các mâu thuẫn này tồn tại do sự phân chia quyền sở hữu và quyềnquản lý tài sản trong công ty Những vấn đề này làm phát sinh chi phí ủy nhiệm(agency costs) Chi phí ủy nhiệm là chi phí chi trả cho sự xung đột lợi ích giữa haibên bao gồm chi phí giám sát (monitoring cots), chi phí liên kết (bonding cots) vàchi phí khác (residual cots)

Chi phí giám sát bao gồm chi phí kiểm tra, giám sát, kiểm toán, chi phí duytrì các hoạt động kiểm soát và báo cáo để kiểm tra việc thực hiện của bên được ủynhiệm Chi phí này được tính vào chi phí hoạt động của công ty, làm giảm lợi íchcủa bên ủy nhiệm Trong trường hợp này, để đảm bảo lợi ích của mình, bên ủynhiệm sẽ tự bảo vệ bằng cách điều chỉnh số tiền chi trả cho bên ủy nhiệm bằng mộtđiều khoản ràng buộc trong hợp đồng để bù lại chi phí giám sát mà họ đã bỏ ra Thí

dụ, trong quan hệ cổ đông – nhà quản lý, các cổ đông sẽ trả tiền lương, thưởng íthơn cho các nhà quản lý ít kinh nghiệm hoặc chưa có uy tín để bù lại chi phí giámsát mà họ phải bỏ ra Đó đươc gọi là cách “bảo vệ bằng giá” (price proctection).Thông qua sự bảo vệ bằng giá, bên được ủy nhiệm cuối cùng phải chịu chi phí giámsát được ràng buộc trong hợp đồng

Chi phí liên kết là các chi phí liên quan đến thiết lập, duy trì cơ chế hoạtđộng ủy nhiệm, chi phí thông tin…do bên được ủy nhiệm chi trả phát sinh trong nỗlực làm giảm chi phí giám sát Thí dụ, người quản lý (bên được ủy nhiệm) có thể tựnguyện cung cấp báo cáo tài chính hàng quý cho cổ đông (bên ủy nhiệm) Tuynhiên, bên được ủy nhiệm chỉ chấp nhận chi phí liên kết trong phạm vi mà chi phínày giảm được chi phí giám sát mà họ đang phải gánh chịu Do đó, họ có thể chấmdứt không chấp nhận chi phí liên kết khi mức tăng lên của chi phí liên kết bằng hoặclớn hơn mức giảm xuống của chi phí giám sát mà họ đang chịu

Chi phí khác phát sinh khi bên được ủy nhiệm không hết sức mình vì lợi íchtối đa của bên ủy nhiệm mà chỉ nỗ lực có giới hạn trong một phạm vi nhất định Lợi

Trang 34

ích giảm đi do sự nỗ lực có giới hạn đó tương đương với chi phí khác mà bên ủynhiệm mất đi.

Chi phí ủy nhiệm sẽ được tối thiểu hóa bằng cách cung cấp những ưu đãiphù hợp để gắn kết lợi ích của cả hai bên thông qua hợp đồng hiệu quả là kết quảthương thuyết giữa hai bên để đảm bảo lợi ích của cả hai được cân bằng ngay từđầu Trong đó, nếu bên được ủy nhiệm bị phát hiện hành xử không vì lợi ích củabên ủy nhiệm sẽ bị phạt, uy tín bị giảm sút dẫn đến nguy cơ bị sa thải Khi đó, bênđược ủy nhiệm sẽ hành xử theo hướng tối đa hóa lợi ích của bên ủy nhiệm Ngượclại, bên ủy nhiệm cũng sẽ cung cấp những chính sách khen thưởng nhằm ghi nhận

nỗ lực làm việc của bên được ủy nhiệm, đảm bảo lợi ích cho bên được ủy nhiệm.Trong hợp đồng hiệu quả, chi phí ủy nhiệm được tối thiểu hóa do lợi ích của haibên được cân bằng

Tóm lại, khi doanh nghiệp có sự tách rời quyền sở hữu và quản lý sẽ làmxuất hiện quan hệ ủy nhiệm nhà quản lý (bên được ủy nhiệm) - chủ sở hữu (bên ủynhiệm) Quan hệ này dẫn đến một vấn đề là thông tin không cân xứng giữa chủ sởhữu và nhà quản lý Nhà quản lý kiểm soát mọi hoạt động của doanh nghiệp, có lợithế trong việc nắm bắt thông tin Trong khi đó, các chủ sở hữu, nhà đầu tư cầnthông tin cho mục đích ra quyết định lại khó có cơ hội tiếp cận với thông tin Đểkiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, chủ sở hữu phải thông qua các hoạt độngkiểm soát và các báo cáo làm gia tăng chi phí giám sát Công bố thông tin được nhàquản lý xem như là một công cụ để giảm chi phí ủy nhiệm bởi vì nó làm giảm sựbất đối xứng thông tin giữa cổ đông và nhà quản lý, làm giảm chi phí ủy nhiệm

Áp dụng vào mô hình nghiên cứu: Theo lý thuyết ủy nhiệm, trong phần lớn

các doanh nghiệp hoạt động có quy mô lớn, các mâu thuẫn giữa bên ủy nhiệm và bênđược ủy nhiệm là rất đáng kể vì người điều hành doanh nghiệp thường chỉ sở hữu mộtphần rất nhỏ cổ phần Do đó, để hạn chế chi phí ủy nhiệm, người điều hành cần phảicông bố thông tin nhiều hơn đến các cổ đông Như vậy, lý thuyết ủy nhiệm đã gópphần giải thích ảnh hưởng của nhân tố quy mô đến việc công bố thông tin

Trang 35

Ngoài ra, lý thuyết ủy nhiệm cũng góp phần giải thích ảnh hưởng của nhân

tố lợi nhuận kinh doanh đến việc công bố thông tin, vì đối với những công ty có lợinhuận cao, nhà quản lý muốn công bố thông tin nhiều hơn để thể hiện khả năngquản lý của mình

2.3.1.2 Lý thuyết thông tin hữu ích cho việc ra quyết định

Xuất phát từ dòng nghiên cứu chuẩn tắc về kế toán từ những năm 1950

-1970, các khuôn mẫu lý thuyết kế toán đã được xây dựng và ban hành từ bởi các tổchức lập quy về kế toán và trở thành nền tảng của hệ thống kế toán tài chính hiệnnay trên thế giới Lý thuyết thông tin hữu ích cho việc ra quyết định (decisionusefulness theory) xuất phát từ mục tiêu của kế toán là cung cấp thông tin hữu íchcho người sử dụng để đưa ra quyết định kinh tế (Staubus, 2000) Trên cơ sở đó, cácđặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính được xác định Trước hết báo cáo tàichính cần bao gồm các thông tin thích hợp, nghĩa là các thông tin có thể giúp người

sử dụng đánh giá được quá khứ và dự đoán tương lai của doanh nghiệp Khôngnhững vậy, các thông tin này cần thể hiện trung thực tình hình doanh nghiệp, nghĩa

là đúng bản chất của các hiện tượng kinh tế Ngoài ra, những yêu cầu thứ yếu khácnhư trình bày dễ hiểu, khả năng so sánh, khả năng kiểm tra và tính kịp thời phảiđược đáp ứng Các đặc điểm chất lượng trên là nền tảng xây dựng hoặc lựa chọncác chính sách kế toán của doanh nghiệp (IASB, 2010)

Áp dụng vào vấn đề công bố báo cáo tài chính, lý thuyết này yêu cầu báo cáotài chính phải cung cấp các thông tin cần thiết và kịp thời cho việc ra quyết định củangười sử dụng, trong đó bao gồm hai đối tượng chính là nhà đầu tư và chủ nợ

2.3.2 Tổng kết các nghiên cứu trước

Nhiều nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của tính kịp thời trong đặc trưngchất lượng của Báo cáo tài chính Theo Owusu-Ansah, Stephen (2000), báo cáo tàichính kịp thời có thể giúp giảm mức độ của giao dịch nội gián, rò rỉ thông tin và cáctin đồn trên thị trường chứng khoán Bên cạnh đó, theo A.K.M Waresul Karim &

Trang 36

Jamal Uddin Ahmed (2005) “Does regulatory change improve Financial reportingtimeliness? Evidence from Bangladeshi Listed companies”, trong điều kiện các nềnkinh tế đang phát triển (như Việt Nam), thì việc cung cấp thông tin tài chính kịpthời của các công ty niêm yết càng có tầm quan trọng hơn, do các nguồn thông tinnhư báo chí, các hội nghị, các tổ chức hoạt động như là chuyên gia phân tích và dựbáo chưa đạt được mức độ phát triển thích hợp Ngoài ra nghiên cứu của A.K.MWaresul Karim & Jamal Uddin Ahmed còn cho thấy sự thay đổi của các quy địnhpháp lý có ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc lập báo cáo tài chính của các công

ty niêm yết tại Bangladesh Tuy nhiên, nghiên cứu của Karim, Ahmed & Islam(2006) “The effect of regulation on timeliness of coperate financial reporting:Evidence from Bangladesh”, lại cho thấy những thay đổi của quy định pháp lýkhông có ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc lập báo cáo tài chính của các công tyniêm yết tại Bangladesh

Nghiên cứu của Mark A Clatworthy & Michael J Peel (2010) “DoesCorporate Governance influence the timeliness of Financial Reporting? Evidencefrom UK private Companies” và Younes H AKLE (2011) “An Empirical Study:The relationship between Financial Reporting Timeliness and Attributes ofCompanies Listed on Egyptian Stock Exchange, The University of Helvan, AinHelwan, Cairo” cho thấy cơ chế quản trị công ty có ảnh hưởng đối với việc lập báocáo tài chính kịp thời của các công ty niêm yết

Nghiên cứu của Ash Turel (2010) “Timelimes of financial reporting inemerging capital market: Evidence from Turkey” cho thấy loại kiểm toán viên, loại

ý kiến kiểm toán có ảnh hưởng đối với tính kịp thời của việc lập báo cáo tài chính của các công ty niêm yết

Nghiên cứu của Rabia Aktas & Mahmut Kargın (2011) “Timelimess ofReporting and Quality of Financial Information, Turkey” cho thấy loại báo cáo tàichính (riêng lẻ hay hợp nhất), đặc điểm của công ty (tuổi đời, quy mô, kết quả kinh

Trang 37

2.4 Mô hình nghiên cứu đề nghị

Các nghiên cứu trước đây sử dụng nhiều biến nhân tố khác nhau để đánh giámức độ ảnh hưởng lên tính kịp thời của báo cáo tài chính ở các doanh nghiệp đượcniêm yết ở các quốc gia Nghiên cứu của Owusu-Ansah and Leventis (2010) vềnhững yếu tố tác động đến tính kịp thời của Báo cáo tài chính của các doanh nghiệpniêm yết trên sàn chứng khoán tại Athens, khẳng định rằng, có tồn tại mối quan hệgiữa yếu tố quy mô công ty, loại hình công ty và loại công ty kiểm toán và tính kịpthời của báo cáo tài chính

Dựa vào các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này chọn ra năm nhân tố: (1)Quy mô công ty, (2) Loại công ty kiểm toán, (3) Loại báo cáo tài chính (riêng lẻ hayhợp nhất), (4) Lợi nhuận kinh doanh, (5) Loại ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời củabáo cáo tài chính, để tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố này với tínhkịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán ViệtNam Việc xây dựng các nhân tố dựa trên các cơ sở sau:

- Các nhân tố có ảnh hưởng trong phân tích từ những nghiên cứu trước đây;

- Các nhân tố có thể đo lường dễ dàng;

Trang 38

- Dữ liệu phải có sẵn, dễ dàng ghi nhận;

- Nhân tố liên quan đến môi trường kinh tế, xã hội, văn hóa của Việt Nam

Mô hình được khái quát trong sơ đồ 2.2 Mô hình nghiên cứu

QUY MÔ

LOẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN

LOẠI BÁO CÁO TÀI CHÍNH

LỢI NHUẬN KINH DOANH

LOẠI Ý KIẾN KIỂM TOÁN

Sơ đồ 2.2: Mô hình nghiên cứu

Trong mô hình này, tính kịp thời của báo cáo tài chính được thể hiện là thời

hạn công bố báo cáo tài chính đúng hạn quy định Thời hạn công bố báo cáo tài

chính là nhân tố bị tác động mà nghiên cứu cần khảo sát Nhân tố tác động là các

nhân tố bao gồm: quy mô, loại công ty kiểm toán, loại báo cáo tài chính, lợi nhuận

kinh doanh và loại ý kiến kiểm toán

Trang 39

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Giả thiết nghiên cứu

Dựa trên mô hình nghiên cứu đề nghị ở chương 2, người nghiên cứu đưa racác giả thiết như sau:

3.1.1 Nhân tố “Quy mô”

Có hai quan điểm trái chiều về mối quan hệ giữa quy mô công ty và tính kịpthời của báo cáo tài chính:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, những công ty lớn thường trì hoãn việc công

bố báo cáo tài chính, vì các công ty lớn có mạng lưới kinh doanh rộng, khối lượngsản phẩm và dịch vụ lớn lớn, cấu trúc phức tạp hơn các công ty nhỏ Do đó, khốilượng thông tin kế toán ở các công ty lớn rất nhiều, nên kế toán cần nhiều thời gian

để xử lý số liệu và lập báo cáo tài chính Frost và Panel (1994) đã ủng hộ quan điểmnày

Quan điểm thứ hai cho rằng, các công ty lớn thường công bố báo cáo tàichính nhanh hơn các công ty nhỏ, vì hầu hết các công ty lớn đều có phần mềm kếtoán hỗ trợ và số lượng kế toán viên cũng nhiều hơn công ty nhỏ, do đó thời gianlập báo cáo tài chính ở các công ty lớn được rút ngắn lại Hơn nữa, quy mô công tycàng lớn thì số lượng cổ đông sẽ càng nhiều, nên các công ty lớn cần phải pháthành nhanh báo cáo tài chính đến các cổ đông để phục vụ cho việc ra quyết định của

họ Quan điểm này được trình bày bởi El Gabr (2006)

Vì vậy, giả thiết được đặt ra là:

H1: Quy mô có tác động nghịch chiều với thời hạn công bố báo cáo tài chính của công ty niêm yết

Ngày đăng: 10/10/2020, 11:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w